1.2.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ tại hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ tại hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương. Đánh giá thực trạng nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ. Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào
Tôi cam đoan rằng: Mọi sự giúp cho việc thực hiện luận văn này đã đượccảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Nguyễn Thị Minh Phương
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi
đã nhận được rất nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình vàbạn bè
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Đỗ Kim Chung, trưởngkhoa Kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đãtận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi phương pháp nghiên cứu, phân tích và tạonhiều điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Phát triển nôngthôn, khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Cuối cùng tôi xin cảm ơn toàn thể bạn bè và người thân đã giúp đỡ, độngviên tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 3TÓM TẮT
Chất lượng rau an toàn đang là một trong những vấn đề cấp bức hiện nay
do nhu cầu rau an toàn ngày càng tăng, nhất là khía cạnh rủi ro thuốc bảo vệthực vật Hiện nay đã có rất nhiều chương trình được thực hiện nhằm cung cấpcho người trồng rau kiến thức về rau an toàn và quản lý rủi ro thuốc bảo vê thựcvật Trong đó việc nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân đối với thuốc
bảo vệ thực vật là cần thiết Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Tìm hiểu nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ ở hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”.
Bằng việc sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như đánh giá nhanhnông thôn có sự tham gia PRA, chọn mẫu… đề tài tìm hiểu nhận thức và ứng xửcủa nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ tạihai xã Tân Kỳ và Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trên những phươngdiện: mức độ ảnh hưởng, nhóm chịu rủi ro, nguyên nhân gây ra rủi ro; hành vicủa người dân khi mua thuốc, đọc nhãn, phun và xử lý sau khi phun
Kết quả cho thấy nhận thức của người dân ở Tân Kỳ về rủi ro và giảmthiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật là cao hơn so với ở Đại Đồng Đó là do kếtquả từ các lớp tập huấn IPM mà xã có được trong những năm gần đây Từ đó màứng xử của người dân Tân Kỳ đối với việc giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thựcvật là đúng và có hiệu quả hơn
Dựa trên những kết quả có được, tôi có một số khuyến nghị nhằm thay đổinhận thức và ứng xử của người dân hai xã đối với chính quyền địa phương vàvới chính người dân tại hai xã
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
TÓM TẮT vi
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ viii
1.1 Sự cần thiết của đề tài viii
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ix
1.2.1 Mục tiêu chung ix
1.2.2 Mục tiêu cụ thể ix
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ix
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ix
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu ix
PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NÔNG DÂN VỀ GIẢM THIỂU RỦI RO THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT……… x
2.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau x
2.1.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật x
2.1.2 Đặc điểm của rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau x
2.1.3 Biện pháp giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xi
2.2 Nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật .xiii 2.2.1 Nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xiii
2.2.2 Nội dung cơ bản về nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xiv
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xv
2.3 Cơ sở thực tiễn về nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xvi
2.3.1 Trên thế giới xvi
Trang 52.3.2 Ở Việt Nam xix
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU xxv
3.1 Đặc điểm địa bàn hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng xxv
3.1.1 Điều kiện tự nhiên xxv
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xxvii
3.1.3 Tình hình sản xuất súp lơ ở hai xã xxvii
3.1.4 Tình hình triển khai hoạt động IPM xxviii
3.1.5 Tình hình dịch hại ở vụ nghiên cứu xxix
3.2 Phương pháp nghiên cứu xxix
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu: xxix
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin xxx
3.2.3 Các chỉ tiêu phân tích xxxii
3.2.4 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu, xử lý thông tin, phân tích số liệu xxxiv
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN xxxv
4.1 Nhận thức của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xxxv
4.1.1 Nhận thức về rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xxxv
4.1.2 Nhận thức của người phun về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật xliv 4.2 Ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật liii 4.2.1 Ứng xử của người phun khi chọn mua thuốc liii 4.2.2 Khi đọc nhãn thuốc liv 4.2.3 Ứng xử của người phun khi sử dụng thuốc lvii 4.2.4 Ứng xử của người phun sau khi phun lix 4.3 Một số giải pháp nâng cao nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật 4.3.1 Đối với địa phương lxiii 4.3.1 Đối với người dân lxiii
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ lxii
5.1 Kết luận lxii 5.2 Khuyến nghị lxiii
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai hai xã năm 2009 xxvii
Bảng 3.2 Tình hình sản xuất trên hai cánh đồng nghiên cứu xxviii
Bảng 4.1 Số nông dân đánh giá về mức độ rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật cho con người theo xã (%) xxxvi
Bảng 4.2 Số người dân đánh giá về tình trạng và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người (%) xxxvi
