1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với hoạt động lâm nghiệp tỉnh sóc trăng và đề xuất kế hoạch ứng phó

16 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 392,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với hoạt động lâm nghiệp tỉnh sóc trăng và đề xuất kế hoạch ứng phó

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU -1

CHƯƠNG I BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÀNH LÂM NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG TRONG THỜI GIAN QUA -2

I BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG -2

1 Diễn biến thời tiết -2

2 Tình hình xâm nhập mặn -3

II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÀNH LÂM NGHIỆP -3

1 Tình hình sản xuất ngành lâm nghiệp -3

2 Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp -3

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIỂN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÂM NGHIỆP, ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ -4

I TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG -4

1 Khả năng thay đổi ranh giới các hệ sinh thái rừng -4

2 Chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng -6

3 Nguy cơ cháy rừng -6

4 Thảm thực vật rừng -7

5 Thu hẹp diện tích rừng ngập mặn do nước biển dâng -7

6 Nguy cơ sâu, dịch bệnh phá hoại rừng -8

7 Động vật và thực vật quý hiếm -9

II KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ, THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG -11

1 Phát triển, quản lý bền vững, trồng rừng phòng hộ ven biển, đặc biệt là rừng ngập mặn ven biển Vĩnh Châu, Trần Đề, Cù Lao Dung -11

2 Tăng cường phòng chống cháy rừng, bảo vệ và phát triển diện tích rừng tràm hiện nay -13

3 Chọn và nhân giống những loại cây rừng thích hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng và biến đổi khí hậu. -13

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ -14 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

BĐKH đang được xem là vấn đề nóng bỏng nhất - yếu tố quan trọng, có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Do ảnh hưởng của BĐKH, thiên tai trên phạm vi toàn cầu đã, đang và sẽ xảy ra với tần suất nhiều hơn, phức tạp hơn, cường độ tăng mạnh hơn làm trầm trọng thêm mức độ ảnh hưởng của thiên tai

Sóc Trăng là tỉnh cuối nguồn sông Hậu nằm trong vùng ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long, là tỉnh có đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, có các hệ sinh thái (HST) mặn ngọt lợ phong phú Tuy nhiên trong thời gian qua, do những nguyên nhân khác nhau, ĐDSH, các HST, đặc biệt là các HST rừng ngập mặn ven biển - HST có ĐDSH cao nhất bị suy thoái đáng kể Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển, tác động xấu đến hệ sinh thái rừng tràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn vùng trũng thấp khu vực Tây Bắc của tỉnh Sóc Trăng Trong những năm gần đây, rừng tuy có tăng lên về diện tích, nhưng chất lượng rừng không cao

Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài sẽ làm thay đổi sự phân bố và khả năng sinh trưởng của các loài thực vật và động vật rừng Số lượng quần thể các loài động thực vật rừng quý hiếm sẽ ngày càng suy kiệt và nguy cơ tuyệt chủng tăng Nhiệt độ tăng và hạn hán kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, nhất là HST rừng tràm khu vực nội đồng, vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa tăng lượng phát thải khí nhà kính, làm gia tăng BĐKH và tạo điều kiện cho một số loài sâu bệnh hại rừng phát triển BĐKH làm thay đổi số lượng và chất lượng hệ sinh thái rừng,

đa dạng sinh học Chức năng và dịch vụ môi trường (điều tiết nguồn nước, điều hoà khí hậu, chống xói mòn v.v…) và kinh tế của của rừng bị suy giảm Nước biển dâng

và hạn hán làm giảm năng suất và diện tích cây trồng dẫn tới nhu cầu chuyển đổi rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản tăng

Trước tình hình này, việc “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước

biển dâng đối với hoạt động lâm nghiệp tỉnh Sóc Trăng và đề xuất kế hoạch ứng phó” là nhu cầu cấp thiết hiện nay nhằm tìm ra phương hướng phát triển ngành lâm

nghiệp bền vững trong thời gian tới

Trang 3

CHƯƠNG I BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÀNH LÂM NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG

TRONG THỜI GIAN QUA

I BIỂU HIỆN CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI TỈNH SÓC TRĂNG

1 Diễn biến thời tiết

a) Nhiệt độ

Tỉnh Sóc Trăng thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 – 11 với gió mùa Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 với gió mùa Đông Bắc Nhiệt độ trung bình của tỉnh trong giai đoạn 2000 – 2009 dao động trong khoảng 26,6 – 26,90C, và đỉnh điểm là vào các năm 2005 – 2006 (đạt 26,90C), nhiệt độ thay đổi thất thường không diễn ra theo bất kỳ quy luật nhất định và có xu hướng khắc nghiệt hơn như

