1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ

48 460 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nắm chắc lý luận và phương pháp quy hoạch vùng sẽ giúp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường góp phần giải quyết được những vấn đề thực tế là quy hoạch và tổ chức lãnh thổ phát triể

Trang 1

MỞ ĐẦU

Quy hoạch vùng và tổ chức lãnh thổ là một môn khoa học chuyên đề rất quan trọng trong hệ thống các khoa học Địa lí kinh tế - xã hội Môn học này thể hiện tổng hợp kiến thức về Địa lí tự nhiên, Địa lí nhân văn, kinh tế học, toán học, kiến trúc, y học… để nghiên cứu và đề xuất các phương án phát triển sản xuất tối ưu cho các vùng lãnh thổ

Quy hoạch vùng cung cấp những kiến thức bổ ích cho sinh viên bước đầu tiếp cận với bài toán quy hoạch, những phương án quy hoạch, lập dự án phát triển kinh tế - xã hội theo các vùng lãnh thổ Nắm chắc lý luận và phương pháp quy hoạch vùng sẽ giúp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường góp phần giải quyết được những vấn đề thực tế là quy hoạch và tổ chức lãnh thổ phát triển kinh

tế xã hội theo ngành và theo lãnh thổ trên quy mô vùng hành chính, vùng kinh tế, quy hoạch tỉnh, huyện và cả nước

Trang 2

1. Cơ sở lý thuyết

Điều kiện và môi trường bên ngoài thông qua thị trường, bối cảnh quốc tế và các yếu tố khu vực tác động đến phát triển kinh tế các nước và vùng Do đó, việc xây dựng qui hoạch nhất thiết phải nghĩ tới vị trí, môi trường của vùng đang ở đâu và xu thế phát triển của thị trường thế giới việc nghiên cứu môi trường và điều kiện bên ngoài đặt ra trước sự phát triển của vùng

1.1. Môi trường tổng thể

Việc đánh giá, phân tích môi trường tổng thể có thể tiến hành theo thứ tự từ cao đến thấp, từ lớn đến nhỏ

1.1.1. Tìm hiểu xu thế phát triển của thế giới

Quan sát rõ các xu thế mới và lớn của kinh tế thế giới có 3 xu thế lớn: toàn cầu hóa và khu vực hóa; xu thế chuyển dịch vốn từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, xu thế chuyển dịch trung tâm kinh tế thế giới từ tây sang đông Trong thời đại hiện nay, hầu như không một quốc gia nào, một vùng nào

có thể hoặc ngăn chặn xu thế phát triển chung của kinh tế thế giới cho nên khi xây dựng định hướng phát triển vùng nhất thiết phải nghiêm túc suy nghĩ đến mối liên hệ vùng với kinh tế thế giới và xu thế phát triển chung của kinh tế toàn cầu

1.1.2. Tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế

Tình hình phát triển kinh tế quốc gia đối với sự phát triển của vùng, sự liên hệ với kinh tế toàn quốc và vùng cấp cao hơn thường là trực tiếp và chặt chẽ hơn

Nó là căn cứ cơ bản và chỉ đạo chiến lược phát triển vùng Do đó, khi nghiên cứu qui hoạch vùng cần chú ý mục tiêu và các chiến lược toàn quốc đặc biệt khi tính đến các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăng dân số

1.1.3. Tìm hiểu tình hình các vùng xung quanh, phân tích quan hệ vùng

- Mục đích nghiên cứu môi trường xung quanh nhằm so sánh thế mạnh tuyệt đối

và tương đối của vùng, phân tích về tác dụng, năng lực và vai trò có thể đảm

Trang 3

- Tìm hiểu tình hình các yếu tố sản xuất vùng xung quanh, cơ cấu kinh tế, trình độ

và thị trường để có thể nhận biết rõ hơn những thế mạnh và hạn chế của vùng

1.2. Môi trường phát triển ngành

Môi trường phát triển ngành thường là ngành chủ đạo hoặc ngành trọng điểm

đã có hoặc dự định sẽ có của vùng để nghiên cứu môi trường bên ngoài, phân tích cơ hội và cản trở Khi phân tích cần nắm vững xu thế biến động của các nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành theo hướng thúc đẩy hoặc cản trở nếu môi trường bên ngoài không có biến động, thì hiện trạng giữa các vùng vẫn được duy trì sự bố trí phát triển trong tương lai ít có thay đổi lớn trong điều kiện kinh tế thị trường, việc phân tích môi trường phát triển ngành tất yếu trở thành nội dung quan trọng trong lựa chọn quy hoạch