Bảng 4.3 Thời gian nông dân ngừng làm việc do rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
xxxvii
Bảng 4.4 Nhận thức của nông dân về nhóm người chịu rủi ro xxxvii
Bảng 4.5 Số người trả lời về nguyên nhân gây ảnh hưởng xxxviii
Bảng 4.6 Số người dân đánh giá mức độ rủi ro thuốc bảo vệ thực vật cho môi trường theo xã (%) xl
Bảng 4.7 Số người dân đánh giá mức độ rủi ro thuốc bảo vệ thực vật đối với các yếu tố môi trường (%) xli
Bảng 4.8 Số người nhận biết về những yếu tố môi trường bị ảnh hưởng bởi thuốc Bảo vệ thực vật (%) xlii
Bảng 4.9 Số người trả lời và nguyên nhân gây ảnh hưởng xliii
Bảng 4.10 Nhận thức của người phun về Quy chế quản lý rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật xlv
Bảng 4.11 Nhận thức của người phun về thời gian cách ly và nhãn thuốc xlvii
Bảng 4.12 Nhận thức của người phun về thuốc bảo vệ thực vật xlix
Bảng 4.13 Nhận thức của người phun về kỹ thuật bón phân và phun thuốc l
Bảng 4.14 Nhận thức của người phun về phun thuốc và xử lý thuốc sau khi phun
lii
Bảng 4.15 Ứng cử của người phun khi chọn loại thuốc Bảo vệ thực vật liii
Bảng 4.16 Căn cứ quan trọng khi chọn thuốc của người phun liv
Bảng 4.17 Ứng xử của người phun khi đọc nhãn thuốc lv
Bảng 4.18 Ứng xử của người phun khi sử dụng thuốc lvii
Trang 7Bảng 4.19 Ứng xử của người phun với dụng cụ bảo hộ lao động lviii
Bảng 4.20 Ứng xử của người phun sau khi phun lx
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FFS (Farmer Field School) Tập huấn nông dân trên đồng ruộng
IPM (Integrated Pest Management) Quản lý dịch hại tổng hợp
GAP (Good Agricultural Practice) Thực hành nông nghiệp tốt
PRR (Pesticide Risk Reduction) Giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
quả Việt Nam
Trang 8PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Sự cần thiết của đề tài
Rau là một thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn của mỗi gia đìnhViệt Nam Cùng với sự phát triển về kinh tế và thị hiếu của con người, nhu cầu
về rau cũng ngày càng tăng Vì thế mà ngành sản xuất rau cũng ngày càng pháttriển, không chỉ đáp ứng nhu cầu rau theo mùa mà đã áp dụng nhiều công nghệ,đáp ứng nhu cầu rau quanh năm
Trong môi trường nóng ẩm của nước ta rất thích hợp cho nhiều loại rauphát triển nhưng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh và dịch hại làm hạirau, ảnh hưởng đến sản xuất, giảm sản lượng và chất lượng rau Vì vậy các biệnpháp phòng ngừa và tiêu diệt sâu bệnh ngày càng được áp dụng rộng rãi, trong
đó sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là biện pháp mạnh nhất và có hiệu quả cao.Tuy nhiên, do thành phần thuốc có những hóa chất độc hại, nếu không dùngđúng phương pháp khi phun hay sau khi phun sẽ gây hại cho người tiêu dùng vàmôi trường Trên thực tế đã có nhiều trường hợp ngộ độc hoặc tử vong mànguyên nhân là thuốc bảo vệ thực vật Vì vậy chất lượng rau sạch, rau an toànđang là nhu cầu cấp thiết của người tiêu dùng
Việc giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật (PRR) là một nội dung quantrọng trong việc đảm bảo chất lượng rau Hiện nay đã có nhiều chương trinh nhưchương trình quản lý dịch hại tổng hợp, chuẩn Vietgap… tập trung vào nội dungnày Các chương trình trên hướng về nhiều đối tượng khác nhau liên quan từkhâu sản xuất đến khâu tiêu thụ rau nhằm cung cấp cho người dân về kiến thứcquản lý rủi ro thuốc bảo vệ thực vật Để làm được điều đó cần phải nghiên cứu
Trang 9nhận thức và ứng xử của người nông dân trồng rau về thuốc bảo vệ thực vật vàrủi ro thuốc bảo vệ thực vật.
Nhằm làm rõ thực trạng nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểurủi ro thuốc bảo vệ thực vật để đề xuất một số khuyến nghị làm thay đổi hiệuquả nhận thức và hành vi của họ, giúp giảm thiểu loại rủi ro này, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ ở hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng - huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
xã Tân Kỳ và Đại Đồng - huyện Tứ Kỳ - tỉnh Hải Dương
- Đánh giá thực trạng nhận thức và ứng xử của nông dân về giảm thiểu rủi
ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về giảmthiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất súp lơ
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những người nông dân trồng súp lơ ởhai xã Tân Kỳ và Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 10- Địa điểm nghiên cứu: Tân Kỳ và Đại Đồng - Tứ Kỳ - Hải Dương.
- Thời gian nghiên cứu đề tài: sản xuất súp lơ vụ đông năm 2009
- Thời gian thực hiện đề tài: từ 10/01/2010 đến 30/04/2010
PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA NÔNG DÂN VỀ GIẢM THIỂU RỦI RO
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT 2.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau
2.1.1 Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
Rủi ro (Risk) là các biến cố có thể xảy ra với một xác suất ước đoán chủquan
Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật là những tình trạng không an toàn xảy ra chocon người và môi trường khi sản xuất và tiêu dùng sản phẩm rau
Rủi ro thuốc BVTV = Độc hại * Tiếp xúcKhái niệm rủi ro thuốc bảo vệ thực vật gồm 02 nhân tố là độ độc hại và sựtiếp xúc
Độ độc hại của thuốc bảo vệ thực vật quy định bởi màu trên nhãn thuốc: đỏ
= cực độc, vàng = độ độc cao, xanh lá cây = nguy hiểm, xanh nước biển = cẩnthận khi sử dụng
Mức độ tiếp xúc với thuốc phụ thuộc vào việc sử dụng bảo hộ lao động vàcất giữ, xử lý sau khi phun Tiếp xúc với thuốc BVTV là một trong những nguy
cơ gây hại cho sức khỏe liên quan khi làm việc, là mục tiêu hướng tới của cácchương trình y tế cho người dân nhằm hạn chế tiếp xúc, hạn chế rủi ro Nôngdân thường phun thuốc hoặc thu hoạch sản phẩm trong điều kiện bảo hộ khôngtốt, tăng khả năng tiếp xúc với các hóa chất nông nghiệp Từ đó mà có thể dẫn
Trang 11đến ngộ độc cấp tính, hoặc các phản ứng ngay lập tức, thậm chí gây ung thư, dịtật bẩm sinh, thần kinh, sinh sản và các vấn đề khả năng sinh sản.