“nóng thì càng nóng hơn và lạnh thì càng lạnh hơn”,

b) Lượng mưa

Trong những năm qua mưa thường đến sớm hơn, kéo dài và kết thúc muộn, chứ không còn theo quy luật của mấy chục năm trước, Cụ thể trong năm 2007, 2008, mùa mưa kéo dài mãi đến tháng 12 và tháng 1 năm sau, muộn hơn mấy năm trước hơn 1 tháng Mùa lũ cũng có

độ trễ, đỉnh lũ thường xuất hiện muộn Tình trạng mưa kéo dài, lũ về đạt đỉnh muộn và trùng vào lúc triều cường hàng tháng khiến cho vùng hạ lưu nhiều nơi bị ngập Tuy nhiên, đến năm

2009 thì mùa mưa lại đến muộn hơn (bắt đầu vào khoảng giữa tháng 5) khoảng 10 – 15 ngày

và kết thúc sớm hơn (cuối tháng 10),

c) Bão, áp thấp nhiệt đới

Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Sóc Trăng không nhiều Tuy nhiên, những hiện tượng bất thường của thời tiết như sự hình thành của áp thấp nhiệt đới ngay trên khu vực biển Đông, một số cơn bão có cường độ rất mạnh (cấp 12, trên cấp 12) đã xảy ra; lốc xoáy cục bộ xuất hiện nhiều Ảnh hưởng về tai biến thiên tai nặng nhất trong những năm gần đây là cơn bão số 9 năm 2006 và trong năm 2007 là cơn bão số 7 gây thiệt hại nặng nề và người và của Riêng trong năm 2008 tuy là ảnh hưởng của hiện tượng La Nina gây mưa nhiều trên diện rộng cả nước nhưng riêng tỉnh Sóc Trăng trong năm này lại không ảnh hưởng trực tiếp nhiều

d) Các yếu tố thời tiết cực đoan

Trong những năm qua, tình hình thời tiết diễn biến rất phức tạp Các đợt nắng nóng, số ngày nắng nóng, các đợt rét, số ngày rét, lốc xoáy đã có sự thay đổi, tăng lên và tác động ngày càng lớn Nắng nóng gay gắt trong mùa khô, mùa mưa có lượng mưa tương đối nhiều, thường xuyên xảy ra lốc xoáy, giông, sét

e) Hạn hán

Theo số liệu thống kê tình hình hạn hán tại tỉnh Sóc Trăng trong giai đoạn 2006 – 2010 với diễn biến phức tạp hơn cả về thời gian, mức độ và có xu hướng tăng đợt hạn hán vào những năm sau kế tiếp Cụ thể, theo nguồn Sở Tài nguyên và Môi trường

Trang 4

tỉnh Sóc Trăngvào năm 2006 xuất hiện 2 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 18/8 – 24/8, đợt 2 vào đầu tháng 9); năm 2007 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 5/6 – 9/6, đợt 2 từ 17/7 – 27/7, đợt 3 từ 5/9 – 10/9); năm 2008 xuất hiện 3 đợt hạn hán (đợt 1 từ ngày 2/6 – 8/6, đợt 2 từ 10/7 – 21/7, đợt 3 từ 22/8 – 31/8)

2 Tình hình xâm nhập mặn

Tại vị trí đo qua từng năm cho thấy độ mặn cao nhất tại các trạm đo tăng (năm 2005) do trong giai đoạn này nước ta chịu ảnh hưởng xu thế hiện tượng thời tiết nóng trên toàn cầu đó là hiện tượng El Nino, thời điểm nắng nóng và khô hạn kéo dài Độ mặn cao nhất của các năm 2006, 2007, 2008 và năm 2009 có diễn biến thất thường, luôn ở mức thấp hơn TBNN và thấp hơn cùng kỳ 2005 Đến năm 2010 do mùa mưa kết thúc sớm (cuối tháng 10) năm 2009, mực nước đầu nguồn sông Hậu tại Châu Đốc xuống nhanh và ở mức thấp hơn cùng kỳ năm ngoái Trong khi đó gió Đông Bắc hoạt động khá mạnh và thủy triều vùng ven biển Đông ở mức cao nên từ đầu tháng 1/2010 đến nay mặn đã xâm nhập khá mạnh vào vùng cửa sông và đi sâu dần vào nội đồng, do ảnh hưởng của hiện tượng El-nino nên trong các tháng 2, 3, 4 và những ngày đầu tháng 5 thời tiết các nơi trong tỉnh tiếp tục khô hạn, mặn tiếp tục xâm nhập mạnh vào các sông rạch trong tỉnh và đạt mức cao nhất năm 2010 là: tại Đại Ngãi độ mặn cao nhất 11,6‰; tại Trần Đề 26,6‰; Long Phú 21,0‰; tại Thạnh Phú 16‰; và tại TP.Sóc Trăng 5,2‰; An Lạc Tây 2,8‰