1.3. Các nội dung cụ thể

1.3.1. Xác định mục tiêu phát triển của vùng theo yêu cầu của cả nước

Để nghiên cứu nội dung này cần thu thập và xem xét báo cáo về kết quả thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước giai đoạn trước và kết quả xây dựng chiến lược giai đoạn tiếp theo, các giai đoạn phát triển ngành cả nước

có liên quan, từ đó đối chiếu với tình hình thực tế để phân tích các nội dụng dưới đây:

- Yêu cầu của cả nước đặt ra vấn đề gì trong xác định mục tiêu và định hướng phát triển

- Yêu cầu gì của cả nước đối với khai thác vị trí địa lí và địa thế vùng, xác định chức năng phát triển của vùng, khả năng hợp tác kinh tế, tận dụng cơ hội phát triển

1.3.2. Phân tích và dự báo khả năng đầu tư vào vùng

- Trên cơ sở phân tích tình hình phát triển kinh tế, chính trị của khu vực, của cả nước (tính đến ổn định, chủ trương hợp tác, thu hút vốn đầu tư) liên quan đến vùng, xu thế của các dòng vốn và năng lực thu hút đầu tư nước ngoài trong mối tương quan với các vùng khác và cả nước

Trang 4

- Phân tích ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, mặt mạnh và mặt yếu của dòng vốn, sự quan tâm đầu tư từ bên ngoài vào vùng.

- Dự báo khả năng thu hút đầu tư (lĩnh vực, khu vực và tình hình đầu tư)

trạnh giữa sản phẩm hoàng hóa của vùng

- Việc định lượng khả năng tiêu thụ sản phẩm và sức ép cạnh tranh đối với sản phẩm hàng hóa của vùng là nội dung khó khăn do hạn chế về số liệu và phương pháp tính toán Vì thế, việc phân tích chủ yếu mang tính chất định tính để nghiên cứu nội dung này, có thể thu thập và tính toán một số sản phẩm chủ yếu của vùng theo các tiêu chí: quy mô, đủ về số lượng; đúng về chất lượng, thị trường lớn, giá cả cạnh tranh

- Nhận xét và kiến nghị các sản phẩm có khả năng tiêu thụ và cạnh tranh, kiến nghị trong định hướng qui hoạch từng nhóm ngành sản phẩm theo khả năng cạnh tranh khác nhau; những thách thức mà vùng phải tính đến trong thời kì qui hoạch

1.3.4. Phân tích và dự báo khả năng tiếp thu công nghệ

- Khả năng phát triển và sử dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài đối với nhóm ngành, sản phẩm của vùng

- Nhu cầu nhân lực chất lượng cao của các ngành kinh tế và nhu cầu phát triển ngành, nhu cầu đổi mới công nghệ của từng ngành, từng lĩnh vực của vùng

1.3.5. Dự báo khả năng rủi ro:

Trang 5

trưởng mạnh mẽ của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng trong hoạt động đầu tư hiện nay, việc quản lý hoạt động đầu tư luôn là điều đáng quan tâm đối với các cơ quan nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Như vậy, huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái với điều kiện về vị trí địa lý khá thuận lợi, là đầu mối giao thông đối ngoại của tỉnh với các tỉnh phía tây bắc, huyện Lục Yên có tuyến quốc lộ 70 chạy qua nối Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai.cùng với quỹ đất nông nghiệp và tiềm năng khoáng sản khá lớn, tạo ra một lợi thế hàng đầu để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế, công nghiệp, dịch vụ

và đô thị huyện Lục Yên thực sự là điểm hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên, đây là huyện miền núi vì vậy các hoạt động đầu tư trên địa bàn huyện Lục Yên cần phải được quản lý nhằm phát huy nguồn lực, lợi thế có sẵn của huyện Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia Trên thực tế, quá trình quản lý hoạt động đầu tư của UBND huyện Lục Yên gặp một số trở ngại và không ít khó khăn

