1.2.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất xây dựng khu liên hiệp lọc hoá dầu Nghi Sơn đến việc làm của lao động trong xã, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm tạo điều kiện nâng cao thu nhập, ổn định đời sống người dân trong xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau khi bị thu hồi đất. Tìm hiểu thực trạng lao động, việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá trước và sau khi bị thu hồi đất để xây dựng Khu Liên hợp Lọc hoá dầu (LHD) Nghi Sơn . Tìm hiểu các chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn sau thu hồi đất đã và đang được thực hiện tại xã. Đế xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá.
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm cho lao động nông thôn luôn là vấn đề bức xúc có tính toàn cầu,
là mối quan tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêngtrong đó có Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam đang có nhiều khởi sắc, thunhập quốc dân hàng năm tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân không ngừngđược cải thiện, an ninh được đảm bảo, chính trị tương đối ổn định, cùng vớinhững mặt tốt đó thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm lại diễn ra trênphạm vi rộng và có xu hướng ngày càng tăng
Hiểu rõ tầm quan trọng của việc giải quyết việc làm đối với lao động nôngthôn Nghị quyết Đại Hội Đảng lần IX đã khẳng định “ Giải quyết việc làm làyếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, ổn định và phát triển kinh tế,làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúccủa nhân dân” Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm giảiquyết việc làm nhưng đến nay tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vựcnông thôn nước ta đang diễn ra gay gắt Bên cạnh đó, quá trình phát triển kinh
tế - xã hội tất yếu dẫn đến việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, nhiều khu côngnghiệp, khu kinh tế ra đời dẫn đến đất đai bị chuyển đổi mục đích sử dụng,hầu hết đất bị thu hồi là đất nông nghiệp của các hộ dân, từ đó là nảy sinh một
số vấn đề xã hội như: việc làm, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường
Hải Yến là xã ven biển nằm ở phía nam của huyện Tĩnh Gia, giáp với nhàmáy xi măng Nghi Sơn Là một trong số xã hiện đang diễn ra quá trìnhchuyển đổi mục đích sử dụng ruộng đất trên quy mô rộng lớn Hầu hết diệntích đất nông nghiệp của xã được thu hồi để xây dựng khu liên hiệp hoá lọcdầu Nghi Sơn, thuộc kinh tế Nghi Sơn Nhiều hộ nông dân sau khi đất bị thuhồi đã chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang hoạt động kinh doanh dịch vụ-buôn bán Bên cạnh đó, việc xây dựng khu kinh tế cũng tạo ra những khó
Trang 2khăn khi việc thu hồi đất đồng nghĩa với việc người dân mất đi tư liệu sảnxuất quan trọng của mình và không có khả năng chuyển đổi việc làm dẫn đếntình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng
Từ những thực tế trên, để biết được quá trình thu hồi đất phục vụ cho việcxây dựng nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn làm thay đổi như thế nào đến việclàm, thu nhập của lao động trong xã? Chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài:
“Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn sau khi bị thu
hồi đất để xây dựng khu Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn trên địa bàn xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng thu hồi đất xây dựng khu liên hiệp lọc hoá dầuNghi Sơn đến việc làm của lao động trong xã, trên cơ sở đó đề xuất một sốgiải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm tạo điều kiện nâng cao thu nhập,
ổn định đời sống người dân trong xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh ThanhHoá
- Tìm hiểu các chính sách hỗ trợ việc làm cho lao động nông thôn sauthu hồi đất đã và đang được thực hiện tại xã
- Đế xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giải quyết việc làm, nâng caothu nhập cho lao động nông thôn ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh ThanhHoá
Trang 31.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
-Tình hình mất đất sản xuất của các hộ nông dân xã Hải Yến
- Việc làm của lao động nông thôn trong độ tuổi lao động sau khi bị thuhồi đất xây dựng Khu liên hợp LHD Nghi Sơn ở xã Hải Yến huyện Tĩnh Giatỉnh Thanh Hoá
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
-Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Hải Yến
huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hoá
-Phạm vi thời gian:
+ Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu số liệu trước và sau khi diễn raquá trình thu hồi đất (số liệu từ năm 2005 đến năm 2009)
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ 23/01/2010 đến 23/05/2010
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng lao động, việc làm của các
hộ nông dân bị thu hồi đất để xây dựng khu Liên hợp Lọc hoá dầu Nghi Sơn.Phương hướng giải quyết việc làm để ổn định và nâng cao mức sống củangười dân bị thu hồi đất tại xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hoá
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận liên quan đến việc làm và lao động nông thôn
2.1.1 Khái niệm việc làm và người có việc làm:
Mỗi nước có quy định riêng về độ tuổi lao động Hiện nay trong Bộ luậtlao động nước ta quy định là: nam từ 15 – 60 tuổi, còn nữ từ 15 – 55 tuổi Vềngười trên tuổi lao động quy đổi, thì cứ hai người bằng một người trong tuổi laođộng, còn người dưới tuổi lao động (chỉ tính từ 13 – 14 tuổi) cứ ba người từ 13 –
14 tuổi được tính bằng một người trong tuổi lao động
Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề có tínhchất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hưởng trựctiếp đến sự phát triển của một đất nước Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp làmột trong những biện pháp quan trọng để từng bước ổn định và nâng cao đờisống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững Đặc biệt là đối với Việt Nam, tốc
độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo mởviệc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, tư liệu sản xuất còn thấp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm việc làm theo cáckhía cạnh khác nhau:
* Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cậpđến trong mối quan hệ với lực lượng lao động Khi đó, việc làm được phânthành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc ) và không được