II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NGÀNH LÂM NGHIỆP

1 Tình hình sản xuất ngành lâm nghiệp

Giai đoạn 2001- 2005, GTSX lâm nghiệp tăng bình quân 6,6%, năm 2005 đạt 88,3 tỷ đồng (giá hh) trong đó trồng và nuôi rừng 3,9 tỷ đồng, khai thác gỗ và lâm sản 82,3 tỷ đồng, dịch vụ lâm nghiệp 2,1 tỷ đồng

Cơ cấu rừng trồng từng bước được chuyển đổi theo hướng bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ đi đôi với phát triển rừng kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất ngành lâm nghiệp Diện tích rừng tập trung đến hết năm 2005 có 9.202 ha tăng 715 ha so với năm 2000, bao gồm rừng sản xuất 4.494 ha chiếm 48,8%, rừng phòng hộ ven biển 4.454 ha chiếm 48,4% và rừng đặc dụng 254 ha chiếm 2,8% diện tích rừng tập trung Năm 2007, diện tích rừng phòng hộ của tỉnh

là 5.531 ha, rừng tập trung là 9.977 ha Và đến năm 2009 tỉnh Sóc Trăng có 10.711,92 ha đất lâm nghiệp được thống kê trong diện tích tự nhiên Trong đó, rừng sản xuất 5.013,99 ha; rừng phòng hộ 5.433,38 ha; rừng đặc dụng 264,55 ha, chủ yếu tập trung dọc theo bờ biển dài hơn 72

2 Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp

Tăng cường phát triển rừng theo hướng đa mục tiêu, kết hợp có hiệu quả giữa phòng hộ, đặc dụng với kinh tế và tăng cường cảnh quan sinh thái Tập trung khoanh vùng bảo vệ và ổn định phát triển các rừng ngập mặn ven biển, vùng cửa sông và rừng chắn cát Cơ bản duy trì diện tích rừng hiện có nhưng chuyển đổi một số diện tích rừng sản xuất hiệu quả thấp sang cây trồng khác để tăng hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp Tăng diện tích rừng tập trung từ 12.228 ha (2005) lên 12.500 ha gồm rừng sản xuất 6.214 ha, rừng phòng hộ 6000 ha (tăng 493 ha) và rừng đặc dụng 286 ha đến năm 2010

Giai đoạn 2011- 2020, ổn định diện tích rừng tập trung khoảng 13.000- 14.000 ha trong

đó rừng sản xuất 6.000 ha, rừng phòng hộ 7000 ha (tăng 1.493 ha) và rừng đặc dụng 286 ha; độ che phủ của rừng kể cả cây lâu năm, cây phân tán (qui đổi) đạt 17% và 21-22% vào năm 2010

và 2015-2020

Trang 5

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỐI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÂM NGHIỆP, ĐỀ XUẤT KẾ HOẠCH ỨNG PHÓ

I TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG

Theo báo cáo về Biến đổi khí hậu và Phát triển con người ở Việt Nam của Chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP, 2007,), từ năm 1900 đến năm

2000, mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình ở Viêt Nam tăng 0,10C Mùa hè trở nên nóng hơn, với nhiệt độ trung bình tăng 0,1 - 0,30C/thập kỷ So với năm 1990, nhiệt độ trung bình năm 2050 sẽ tăng 1,4 - 1,50C và nhiệt độ trung bình năm 2100 sẽ tăng 2,5 - 2,80C Đất liền sẽ là nơi có nhiệt độ cao nhất So với năm 1990, lượng mưa trung bình hàng năm sẽ tăng 2,5 - 4,8 % vào năm 2050 và 4,7 - 8,8% vào năm 2100 Lượng mưa tăng cao nhất ở phía Bắc Việt Nam và thấp nhất ở đồng bằng Nam bộ Lượng mưa sẽ tập trung hơn vào các tháng mùa mưa, hạn hán sẽ nghiêm trọng hơn vào mùa khô Biến đổi khí hậu đã và đang làm cho lượng mưa thay đổi bất thường và rất khác nhau theo mùa và theo vùng (Schaefer, 2003) Lượng mưa hàng tháng đã giảm ở hầu hết các vùng trong cả nước vào tháng 7 và 8, tăng lên vào tháng 9, 10 và 11 (Bộ TN và MT, 2003)