Xuất phát từ thực tế đó em đã chọn đề tài “phân tích các yếu tố, điều kiện bên ngoài phục vụ quy hoạch tổng thể huyện Lục Yên – tỉnh Yên Bái”

2.2.Mục tiêu nghiên cứu

 Xác định mục tiêu phát triển của huyện theo yêu cầu của nhà nước

 Dự báo khả năng đầu tư vào huyện Lục Yên

 Dự báo khả năng tiêu thụ sản phẩm và sức ép cạnh tranh đối với sản phẩm hàng hóa của huyện Lục Yên

 Dự báo khả năng tiếp thu công nghệ

 Dự báo khả năng rủi ro có thể xảy ra

Trang 6

 Dự báo khả năng huy động các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện Yên Bình và một số huyện lân cận để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lục Yên.

 Xác định quan điểm, định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh

 Mục đích nghiên cứu của đề tài: Phân tích các các yếu tố, điều kiện bên ngoài phục vụ quy hoạch tổng thể của huyện Lục Yên

 Qua đó phát hiện ra những mặt đạt được, hạn chế còn tồn đọng để có những giải pháp cải thiện tình hình và quản lý các hoạt động trên địa bàn huyện Lục Yên

 Mục tiêu cụ thể: Phân tích các các yếu tố, điều kiện bên ngoài phục vụ quy hoạch tổng thể của huyện Lục Yên và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lục Yên

2.3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu, phân tích các điều kiện bên ngoài đối với quy hoạch phát triển huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

 Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

2.4. Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu

 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa

về hướng đông và cách thành phố Yên Bái 60 km về hướng bắc Toàn huyện có

Trang 7

phát triển kinh tế - xã hội Huyện Lục Yên có lợi thế về giao thông, đường bộ có quốc lộ 70 chạy qua nối Hà Nội - Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai, tỉnh lộ 152 là cầu nối giữa quốc lộ 70 với quốc lộ 2 và một số tuyến đường liên huyện nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển và trao đổi hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, thuận lợi trong giao thương với các vùng kinh tế năng động Ngoài ra huyện còn có Sông Chảy và hồ thủy điện Thác Bà thuận lợi cho phát triển giao thông đường thủy.

(Bản đồ hành chính huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái)

Trang 8

2.5.2 Địa hình

Địa hình của huyện mang đặc điểm chung của vùng miền núi phía tây bắc, đó

là địa hình chia cắt phức tạp, có đặc điểm địa hình cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc, độ cao trung bình 400m so với mặt nước biển và phân thành 2 vùng rõ rệt:

- Vùng thượng lưu Sông Chảy: Có địa hình núi cao, chia cắt mạnh, tạo ra nhiều khe suối hiểm trở, có độ cao trung bình khoảng 450 m so mới mực nước biển Đất đai vùng này chủ yếu được sử dụng cho mục đích phát triển lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia súc

- Vùng hạ lưu Sông Chảy: Có địa hình đồi núi thấp, xen kẽ các cánh đồng, độ cao trung bình dưới 300 m so với mực nước biển Đất đai thích hợp cho phát triển các cây lương thực, cây công nghiệp

Nhìn chung, cấu tạo địa hình huyện Lục Yên tạo thuận lợi cho huyện phát triển các loại cây công nghiệp phục vụ công nghiệp chế biến nông lâm sản Tuy nhiên, địa hình chia cắt gây khó khăn trong giao thương nội huyện

2.5.3 Tài nguyên đất đai

Tài nguyên đất ở huyện về nguồn gốc phát sinh phân ra thành 2 hệ đất chính,

đó là hệ đất phù sa do sông Chảy bồi đắp và hệ đất Feralit phát triển trên nền địa chất đa dạng của địa hình đồi núi Đất thung lũng ven sông chảy, ven hồ có khả năng trồng hoa màu, lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày, gồm nhiều cánh đồng phì nhiêu, vựa lúa của huyện như Mường Lai, Vĩnh Lạc, Liễu Đô, Yên Thắng, Minh Xuân, Minh Chuẩn Với diện tích đất tự nhiên là 80.694,8 ha trong đó đất nông nghiệp là 9.851 ha chiếm 14,7% tổng diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp là 29.686ha, đất chuyên dùng là 5.230 ha; đất ở là 649 ha; đất hồ Thác Bà là 3.920 ha; đất đưa vào canh tác là 31.357 ha