2.1.2 Đặc điểm của rủi ro thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau
Khi trồng rau, nhất là súp lơ đòi hỏi mức độ thâm canh cao, dùng nhiềuloại thuốc Bảo vệ thực vật nên có nguy cơ rủi ro cao vì số lượng thuốc dùngngày càng nhiều
Do thời gian sinh trưởng của rau ngắn nên thường không được đảm bảođúng thời gian cách ly nên có nguy cơ rủi ro cao
Rủi ro thuốc bảo vệ thực vật đối với rau cao hơn khi người tiêu dùng sửdụng các sản phẩm rau để ăn sống
2.1.3 Biện pháp giảm thiểu rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật
- Thực hiện IPM (Integrated Pest Management):
Theo FAO, IPM là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụthể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụngtất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ củacác loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế
Sau Chiến tranh thế giới II, thuốc BVTV và các hóa chất nông nghiệpkhác đã được công nhận rộng rãi như một phần của “cuộc cách mạng xanh" Sửdụng thuốc BVTV có nhiều thuận lợi, và trở thành một phần không thể tách rời(cùng với phân bón hóa học, cơ giới hoá, và năng suất giống cây trồng cao) củangành nông nghiệp hiện đại Việc sử dụng thuốc BVTV đã làm tăng nhanh năngsuất cây trồng trong cuộc Cách mạng xanh Thường thì các hóa chất nôngnghiệp mang lại kết quả tăng sản lượng ngay lập tức nhưng tạo ra vấn đề lớn đốivới tương lai môi trường, nông nghiệp và phát triển kinh tế - chính trị
Trang 12Năm 1962, khi tác phẩm "Silent Spring" của Rachel Carson đã được xuất
bản, mối quan tâm đến những bất lợi của việc sử dụng thuốc BVTV đã đượcnâng lên nhiều Carson và một số người đã đề nghị các phương pháp kiểm soátdịch hại khác với thuốc BVTV hóa học nhằm bảo vệ động vật hoang dã, sứckhỏe con người, và môi trường Áp lực đó khiến nhiều Chính phủ đã hạn chếviệc sử dụng thuốc BVTV , còn các nhà nông học tiến hành xem xét lại việc sửdụng thuốc BVTV độc hại liên tục như DDT
Vào những năm 1950, vấn đề thuốc BVTV bao gồm sự phát triển mạnhcủa sâu bệnh, thay thế dịch hại và sự kháng thuốc đã gây ra nhiều khó khăntrong nông nghiệp Trong 1959, các nhà khoa học phát hiện ra rằng bọ chét cóthể được kiểm soát tốt hơn bằng cách giảm số lượng thuốc BVTV được sử dụng.Điều này là bởi vì thuốc BVTV đã giết chết thiên địch (tiêu diệt bọ chét) gây ra
sự phát triển bọ chét trên quy mô lớn (Stern, et al, 1959.) Giảm số lượng thuốcBVTV cho phép thiên địch tồn tại, kết quả là kiểm soát được sự phát triển của
bọ chét
Từ đó mà ý tưởng tích hợp kiểm soát (Integrated Control) ra đời Đó là sự
kiểm soát tích hợp cả sinh học và hóa học của sâu bệnh Nó tập trung vào việcbảo tồn thiên địch của sâu bệnh qua việc sử dụng có chọn lọc của thuốc BVTV Hình thức kiểm soát này được giám sát bởi những nhà côn trùng học chuyênmôn cao – những người dựa vào thiên địch và thiên nhiên để đưa ra các quyếtđịnh phun thuốc
Khái niệm “Quản lý dịch hại” đã được đề xuất trong năm 1961 (Geier vàClark, 1961) Quản lý dịch hại là nhằm giảm các vấn đề dịch hại do hành độngchọn lựa sau khi vòng đời của sâu bệnh được hiểu rõ và những hậu quả sinh thái
và kinh tế của các hành động đã được dự đoán, càng chính xác càng tốt, để cóđược lợi ích tốt nhất cho nhân loại
Trang 13Thuật ngữ “Quản lý dịch hại tổng hợp” đã được chính thức hoá tại ViệnHàn lâm Khoa học Hoa Kỳ năm 1969 IPM đã được thông qua trong chính sáchcủa Chính phủ các nước trên thế giới trong suốt những năm 70 và 80, trong đó
có Mỹ (1972), Malaysia (1985), Philippin (1986), và Indonesia (1986) Kể từ đó,chương trình này được nhân rộng và càng có nhiều thành công hơn
- Thực hiện VIETGAP (Vietnam’s Good Agricultural Practice for Fruit
and Vegetable Production):
VietGAP là những quy định về phương thức sản xuất đảm bảo 3 nội dung:
Đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
Đảm bảo môi trường sinh thái
Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật
- Thực hiện quản lý rủi ro thuốc bảo vệ thực vật dựa vào cộng đồng: baogồm toàn bộ các quy định và hoạt động quản lý đối với các thành phần tham giavào quá trình sản xuất, buôn bán – trao đổi, sử dụng thuốc BVTV Việc xâydựng các quy chế và quy định về quản lý rủi ro thuốc BVTV là một trong nhữngnội dung chính của nội dung này
Trang 14- Thực hiện nguyên tắc 4 đúng khi phun thuốc bảo vệ thực vật: Nguyêntắc này bao gồm 1) Đúng thuốc; 2) Đúng liều lượng; 3) Đúng cách; 4) Đúng thờiđiểm.
2.2 Nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
2.2.1 Nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quantrong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gầnkhách thể Hay nói cách khác, nhận thức là sự hiểu biết, sự nhận biết về một vấn
Ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật là hànhđộng của người dân khi lựa chọn mua thuốc, đọc nhãn thuốc, phun thuốc và xử
lý sau khi phun
2.2.2 Nội dung cơ bản về nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
a Nhận thức của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật
- Nhận thức về rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật: về mức độ ảnh hưởng tới con người
và môi trường, biểu hiện, nguyên nhân gây ra
Trang 15- Nhận thức về giảm thiểu rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật:
+ Hiểu biết về các quy định của Nhà nước về quản lý rủi ro thuốc Bảo vệ thựcvật (RAT, VIETGAP) và các quy định của địa phương về vấn đề này
+ Hiểu biết về thời gian cách ly: Thời gian cách ly là khoảng thời gian ngắn nhấtdừng phun thuốc trược khi thu hoạch
+ Hiểu biết về nhãn mác, bao bì thuốc Bảo vệ thực vật: Mỗi màu trên nhãnthuốc đều có ý nghĩa riêng: màu Đỏ = rất độc; màu Vàng = độ độc cao; màuXanh lá cây = Nguy hiểm; màu xanh nước biển = cẩn thận
+ Hiểu biết về chủng loại, cấu tạo thuốc Bảo vệ thực vật: Theo kết cấu, thuốcBVTV thường được phân thành dang bột, lỏng và dạng hạt
+ Hiểu biết về danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng: (phụ lục)+ Hiểu biết về phương pháp phun: 4 đúng
b Ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật
- Hành vi khi chọn mua thuốc
- Hành vi khi đọc nhãn mác
- Hành vi khi sử dụng thuốc
- Hành vi đối với sử dụng bảo hộ lao động
- Hành vi xử lý sau khi phun
2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật
- Trình độ văn hóa, học vấn của nông dân: trình độ văn hóa của ngườidân càng cao thì họ càng có hiểu biết đầy đủ về rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật vàgiảm thiểu thuốc Bảo vệ thực vật do có sự tìm hiểu từ các nguồn thông tin nhưsách báo và các phương tiện thông tin Từ đó mà ứng xử của họ đối với vấn đềnày cũng đúng đắn hơn so với những người có trình độ thấp hơn
Trang 16- Lứa tuổi: Lứa tuổi trẻ hơn có khả năng tiếp thu thông tin mới tốt hơn vìvậy dẫn đến ứng xử của họ thay đổi nhanh chóng hơn so với lứa tuổi cao hơn.