Rừng của tỉnh Sóc Trăng trước đây được phân chia làm 3 loại là: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Rừng phòng hộ tập trung chủ yếu ở 3 huyện vùng ven biển đó là Vĩnh Châu, Trần Đề và huyện Cù Lao Dung, rừng đặc dụng và rừng sản xuất tập trung chủ yếu ở 3 huyện Ngã Năm, Châu Thành và Mỹ Tú Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng đến phát triển bền vững của tỉnh chủ yếu là chống xói mòn, mặn hoá, cát hoá đất ven biển, bảo vệ cân bằng sinh thái các vùng cửa sông đồng thời phục vụ cho phát triển du lịch Tuy nhiên, khi nước biển dâng cao do tác động của BĐKH thì diện tích rừng phòng hộ này sẽ giảm tác dụng của nó, xâm nhập mặn sẽ tiến sâu vào trong nội đồng hơn, sạt lở diễn ra nhiều hơn Thảm rừng ngập mặn

có độ che phủ cao trở nên trơ trọi, bị chia cắt; môi trường đất bị ô nhiễm do quá trình phèn hóa gia tăng ở quy mô lớn; giảm đi quá trình bồi tụ phù sa do mất rừng; đa dạng sinh học bị suy giảm nhanh chóng; mất cân bằng sinh thái

Hiện tượng BĐKH sẽ làm gia tăng sóng, gió, bão, nhiệt độ, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của rừng phòng hộ ven biển, làm giảm khả năng giữ đất, chắn sóng của cây rừng Khi rừng phòng hộ bị ảnh hưởng sẽ làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái và

đa dạng sinh thái trong khu vực nghiên cứu Nhiệt độ tăng và nước biển dâng là 2 yếu

tố gây tác động nhiều nhất đến ngành lâm nghiệp – ngành kinh tế chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và có vai trò to lớn trong môi trường sinh thái tỉnh Sóc Trăng BĐKH làm gia tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa sẽ làm ảnh hưởng đến thảm thực vật rừng và hệ sinh thái rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau Tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn hại do BĐKH gây ra đối với:

1 Khả năng thay đổi ranh giới các hệ sinh thái rừng

Theo dự báo, dưới tác động của biến đổi khí hậu, ranh giới các hệ sinh thái rừng tại Việt Nam nói chung có sự thay đổi: ranh giới rừng nguyên sinh cũng như rừng thứ

Trang 6

sinh có thể chuyển dịch, rừng cây họ dầu mở rộng lên phía Bắc và các dải cao hơn, rừng rụng lá với nhiều cây chịu hạn phát triển mạnh Riêng tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng, việc thay đổi ranh giới có thể diễn ra đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển

Nhiệt độ, lượng mưa và bão là các yếu tố chủ yếu gây thay đổi ranh giới rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng

Theo thống kê, đến năm 2009 tỉnh Sóc Trăng có 10.711,92 ha đất lâm nghiệp được thống kê trong diện tích tự nhiên Trong đó, rừng sản xuất 5.013,99 ha; rừng phòng hộ 5.433,38 ha; rừng đặc dụng 264,55 ha, chủ yếu tập trung dọc theo bờ biển dài hơn 72 km

Tại khu vực nội đồng, theo thống kê thì diện tích rừng nằm tập trung tại 3 phân trường Mỹ Phước, Thạnh Trị, Phú Lợi Chủ yếu là rừng sản xuất (với các mô hình phát triển nông lâm ngư nghiệp), trong đó phòng hộ môi trường chiếm tỷ lệ không đáng kể (có tổng diện tích tự nhiên: 308 ha, trong đó diện tích rừng: 280,9 ha, diện tích kênh mương, bờ: 7,3 ha, diện tích khác (xây dựng cơ sở hạ tầng): 19,8 ha)

Trong khi đó, sự phân bố của rừng phòng hộ khá dài (trải dài theo 72 km bờ biển), phân bố tập trung ở ven biển các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề và Cù Lao Dung Trong đó, Vĩnh Châu là nơi có diện tích rừng phòng hộ cao nhất với 3.011 ha (chiếm 84,5% tổng diện tích rừng huyện Vĩnh Châu) Rừng phòng hộ đang đóng vai trò quan trọng đến phát triển bền vững của tỉnh chủ yếu là chống xói mòn, mặn hoá, cát hoá đất ven biển, bảo vệ cân bằng sinh thái các vùng cửa sông Rừng ngập mặn tạo thành một đai rừng hẹp bảo vệ bờ biển và đê biển khỏi các cơn sóng do bão, sóng, lũ lụt và làm giảm xói lở