Trang 9

(Ảnh minh họa: Cánh đồng Minh Dương, xã Minh Xuân)

2.5.4 Tài nguyên rừng

Trước đây, ở Lục Yên diện tích rừng tự nhiên khá rộng với nhiều loại gỗ quí như lát hoa, sến, táu, chò chỉ và bạt ngàn tre nứa Thú quí có hổ, gấu, lợn rừng, cầy hương, nai, hoẵng Nhưng do phá rừng làm nương rẫy và khai thác khá ồ ạt, kéo dài dẫn đến diện tích rừng bị giảm mạnh Một số loài thú quý không còn Diện tích rừng tự nhiên hiện nay chỉ còn 18.315 ha, diện tích rừng sản xuất là 3.042 ha, rừng phòng hộ là 15.273 ha Rừng và tài nguyên rừng một trong những thế mạnh của huyện

Trang 10

(Ảnh minh họa: Rừng nguyên sinh xã Tân Phượng)

2.5.5 Tài nguyên nước

Chế độ thủy văn của huyện khá phong phú nhờ hệ thống sông, suối, ngòi phân bổ đều, nguồn nước dồi dào phục vụ nhu cầu đời sống sinh hoạt và nhiều ngành kinh tế quốc dân, có tiềm năng thủy lợi, thủy điện Nguồn nước tự nhiên của huyện phong phú, có 6,6% diện tích tự nhiên là mặt nước cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển nghề thủy sản Tuy nhiên, về mùa mưa lũ, khi mưa lớn, đột ngột thường xảy ra lũ cục bộ vài nơi, gây trở ngại cho đời sống và

Trang 11

(Ảnh minh họa: Thủy lợi liên hồ Từ Hiếu – xã Mường Lai)

2.5.6 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên, khoáng sản cũng là một trong những tiềm năng, thế mạnh của huyện Về khoáng sản quý có pirit, phôtphorit, đá quy, than đã được xác định trữ lượng và bước đầu đi vào khai thác Vàng sa khoáng phân bổ ở nhiều vùng Những năm trước đây, nói về các vùng đá quý nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả trên thế giới, không thể không nhắc đến vùng đá quý Lục Yên của tỉnh Yên Bái Với thứ đá Ruby quý hiếm với độ cứng và mầu sắc của nó được

Trang 12

xếp vào loại đầu bảng được phát hiện tại đây, Lục Yên một thời được mệnh danh

là vùng đất ngọc Còn giờ đây, khi nhắc đến Lục Yên, người ta lại nói về vùng đất của đá hoa trắng với trữ lượng lớn phục vụ xuất khẩu và làm đồ mỹ nghệ đạt chất lượng cao Nguồn tiềm năng thiên nhiên ban tặng đã tạo nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lục Yên

(Ảnh minh họa: Mỏ đá hoa trắng của cty RK - VN)

Trang 13

(Ảnh minh họa: Đá quý huyện lục yên)

2.5.7 Tài nguyên du lịch

Với vị trí địa lý và hệ thống giao thông thuận lợi như trên huyện Lục Yên có nhiều tiềm năng phát triển, giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hoá trong khu vực, hình thành một hệ thống thương mại khá sôi động ở địa phương Hoạt động dịch

vụ tương đối đa dạng, tập trung vào các lĩnh vực như: Nhà hàng, khách sạn, vận tải, tín dụng , bưu chính viễn thông…

Là huyện nằm trong tour du lịch của 3 tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ với điểm đến là đền Đại Kại, Bình nguyên xanh Khai Trung, Hang Chùa São…thường xuyên thu hút khách du lịch trong và ngoài tỉnh

Trang 14

(Ảnh thực tế: Chùa Tháp Hắc Y – Đền Đại Cại)

- Phát triển nông nghiệp của huyện vẫn luôn là thách thức đối với Lục Yên Những năm tới, nông nghiệp của huyện vẫn giữ vai trò quan trọng, đáp ứng nhu cầu và ổn định cuộc sống của nhân dân, nhất là nông dân của huyện Tuy nhiên, nếu chỉ dựa chủ yếu vào nông nghiệp, kinh tế của huyện không thể có bước phát triển bứt phá

Trang 15

- Huyện có nguồn lao động dồi dào nhưng hầu hết là lao động giản đơn, chưa qua đào tạo nghề Trong cơ cấu lao động của huyện, lao động nông nghiệp chiếm đến 78% Điều đó đang đặt ra thách thức đối với huyện trong việc đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm tại địa phương cho người lao động, nhất là thành phần nông nhàn.