Trang 5trả công nhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế gia đình…) Những ngườiđang làm việc trong lực lượng vũ trang cũng được coi là có việc làm Vì vậy,việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thunhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật) Những người có việc làm là những ngườilàm một việc gì đó có được trả công, lợi nhuận, được thanh toán bằng tiền hoặchiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợiích hay vì thu nhập của gia đình, không được nhận tiền công (hiện vật) Kháiniệm này đã được chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 (ILO.1993) và
đã được áp dụng ở nhiều nước
Ở nước ta trong thời kì bao cấp Nhà nước đã đứng ra giải quyết việc làm,trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ theo chỉ tiêu pháplệnh đến việc sử dụng và đãi ngộ đối với người lao động Trong giai đoạn ấy,những khái niệm thiếu việc làm, lao động dư thừa, việc làm không đầy đủ… hầunhư không được biết đến Còn khái niệm thất nghiệp dưới bất kì hình thức nàocũng bị coi là điều cấm kỵ Trong nền kinh tế quốc dân, xu hướng quốc doanhhoá được coi là một điều tất yếu Hướng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất làchuyển nhanh vào khu vực quốc doanh để mang nhãn hiệu là “ thành phần kinh
tế XHCN” Còn đối với mỗi công dân là đứng vào đội ngũ viên chức của Nhànước Do đó việc làm và người có việc làm được xã hội thừa nhận và trân trọng
là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhànước và kinh tế tập thể
Khi chuyển sang nền kinh tế hành hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thì những quan điểm đó không cònphù hợp nữa Quan điểm về việc làm cần được hiểu là “ Hoạt động lao độngkhông bị pháp luật ngăn cấm tạo ra thu nhập hoặc tạo điều kiện cho các thànhviên trong hộ gia đình có thêm thu nhập” Điều này cũng phù hợp với quy địnhtrong điều 13 của Bộ luật lao động Việt Nam
Trang 6* Điều 13, chương II (việc làm) Bộ luật lao động của nước ta: “Mọi hoạtđộng lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều đượcthừa nhận là việc làm”.
Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãnhai điều kiện:
Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động vàcho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính chất hữu ích và nhấnmạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
Thứ hai, hoạt động đó không bị phấp luật ngăn cấm Điều này chỉ rõ tínhpháp lý của việc làm Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề
và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị truờng lao động ở Việt Nam trongquá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần Người lao động hợp pháp ngày nayđược đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết,
tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mướn lao động trong khuôn khổ của phápluật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nước.Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong hoạt động của người lao động thuộckhu vực ngoài Nhà nước và các khu vực phi chính thức
Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ đểmột hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm Nếu một hoạt động tạo rathu nhập nhưng vi phạm pháp luật như buôn lậu, trộm cắp…thì không được thừanhận là việc làm
* Theo giáo trình kinh tế lao động của Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tưliệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người Như vậy, khái niệm việc làm có thể hiểu là hoạt động lao động của conngười nhằm mục đích tạo ra thu nhập và hoạt động này không bị pháp luậtngăn cấm
Trang 72.1.1.2 Các hình thức việc làm:
Những hoạt động việc làm biểu hiện dưới các hình thức:
- Làm những công việc được trả công lao động dưới dạng bằng tiền hoặchiện vật hoặc đổi công
- Các công việc tự làm (tự sản xuất, kinh doanh) để thu lợi nhuận
- Làm các công việc sản xuất, kinh doanh cho gia đình mình không nhậntiền công hay lợi nhuận
Ngoài ra, các hình thức việc làm còn thường được xem xét theo các góc
- Tính chất thành thạo của việc làm: việc làm giản đơn (phổ thông), việclàm có chuyên môn, kỹ thuật (việc làm đòi hỏi có kiến thức, kỹ năng), việc làmtrình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
- Tính chất kinh tế của việc làm: Vị trí của việc làm trong hệ thống quản
lý lao động như: việc làm quản lý, công nhân, nhân viên…
- Điều kiện lao động của việc làm: Việc làm đảm bảo an toàn - vệ sinh laođộng, việc làm không đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động
- Tính chất di động của việc làm: Việc làm có tính di động cao (mức độcao về thay đổi nghề nghiệp, khả năng kiêm nhiều nghề, khả năng thay đổi thứbậc trong công việc…)
- Tính chất đàng hoàng của việc làm: Việc làm đàng hoàng và việc làmkhông đàng hoàng
Việc làm đàng hoàng là việc làm trong đó người lao động được đảm bảocác điều kiện:
Trang 8+ Được tạo điều kiện để tiếp nhận những tiến bộ kỹ thuật công nghệ;+ Thoả mãn với môi trường làm việc (đảm bảo được sức khoẻ, vệ sinh,antoàn lao động);
+ Được nhận thù lao tương xứng với sức lao động bỏ ra;
+ Có tiếng nói tại nơi làm việc và cộng đồng;
+ Cân bằng được công việc với đời sống gia đình;
+ Có điều kiện đảm bảo học hành cho con cái;
+ Có điều kiện cạnh tranh lành mạnh trên thị trường lao động
2.1.1.3 Phân loại việc làm:
Căn cứ vào thời gian thực hiện công việc, việc làm có thể được phânchia thành các loại:
- Việc làm chính và việc làm tạm thời: căn cứ vào số thời gian có việclàm thường xuyên trong một năm
- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: căn cứ vào sốgiờ làm việc trong một tuần
- Việc làm chính và việc làm phụ: căn cứ vào khối lượng thời gian hoặcmức độ thu nhập trong việc thực hiện một công việc nào đó
Trong đề tài, việc làm chính của lao động trong hộ là việc làm có sốngày công trung bình thực hiện trong một tháng là lớn nhất
2.1.1.4 Thiếu việc làm:
Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, lànhững người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn
Thiếu việc làm được biểu hiện dưới hai dạng là người lao động không có
đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm nhữngviệc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm
để có thu nhập
Trang 92.1.1.5 Thất nghiệp:
Về khái niệm thất nghiệp chúng tôi thống nhất với quan điểm của ILO:
"Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một người trong lực lượng lao độngmuốn tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành"
Như vậy người thất nghiệp là người mang 3 đặc trưng cơ bản: có khảnăng lao động,có nhu cầu làm việc và chưa tìm được việc làm
* Người không có nhu cầu làm việc:
Những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm các đối tượng từ
đủ 15-60 tuổi đang đi học, làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc, nhữngngười mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật
2.1.1.6 Người có việc làm, người thiếu việc làm và người thất nghiệp:
* Người có việc làm:
- Ở nước ta trong thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoátập trung trước đây, quan niệm người có việc làm là người nằm trong biên chếnhà nước hoặc làm việc trong hợp tác xã Tuy nhiên, hiện nay quan niệm này
đã thay đổi phù hợp với khái niệm về việc làm
- Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của ILO
đã đưa ra quan niệm người có việc làm là người làm việc gì đó, có được trảtiền công, lợi nhuận bằng tiền hay hiện vật hoặc tham gia vào các hoạt độngmang tính tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không nhận tiềncông hay hiện vật
Dựa trên khái niệm tổng quát về người có việc làm của Tổ chức laođộng quốc tế, khi thu thập thông tin về người có việc làm, các nước đều đưa
ra điều kiện cụ thể về giới hạn thời gian làm việc, giới hạn tuổi và nhữngnguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn tới tình trạng không làm việc trongtuần lễ điều tra, nhưng họ sẽ tiếp tục trở lại làm việc trong thời gian nghỉ Vềgiới hạn thời gian làm việc thường phức tạp và rất khác nhau tuỳ thuộc vàotrình độ phát triển, mức sống và khả năng tạo thu nhập ở mỗi nước Cơ sở xác
Trang 10định các mức chuẩn này là căn cứ vào số giờ (hoặc số ngày công) tối thiểucần phải làm việc để đảm bảo một mức sống tối thiểu Điều này có thể xácđịnh cho lao động trong khu vực kết cấu, làm công ăn lượng theo mức tiềnlương tối thiểu hiện hành Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài thuộckhu vực nông thôn, chủ yếu làm việc trong khu vực phi kết cấu nên chúng tôikhông căn cứ vào tiêu chí này để xác định người có việc làm phải làm đủchính xác bao nhiêu giờ (ngày công) Về giới hạn tuổi, để phù hợp với kháiniệm lực lượng lao động khái niệm người có việc làm trong đề tài được hiểu
là lao động từ 15-60 tuổi đang làm việc để hưởng tiền lương, tiền công hay lợinhuận hoặc đang tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ cho giađình mình không nhận tiền công hay lợi nhuận
Từ khái niệm về việc làm và người có việc làm đã thống nhất trên đây,dựa vào hình thức biểu hiện của việc làm chúng tôi đưa ra khái niệm về cácloại lao động theo hình thức làm việc như sau:
- Lao động làm công ăn lương: Lao động làm công hưởng lương là laođộng làm các công việc cho người khác hoặc cho tổ chức, cơ quan, đoàn thể,doanh nghiệp, v.v… để được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
- Lao động tự làm là việc lao động thực hiện các công việc tự tạo ra (cóthể tạo việc làm cho cả người khác), tự hạch toán để thu lợi cho bản thân vàgia đình
- Lao động làm kinh tế hộ là lao động làm cho cơ sở sản xuất kinhdoanh của hộ gia đình mình nhưng không hưởng tiền lương, tiền công
Trong đề tài chúng tôi quan niệm tất cả những người đang làm việc tronglĩnh vực nông nghiệp trong hộ thuộc hình thức lao động làm kinh tế hộ
* Người thiếu việc làm:
Theo giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” của Trường Đại học Kinh tếquốc dân Hà Nội: Người thiếu việc làm bao gồm những người trong khoảngthời gian xác định của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy
Trang 11định trong tuần, trong tháng, hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc
là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần, trongtháng, trong năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thunhập
Theo hướng dẫn điều tra lao động việc làm của Bộ Lao Động – ThươngBinh và Xã Hội thì người thiếu việc làm bao gồm những người trong tuần lễđiều tra có tổng số giờ làm việc dưới 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơngiờ quy định và có nhu cầu làm thêm giờ (trừ những người có số giờ làm việcdưới 8 giờ, có nhu cầu làm việc mà không có việc làm)
* Người thất nghiệp:
Theo giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” của Trường Đại học Kinh tếquốc dân Hà Nội thì “Người thất nghiệp gồm những người trong khoảng thờigian xác định của cuộc điều tra không có việc làm nhưng đang tích cực tìmviệc làm và có nhu cầu được làm việc”
Tiêu thức để xác định người thất nghiệp là: đang không có việc làm; tíchcực tìm việc làm; có khả năng lao động và có nhu cầu được làm việc
Theo tài liệu hưóng dẫn điều tra lao động việc làm của Bộ Lao Động –Thương Binh và Xã Hội hàng năm thì khái niệm người thất nghiệp được hiểunhư sau:
Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạtđộng kinh tế, mà trong tuần lễ điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầuđược làm việc, cụ thể là:
- Có hoạt động đi tìm việc làm trong 4 tuần qua; hoặc không có hoạt động
đi tìm việc làm trong 4 tuần qua vì các lý do không biết tìm việc ở đâu hoặc tìmmãi mà không được
- Hoặc trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việcdưới 8 giờ, muốn và sẵn sàng làm thêm nhưng không tìm được việc làm
Trang 122.1.2 Đặc điểm và vai trò của lao động nông thôn
2.1.2.1 Khái niệm về lao động nông thôn
Lao động nông thôn là lao động sản xuất trong khu vực nông thônnhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội
2.1.2.2 Đặc điểm của lao động nông thôn
Lao động nông thôn mang tính thời vụ: Vì sản xuất nông nghiệp luônchịu tác động của tự nhiên, cho nên có thời kỳ cần nhiều lao động nhưng cóthời kỳ lại cần ít lao động Do đó, khả năng thu hút lao động trong nôngnghiệp, nông thôn là không đều, khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất
Lao động nông thôn ít chuyên sâu, trình độ thấp hơn so với trong côngnhiệp, trong sản xuất nông nghiệp có nhiều loại công việc, mang tính chấtkhác nhau, một lao động có thể làm nhiều việc và nhiều lao động cũng có thểlàm được một việc Chính vì vậy mà lao động nông nghiệp ít chuyên sâu hơnlao động công nghiệp Hơn nữa phần lớn lao động nông nghiệp mang tính phổthông, ít được đào tạo, sản xuất chủ yếu bằng kinh nghiệm là chính, nguồn laođộng chất xám không nhiều và phân bố không đều
Lao động nông thôn có việc làm không ổn định và đa dạng, hoạt độngsản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn lại phần lớnphụ thuộc vào yếu tố tự nhiên, bởi vậy mà tính rủi ro trong nông nghiệp rấtcao Do vậy, công việc của lao động nông thôn thường không ổn định và rấtbấp bênh
Thu nhập của lao động nông nghiệp thấp hơn so với lao động trong cácngành công nghiệp và dịch vụ Năng suất lao động của khu vực sản xuất nôngnghiệp thấp, tình trạng gia tăng dân số, tình trạng thu hẹp diện tích đất sảnxuất nông nghiệp
2.1.2.3 Vai trò của lao động nông thôn
Lao động là yếu tố quyết định mọi quá trình sản xuất Trong quá trìnhlao động, con người tiếp xúc với tự nhiên, có công cụ sản xuất và nắm được
Trang 13kỹ năng lao động, đã làm thay đổi ngoại giới và đối tượng lao động cho phùhợp với nhu cầu của mình.