Cùng với nhiệt độ, sự biến đổi của lượng mưa cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố và phân vùng của các loài cây ngập mặn Sở dĩ lượng mưa có ảnh hưởng đến

sự phân bố các quần xã và thành phần loài vì nó cung cấp nước cho đất, tăng cường lượng nước ngọt chảy qua bề mặt, làm giảm nồng độ muối trong đất, nhất là vào thời gian cây sinh trưởng mạnh mẽ (lúc cây con mới bén rễ và lúc cây ra hoa kết quả), tránh cho cây khỏi bị “hạn sinh lý”do nồng độ muối cao Vì vậy, mùa mưa thường cũng là mùa ra hoa, kết quả và phát tán hạt giống của các cây ngập mặn Tuy nhiên, lượng mưa lớn không phải bao giờ cũng có lợi Do ảnh hưởng của BĐKH nên các hiện tượng mưa lớn thường xuyên xảy ra hơn cả về cường độ và thời gian Khi mưa lớn chỉ tập trung trong thời gian ngắn và nhiều tháng còn lại trong năm bị khô hạn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi phân bố của cây ngập mặn Trong hoàn cảnh đó, mưa lớn sẽ lọc rửa hết muối trong đất, ngược lại về mùa khô lượng muối trong đất lại quá cao

Những nơi thường có mưa lớn bất thường và xuất hiện ngày càng thường xuyên hơn, có ngày mưa tới 400 - 500 mm và thường tập trung vào mùa mưa (cũng có tần xuất xuất hiện thường xuyên hơn do ảnh hưởng của BĐKH) nên lượng mưa càng lớn hơn và làm đất ngập mặn bị lọc hết muối, nhất là khi con nước kém Một số nơi, mưa lớn đã cuối theo cát, sỏi ra các bãi lầy, lấp rễ hô hấp và phá huỷ cây con đang tái sinh Bởi vậy, sự phân bố cây ngập mặn ở đây sẽ ngày càng thưa và không đồng đều

Ngoài ra, bờ biển Sóc Trăng, do các yếu tố tự nhiên tác động: dòng chảy sông Mêkông, chế độ triều biển Đông và dòng chảy dọc bờ biển dưới ảnh hưởng gió mùa tạo ra một quá trình bồi dần và xói lở năng động dọc theo đường bờ biển Tình trạng sạt lở ven biển Vĩnh Châu đã lên mức báo động, diện tích rừng bị xâm hại, không thể trồng rừng mới tại khu vực này gây ảnh hưởng đến diện tích rừng tại khu vực này

Trang 7

Trong tương lai, với tần suất và cường độ gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan, dâng cao mực nước biển thì diện tích rừng phòng hộ sẽ bị thu hẹp diện tích nhanh chóng

Một yếu tố nữa là bão Bão với tần suất và cường độ ngày càng gia tăng sẽ tác động đến HST rừng ngập mặn Nhìn chung, RNM thường không thể phát triển được ở những nơi chịu tác động trực tiếp theo chu kỳ năm của bão Bão và triều cường đưa cát vào bờ, làm cho các loài cây ngập mặn có rễ thở trên mặt đất bị vùi lấp và chết đứng Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, khi tốc độ gió là 5m/s thì nước biển tăng cao 10cm Khi tốc độ gió tới 10m/s thì nước biển tăng lên 20cm, nếu không có gió thì nước biển chỉ tăng 4cm Nước mặn, lợ vào đến đâu thì các loài cây ngập mặn theo dòng nước vào sâu trong nội địa đến đó Nước biển dâng tạo điều kiện cho một số loài cây ngập mặn xâm lấn nội địa, giảm diện tích sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Nhiều loài động thực vật nước ngọt biến mất và thay vào đó là các loài nước lợ Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ của các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua

Như vậy, ranh giới diện tich rừng có thể sẽ bị thu hẹp ở phía bên ngoài biển và dần dần đi vào đất liền theo sự gia tăng độ mặn tại các cửa sông, rạch và các yếu tố môi trường thuận lợi cho cây ngập mặn phát triển

2 Chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng

Phân tích các mối quan hệ khí hậu và tăng trưởng cây rừng cho thấy sự suy giảm trong tăng trưởng là kết quả của nhiệt độ nóng lên Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng mặt trời dồi dào thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hóa cây xanh Tuy vậy, chỉ số tăng trưởng sinh khối của cây rừng có thể giảm do độ

ẩm giảm

Sự thay đổi về điều kiện thời tiết, với sự gia tăng về nhiệt độ và lượng mưa là một trong những nhân tố hạn chế sự sinh trưởng của cây ngập mặn

- Nhiệt độ cao bất thường gây ra hiện tượng cháy lá, nhất là vào những ngày nước triều kiệt

- Do ảnh hưởng của BĐKH nên các hiện tượng mưa lớn thường xuyên xảy ra hơn cả về cường độ và thời gian Khi mưa lớn chỉ tập trung trong thời gian ngắn và nhiều tháng còn lại trong năm bị khô hạn sẽ gây ảnh hưởng bất lợi đến sự tăng trưởng của cây ngập mặn Trong hoàn cảnh đó, mưa lớn sẽ lọc rửa hết muối trong đất, ngược lại về mùa khô lượng muối trong đất lại quá cao Chính vì vậy, cây ngập mặn tại những khu vực này thường bị ngừng sinh trưởng hoặc chết cây con