- Là một huyện miền núi, đất không rộng, mật độ dân số ở mức trung bình, đến nay vẫn là một huyện nghèo, kinh tế thuần nông, kém phát triển

- Do là huyện nghèo nên thu nhập của nhân dân thấp, đời sống người dân còn nhiều khó khăn, sức mua và thị trường nội huyện còn eo hẹp Bởi vậy thị trường nội huyện chưa tạo ra được sự hấp dẫn cho việc phát triển các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn huyện

Tóm lại, trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, bên cạnh những lợi thế, huyện phải đương đầu với những khó khăn thách thức không nhỏ Yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc phát triển kinh tế xã hội vẫn phải là nội lực Nhưng nội lực không thể phát huy và tiềm năng sẽ khó trở thành hiện thực, nếu không gắn kết kinh tế huyện với kinh tế của vùng và của cả nước Sự liên kết với kinh tế vùng sẽ tạo đà và động lực cho kinh tế huyện Lục Yên có những bước phát triển đột phá

2.7. Điều kiện về thị trường

Về hiện trạng thị trường, nông sản của huyện hiện nay chủ yếu vẫn là cung cấp cho thị trường tại chỗ và một số huyện lân cận, đặc biệt cho là cho xuất khẩu sang Trung Quốc qua cửa khẩu Lào Cai Đây là thị trường ổn định và lâu dài cho việc sản xuất hàng hóa nông sản của huyện

Với vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông của mình, Lục Yên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận các thị trường trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh Nằm

kề với các huyện Văn Yên, Yên Bình và các huyện Quang Bình, Bắc Quang của tỉnh Hà Giang, huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, huyện Bảo Yên của tỉnh

Trang 16

Lào Cai có quốc lộ 70 chạy qua, kết hợp với mạng lưới đường giao thông kết nối các huyện này đang được nâng cấp, Lục Yên có điều kiện tiếp xúc với các thị trường tỉnh bạn Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay lợi thế này chưa được phát huy Đặc biệt, với vị trí có quốc lộ 70 chạy qua và cách không xa khu cửa khẩu Lào Cai, Lục Yên sẽ có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận thị trường rộng lớn của nước bạn Ngoài ra, từ xu hướng tăng thu nhập của dân cư, với sự hình thành các khu chế biến và làng nghề trên địa bàn và số dân dự kiến sẽ khoảng 120.000 người vào năm 2015 và 130.000 người vào năm 2020, Lục Yên sẽ có một thị trường nội huyện tiềm năng lớn.

Lâm nghiệp là thế mạnh nổi bật so với một số huyện miền núi khác trong tỉnh, với diện tích rừng trồng của mình phát triển kinh tế một cách bền vững, Lục Yên là một địa chỉ quan trọng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ của các nhà máy ở địa phương khác cũng như trong huyện Sự phát triển vùng nguyên liệu lâm nghiệp còn có thể kích thích đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản tại chỗ Nhờ đó sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân lao động ở địa phương cũng như góp phần phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện

Trang 17

(xưởng chế biến gỗ ở xã Tân Lĩnh, huyện Lục Yên)

2.8. Các yếu tố về dân số và lao động

- Về dân số và mật độ dân số: Dân số huyện năm 2011 là 100 ngàn người, chiếm

13,2% dân số tỉnh Yên Bái Mật độ dân cư bình quân năm 2011 của huyện là

124 người/km2, tương đương với mật độ trung bình của tỉnh và bằng 80,1% so với mức trung bình của cả nước Mật độ dân số thấp là điều kiện thuận lợi cho huyện trong quy hoạch phát triển đô thị, các khu, cụm (điểm) công nghiệp, quy hoạch phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp quy mô lớn

- Về số lượng lao động: Năm 2011, huyện có 48 ngàn người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, chiếm 48% dân số Cơ cấu lao động thể hiện trình

