ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm trở lại đây, qua 1 số nghiên cứu của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn và Viên Trung ương, tình hình nhiễm giun sán trong cộng đồng dân cư khá phổ biến và chiếm tỷ lệ cao(70-95% dân số cả nước) do môi trường sống bị ô nhiễm, đời sống sinh hoạt, vệ sinh ăn uống chưa thực sự được chú trọng ở một số địa phương. Điều đó dẫn đến không những tỷ lệ nhiễm ngày càng tăng và có nguy cơ lan rộng trong cộng đồng, mà còn làm cho các bệnh lý liên quan gia tăng do hậu quả của giun sán như: Thiếu máu, suy dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ mang thai, giun chui ống mật-tụy, ap-xe gan-phổi, tắt ruột do giun.... và thậm chí nguy hiểm hơn là viêm não-ap-xe não. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng, một phần không nhỏ tác động đến sự phát triển giống nòi. Xuất phát từ thực trạng đó, việc điều tra, nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán của cộng đồng ở các xã đặc trưng vùng ven biển thuộc 3 huyện Phong Điền, Phú Lốc và Phú Vang để từng bước nhân rộng điều tra những xã đồng bằng, trung du và miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm tiếp theo là cần thiết và cấp bách trên cơ sở đó hình thành bản đồ dịch tễ về giun sán nhằm xây dựng chiến lược phòng chống bệnh giun sán trong những năm tới, đóng góp một tiếng nói chung trong việc phòng tránh lây nhiễm giun sán cũng như có thái độ chú trọng hơn trong việc lấy mẫu xét nghiệm để chẩn đoán sớm và chỉ định điều trị kịp thời của các cơ sở khám chữa bệnh. Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột ở 6 xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 nhằm mục tiêu: 1. Xác định tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột của 6 xã thuộc 3 huyện ven biển: Điền Lộc, Điền Hòa huyện phong Điền; Vinh Xuân, Phú Diên- Phú Vang; Vinh Mỹ, Vinh Hiền- Phú Lộc. 2. Đánh giá vùng dịch tễ giun sán của các địa phương vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011.
Trang 1VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2011
Hoàng Văn Hội*, Võ Đại Phú*, Ngô Viết Sỹ**, Nguyễn Văn Uynh***và cs khoa KST-XN.
Trung tâm Phòng chống Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Thừa Thiên Huế
**Trung tâm VCCC115, ***Trng tâm Y tế huyện Phú Lộc
TÓM TẮT.
- Qua nghiên cứu thực địa tại địa phương 3 huyện với 6 xã vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi có sự tương đồng về địa lý, khí hậu mà đặc biệt là điều kiện sống: Kinh tế, nguồn nước, tập quán ăn uống, sinh hoạt, môi trường Kết quả cho thấy:
-Tỷ lệ nhiễm giun chung là 28,68% trong đó giun đũa 20,9%, giun móc 6,43%, giun tóc 11,03%; nhiễm 2 loại giun chiếm tỷ lệ 6,34% và nhiễm cả 3 loại giun là 1,65%
-Tỷ lệ nhiễm giun 2 xã huyện Phú Lộc cao(41,8%) so với Phong Điền và Phú vang Tỷ lệ nhiễm giữa các vùng miền có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê p<0,01