Nhìn chung, biến đổi khí hậu làm giảm quá trình sinh trưởng và phát triển của cây rừng nói chung trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

3 Nguy cơ cháy rừng

Sự biến động phức tạp của thời tiết có thể gây ra nhiều hậu quả khác nhau Có thể nêu ra hai nhóm thời tiết cực hạn quan trọng nhất:

- Trước hết đó là khả năng tăng tần suất và mức độ gây hại của các hiện tượng thiên nhiên như bão, lũ lụt Mưa lũ tăng lên đồng nghĩa với việc tăng nguy cơ ngập lụt

ở các vùng trũng vốn thường xuyên bị ngập, gây chua úng, xói lở đất làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất, tài nguyên thiên nhiên và chất lượng cuộc sống của con người

Trang 8

- Thời tiết cực hạn quan trọng thứ hai chính là hạn hán Hạn hán đã gây nhiễm mặn, nhiễm phèn ở các vùng trên địa bàn tỉnh đe dọa trực tiếp đến sản xuất, tới sự phát triển và tính đa dạng sinh học của rừng ngập mặn và rừng tràm đồng thời làm tăng nguy cơ cháy rừng Đối với sản xuất lâm nghiệp, đây là loại thiên tai tồi tệ nhất, xảy ra ngày càng nghiêm trọng với tần suất và quy mô ngày càng lớn gây nhiều thiệt hại và kéo dài dai dẳng, trong đó hai yếu tố liên quan chặt chẽ tới biểu hiện của biến đổi khí hậu là nhiệt độ và lượng mưa đóng vai trò quan trọng trong quá trình gây nên cháy rừng

Nhiệt độ tăng, lượng mưa giảm sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, khí hậu biến đổi thường là yếu tố chi phối ảnh hưởng đến cháy rừng lớn, được sự hiện diện của các nguồn đánh lửa (McKenzie et al., 2004) Trên quan điểm nông nghiệp, có thể thấy hạn hán thường xảy ra vào mùa khô, nắng nóng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nhiều lần, đã làm cây trồng khô héo nhanh chóng, làm tăng nguy cơ cháy rừng và làm chết cây hàng loạt

Diện tích rừng nằm trong diện dễ cháy vào mùa khô trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng chủ yếu là gần 5.500 ha rừng tràm tập trung tại vùng nội đồng, với ba phân trường Thạnh Trị, Phú Lợi và Mỹ Phước, trong đó Mỹ Phước là phân trường có diện tích lớn nhất với khoảng gần 3.000 ha Sự gia tăng nhiệt độ và suy giảm lượng mưa hiện nay

và trong thời gian tới đang và sẽ là yếu tố gây nguy cơ cao cháy rừng tại khu vực Do

đó, bên cạnh việc tăng cường công tác phòng chống cháy rừng thì giải pháp lâu dài vẫn là ngành lâm nghiệp cần có kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu toàn cầu

4 Thảm thực vật rừng

Thảm thực vật chính tại các hệ sinh thái rừng tỉnh Sóc Trăng bao gồm: hệ sinh thái rừng tràm tập trung tại Mỹ Tú, Châu Thành, Ngã Năm…và hệ sinh thái rừng ngập mặn phòng hộ ven biển các huyện Vĩnh Châu, Trần Đề và Cù Lao Dung Đây là các hệ sinh thái rừng có vai trò quan trọng trong sinh thái môi trường và kinh tế - xã hội tại địa phương Dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, thảm thực vật rừng tỉnh Sóc Trăng sẽ bị ảnh hưởng bao gồm:

Các hiện tượng thời tiết cực đoan trong tương lai, đặc biệt là bão sẽ là đối tượng tác động rất lớn đến thảm thực vật rừng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng

Gần đây, các cơn bão liên tục đổ bộ vào miền Trung đã gây ra lụt lội, xói lở đất nghiêm trọng ở các tỉnh ven biển miền Trung, gây ra triều cường và hiện tượng nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, ảnh hưởng tới sản xuất lâm nghiệp tại địa bàn Tuy nhiên, bão

có xu hướng tiến sâu về phía Nam, đặc biệt là các tỉnh ven biển Nam bộ trong đó có tỉnh Sóc Trăng với 72 km bờ biển sẽ gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng, hệ sinh thái rừng là

lá chắn bảo vệ cho tỉnh Sóc Trăng Đặc biệt, diện tích rừng ngập mặn ven biển sẽ bị thiệt hại đáng kể dưới tác động của sóng và gió do ảnh hưởng của bão