Sử dụng và nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp khôngnhững thúc đẩy nông nghiệp phát triển tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm đápứng yêu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân, cung cấp càng nhiềunguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản và hàng hoá xuất khẩu màcòn tạo điều kiện phân bố lại lao động, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tếquốc dân, thúc đẩy quá trình CNH – HĐH đất nước
2.1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng
* Thị trường lao động:
Chuyển đổi việc làm cho lao động mất việc làm do mất đất chịu sự tácđộng lớn của xu hướng phát triển thị trường lao động địa phương, vùng vàliên vùng Tại các vùng thị trường lao động phát triển mang tính thống nhấtcao, ít bị phân mảng, có sự hoạt động mạnh của quan hệ cung - cầu lao động,môi trường thị trường lao động được thiết lập thuận lợi (hệ thống tư vấn, giớithiệu việc làm ) thì cơ hội việc làm của lao động mất việc làm do chuyển đổimục đích sử dụng đất lớn hơn Các mối liên hệ giữa thị trường lao động vớikhả năng chuyển đổi việc làm của lao động mất việc làm do mất đất biểu hiệnở:
- Hoạt động của quy luật cung - cầu sức lao động là điều kiện cơ bản đểlao động mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, lựa chọn, tìmkiếm việc làm phù hợp với khả năng chuyên môn - kỹ thuật của mỗi người
- Sự liên kết thị trường lao động các địa phương trong vùng thúc đẩy sự
di chuyển sức lao động của các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đấtdưới tác động của giá cả sức lao động
- Thị trường lao động phát triển sẽ mở rộng được quy mô lao động làmcông ăn lương, tạo sức thu hút lao động nông nghiệp của các vùng chuyển đổi
Trang 14mục đích sử dụng đất vào làm việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp (côngnghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại).
- Cạnh tranh trên thị trường lao động có tác động kích thích lao độngmất việc làm do chuyển đổi mục đích sử đất tích cực tham gia đào tạo,nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường laođộng và nâng cao thu nhập
Như vậy, vai trò của thị trường lao động có tác động lớn đối với việcchuyển đổi nghề cho lao động mất việc làm tại các vùng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất Do đó, thực hiện các giải pháp thúc đẩy sự phát triển hoạt độnglành mạnh của thị trường lao động các địa phương, thị trường lao động vùng
là nhân tố quan trọng để hỗ trợ cho việc chuyển đổi việc làm cho lao động bịmất việc làm trong quá trình đô thị hoá
* Trình độ học vấn:
Trình độ học vấn của người lao động trong các hộ gia đình bị thu hồiđất có mối liên hệ với khả năng đào tạo chuyển đổi nghề, tìm việc làm mới, tựtạo việc làm mới và nâng cao thu nhập sau khi bị mất việc làm do chuyển đổimục đích sử dụng đất Trình độ học vấn của người lao động càng cao thì khảnăng tham gia đào tạo CMKT, chuyển đổi nghề, tạo việc làm mới, tìm việclàm mới và nâng cao thu nhập cũng càng cao
Để thống kê được tỷ lệ người lao động đã tìm được việc làm hay chưatìm được việc làm sau khi đất nông nghiệp bị thu hồi, Bộ Lao động – Thươngbinh và Xã hội đã thực hiện cuộc điều tra với 2.249 hộ thuộc diện bị thu hồiđất tại 15 tỉnh thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam và thu được kết quả như sau:
Trang 15Bảng 2.1 Số lượng lao động tìm được việc làm sau khi đất nông nghiệp bị
thu hồi và trình độ học vấn của lao động
Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2005
Nhìn chung, trên cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn thì khả năngtìm được việc làm tăng lên theo trình độ học vấn, một tỷ lệ 50% số lao độngchưa biết đọc, biết viết không tìm được việc làm khi không còn đất sản xuất,trong khi ở các cấp trình độ học vấn khác tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều (25-32%)
Một số nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, % tăng thêm thu nhập đốivới mỗi năm đi học đạt được cao hơn ở những người có trình độ học vấn cao,
cụ thể đối với cấp nghiệp tiểu học mỗi năm đi học có thể tăng thêm mức tiềnlương 0,77% ở lao động nam và 0,32% ở lao động nữ, trong khi con số nàyđối với phổ thông trung học là 3,97% và 2,79% Thu nhập là kết quả của việclàm, do đó lao động có thu nhập cũng đồng nghĩa với có cơ hội việc làm caohơn, khả năng tìm được việc làm trên thị trường lao động lớn hơn so với laođộng trình độ học vấn thấp
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với địa phương vùng chuyển đổi mụcđích sử dụng đất là thực hiện các biện pháp đảm bảo không ngừng nâng caotrình độ văn hoá cho dân cư và người lao động, phải coi đây là hướng mở cănbản, quan trọng để hỗ trợ cho việc chuyển đổi việc làm cho lao động mất việclàm do Nhà nước thu hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng
2.1.3 Ảnh hưởng của việc thu hồi đất đến đời sống hộ nông dân
Trang 16Khi tiến hành thu hồi đất, một số hộ gia dình được nhận khoản tiền đền
bù Với những hộ biết sử dụng đúng đông tiền vào hoạt động sản xuất thì sẽmang lại lợi nhuận cao, và ngược lại
Đối với khu vực nông thôn, việc tiến hành CHN – HĐH giúp cho bộmặt nông thôn thay đổi: cơ sở hạ tầng thay đổi, hệ thống điện - đường -trường - trạm - chợ được tu bổ, xây dựng mới
2.1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Những người dân trong diện được đền bù, nghề nghiệp chủ yếu của họ
là làm nghề nông quanh năm gắn bó với mảnh ruộng, nhưng khi có các dự ánphục vụ cho quá trình CNH – HĐH nông thôn làm đảo lộn mọi mặt đời sốngnông thôn
Lao động ở khu vực nông thôn phần lớn là lao động không qua đào tạo,chính vì vậy khi có các khu công nghiệp hiện ra số lao động này không nằmtrong chỉ tiêu tuyển lao động Vì vậy, sẽ làm cho một số lượng lớn lao độngkhông có việc làm, dẫn đến thất nghiệp, tệ nạn xã hội
Hệ thống đường giao thông phục vụ cho việc xây dựng khu côngnghiệp bị xuống cấp nghiêm trọng, tình trạng ô nhiễm môi trường đặc biệt làmôi trường nước và môi trường không khí diễn ra tại các khu công nghiệpđang trong tình trạng báo động làm ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ ngườidân
Trang 172.2.1.1 Trung Quốc
Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ dân nhưnggần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có tới trên 10 triệulao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giảiquyết việc làm trở nên rất gay gắt
Mười mấy năm qua, ruộng đất Trung Quốc đã giảm gần 150 triệu mẫuTrung Quốc (TQ) Mỗi mẫu TQ bằng 1/15 héc ta, tức khoảng 660 métvuông Bộ Nông nghiệp Trung Quốc dự tính, cứ mất đi 2 mẫu TQ sẽ có nghĩa
là 1 nông dân TQ không có ruộng đất, vì ruộng đất canh tác tính trung bìnhtheo đầu người của TQ chỉ có khoảng 1,4 mẫu TQ Do vậy, mất gần 150 triệumẫu TQ ruộng đất có nghĩa là khoảng 80 triệu nông dân Trung Quốc khôngcòn ruộng đất Nông dân Trung Quốc một khi không còn ruộng đất thì họ sẽ
là loại người “ba không”: không đất để cày, không nghề để sống, không nơi
để đi Do vậy, những nông dân này đã chống đối
Để giải quyết thực trạng này, các chuyên gia khuyến nghị Chính phủcần có luật riêng về trưng dụng ruộng đất, luật bảo hộ lợi ích thiết thân củanông dân Chính phủ phải nâng cao thích đáng tiêu chuẩn đền bù, ngoài hoa
Trang 18màu và cây cối ra, tiền bồi thường ruộng đất và chi phí tái định cư thấp nhấtcũng phải bằng 30 lần giá trị bình quân sản lượng/năm của 3 năm trước.
Thứ hai, Nhà nước phải tích cực bố trí tìm kiếm công ăn việc làm.Huấn luyện và bồi dưỡng nghề nghiệp cho nông dân mất ruộng đất, nâng cao
kỹ năng lao động và tố chất nghề nghiệp cho họ, khuyến khích xí nghiệp thunhận nông dân mất ruộng đất vào làm việc và có chính sách ưu đãi cho xínghiệp về việc này Ủng hộ, giúp đỡ nông dân mất ruộng đất làm nghề mới,
có ưu đãi về các mặt cho vay vốn, chính sách thuế…
Thứ ba, cần hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội cho nông dân mất ruộngđất tùy theo điều kiện của từng địa phương Những sức lao động nông nghiệpkhông làm nông nghiệp nữa nên đưa vào hệ thống an sinh xã hội thành phố,đơn vị trưng dụng đất tiếp nộp tiền bồi thường ruộng đất cho cơ cấu an sinh
xã hội…
Thành quả mà Trung Quốc đạt được là Trung Quốc bắt đầu cải cách ởnông thôn trước bằng việc khoán sản lượng tới hộ Do được làm chủ ruộngđất, tự chủ làm ăn…, tính tích cực sản xuất của người nông dân được pháthuy, sản xuất lương thực nhanh chóng tăng lên, đời sống nông dân bước đầu
có sự cải thiện khá rõ
Nhưng từ năm 1984, khi Trung Quốc tiến hành cải cách ở thành phố thìhầu như trong suốt 14 năm sau đó (từ 1984-1998), “người ta” đã bỏ quênnông dân (chữ dùng của một nhà nghiên cứu Trung Quốc) Phải tới đầu thế kỷnày, khi những cuộc đấu tranh tự phát và có tổ chức của nông dân ngày mộttăng lên (do mất ruộng đất, do nghèo đói, do con em thất học, do không cótiền chữa bệnh…), khi số nông dân vào thành phố làm thuê lên tới mức trên
150 triệu người (có số liệu nói 200 triệu người) cộng thêm sự đồng tình đấutranh của những người Trung Quốc có tấm lòng, vấn đề “tam nông” (nôngnghiệp, nông thôn, nông dân) mới dần dần được coi trọng Một số chính sách
đã được triển khai và mang lại kết quả đáng kể
Trang 19Cụ thể là, Trung Quốc đã xoá bỏ thuế nông nghiệp, chấm dứt lịch sửngười nông dân làm ruộng mà phải nộp thuế Sản lượng lương thực tăng liêntục trong 4 năm liền, năm 2007 đạt trên 500 triệu tấn Với việc xoá bỏ thuếnông nghiệp (gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản) mỗi năm đã giảm nhẹgánh nặng cho nông dân 133,5 tỷ NDT.