độ phát triển kinh tế của huyện còn thấp hơn nhiều so với trình độ phát triển kinh

tế của tỉnh và của cả nước (vốn đã thấp so với các nước trong khu vực)

- Về chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực của Lục Yên còn khá hạn chế Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2011 mặc dù gấp 1,4 lần so với năm

2001 nhưng chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng số lao động, đặc biệt tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khá thấp, chiếm khoảng 20,5% trong tổng số lao động Điều này cho thấy lực lượng lao động của huyện chủ yếu là lao động phổ thông Chất lượng nguồn nhân lực thấp làm giảm sức hút đầu tư trong nước và quốc tế

Trang 18

Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 5% năm 2001 xuống còn 3,2% năm

Đối với ba nhóm ngành của nền kinh tế, ngành công nghiệp xây dựng đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất xét trong giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010, tương ứng là 17,72%/năm và 16.47%/năm Tiếp đến là ngành dịch vụ, tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn 2001-2005 đạt 8,11%/năm và đã tăng nhanh lên 12,24%/năm giai đoạn 2006-2010 Ngành nông lâm và thủy sản đạt tốc độ tăng bình quân tương ứng là 5,21%/năm và 6,39%/năm

2.9.2. Về quy mô nền kinh tế

+ Tình hình kinh tế thế giới và trong nước phức tạp, chứa nhiều bất ổn nhất là giá cả, lạm phát…Thời tiết diễn biến khó lường, mưa bão, sâu bệnh, dịch bệnh vẫn đang là nguy cơ thường trực

+ Lục Yên là địa phương có điểm xuất phát kinh tế thấp, tuy trong giai đoạn

2006 - 2010 có bước phát triển nhưng chưa bền vững nguồn vốn đầu tư còn hạn hẹp, thị trường chưa ổn định, dịch bệnh thì thường xuyên xảy ra Chất lượng cơ

sở hạ tầng còn thấp, trình độ dân trí chưa đồng đều giữa các vùng miền cơ chế pháp luật thiếu đồng bộ, dẫn đến những hạn chế về chỉ đạo của các cấp lãnh đạo huyện

+ Cải cách hành chính chưa thông thoáng; chính sách, bộ máy, thủ tục, chất lượng cán bộ chưa thật sự đáp ứng được nhiệm vụ đổi mới kinh tế, quản lý xã hội

Trang 19

Năm 2005, tổng thu nhập bình quân quốc dân của huyện đạt 387 tỷ đồng , gấp 1,2 lần so với năm 2000 tổng thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm

2005 đạt 3,08 triệu đồng, gấp 1,1 lần so với năm 2000, tuy nhiên chỉ bằng 81%

so với mức bình quân toàn tỉnh 4,6 triệu đồng Đến năm 2010, tổng thu nhập bình quân đầu người đạt 14,369 triệu đồng, bằng 113,4%, tăng gấp 3,13 lần so với năm 2005

Trong những năm vừa qua, cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ về kinh tế của

cả nước và tỉnh Yên Bái, huyện Lục Yên đã có những bước phát triển đáng kể, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân trên địa bàn giai đoạn 2001- 2010 toàn huyện đạt 10,4%/năm Tuy nhiên, tốc độ đó chỉ bằng 60% của tỉnh, trên 80% mức bình quân của cả nước Năm 2011 tổng giá trị sản xuất trên địa bàn Huyện là 1.825 tỷ đồng, đạt mức giá trị sản suất bình quân đầu người 8,5 triệu đồng/người, bằng 60,2% mức bình quân chung toàn tỉnh Hiện trạng, trình độ phát triển kinh tế trên còn khá khiêm tốn, chưa tương xứng với một huyện có tiềm năng phát triển như Yên Bình

2.9.4. Môi trường phát triển ngành

Có thể nói, thế mạnh của huyện Lục Yên là sản xuất nông nghiệp Nhìn chung các ngành nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp) của Lục Yên trong thời gian qua đạt tốc độ tăng trưởng khá cao Hiện tại huyện có diện tích gieo

Trang 20

trồng lúa cao, diện tích gieo trồng ngô đứng đầu tỉnh Lục Yên cũng là huyện phát triển chăn nuôi khá mạnh, năm 2011 có tổng đàn gia súc, gia cầm lớn, với đàn trâu bò 26.658 con, đàn lợn 110.748 con, đàn gia cầm 887.981 con

Trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi cao vượt trội so với bình quân chung cả tỉnh Tỷ trọng bình quân trồng trọt – chăn nuôi của cả tỉnh Yên Bái năm 2011 là 60,08% - 23,22%; của huyện Lục Yên ở năm 2009 là 51,08% - 46,49%

2.9.5. Phân tích và dự báo khả năng đầu tư vào vùng

Tình hình đầu tư phát triển huyện Lục Yên: Giai đoạn 2006-2010 Huyện đã thu hút được một khối lượng vốn lớn Tổng nguồn kinh phí đầu tư xây dựng từ ngân sách tỉnh, chương trình mục tiêu, vốn ODA (vốn đầu tư không hoàn lại), vốn trái phiếu Chính phủ, vốn xổ số kiến thiết giai đoạn 2006-2010 là 178,703 tỷ đồng Tổng nguồn kinh phí đầu tư xây dựng từ Ngân sách huyện giai đoạn 2006-

2010 là 11,799 tỷ đồng Tuy vốn đầu tư trong giai đoạn này liên tục tăng nhưng lại có sự giảm sút so với vốn đầu tư năm 2006 là 21,3 tỷ đồng và năm 2004 là 123,67 tỷ đồng Do thực hiện tốt các chủ trương và chính sách huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế nên vốn đầu tư được huy động tăng nhanh trong những năm gần đây Năm 2006, tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện là 11,463 tỷ đồng, tăng nhanh lên 78,571 tỷ đồng (năm 2009), tính đến tháng 5 năm 2010 vốn đầu

tư thực hiện đã đạt 38,4 tỷ đồng, bằng 51,127% so với năm 2009 Để thấy rõ hơn

về tình hình đầu tư của huyện trong thời gian qua, chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể tình hình huy động và sử dụng vốn đầu tư theo nguồn vốn, theo ngành, theo địa

bàn.

Thực trạng đầu tư theo nguồn vốn: Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là vốn trong

nước và lấy từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, khoảng 85,76% tổng vốn đầu tư Việc thu hút vốn từ nước ngoài, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và vốn trong dân còn hạn chế Vốn ODA giai đoạn 2006-2010 là

Trang 21

27,117 tỷ đồng chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 14,24%, mặt khác, nhờ việc thực hiện các chính sách thu hút và sử dụng vốn đầu tư một cách hiệu quả, khối lượng

và tỷ trọng vốn ODA liên tục tăng từ năm 2006 chưa có vốn ODA lên tới 16,943

tỷ đồng, khoảng 21,56% năm 2009

Thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ cho phát triển cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn, vốn đầu tư cho trương trình 134, 135 chiếm khoảng 11% tổng vốn đầu tư trong giai đoạn và liên tục tăng từ 2,117 tỷ đồng năm 2006 đến 4,8 tỷ đồng năm 2010 Vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa khoảng 54,7% Tuy có sự phân bố không đồng đều giữa các xã, thị trấn, nhưng huyện đã có những chính sách hỗ trợ phát triển các

xã thuộc diện đặc biệt khó khăn là 16,587 tỷ đồng khoảng 8,71% tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện, bên cạnh đó khối lượng vốn đầu tư vào các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn liên tục tăng từ năm 2006 là 2,117 tỷ đồng lên đến 4,8 tỷ năm 2010

Thực trạng đầu tư theo ngành, lĩnh vực Trong giai đoạn 2006-2010, vốn đăng

ký mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có 572 dự án với tổng vốn đăng ký 93,06 tỷ đồng, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ có 554 dự án với tổng vốn đăng ký 86,48 tỷ đồng, chiếm 47,3% về số dự án và 45,4% về vốn đầu tư đăng ký Số còn lại thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp Vốn đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng, dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn là phù hợp với xu hướng phát triển hiện nay

Tiến độ triển khai thực hiện: Đến thời điểm này tất cả các công trình, dự án

trọng điểm đều đã được triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, nhiều công trình đã hoàn thành

Về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: để đánh giá hiệu quả sử dụng chỉ tiêu Hiv(GDP)

là mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với toàn bộ vốn đầu tư phát huy tác