- Sự tham gia các lớp tập huấn về IPM: các lớp tập huấn này bao gồmnhiều nội dung về thuốc Bảo vệ thực vật cho nhiều đối tượng cây trồng, thamgia các lớp tập huấn này giúp cho nông dân có được nhận thức đầy đủ nhất vềrủi ro thuốc Bảo vệ thực vật và giảm thiểu rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật
- Việc thực hiện các chương trình triển khai IPM của địa phương: nếu cácchương trình này được thực hiện tốt sẽ có ảnh hưởng tốt tới nhận thức của ngườidân, thúc đẩy họ tìm hiểu, tham gia các hoạt động
- Công tác thông tin tuyên truyền của địa phương: hầu hết nông dân nắmđược các thông tin về chính sách của Nhà nước và địa phương đều thông qua loalàng Việc phát thanh tuyên truyền tốt sẽ giúp hoàn thiện hiểu biết của người dân
từ đó khiến họ có hành vi đúng đắn đối với thuốc Bảo vệ thực vật
- Việc xây dựng và thực hiện quy chế của địa phương về quản lý rủi rothuốc Bảo vệ thực vật
- Năng lực quản lý của cán bộ cộng đồng:
2.3 Cơ sở thực tiễn về nhận thức và ứng xử của người dân về giảm thiểu rủi
Trang 17vững bằng cách sử dụng thuốc BVTV một cách có hiệu quả và áp dụng chiếnlược IPM Ngoài ra, Bộ luật sửa đổi các khái niệm về chu kỳ của quản lý thuốcBVTV và một định nghĩa IPM mở rộng.
Tháng 12/1995, OECD/FAO đã tổ chức Hội thảo về giảm thiểu rủi rothuốc bảo vệ thực vật tại Uppsala, Sweden Hội thảo đã tránh bàn luận đến rủi ro
cụ thể của từng loại thuốc bảo vệ thực vật và phương pháp xác định những rủi ro
đó Đồng thời cũng tránh bàn luận về việc đăng ký thuốc bảo vệ thực vật Thayvào đó, ngay từ đầu Hội thảo đã giả định rằng trong bối cảnh hiện nay, tồn tạitrong hầu hết các nước OECD và FAO, thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng gắnvới một mức rủi ro nhất định Mục đích của hội thảo là làm rõ các loại hànhđộng có thể được thực hiện để giảm bớt mức nguy cơ này Các kiến nghị rơi vào
hai lĩnh vực nói chung: thứ nhất, giảm tối đa những rủi ro liên quan đến việc sử dụng thuốc BVTV và xử lý; thứ hai, giảm sự lệ thuộc vào thuốc BVTV hóa học
bằng cách tăng sử dụng của thuốc sinh học Ban đầu, hội thảo lưu ý rằng thuốcBVTV có đăng ký cung cấp một nền tảng thiết yếu để giảm rủi ro - bằng cáchcung cấp cho việc đánh giá và kiểm soát rủi ro liên quan với thuốc trừ Tiếp theoHội thảo nhấn mạnh sự cần thiết cho các chương trình thiết thực, tập huấn chonông dân để tạo điều kiện thúc đẩy sự chuyển đổi từ nông nghiệp chuyên sửdụng hóa chất đến một ngành nông nghiệp mà sử dụng tối đa hóa việc sử dụngcác công cụ làm vườn và thuốc sinh học để phát triển cây trồng khỏe mạnh vàkiểm soát sâu bệnh (Xem them phần phụ lục)
Tháng 6/2004, tổ chức ERMA New Zealand (Environmental RiskManagement Authority) đã tổ chức một hội thảo chuyên đề tại Te Papa, Cablestreet, Wellington, New Zealand trong 2 ngày về rủi ro thuốc BVTV Hội nghị
đã thảo luận về các khái niệm, chiến lược và các công cụ, để tiến tới xây dựngcác quan hệ đối tác cho hành động trong tương lai nhằm giảm thiểu rủi ro thuốc
Trang 18bảo vệ thực vật ERMA còn tổ chức một loạt các cuộc hội thảo khắp cả nước đểthông báo cho người sử dụng thuốc BVTV trên các phương tiện thông tin củaChính phủ.
Theo bà Nicolien van der Grijp, một nhà nghiên cứu cao cấp của chương
trình quốc tế về Quản lý môi trường Nhà nước tại Viện Nghiên cứu môi trườngcủa Đại học Vrije ở Amsterdam: thuốc bảo vệ thực vật có thể gây hại đến môitrường và sức khỏe của con người trong các giai đoạn khác nhau của đời sốngcủa họ mà đơn giản nhất là qua các giai đoạn của sản xuất, marketing, sử dụng
và sau khi sử dụng Trong giai đoạn sản xuất, lượng thuốc phát tán vào môitrường khi sản xuất, xử lý chất thuốc, công nhân trong nhà máy và những ngườisống trong các khu vực lân cận của các cơ sở sản xuất có thể có nguy cơ bị tiếpxúc với khí thải độc hại và tai nạn công nghiệp Trong giai đoạn marketing, chấtđộc có thể phát tán trong quá trình vận chuyển và lọc quặng từ kho lưu trữ Nhưvậy có thể hình thành một nguy cơ đáng kể cho người dân địa phương, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển Trong việc sử dụng, có một thực tế là thuốcBVTV không bao giờ được sử dụng hoàn toàn có hiệu quả bởi các loại cây trồngnhận được Nhỏ nhưng số lượng đáng kể các loại thuốc BVTV bị mất trực tiếpđến môi trường, và cũng có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến đa dạngsinh học, điều kiện khí hậu và tầng ôzôn Số người làm việc tại các trang trại vànhững người sống bên cạnh cánh đồng và nhà kính có thể gặp tổn hại sức khỏe
do tác động của thuốc trừ sâu Sau khi sử dụng, người tiêu dùng có thể tiếp xúcvới mức lớn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong thực phẩm có thể gây ảnhhưởng sức khỏe mãn tính hoặc cấp tính, bao gồm những tiềm năng gây ra ungthư, làm gián đoạn hoóc môn và hệ thống sinh sản, và những vấn đề về hệ thầnkinh Còn có một dữ liệu đáng tin cậy về các hậu quả lâu dài tiếp xúc với dưlượng thuốc BVTV và tác dụng của các loại thuốc khi trộn với nhau Trẻ em
Trang 19được coi là dễ bị tổn thương nhất khi tiếp xúc với thuốc BVTV vì các cơ quanvẫn còn đang phát triển và họ có thể tiếp xúc với liều tương đối cao hơn nhữngngười trưởng thành.