Trung Quốc cũng đã toàn diện thực hiện giáo dục nghĩa vụ (9 năm)miễn phí (tức không phải nộp học phí và không phải mua sách giáo khoa.Những gia đình khó khăn còn được trợ cấp sinh hoạt phí toàn phần hoặc một phần (150 triệu học sinh) Cơ bản giải quyết được nạn tráng niên bị mù chữtại miền Tây
Trung Quốc đã bước đầu thành lập được hệ thống y tế công và hệ thốngdịch vụ khám chữa bệnh cơ bản khắp nông thôn Cải tạo và xây dựng mới188.000 trạm y tế hương, trấn, trang bị thêm thiết bị y tế cho 117.000 trạm y
tế hương trấn Điều kiện khám chữa bệnh ở nông thôn được cải thiện rõ rệt
Hệ thống dịch vụ văn hoá công nông thôn bước đầu hoàn thiện Trong
5 năm tài chính, TQ hỗ trợ cho việc học nghề 66,6 tỷ NDT, trung bình mỗinăm giúp 8 triệu lao động nông thôn có việc làm Năm 2007 đã thành lậpđược chế độ bảo đảm mức sinh hoạt thấp nhất ở nông thôn, có hơn 35,5 triệunông dân được đưa vào phạm vi bảo hiểm này
Trong 5 năm qua, đời sống nông dân cũng đã có sự cải thiện đáng kể,được nâng từ mức trung bình đầu người/năm là 2.622 NDT, năm 2003 lên4.140 NDT năm 2007 (so với mức thu nhập bình quân của cư dân thành thị là8.472 và 13.786 NDT thì vẫn thấp hơn nhiều) Cần chú ý đây là mức bìnhquân toàn quốc
Theo thống kê chính thức vẫn còn 14,79 triệu nông dân Trung Quốc cóthu nhập ròng dưới 785 NDT/năm- tức chuẩn nghèo tuyệt đối, còn nếu tínhtheo mức thu nhập thấp từ 786 NDT- 1067 NDT/năm thì Trung Quốc vẫn còn28,41 triệu nông dân nằm ở diện đó Theo báo cáo của Ngân hàng châu Á
Trang 20mùa hè năm 2007 thì Trung Quốc vẫn còn khoảng 300 triệu người (mà đa số
là nông dân) có thu nhập dưới 1USD/ngày
2.2.1.2 Đài Loan
Kinh nghiệm của Đài Loan cho thấy quá trình CNH không nhất thiếtphải được khởi đầu ở khu vực thành thị và một số ít trung tâm công nghiệplớn Quá trình CNH của Đài Loan khởi đầu ở khu vực nông thôn, tính chất “nông thôn” của công nghiệp là một nét đặc trưng của CNH Từ năm 1953,
Đài Loan thực hiện phương châm “ nông nghiệp bồi dưỡng, hỗ trợ cho công nghiệp phát triển” Chính quyền Đài Loan đã giành ưu tiên hàng đầu của “
nhà nước” về vốn đầu tư, về cơ chế chính sách cho nông nghiệp và nông thôn.Chính quyền không hề bỏ rơi nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá
mà luôn dành ưu đãi về tài chính: 2/3 viện trợ từ Mỹ được dành cho phát triển
cơ sở hạ tầng và nông nghiệp, chỉ 1/5 cho công nghiệp Khi nông nghiệp pháttriển, lao động dư thừa trong khu vực nông thôn mới chuyển sang các ngànhcông nghiệp nhẹ cần nhiều lao động và sau cùng mới là công nghiệp nặng Đó
là quá trình giải quyết lao động ở nông thôn Đài Loan
2.2.2 Thực trạng thu hồi đất phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế ở Việt Nam
Trong quá trình thực hiện CNH – HĐH, việc chuyển đổi mục đích sửdụng đất để triển khai các dự án lớn của nền kinh tế diễn ra mang tính quyluật Việc chuyển đổi đất đai ở nước ta đã góp phần phát triển mạnh mẽ nềnkinh tế-xã hội và bảo đảm tiềm lực an ninh quốc phòng của đất nước
Trong những năm qua, chúng ta đã thực hiện tốt công tác quy hoạch, sửdụng đất đai Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản về quản lý đất đai trongnông, lâm, ngư nghiệp và doanh nghiệp ở nông thôn theo quy định của phápluật
Tính đến thời điểm này cả nước đã xây dựng được 143 khu công nghiệp,thu hút được hàng trăm dự án với quy mô vốn đầu tư rất cao Một số thành
Trang 21phố lớn được nâng cấp và mở rộng ra thành thành phố lớn, hình thành một hệthống các đô thị trung tâm, từng bước thực hiện tốt mục tiêu chiến lược pháttriển đô thị Việt Nam Khi kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc giảiquyết việc làm, cũng như thu hút hàng triệu lao động trong và ngoài nước vớimức lương tương đối ổn định Lượng lao động làm việc trong các khu côngnghiệp do Chính phủ cấp giấy phép không ngừng tăng: năm 2005 là 953nghìn người, năm 2007 là 1.240 nghìn người, năm 2009 là hơn 1300 nghìnngười, đó là chưa kể đến một số lượng lớn lao động hoạt động trong lĩnh vựcdịch vụ tại các khu công nghiệp, khu chế xuất.