-Nhóm tuổi nhiễm giun khá cao là 20-49; cao nhất ở nhóm tuổi trên 50 Tỷ lệ nhiễm theo nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê p<0,01 Nhóm tuổi trẻ dưới 9 tuổi tỷ lệ nhiễm thấp(19,56%) Đây là nhóm tuổi hằng năm được can thiệp bằng thuốc xổ giun do WHO tài trợ
-Tỷ lệ nhiễm giun móc cao ở nhóm tuổi > 60(21,14%), tỷ lệ khá cao ở nhóm tuổi 30-50(từ 12-15%) So với vùng đồng bằng và miền núi tỷ lệ này cao trên 60%.Tỷ
lệ nhiễm giữa các nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê(p<0,05)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm trở lại đây, qua 1 số nghiên cứu của Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Quy Nhơn và Viên Trung ương, tình hình nhiễm giun sán trong cộng
Trang 2đồng dân cư khá phổ biến và chiếm tỷ lệ cao(70-95% dân số cả nước) do môi trường sống bị ô nhiễm, đời sống sinh hoạt, vệ sinh ăn uống chưa thực sự được chú trọng ở một số địa phương Điều đó dẫn đến không những tỷ lệ nhiễm ngày càng tăng và có nguy cơ lan rộng trong cộng đồng, mà còn làm cho các bệnh lý liên quan gia tăng do hậu quả của giun sán như: Thiếu máu, suy dinh dưỡng trẻ em và bà mẹ mang thai, giun chui ống mật-tụy, ap-xe gan-phổi, tắt ruột do giun và thậm chí nguy hiểm hơn
là viêm não-ap-xe não Đây là một thực trạng đáng lo ngại, nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng, một phần không nhỏ tác động đến sự phát triển giống nòi
Xuất phát từ thực trạng đó, việc điều tra, nghiên cứu tình hình nhiễm giun sán của cộng đồng ở các xã đặc trưng vùng ven biển thuộc 3 huyện Phong Điền, Phú Lốc
và Phú Vang để từng bước nhân rộng điều tra những xã đồng bằng, trung du và miền núi tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm tiếp theo là cần thiết và cấp bách trên cơ sở
đó hình thành bản đồ dịch tễ về giun sán nhằm xây dựng chiến lược phòng chống bệnh giun sán trong những năm tới, đóng góp một tiếng nói chung trong việc phòng tránh lây nhiễm giun sán cũng như có thái độ chú trọng hơn trong việc lấy mẫu xét nghiệm để chẩn đoán sớm và chỉ định điều trị kịp thời của các cơ sở khám chữa bệnh
Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Đánh giá tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột ở 6 xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011 nhằm mục tiêu:
1 Xác định tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột của 6 xã thuộc 3 huyện ven biển: Điền Lộc, Điền Hòa huyện phong Điền; Vinh Xuân, Phú Diên- Phú Vang; Vinh Mỹ, Vinh Hiền- Phú Lộc
2 Đánh giá vùng dịch tễ giun sán của các địa phương vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2011
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu: Người dân 6 xã ven biển thuộc 3 huyện: Phong Điền,
Phú Vang và Phú Lộc, không phân biệt tuổi, giới, nghề nghiệp
2.Đối tượng loại trừ:
- Phụ nữ mới sinh trong vòng 12 tháng
- Đã dùng thuốc tẩy giun trong vòng 3 tháng gần đây
Trang 3- Đang mắc các bệnh cấp tính.
3.Thời gian: tháng 4/2011 đến tháng 10/2011.