Biến đổi khí hậu làm thay đổi chất lượng và số lượng hệ sinh thái rừng và đa dạng sinh học Chức năng và dịch vụ rừng (điều tiết nguồn nước, điều hòa khí hậu, chống xói mòn,…) và kinh tế cuả rừng bị suy giảm

5 Thu hẹp diện tích rừng ngập mặn do nước biển dâng

Nước biển dâng và hạn hán kéo dài làm giảm năng suất và diện tích cây trồng dẫn tới nhu cầu chuyển đổi rừng sang đất sản xuất nông nghiệp và khai thác thủy sản tăng, điều này làm suy giảm diện tích rừng

Trang 9

Theo kịch bản nước biển dâng 1 m (vào năm 2100) thì Sóc Trăng sẽ là 1 trong

10 tỉnh đứng đầu về thiệt hại với diện tích bị ngập khoảng 1.425 km2, chiếm đến 43,7% diện tích cả tỉnh Do địa hình của tỉnh có dạng hình lòng chảo thoải, hướng dốc chính từ sông Hậu thấp dần vào phía trong, từ biển Đông và kênh Quản lộ thấp dần vào đất liền với những giồng đất ven sông Khi nước biển dâng, khu vực trũng thấp có cao độ trung bình từ 0,5 – 1m (huyện Mỹ Tú, Châu Thành, Thạnh Trị, Ngã Năm và một phần phía Bắc huyện Mỹ Xuyên) của tỉnh sẽ là nơi chịu ngập úng nặng nề Đây cũng là khu vực phát triển rừng của tỉnh Sóc Trăng, chủ yếu là rừng sản xuất và rừng đặc dụng với hệ sinh thái rừng tràm tập trung (chủ yếu tại 3 phân trường: Thạnh Trị, Phú Lợi và Mỹ Phước)

Điều này, kéo theo các hoạt động sản xuất nông – ngư nghiệp, du lịch sinh thái tại khu vực bị ảnh hưởng Theo quy hoạch sử dụng đất tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, diện tích đất rừng sản xuất là 5.406,53 ha, trong đó đất rừng tự nhiên 158,87 ha, đất có rừng trồng 1.230,79 ha và đất trồng rừng 4.016,87 ha Đây sẽ là đối tượng bị ảnh hưởng bởi quá trình ngập úng trong tương lai

Bảng: Sóc Trăng là 1 trong 10 tỉnh bị ngập nước nặng nhất theo kịch bản nước biển dâng

1m

STT Tỉnh Tổng diện tích (km 2 )

Diện tích bị ngập (km 2 )

% bị ngập

1 Bến Tre 2.257 1.131 50.1

2 Long An 4.389 2.169 49,4

3 Trà Vinh 2.234 1.021 45,7

4 Sóc Trăng 3.259 1.425 43,7

5 TP.Hồ Chí Minh 2.003 862 43,0

6 Vĩnh long 1.508 606 39,7

7 Bạc Liêu 2.475 962 38,9

8 Tiền Giang 2.397 783 32,7

9 Kiên Giang 6.224 1.757 28,2

10 Cần Thơ 3.062 758 24,7

Tổng cộng 29.827 11.474 38,6

Nguồn: Jeremy Carew Ried-Giám đốc Trung tâm Quốc tế về quản lý môi trường

(ICEM), 2007

Nước biển dâng lên làm giảm diện tích rừng hiện có, tác động xấu đến rừng tràm và rừng trồng trên đất bị ô nhiễm phèn ở các khu vực nội đồng tỉnh Sóc Trăng Tổng diện tích rừng tràm hiện nay là khoảng trên 5.000 ha, dưới tác động của các yếu

tố thời tiết, khí hậu do hậu quả của biến đổi khí hậu, diện tích này sẽ suy giảm đáng kể

Bên cạnh tác động đến diện tích rừng tràm nội đồng thì nước biển dâng còn làm giảm diện tích rừng ngập mặn ven biển, đặc biệt là hệ thống rừng phòng hộ ven biển thuộc Vĩnh Châu 4.007,88 ha, huyện Cù Lao Dung 1.173,17 ha và huyện Trần Đề

921,81 ha (theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tỉnh Sóc Trăng).