Do tốc độ của quá trình tiến hành CNH-HĐH rất nhanh, thêm vào đó sốđất mất đi phục vụ cho xây dựng khu công nghiệp lại không có đất dự phòng,
số nhân khẩu liên tục tăng mà quá trình chuyển dịch lao động từ lao độngnông nghiệp sang lao động các ngành khác lại chậm dẫn đến xuất hiện một bộphận lao động thiếu đất để sản xuất, gây khó khăn cho đời sống, việc làmcũng như quá trình chuyển đổi nghề Trong giai đoạn 2001-2005 cả nước cókhoảng 275.605 nghìn lao động bị mất việc làm, bình quân mỗi hecta đấtnông nghiệp bị thu hồi có khoảng 15 lao động mất việc làm cần chuyển đổinghề
Phần lớn việc thu hồi đất tập trung vào diện tích đất canh tác nôngnghiệp, các xã có đủ tiềm năng để xây dựng các nhà máy, khu côngnghiệp do đó, gây khó khăn trong việc giải quyết việc làm của lao độngnông thôn Khu vực nông thôn hiện nay có khoảng 25 triệu lao động và họ chỉmới sử dụng khoảng 75% thời gian làm việc, 25% thời gian còn lại tươngđương với 6,25 triệu lao động thiếu việc làm Trong thời gian tới, và cụ thể làtrong 5 năm tới số lao động tăng thêm 6 triệu lao động, lao động thiếu việclàm là 6,25 triệu lao động, cộng với 2,7 triệu lao động mất việc do quá trìnhthu hồi đất nông nghiệp gây nên
Trang 222.2.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất ở Việt Nam
Những năm qua, Chính phủ đã dành nhiều chính sách ưu tiên giải quyếtviệc làm cho người dân có đất bị thu hồi, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu Tronghai năm 2006 và 2007, Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đã dành
22 tỷ đồng bổ sung vốn vay giải quyết việc làm cho gần 10 nghìn lao động bịthu hồi đất Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động cũng là kênh quan trọng chongười dân có đất bị thu hồi Tuy nhiên, hiệu quả của những biện pháp nêutrên vẫn còn thấp do việc thu hồi đất ở nhiều địa phương chưa gắn với quyhoạch tái định cư, thiếu kế hoạch cụ thể về hỗ trợ dạy nghề và việc làm chongười lao động Hầu hết nông dân đều bị động khi phải chuyển đổi mục đíchđất sản xuất, trong khi đó khả năng thu hút lao động vào các khu công nghiệpcòn thấp, chưa đến 35% tổng số lao động bị thu hồi đất Đó là chưa kể lượnglớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay nghề, chỉ có 27,23% lao động bịthu hồi đất tốt nghiệp trung học phổ thông và 14% lao động được đào tạochuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp hoặc học nghề trở lên
Một số chính sách và biện pháp của Chính phủ về vấn đề đất đai, giảipháp giải quyết việc làm đối với những hộ nông dân không còn đất nôngnghiệp:
1) Việc giao đất không chỉ ưu tiên cho người có hộ khẩu trong vùng,khu vực và địa phương, mà còn cho các đối tượng nghèo không có ruộngtrong cả nước với những biện pháp quản lý chặt chẽ về mặt pháp lý Đối vớivùng đất rừng, đồi núi, tiện đường giao thông, có kết cấu hạ tầng tương đối tốtthì giao cho hộ nông dân chưa có ruộng đất Hội nông dân các cấp tiếp cận vàvận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức và thi hành luật pháp nóichung và luật đất đai nói riêng
2) Đảng và Nhà nước đang quy hoạch để sử dụng đất có hiệu quả,nâng cao độ phì của đất Quy hoạch khu công nghiệp vào đất bồi, đất bãi đầm
Trang 23lầy, nơi xa đô thị, xa trung tâm thì mở đường giao thông Việc thu hồi đấttheo nguyên tắc: nhu cầu đất đến đâu thì thu hồi đến đó Đền bù, giải phóngmặt bằng theo giá của nhà nước quy định và tính đến yếu tố giá cả thị trườngtrong từng thời điểm nhất định, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho nôngdân, cho người có đất được thu hồi
3) Thực hiện tốt việc tái định cư cho hộ nông dân sau khi thu hồi đất,tạo cơ hội cho họ có đất đồi trồng rừng hoặc một phần đất sản xuất của nôngdân khác nhường lại, giúp họ yên tâm sản xuất Các khu tái định cư nên gầnlàng quê, dòng họ của các hộ nông dân đã sống gắn bó nhiều đời
4) Đối với hộ nông dân không còn đất sản xuất, hoặc còn ít đất không
đủ sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của giađình thì cấp uỷ, chính quyền địa phương cần phải quan tâm, chăm lo, tạo điềukiện cho họ có việc làm tại các nhà máy, xí nghiệp trên mảnh đất họ đã giao
cho Nhà nước hoặc lân cận trong vùng với phương châm “ ly nông bất ly hương” Nhà nước giao cho Hội nông dân:
- Phối hợp với các ngành đoàn thể tạo nghề mới miễn phí cho nông dân
để họ có thể chuyển sang lao động trong các lĩnh vực khác
- Cải cách chính sách cho vay vốn ưu đãi để họ chuyển nghề, ưu tiêncon cái họ về học tập, công ăn, việc làm sau khi ra trường
- Phối hợp với chính quyền, các doanh nghiệp đựoc giao đất vận động