4.Địa điểm: Xã Điền Lộc, xã Điền Hòa huyện Phong Điền; Xã Phú Diên, xã Vinh
Xuân huyện Phú vang; xã Vinh Mỹ, xã Vinh Hiền huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế
Mỗi Huyện chúng tôi tiến hành điều tra hai xã với đặc điểm: Đông dân cư, kinh tế trung bình, tập quán sinh hoạt, vệ sinh phòng bệnh đặc trưng cho Huyện và vùng
5 Phương pháp nghiên cứu:
5.1 Chọn điểm điều tra: Dân cư ở tất cả các thôn của xã điều tra
5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu: Ở mỗi điểm điều tra, thu thập mẫu phân đối tượng
theo từng độ tuổi Làm xét nghiệm mẫu bằng phương pháp KATO ( là phương pháp tập trung trứng bằng cách tăng số lượng phân)
* Các bước tiến hành:
- Dùng que tre lấy khoảng 60-70mg phân(bằng hạt đậu đen) cho lên phiến kính
- Đậy mãnh Cellophane đã được ngâm trong dung dịch có malachite lên trên
- Dùng nút cao su ấn dàn đều ra đến rìa của mãnh cellophane, để tiêu bản khô
- Xét nghiệm dưới kính hiển vi vật kính 10, thị kính 10
5.3 Các chỉ số đánh giá:
- Tỷ lệ nhiễm giun chung theo từng độ tuổi
- Tỷ lệ nhiễm từng loại giun theo từng độ tuổi và từng vùng miền
- Tỷ lệ nhiễm nhiều loại giun theo từng vùng miền
5.4 Phương pháp chọn mẫu:
+Phương pháp nghiên cứu mô tả - điều tra cắt ngang
- Chọn ngẫu nhiên các đối tượng không phân biệt tuổi, giới tính và nghề nghiệp liên quan tại các xã điều tra
- Thu thập số mẫu, phân chia theo từng độ tuổi, mô tả cắt ngang
- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất, chủ yếu là giun đũa, giun tóc, giun móc Tính cở mẫu theo công thức nghiên cứu cắt ngang:
Trang 4pq
n = Z 2 (1 - α/2)
d2
Trong đó α= 0,05 thì Z(1 - α/2) = 1,96; p là tỷ lệ nhiễm giun đường ruột theo điều tra của Viện sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương chung cho toàn quốc trước đây (p = 0,75); q = 1 - p = 0,25; d là độ chính xác, là khoảng sai lệch mong muốn giữa
tỷ lệ thu được từ mẫu (p) và tỷ lệ quần thể (P), chọn d = 0,05 (độ chính xác 95%) Theo đó, xác định n = 288 tại mỗi đơn vị xã được điều tra
Như vậy trong 6 xã điều tra của 3 huyện sẽ thu thập được 288 x 6 = 1.728 mẫu Trong nghiên cứu của chúng tôi đã thu thập được 2.067 mẫu xét nghiệm
5.5 Xử lý số liệu: Số liệu được xữ lý dựa vào phần mềm STATA 8
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1.Phân bố số lượng mẫu thu được theo huyện, tỷ lệ mẫu nhiễm
Biểu đồ 1 Mẫu và tỷ lệ nhiễm.
Nhận xét: Số lượng mẫu thu thập được của các địa phương không có sự chênh lệch
quá lớn, mẫu lấy được phụ thuộc vào dân số vùng miền, người dân tham gia thiếu sự
Trang 5tích cực Tỷ lệ nhiễm giun 2 xã huyện Phú Lộc cao(41,8%) so với Phong Điền và Phú vang Tỷ lệ nhiễm giữa các vùng miền có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê p<0,01)
2 Phân bố số lượng mẫu thu được theo nhóm tuổi
Bảng1:Mẫu và nhóm tuổi
Nhóm
tuổi
Nhận xét: lượng mẫu thu thập được thấp ở đối tượng từ 20-29 tuổi do đối tượng này
thường đi làm ăn xa, vắng mặt ở địa phương dài ngày Số mẫu cao ở trẻ dưới 9 tuổi, nhìn chung ngoài 2 nhóm tuổi trên, các nhóm còn lại chênh lệch không đáng kể