6 Nguy cơ sâu, dịch bệnh phá hoại rừng

Nhiệt độ và lượng bốc hơi tăng cùng với hạn hán kéo dài tạo điều kiện cho một

số loài sâu bệnh hại cây rừng phát triển Tăng dịch bệnh và làm giảm khả năng chống

Trang 10

chọi của các hệ sinh thái rừng trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu là điều cần tính toán và có biện pháp thích ứng của các cấp, ngành liên quan khi định hướng phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới

Các dịch bệnh, sâu hại phát triển trên cây rừng, đặc biệt là cây tràm sẽ sinh sôi phát triển dưới điều kiện về lượng mưa và nhiệt độ thay đổi theo chiều hướng gia tăng Hiện nay có khoảng 12 loài côn trùng gây hại chủ yếu cho cây, nhất là Xén tóc đục thân, nhóm sâu hại ngọn tràm non, sâu cuốn lá tràm Qua thống kê cho thấy, sâu bệnh hại rừng tràm ở nước ta nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng đang ở mức độ hại nhẹ, chưa có vấn đề nghiêm trọng Tỷ lệ hại bình quân của sâu cuốn lá 75% và chỉ số hại là 14,5%, sâu róm ăn lá tràm, tỷ lệ hại là 75% và chỉ số hại là 15% (mức độ nhẹ) Đây là những loài sâu hại tiềm năng, trong tương lai, tràm được trồng trên quy mô lớn, với những thay đổi về yếu tố môi trường cần chú ý loài sâu róm ăn lá tràm và sâu cuốn lá,

ăn lá ngọn cây tràm, đặc biệt trong thời gian tới các yếu tố môi trường thuận lợi cho quá trình sinh trưởng của sâu như nhiệt độ tăng và biến đổi lượng mưa

Đặc điểm chính để sâu hại, dịch bệnh phát triển mạnh thành dịch là thời tiết khắc nghiệt, nắng hạn kéo dài, nhiệt độ không khí cao Hiện tượng thời tiết này sẽ có khả năng diễn biến phức tạp trước tình hình biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới Các loại sâu, bệnh thường gây hại rừng tràm sẽ phát triển

mạnh bao gồm: Sâu róm ăn lá tràm (Dasychira sp.); Sâu cuốn lá nhỏ (Strepsirates

sp);bệnh cháy lá, bệnh đốm lá….

Sâu róm ăn lá tràm (Dasychira sp.): Sâu róm ăn lá tràm là loài nguy hiểm nhất

hiện nay ở rừng tràm Khi đã thành dịch, chúng ăn lá tràm đến xơ xác trên diện rộng Sâu róm ăn lá tràm có khả năng phát triển, nếu thời tiết khô hạn kéo dài trong mùa khô Sâu ăn lá ở rừng tràm gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của cây

Sâu cuốn lá nhỏ (Strepsirates sp):Chúng phá hại tràm ở giai đoạn vườn ươm và

tràm mới trồng ở cấp tuổi I Mùa hại chính trên rừng trồng từ tháng 5 đến tháng 11

Ngoài ra, các bệnh hại rừng tràm có tỷ lệ gia tăng vào đầu mùa khô như bệnh cháy lá, bệnh đốm lá thời gian phát sinh bệnh mạnh vào mùa mưa khi có ẩm độ, nhiệt

độ cao tháng 7, 8 hàng năm

Tuy nhiên, việc phòng trừ sâu bệnh hại cây tràm và rừng ngập mặn rất khó khăn

vì khi dùng thuốc hóa học sẽ ảnh hưởng đến hệ sinh vật thủy sinh Đặc biệt, cây tràm không nên giữ nước trong mùa khô để hạn chế sự phát sinh bệnh (điều này mâu thuẫn với phòng cháy rừng) Có thể hạn chế bằng cách điều tiết để giữ được độ ẩm đất khỏi

bị cháy rừng, mặt khác không ảnh hưởng đến sức khỏe của cây để cây tràm có khả năng chống chịu được với sâu bệnh Tuy nhiên, gia tăng tình trạng ngập úng do mực nước biển dâng và lượng mưa trong tương lai là yếu tố gây phát triển dịch bệnh, sâu hại trên rừng tràm vùng nội đồng tỉnh Sóc Trăng

Như vậy, hạn hán trong mùa khô với nhiệt độ tăng cao và kéo dài cùng với quá trình ngập úng tăng tại vùng nội đồng do nước biển dâng và biến đổi khí hậu là những yếu tố có tác động mạnh mẽ tới quá trình phát triển sâu, dịch bệnh hại rừng tràm tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới

7 Động vật và thực vật quý hiếm

Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng là nơi có sự đa dạng

và phong phú về thành phần động, thực vật Sự đa dạng về hệ thủy sinh vùng bãi bồi là

Ngày đăng: 15/05/2016, 10:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình II.1: Trồng rừng ngập mặn làm giảm nguy cơ xói lở bờ biển do sóng - Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đối với hoạt động lâm nghiệp tỉnh sóc trăng và đề xuất kế hoạch ứng phó
nh II.1: Trồng rừng ngập mặn làm giảm nguy cơ xói lở bờ biển do sóng (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w