Hiện nay, trường Đại học Oregon State University, Corvallis, Oregon
đang thực hiện dự án “Giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật ở Đông Nam Á”
với mục tiêu giảm thiểu rủi ro về con người và môi trường thông qua khả năngquản lý bền vững các chất hóa chất nông nghiệp với nguồn tài trợ của FAO Dự
án sẽ bắt đầu giải quyết các vấn đề về việc sử dụng sai và quá liều thuốc bảo vệthực vật đang ảnh hưởng đến năng suất, sức khoẻ, môi trường và thương mạitrong khu vực các tiểu vùng sông Mê Kông Các hoạt động đào tạo đặc biệt vềnhận thức rủi ro và quản lý rủi ro bao gồm hoạt động Farmers Field School FFStại Trung Quốc, Campuchia, Lào và Việt Nam
Trang 20hoạt động nghiên cứu, câu lạc bộ IPM, 3) cộng đồng IPM (chương trình IPMquốc gia Việt Nam, 2004).
Chương trình IPM đã được mở rộng từ gạo sang rau từ năm 1996 và mộtvài năm sau đó để hỗ trợ các nông hộ có quy mô trồng rau và trái cây nhỏ trongviệc tìm được sinh kế bền vững hơn bằng cách hỗ trợ việc sản xuất hiệu quả, lợinhuận, lành mạnh và bảo vệ môi trường (FAO, 2002) Chương trình IPM đãđược thực hiện ở hầu hết các tỉnh trồng rau (PPD, 2007)
Tình hình sản xuất rau an toàn tại Việt Nam: Trong giai đoạn 2006
-2010, Bộ NN & PTNT phấn đấu nâng diện tích sản xuất rau an toàn ở 6 tỉnh,thành phố phía Bắc gồm Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Tây, Bắc Ninh,Vĩnh Phúc lên gần gấp đôi so với trước đó
Năm 2008, tổng diện tích rau của cả nước là 722 nghìn ha, năng suấttrung bình đạt 159 tạ/ha với sản lượng hơn 11,4 triệu tấn Sáu tháng đầu năm
2009, cả nước sản xuất gần 500 nghìn ha rau, đậu các loại, trong đó miền Bắc là
240 nghìn ha Tuy nhiên diện tích các vùng sản xuất rau an toàn tập trung đượcquy hoạch còn rất hạn chế, cả nước mới đạt khoảng 8 đến 8,5% tổng diện tíchtrồng rau Riêng vùng đồng bằng sông Hồng mới đạt 14.816 ha, trong đó ở HàNội là 6.820 ha, Hải Phòng 2.500 ha, Hải Dương 3.000 ha và chỉ có 676 hađược chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn Ðặc biệt, nhiều tỉnh, thànhphố đến nay vẫn chưa đầu tư để quy hoạch vùng sản xuất rau Bên cạnh đó, tìnhtrạng sử dụng hóa chất, phân bón và các chất điều tiết sinh trưởng thiếu khoahọc vẫn phổ biến; rau sản xuất ra chỉ qua khâu sơ chế đơn giản đã được đưa rathị trường tiêu thụ Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ rất phổ biến ở các vùngtrồng rau để tăng năng suất cây trồng đã làm ảnh hưởng chất lượng rau; số đôngngười sản xuất rau không thường xuyên làm vệ sinh đồng ruộng, bón phân hữu
Trang 21cơ chưa được ủ hoải, bón nhiều phân urê đơn độc; thời gian cách ly không bảođảm và lạm dụng phun thuốc kích thích sinh trưởng đối với các loại rau ăn lá.Hơn nữa, nước tưới cho rau chủ yếu lấy từ các ao hồ, sông dẫn vào kênh mươngnội đồng, một phần nhỏ lấy từ giếng khoan nên chưa bảo đảm chất lượng vệsinh an toàn thực phẩm Qua kiểm tra, giám sát về sản xuất rau an toàn vùngđồng bằng sông Hồng trong sáu tháng đầu năm 2009 tại một số tỉnh như: BắcNinh, Hưng Yên, Hà Nam cho thấy, 22/28 mẫu rau đã lấy có hàm lượng chìcao hơn mức cho phép, 14/28 mẫu rau phân tích có hàm lượng ni-tơ-rát cao hơnmức quy định, 19/28 mẫu có chứa E.coli và 27/28 mẫu có chứa Coliphom.Nguyên nhân của tình trạng trên là do sản xuất rau chủ yếu là nhỏ lẻ, phân tán;
đa số các vùng trồng rau an toàn chưa được đầu tư về hệ thống giao thông, thủylợi Việc sản xuất rau chưa được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo sát sao;vấn đề tiêu thụ sản phẩm chưa được gắn với sản xuất; chưa hình thành các liênkết bền chặt giữa người sản xuất và người tiêu dùng; thị trường đầu ra cho sảnphẩm rau an toàn chưa ổn định; việc xây dựng và phát triển thương hiệu gặpnhiều khó khăn
Từ nay đến năm 2011, ngành nông nghiệp phấn đấu 100% các tỉnh, thànhphố có quy hoạch các vùng sản xuất rau, quả, chè an toàn, tập trung, khoảng50% tổ chức cá nhân sản xuất rau tại các vùng tập trung sản xuất sản phẩm phùhợp tiêu chuẩn VietGap, khoảng 30% sản lượng sản xuất tại các vùng này đạttiêu chuẩn VietGap
- Tình hình áp dụng tiêu chuẩn VIETGAP vào sản xuất rau: Theo BộNN&PTNT hiện cả nước có 15 mô hình sản xuất áp dụng VietGAP được chứngnhận, tập trung ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long như Tiền Giang, Long An,Vĩnh Long, Bến Tre Ngoài ra, còn có 80ha rau an toàn, 5ha vải và 3.000ha
Trang 22thanh long đang sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP Trong khi đó tại Hà Nội,VietGAP cũng hết sức xa lạ đối với nông dân, nhất là nông dân trồng cây ănquả Vùng nhãn chín muộn xã Đại Thành (Quốc Oai) và cam Canh, bưởi Diễncủa huyện Hoài Đức, nơi nông dân tiếp cận nhanh với tiến bộ kỹ thuật và đã cótruyền thống trồng cây ăn quả nhưng vẫn có khoảng 80% số nông dân được điềutra nói rằng đã nghe nói về VietGAP nhưng chưa hiểu đúng quy trình Đồngthời, nếu so sánh điều kiện sản xuất thực tế của các hộ dân ở đây với quy trìnhVietGAP có quá nhiều chỉ tiêu không đạt Người nông dân quan niệm, VietGAP
là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng quy cách còn các điều kiện khác như xử