3.Tỷ lệ nhiễm giun chung
Bảng 2: Tình trạng nhiễm các loại giun
Giun đũa Giun tóc Giun móc Nhiễm 2
loại
Nhiễm 3 loại
Không
nhiễm
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm giun đũa cao 20,91% so với giun móc và giun tóc, tỷ lệ này
thấp so với cư dân vùng đồng bằng và trung du 40-60% của cá nghiên cứu trước đây
Số nhiễm phối hợp 2 loại, 3 loại chiếm tỷ lệ thấp Tuy nhiên tỷ lệ này khá thấp so với
1 số nghiên cứu trong toàn quốc và thậm chí của Thừa Thiên Huế những năm trước đây
Trang 64 Phân bố số lượng mẫu thu được và tỷ lệ nhiễm theo giới
Bảng 3: Mẫu và giới
%
Nhiễm Tỷ lệ
%
Không nhiễm
Tỷ lệ p
Nhận xét: Số mẫu thu thập giữa nam và nữ; tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ không có sự
khác biệt mang ý nghĩa thống kê p>0,05
5.So sánh tỷ lệ nhiễm giun chung theo nhóm tuổi
Bảng 4 Tỷ lệ nhiễm và nhóm tuổi
χ2 =71,348 p=0,0001
Nhận xét: Nhóm tuổi nhiễm khá cao là 20-49; cao nhất ở nhóm tuổi trên 50 Tỷ lệ
nhiễm theo nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p< 0,01) Nhóm tuổi trẻ dưới 9 tuổi tỷ lệ nhiễm thấp(19,56%) Đây là nhóm tuổi hằng năm được can thiệp bằng thuốc xổ giun do WHO tài trợ
Trang 76.So sánh tỷ lệ nhiễm giun đũa theo huyện
Bảng 5: Nhiễm giun đũa theo vùng
χ2 =48,7312 p=0,0001 Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm giun đũa cao ở 2 xã huyện Phú Lộc (34,11%); tỷ lệ khá thấp ở
Phú Vang(13,32%) Tỷ lệ nhiễm giun đũa giữa các vùng có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê(p<0,05)
7.So sánh tỷ lệ nhiễm giun Đũa theo nhóm tuổi
Bảng 6: Nhiễm giun đũa và nhóm tuổi
χ2 =64,1588; p=0,0001
Nhận xét:
- Tỷ lệ nhiễm giun đũa cao ở nhóm tuổi trên 50( >37 %); thấp nhất ở nhóm tuổi dưới 20(<14%) Tỷ lệ nhiễm giun đũa giữa các nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p< 0,05) Tỷ lệ nhiễm giun đũa chung ở các nhóm thấp(20,9%) so với nghiên cứu các vùng miền đồng bằng, miền núi
8.So sánh tỷ lệ nhiễm giun Móc theo huyện
Bảng 7 Nhiễm giun móc theo vùng
Trang 8Phú Lộc 68(11,26%) 536(88,74%) 604
133 (6,43%) 1.934(93,57%) 2.067 χ2 =17,3819; p=0,0001
Nhận xét:
Trong 3 huyện nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm giun móc cao ở Phú Lộc(11,26%) so với Phú vang và Phong Điền; tỷ lệ nhiễm chung của 3 huyện ven biển chiếm 6,43% thấp hơn so với nghiên cứu trước đây ở khu vực các xã đồng bằng và miền núi
3.9 So sánh tỷ lệ nhiễm giun Móc theo nhóm tuổi
Bảng8 Nhiễm giun móc và nhóm tuổi
χ2 =66,7945; p=0,0001
Nhận xét:
Tỷ lệ nhiễm giun móc cao ở nhóm tuổi > 60(21,14%), tỷ lệ khá cao ở nhóm tuổi 30-50(Từ 12-15%) So với vùng đồng bằng và miền núi tỷ lệ này cao trên 60%
Tỷ lệ nhiễm giữa các nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống
kê(p<0,05)
10.So sánh tỷ lệ nhiễm giun Tóc theo huyện
Bảng 9: Nhiễm giun tóc theo vùng
Trang 9228 (11,03%) 1.839(88,97%) 2.067
χ2 =42,4726; p=0,0001
Nhận xét:
Tỷ lệ nhiễm giun tóc khá cao ở Phú Lộc và Phú vang(15,89%), tỷ lệ thấp ở Phong Điền(0,71%), tỷ lệ nhiễm giữa các vùng miền có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê(p<0,05)
11 So sánh tỷ lệ nhiễm giun tóc theo nhóm tuổi
Bảng 10.Nhiễm giun tóc và nhóm tuổi
χ2 =25,6808; p=0,0001 Nhận xét:
Tỷ lệ nhiễm giun tóc chung 11,03%, cao ở nhóm tuổi 40-49 và 50-59 là 15-16%; cao nhất ở nhóm tuổi >60 (23,58%), thấp nhất ở nhóm trẻ <9 tuổi Tỷ lệ nhiễm giữa các nhóm có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê(p<0,05)
12.So sánh tỷ lệ nhiễm 2, 3 loại giun theo nhóm tuổi
Bảng 11: Tình trạng đa nhiễm 2-3 loại giun
Nhóm tuổi Nhiễm 2 loại giun Nhiễm 3 loại giun Tổng n
χ2 =45,2589; p=0,0001 χ2 =30,3513; p=0,0001
Trang 10Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm 2 loại giun cao ở nhóm tuổi từ 50 trở lên(>15%), tỷ lệ này
thấp ở nhóm tuổi<9 tuổi(2,21%); Nhiễm 3 loại giun chiếm tỷ lệ cao ở nhóm tuổi
>60(8,13%), thấp ở nhóm tuổi <30(0-0,88%), Tỷ lệ nhiễm giữa cá nhóm tuổi có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê(p<0,05)
13 Nhiễm giun của 3 huyện
Biểu đồ 2: Đánh giá tình hình nhiễm giun của 3 huyện
Nhận xét: Trong 3 loại giun đũa, móc và tóc Tình trạng nhiễm giun đũa,
giun móc cao ở huyện Phú Lộc; nhiễm giun tóc cao huyện Phú Vang Nói tóm lại tình trạng nhiễm giun cần được đặc biệt quan tâm không những trên phương diện dịch
tễ mà ngay cả trên phương diện lâm sàng, sự đầu tư kinh phí điều tra, điều trị là cần thiết
KẾT LUẬN
- Qua nghiên cứu thực địa tại địa phương 3 huyện với 6 xã vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi có sự tương đồng về địa lý, khí hậu mà đặc biệt là điều kiện sống: Kinh tế, nguồn nước, tập quán ăn uống, sinh hoạt, môi trường Tỷ lệ nhiễm
Trang 11giun chung là 28,68% trong đó giun đũa 20,9%, giun móc 6,43%, giun tóc 11,03%; nhiễm 2 loại giun chiếm tỷ lệ 6,34% và nhiễm cả 3 loại giun là 1,65% Tỷ lệ này khá thấp so với nghiên cứu của viện trung ương (giun đũa chiếm tỷ lệ 70-95% dân số cả nước; giun tóc chiếm 30-60%; giun móc chiếm 40-70%); nghiên cứu của 4 xã tại Lào
Cai 56,41% và nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế 2001-2002(Nguyễn Võ Hinh,Bùi Thị Lộc và cs) có tỷ lệ nhiễm giun chung 75,6%, trong đó giun đũa 65,7%, giun móc 48,3%, giun tóc 33,4%; nghiên cứu tình hình nhiễm giun ở trẻ 5-9 tuổi tại xã Hồng vân A lưới 2005-2006, tỷ lệ nhiễm giun chung: 64,41%; trong đó nhiễm giun đũa là
54,24%, giun tóc là 16,27% và giun móc là 25,08%, tỷ lệ đơn nhiễm một loại giun là 38,64%, hai loại giun là 20,34%, ba loại giun là 5,42%.; nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun của Phụ nữ từ 16-49 tuổi tỉnh Thừa Thiên huế năm 2007 của Hoàng Văn Hội và cộng
sự tỷ lệ nhiễm giun chung 65,88% trong đó Tỷ lệ nhiễm giun móc cao ở phụ nữ độ tuổi 21-30 khu vực miền núi, chiếm tỷ lệ 59,35%; trong lúc đó tỷ lệ này thấp ở khu vực trung du ven biển (17,24%) và đồng bằng (35,29%) Tỷ lệ nhiễm giun móc cao ở khu vực miền núi hơn khu vực đồng bằng và trung du ven biển Tỷ lệ nhiễm giun đũa