Trang 22

dụng trong kì nghiên cứu Chỉ tiêu này được xác định bằng cách so sánh giữa mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội với toàn bộ vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu của vùng, địa phương hoặc nền kinh tế Hiv (GDP) cho biết 1 đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu đã tạo ra được bao nhiêu đơn vị mức tăng tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ nghiên cứu cho các địa

phương, vùng và toàn bộ nền kinh tê năm 2007, 1 tỷ đồng vốn đầu tư tạo ra

được 5,951 tỷ đồng GDP, năm 2008 tăng lên là 9,54 tỷ đồng GDP, đến năm 2009 lại giảm xuống 3,907 tỷ đồng Cho thấy hiệu quả vốn đầu tư trên địa bàn huyện Lục Yên trong giai đoạn này là không ổn định Vì vậy, năm 2010 cần có những biện pháp nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư trên địa bàn huyện

- Về văn hoá xã hội: được quan tâm chú trọng cả trong lĩnh vực y tế, văn hoá

và xã hội Từ năm 2006 - 2010, toàn huyện có 18/24 xã, thị trấn được đầu tư, nâng cấp xây dựng nhà dân số – sức khoẻ

- Xoá đói giảm nghèo: Địa phương có nhiều cơ chế chính sách, hỗ trợ giúp

người dân xoá đói giảm nghèo như hỗ trợ từ chương trình 134, 135, chương trình làm nhà 167 Huyện đã có những cơ chế đối ứng hỗ trợ người dân sớm thoát nghèo như hỗ trợ 7,8 triệu đồng/nhà 134; hỗ trợ 1,8 triệu đồng/ nhà 167 Thu được kết quả là tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn quốc gia ngày càng giảm từ 25.68

% năm 2005 xuống còn 15.99 % năm 2010 Hỗ trợ làm nhà cho các hộ nghèo theo quyết định 167 của thủ tướng chính phủ được 400/397 nhà, bằng 100,8% Giải quyết việc làm mới 1750/1500 đạt 117% Từ năm 2005 đến nay, được sự hỗ trợ từ chương trình 134, 135 huyện đã đầu tư xây dựng 768 công trình nước sinh hoạt phân tán với số tiền trên 340 triệu đồng

- Các dự án giao thông được đầu tư xây dựng như: tuyến đường xã Khánh Thiện, xã Minh Chuẩn, xã Khai Trung, xã An Phú…

Trang 23

Dự án xây dựng đường xã Minh Chuẩn)

(Ảnh thực tế: Tuyến đường Minh Tiến – An Phú)

Trang 24

- Nền kinh tế huyện đạt được tốc độ tăng trưởng khá cao, vượt mức bình quân của tỉnh và có đóng góp lớn vào phát triển kinh tế tỉnh Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh góp phần mở rộng quy mô nền kinh tế, nâng cao khả năng huy động vốn đầu tư phát triển.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực

có năng suất lao động cao (công nghiệp xây dựng và dịch vụ), nhất là tỷ trọng của ngành công nghiệp xây dựng trong tổng thu nhập bình quân theo đầu người tăng nhanh trong khi tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm nhanh tương ứng

- Các ngành kinh tế tiếp tục phát triển theo hướng dần khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế của huyện Ngành nông lâm và thủy sản phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích, nâng cao chất lượng nông sản phẩm Nhịp độ tăng trưởng của ngành công

nghiệp xây dựng liên tục tăng cao, trên 17%/năm Ngành dịch vụ chuyển biến

tích cực đáp ứng tốt hơn nhu cầu về sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống dân cư

- Vốn đầu tư từ các chương trình mục tiêu quốc gia và vốn ODA (vốn đầu tư không hoàn lại) vẫn tiếp tục được đầu tư: Như chương trình 135 dự án 661, chương trình kiên cố hóa trường lớp học, vốn vay chính phủ các nguồn vốn viện trợ, tài trợ từ nước ngoài

- Kết cấu hạ tầng được tăng cường như: các công trính giao thông, thủy lợi, công trình điện nước sạch…nhiều công trình quan trọng của huyện được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng trong năm 2010 đã từng bước phát huy hiệu quả

- Giá trị sản xuất của một số ngành được tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện một bước, trong sản xuất kinh doanh đã tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm…là điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các năm tiếp theo

Ngày đăng: 15/05/2016, 09:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w