lý mầm bệnh trước khi gieo trồng, sản phẩm sau thu hoạch không được để dướiđất, ghi chép nhật ký đồng ruộng lại không được nông dân coi trọng nên dễdàng bỏ qua trong khi đây là những điều kiện bắt buộc
Theo TS Nguyễn Văn Bộ, Giám đốc Viện Khoa học nông nghiệp ViệtNam cho rằng, nguyên nhân sâu xa của việc còn quá ít diện tích sản xuất ápdụng tiêu chuẩn VietGAP là do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chủ yếu là
hộ gia đình dẫn tới khó quản lý, quy trình kỹ thuật lại chưa đồng nhất giữa cácđịa phương Đầu ra sản phẩm chưa được cơ quan chức năng kiểm chứng, phânđịnh rõ ràng nên hay bị nhập nhằng với các loại nông sản thông thường dẫn tớigiá thành sản phẩm không cao Việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để phânđịnh và quản lý chất lượng nông sản gặp khó khăn và thiếu thực tế, do rau, củ,quả là mặt hàng thực phẩm tươi sống, nhanh hỏng, được kinh doanh với khốilượng lớn, trên địa bàn rộng với nhiều người tham gia sản xuất, buôn bán Nếuđánh giá chất lượng bằng phương pháp nhìn, quan sát cảm quan sẽ không bảođảm độ tin cậy Trong khi đó, nếu xác định các chỉ tiêu vệ sinh an toàn thựcphẩm bằng các phương pháp phân tích thí nghiệm đòi hỏi phải mất một thời
Trang 23gian dài, ít nhất mất 3 - 4 ngày và chi phí quá lớn (1 - 3 triệu đồng/mẫu xétnghiệm tùy thuộc vào từng mẫu xét nghiệm khác nhau)
Bộ NN & PTNT đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2011, tất cả các tỉnh,thành trong cả nước hoàn thành quy hoạch các vùng sản xuất rau, quả, chè antoàn tập trung; 50% các tổ chức, cá nhân tại các vùng sản xuất an toàn tập trung(SXATTT) bảo đảm đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm phù hợp VietGAP;30% lượng hàng nông sản tại các vùng này được chứng nhận hoặc tự đánh giá
và công bố sản xuất theo VietGAP Đến năm 2015, toàn bộ 100% lượng rau,quả, chè tại các vùng SXATTT được chứng nhận, hoặc tự đánh giá và công bốsản xuất theo VietGAP; 100% các tổ chức, cá nhân tại các vùng SXATTT đảmbảo đủ điều kiện sản xuất, sơ chế sản phẩm nông sản phù hợp VietGAP
Đã có những đề tài nghiên cứu về vấn đề này đưọc thực hiện bởi cácchuyên gia nông nghiệp ở Việt Nam
+ Theo kết quả nghiên cứu của đề tài “Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệthực vật tới sức khỏe nông dân trồng rau ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh”của Phạm Bích Ngân và Đinh Xuân Thắng thuộc Phân viện Bảo hộ lao động –
TP HCM – Viện Môi trường & Tài nguyên – Đại học Quốc gia TP.HCM (Tạpchí Phát triển khoa học và công nghệ, tập 9, số 2 – 2006) thì: Việc sử dụng thuốcBVTV sẽ gây ảnh hưởng không ít tới môi trường đất, nước và không khí khuvực phun thuốc Hầu hết các chất ô nhiễm đều có nồng độ vượt quá tiêu chuẩncho phép gấp nhiều lần, nhất là Filitox, Azodrin, Regen và đặc biệt là Xylene.Các chất ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp qua đường hô hấp, bề mặt da vànhiễm vào máu của người trực tiếp phun thuốc Ngoài ra, thuốc BVTV có thểngấm vào da do bất cẩn khi sử dụng sẽ làm tổn thương da, gây viêm da, dị ứngda… Bệnh lý này rất thường gặp và đặc biệt nguy hiểm vì theo kết quả nghiên
Trang 24cứu, nông dân có thói quen thường pha nồng độ thuốc lớn gấp từ 2 đến 3 lầnnồng độ được hướng dẫn và mật độ phun khá dày (cách 1 đến 2 ngày/lần) Dokhông có hoặc có các trang bị bảo hộ lao động nhưng chưa đảm bảo yêu cầu vềchất lượng, cùng với việc phun thuốc với liều lượng tuỳ tiện và sử dụng cảnhững loại thuốc bị cấm nên thuốc BVTV đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻcủa những người trực tiếp phun thuốc (Cụ thể nêu rõ trong phụ lục đính kèm).Thuốc BVTV không những ảnh hưởng đến hệ hô hấp, hệ thần kinh, bề mặt da
…mà còn có ảnh hưởng rất lớn đến hệ tuần hoàn khi nhiễm phải chúng Điều đócho thấy mức độ rất nguy hiểm của chúng đối với những người trực tiếp phunthuốc và cũng có ảnh hưởng tương tự đối với người không trực tiếp phun thuốcnhưng có tiếp xúc với chúng
- Theo nghiên cứu của THS Nguyễn Tuấn Anh, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn thì việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệpđang có những tác động rất mạnh đến đời sống kinh tế - xã hội trên cả haiphương diện tích cực và tiêu cực Thuốc BVTV giúp cây trồng phát triển và đạtnăng suất cao nhưng nó cũng tàn phá môi trường và gây cho con người nhiềubệnh tật nguy hiểm Điều đăc biệt quan tâm hiện nay chính là việc nông dân sửdụng nó như thế nào
- Năm 2009, GS.TS Đỗ Kim Chung và các cộng sự (Khoa Kinh tế vàPTNT – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nhận thức và ứng xử của người trồng rau ở Hà Nội và Thái Bình về rủi ro thuốc bảo vệ thực vật” Kết quả cho thấy: Người dùng thuốc là trọng tâm của
rủi ro thuốc bảo vệ thực vật Nguyên nhân chính được xác nhận từ hai phía 1) vềphía tiếp xúc rủi ro; 2) về phía tiếp xúc độc hại Nông dân thì chưa có ứng xửđúng về giảm thiểu rủi ro thuốc bảo vệ thực vật 1) Ít hiểu biết về chính sách và
Trang 25quy định về quản lý rủi ro thuốc bảo vệ thực vật; 2) Các hoạt động cộng đồngchưa đủ mạnh; 3) Thiếu kiến thức về thuốc bảo vệ thực vật Hiện nay đề tài vẫntiếp tục được thực hiện nhằm đánh giá nhận thức và ứng xử của người trồng rausau khi đã được tập huấn thay đổi như thế nào.