ở khu vực miền núi (15,81% )thấp hơn khu vực đồng bằng (16,34%) và trung du ven biển(22,06%)
- Điều này khá thú vị giúp chúng ta khẳng định lại mức độ nhiễm giun của các
xã vùng ven biển thấp hơn so với các vùng đồng bằng, trung du và miền núi Có lẽ nơi đây nghề chính đó là nuôi trồng thủy sản, miền cát trắng không thuận lợi cho việc trồng rau màu và có lẽ trong chế độ ăn uống hằng ngày khẩu phần ăn ít rau quả hơn so với các vùng khác; điều kiện kinh tế có khá hơn, các công trình vệ sinh ngày càng được cải thiện việc dùng phân tươi để chăm bón không còn là phổ biến như trước đây
- Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm giun của trẻ dưới 9 tuổi thấp 19,56%, đây là đối tượng trẻ mẫu giáo và học sinh tiểu học có sự hỗ trợ nguồn thuốc từ Tổ chức y tế thế giới(WHO) được triển khai xổ giun hằng năm
KIẾN NGHỊ
Qua công tác điều tra phân lấy mẫu xét nghiệm và kết quả đã phân tích ở trên Chúng tôi xin có một vài kiến nghị sau:
Trang 12- Cần có sự hỗ trợ nguồn kinh phí thích giúp cho công tác điều tra đánh giá dịch tễ các xã vùng đồng bằng, trung du và miền núi để thiết lập bản đồ dịch tễ về giun sán tỉnh Thừa thiên Huế nhằm xây dựng chiến lược phòng chống giun sán trong thời gian tới
- Tăng cường và duy trì thường xuyên việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ về
vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống, vệ sinh lao động, tác hại của bệnh giun sán và cách phòng chống vào trong các buổi truyền thông tại cộng đồng
- Tăng cường vận động nhân dân có thói quen tốt trong khâu vệ sinh ăn uống,
ý thức bảo vệ sức khoẻ và thường xuyên tiếp cận các dịch vụ y tế để can thiệp kịp thời
- Trong thăm khám bệnh nhân ở tất cả các cơ sở khám chữa bệnh(nơi có điều kiện) cần thực hiện xét nghiệm mẫu phân như là một chỉ định thường quy nhằm phát hiện bệnh và chỉ định điều trị đúng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trương Quang Ánh và cọng sự (2005),”Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường ruột trong cộng đồng dân cư tại một số xã thuộc huyện Nghĩa hành tỉnh Quảng Ngãi”, Y học thực hành, số 524/2005, tr51-53.
2 Trương Quang Ánh, Ngô Chân, Tôn Nữ Phương Anh và Cs (1998), ” Tình hình nhiễm giun của học sinh trường tiểu học xã Thuỷ Dương”, Công trình nghiên cứu Y học quân sự, (đặc biệt), tr 35-38.
3 Bộ Y tế (1998), Đặc điểm dịch tể, bệnh học, điều trị và kỹ thuật chẩn đoán trong phòng chống một số bệnh giun sán, tài liệu tập huấn, Hà Nội-1998.
4 Nguyễn Võ Hinh,Bùi Thị Lộc và cs “Tình hình nhiễm giun đường ruột tại tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2001-2002”.Tạp chí phòng chống bệnh sốt rét-các bệnh ký sinh
trùng Viện Sốt rét KST-CT Trung ương Số 4/2002 Trang 85-91
5 Nguyễn Võ Hinh, Bùi Thị Lộc, Nguyễn Văn Hường, Nguyễn Văn Uynh, Võ Đại
Thanh Trí, Nguyễn Đức Huệ, Dương Quang Minh, Hoàng Hữu Nam, Trần Đình
Oanh và cs “Tình hình phòng chống giun truyền qua đất ở học sinh tiểu học huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2002-2003”.Tạp chí Y học thực hành Hội nghị