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Xã Tân Kỳ - huyện Tứ Kỳ được thành lập từ 06/1956 gồm 2 thôn: NghiKhê và Ngọc Lâm với diện tích tự nhiên 715,16 ha, cách trung tâm huyện lỵ Tứ
Kỳ khoảng 6 km về phía Đông Nam
- Phía Bắc giáp xã Ngọc Kỳ và Hoàng Diệu
- Phía Nam giáp xã Đại Hợp và Quang Khải
- Phía Đông giáp xã Quang Phục và Tái Sơn
- Phía Tây giáp xã Dân Chủ
Xã Đại Đồng nằm ở khu thượng huyện Tứ Kỳ, bên cạnh tỉnh lộ 191 nốiquốc lộ 10 với quốc lộ 5 đi Hải Phòng, Thái Bình Xã Đại Đồng cách thị trấn Tứ
Kỳ 8 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 9 km về phía Nam Có tổngdiện tích tự nhiên 660,11ha
- Phía Bắc, phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Hà
- Phía Nam giáp xã Hưng Đạo
- Phía Tây giáp xã Kỳ Sơn
Trang 26* Khí hậu, thủy văn, giao thông:
- Do đặc điểm địa bàn và vị trí địa lý nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộnên khí hậu mang đặc điểm chung của hai xã là nóng ẩm, mưa nhiều và có 2mùa rõ rệt:
+ Mùa nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10
+ Mùa hanh khô từ tháng 11 đến tháng 4
- Về giao thông: Tân Kỳ nằm giữa hai tuyến đường giao thông quantrọng: đường 391 từ thành phố Hải Dương đi Hải Phòng và Thái Bình; đường17A từ thành phố đi huyện lỵ Ninh Giang và sang Thái Bình Hiện nay hai conđường này đã được nâng cấp trải nhựa và mở rộng mặt đường cho nhân dân đilại và vận chuyển hàng hóa thuận tiện Xã Đại Đồng có tiềm năng lớn về giaolưu kinh tế đường bộ, đường thủy với các đô thị lớn như Hải Phòng, Thái Bình,
Hà Nội và thành phố Hải Dương
- Về đường thủy: Xã Tân Kỳ cũng được nằm cạnh ven ba con sông tươngđối rộng: sông Đĩnh Đào (một nhánh của sông Sặt) chảy xuôi về phía Nam đổ rasông Luộc, là ranh giới của hai xã Tân Kỳ và Quang Khải của huyện Tứ Kỳ;sông Cờ cùng với sông He (do nhân dân địa phương đặt tên) nằm về phía Tâycủa xã có chiều rộng khoảng 50m, sâu khoảng 5 – 8m Ba con sông trên cùngvới hệ thống cống, đê của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải tạo nên sự tương đốithuận lợi về cung cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh cho xã Tân Kỳ
Trang 273.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai hai xã năm 2009
Nguồn: Phòng thống kê nông nghiệp xã
3.1.3 Tình hình sản xuất súp lơ ở hai xã
Hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng đều có diện tích sản xuất súp lơ lớn, cung cấpchủ yếu súp lơ cho địa bàn Hà Nội
Diện tích trồng súp lơ ở hai xã thì tập trung chủ yếu ở cánh đồng Vỏ (thônNghi Khê – xã Tân Kỳ) và cánh đồng Ré (hai thôn Nghĩa Dũng và Nghĩa Xá –
xã Đại Đồng) Vụ sản xuất thường là vụ đông của năm
Trang 28Xã Đại Đồng có diện tích trồng súp lơ lớn khoảng 101,7ha (2825 sào)trong tổng số 150 ha cây màu vụ đông 2009 Tổng số cây súp lơ được trồng vụvừa qua theo thống kê là 4.238.000 cây Người dân ở đây vốn có kinh nghiệmnhiều năm truyền lại (Súp lơ được trồng tại đây 10 năm trước), việc trồng súp lơtại xã không có một quy chuẩn kĩ thuật nào chính xác.
Xã Tân Kỳ có diện tích trồng súp lơ khoảng 39ha Tổng số cây trồng vụ vừa qua theo thống kê là khoảng hơn 1.650.000 cây Trong vòng 3 năm qua tại
xã đã có nhiều lớp tập huấn IPM, RAT và thuốc BVTV cho cây lúa và cây súp
lơ Người dân trong xã trồng súp lơ theo quy trình có sự hướng dẫn ban đầu của cán bộ kĩ thuật
Cây súp lơ là cây rau vụ đông, cho thu nhập chính là khoảng 1,5 - 4 triệuđồng/sào
Vụ đông năm 2009 bà con nông dân trồng súp lơ tại xã được hỗ trợ 125đồng/cây súp lơ
Bảng 3.2 Tình hình sản xuất trên hai cánh đồng nghiên cứu
3.1.4 Tình hình triển khai hoạt động IPM
* Ở xã Tân Kỳ có:
- Trung bình mở các lớp RAT và thuốc BVTV 3 – 4 lần/năm
- Mỗi lần mở 1 lớp
- Số học viên được đào tạo/ lớp: 120 – 150 người
- Các hoạt động sau khi có lớp IPM: Hình thành câu lạc bộ sản xuất RAT
3.1.5 Tình hình dịch hại ở vụ nghiên cứu
Trang 29- Tự phun: 100%
- Người phun: 90% là nữ giới, 10% là nam giới
- Hòa thuốc : Nơi hòa gần mương máng, ruộng phun Dùng xô chậu múcnước, dùng que khuấy
- Các loại thuốc Bảo vệ thực vật chính chia theo công dụng là thuốc trừ
cỏ, trừ bệnh và thuốc trừ sâu Trong đó thì thuốc sâu được sử dụng nhiều nhất.Thuốc cỏ không phải hộ nào cũng dùng
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện tại hai xã Tân Kỳ và Đại Đồng - huyện Tứ Kỳ - tỉnhHải Dương
Đây là hai xã có diện tích trồng súp lơ lớn nhất huyện Tứ Kỳ, là nguồncung cấp chính cho thị trường Hà Nội và các tỉnh miền Bắc về súp lơ Vì thế hai
xã đều là điển hình cho nghiên cứu nông nghiệp nói chung và có mức độ rủi ronông nghiệp cao
Ở mỗi xã qua thảo luận với lãnh đạo địa phương đã chọn ra hai cánh đồngđại diện
- Chọn cánh đồng Vỏ, thôn Nghi Khê, xã Tân Kỳ
Trang 30- Chọn cánh đồng Ré, thôn Nghĩa Dũng, xã Đại Đồng
Cả hai cánh đồng đều sản xuất súp lơ vụ đông năm 2009, tương đồng vềtiềm năng rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
a Thu thập thông tin thứ cấp:
- Thông qua tìm hiểu và thu thập từ Báo cáo kinh tế xã hội, sổ sách thống
kê theo dõi Phòng thống kê của xã qua 3 năm: 2007 – 2008 – 2009
- Tìm kiếm thông tin đã được công bố trên Internet
b Thu thập thông tin sơ cấp:
- Quan sát: Tiến hành quan sát trực tiếp trên các lĩnh vực trồng, các cửahàng thuốc bảo vệ thực vật và tình hình làm việc của nông dân khi phun thuốcbảo vệ thực vật bằng cách sử dụng bảng quan sát (phụ lục) Thông tin thu được
từ quan sát các lĩnh vực được qua kiểm tra với số liệu điều tra để làm rõ thôngtin cho chính xác: vị trí cất bình phun thuốc và thuốc có xa nhà hay không? Mức
độ ô nhiễm đến các yếu tố môi trường như nước, cá, thiên địch…
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA): Tiếnhành phương pháp này với sự tham gia của cán bộ cộng đồng và một số nôngdân sản xuất giỏi, có kinh nghiệm
Thực hiện một số công cụ PRA như sau:
+ Xây dựng bản đồ có sự tham gia của dân: Vẽ sơ đồ 2 cánh đồng nghiêncứu một số vùng xung quanh; hiện trạng sản xuất rau tại 2 xã
+ Thu thập thông tin mang tính tổng quát nhất để đối chiếu, kiểm nghiệm
so với kết quả trên Phiếu điều tra: 100% nông dân đều tự phun thuốc, với tỷ lệ người phun là 90% nữ, 10% nam; cỡ bình phun phổ biến là 12 lít; có một số bình rò rỉ ; pha thuốc ở những nơi gần mương máng, ruộng; phun không đồng loạt…
Trang 31+ Thảo luận nhóm:
Thực hiện phương pháp này với sự tham gia của các thành viên trongnhóm, một số nông dân sản xuất giỏi và cán bộ lãnh đạo địa phương Trong quátrình thảo luận, đưa ra các câu hỏi định tính, cùng thảo luận công khai, côngbằng Sau đó tổng hợp lại những ý kiến được tán thành nhiều nhất
Các ý kiến tổng hợp được sử dụng để đưa ra một số nhận định định tính
và là một trong những cơ sở đối chiếu tính chính xác kết quả Phiếu điều tra
- Phương pháp điều tra bằng Phiếu điều tra:
+ Chọn mẫu điều tra: Chọn mẫu điều tra là các hộ nông dân trồng súp lơtrên cánh đồng Vỏ thuộc thôn Nghi Khê, xã Tân Kỳ và cánh đồng Ré, thônNghĩa Dũng, xã Đại Đồng
Số lượng mẫu là 135 mẫu với 71 phiếu ở Tân Kỳ và 64 phiếu ở Đại Đồng + Xây dựng phiếu điều tra:
(-) Xây dựng bảng kết hợp với các chỉ tiêu nghiên cứu
Nội dung của bảng hỏi tập trung vào mục tiêu nghiên cứu của đề tài Dựavào ý kiến cá nhân và kết quả của Thảo luận nhóm để liệt kê đầy đủ các chỉ tiêu
Loại câu hỏi được sử dụng trong Phiếu điều tra bao gồm câu hỏi đóng vàcâu hỏi mở
Các thông tin về nông dân trong mẫu bao gồm các dữ liệu sinh học, nhậnthức về những rủi ro thuốc bảo vệ thực vật, nhận thức của kiến thức giảm rủi rothuốc BVTV (các chính sách quản lý rủi ro thuốc BVTV của Nhà nước, thờigian cách ly, nhãn thuốc trừ sâu, loại thuốc trừ sâu, phân bón và kỹ thuật sửdụng thuốc BVTV, phun thuốc và kỹ thuật xử lý sau khi phun, tác dụng của việc
sử dụng thuốc BVTV sau khi phun thuốc Những thông tin chính có thể đượcthu thập từ các cuộc điều tra hộ gia đình nông trang bằng cách sử dụng một bảngcâu hỏi tiêu chuẩn hóa và quan sát trực tiếp, trong khi đến thăm và phỏng vấn
Trang 32Bảng hỏi gồm các phần sau:
Phần 1: Thông tin về người trả lời phỏng vấn
Phần 2: Nhận thức của người trả lời phỏng vấn về giảm thiểu rủi ro thuốcbảo vệ thực vật
Phần 3: Ứng xử của người trả lời phỏng vấn về giảm thiểu rủi ro thuốcbảo vệ thực vật
(Xem phụ lục đính kèm)
Các câu hỏi đạt được các yêu cầu sau:
Thời gian phỏng vẫn người phun trong thời gian tối đa 15 phút
Câu hỏi dễ hỏi đối với người phỏng vấn và dễ hiểu, đơn nghĩa đốivới người trả lời phỏng vấn
Các thông tin thu thập được dễ dàng được mã hóa
Số nông dân đánh giá về mức độ rủi ro thuốc Bảo vệ thực vật theo xã
Số người dân đánh giá về tình trạng và mức độ ảnh hưởng của thuốc
Thời gian nông dân ngừng làm việc do rủi ro: thời gian trung bình theo giờ, theo ngày.
Tỷ lệ hiểu biết về chính sách của Nhà nước về RAT
Tỷ lệ người nhớ tiêu chuẩn RAT
Tiêu chuẩn RAT được biết đến
Tỷ lệ hiểu biết về chính sách của Nhà nước về VIETGAP