hộ nông dân dùng tiền đền bù đất tham gia đóng góp cổ phần xí nghiệp, nhàmáy trên vùng đất của họ trước đây hoặc trợ giúp, hỗ trợ họ sử dụng vốn hiệuquả, đầu tư sản xuất vào nghề mới
- Có chính sách hỗ trợ các hộ nông dân có nhu cầu tới các vùng quêkhác trong việc di dân, định canh, định cư
2.2.4 Những kết quả đạt được trong việc giải quyết việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất ở một số địa phương
Trang 24Hàng vạn hecta đất nông nghiệp đã được thu hồi để sử dụng vào mụcđích chuyên dùng như xây dựng các khu công nghiệp, kinh tế, đô thị, xâydựng các công trình cơ sở hạ tầng công cộng…Thực tế cho thấy, bên cạnhnhững mặt đã làm được thì vấn đề bố trí đời sống, việc làm ổn định cho các
hộ nông dân bị thu hồi đất đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Theo Bộ
Nông nghiệp và PTNT, trung bình mỗi hộ nông dân có 1,5 lao động và mỗihecta đất thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của 10 lao động Như vậy, việc thuhồi đất nông nghiệp và đất ở trong 5 năm qua đã tác động tới đời sống củakhoảng 2,5 triệu nông dân Trong đó, vùng Đồng Bằng sông Hồng có số hộ bịảnh hưởng đất lớn nhất, với khoảng 300.000 hộ; Đông Nam Bộ với khoảng108.000 hộ Tại một số vùng ven đô của Đồng bằng sông Hồng, trước khi thuhồi đất chỉ có 10% lao động đi làm thuê thì sau khi thu hồi đất tỷ lệ này là17%
Sau đây là một số mô hình chuyển đổi việc làm cho lao động sau khithu hồi đất ở một số địa phương trong cả nước:
* Mô hình ở huyện Thạch Thất – Hà Tây:
Là huyện có nhiều dự án lớn của Trung ương, của tỉnh trên địa bàn nên
có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn Những năm gần đây, việc chuyểnđổi cơ cấu kinh tế từ nông thôn sang phát triển công nghiệp-dịch vụ ở ThạchThất rất mạnh, làm cho số hộ bị thu hồi đất tăng lên Tập trung giải quyết việclàm cho người bị thu hồi đất để đẩy nhanh công tác GPMB, phát triển côngnghiệp là hướng đi của huyện trong thời gian qua với những mô hình hay vàhiệu quả Từ năm 2005 đến nay, mỗi năm Bình Yên (xã có phần diện tích đấtnông nghiệp bị thu hồi lớn của huyện Thạch Thất) đều trích ngân sách từ 100-
200 triệu đồng, tổ chức từ 3-4 lớp dạy nghề và giới thiệu việc làm cho ngườilao động Đặc biệt, chuẩn bị nguồn lao động cho Nhà máy Bình Yên (đangcần khoảng 2000-2500 lao động), ngoài 130 học viên đang được đào tạo, từnay đến cuối năm, xã sẽ phối hợp với chủ đầu tư tiếp tục mở từ 4-5 lớp cho
Trang 25500-600 lao động để bà con có nghề mới Các học viên đến học không phảiđóng góp kinh phí nên người dân rất phấn khởi, ủng hộ chính quyền trongcông tác GPMB Phối hợp với các doanh nghiệp dạy nghề, tiếp nhận lao độngvào làm việc là một trong những mô hình giải quyết việc làm cho người bị thuhồi đất đang thực hiện hiệu quả không chỉ ở Bình Yên mà còn ở nhiều xã trênđịa bàn huyện Là huyện có diện tích đất bị thu hồi lớn, tới gần 2.882 ha,trong đó đất nông nghiệp chiếm 1853,53ha với 15.618 hộ dân bị thu hồi đất,trong đó có tới 9.062 hộ bị thu hồi toàn bộ diện tích đất nông nghiệp nên tácđộng lớn đến đời sống và tâm tư của mỗi người dân.
Từ năm 2005, Thạch Thất đã chỉ đạo: Giải quyết việc làm cho người laođộng bị thu hồi đất là nhiệm vụ trọng tâm song hành cùng công tác GPMB, pháttriển CN và đưa ra 2 mô hình chính: Liên doanh liên kết với các trường dạy nghềtrong và ngoài tỉnh đào tạo và giới thiệu việc làm cho người dân; liên kết với các
DN, cơ sở sản xuất trên địa bàn dạy nghề và tuyển dụng lao động Ngoài ra làcác giải pháp tạo điều kiện cho người dân đi lao động nước ngoài và mở lớp dạynghề cho người lao động trung tuổi ở các địa phương Trong đó, mô hình liêndoanh liên kết với các DN, các chủ đầu tư trên địa bàn để đào tạo và tiếp nhậnlao động là mô hình hay và thực hiện khá hiệu quả Để giúp các địa phương thựchiện tốt mô hình này, huyện đã chỉ đạo các phòng chuyên môn và chính quyềncác xã, thị trấn tổ chức rà soát, đánh giá tình hình lao động, nhu cầu sử dụng laođộng tại các DN và các hộ sản xuất trên địa bàn để có cơ sở xây dựng kế hoạchđào tạo nghề cho phù hợp Mô hình này có cái hay là vừa cung cấp được nguồnlao động cho DN, vừa giải quyết được việc làm cho người lao động bị thu hồiđất, giúp họ ổn định cuộc sống Tuy nhiên nó đòi hỏi phải có sự chỉ đạo đồng bộ
từ huyện đến cơ sở bởi các lớp dạy nghề cần phải có kinh phí thoả đáng mớithành công Xác định rõ điều đó, huyện Thạch Thất đã chỉ đạo ưu tiên hỗ trợ từnguồn kinh phí khuyến công của tỉnh và huyện cho các địa phương bị thu hồinhiều đất và làm tốt công tác này để tránh việc cào bằng, sử dụng kinh phí kém
Trang 26hiệu quả Do vậy, 2 năm qua, mô hình này đã thực hiện đào tạo nghề dài hạn vàcung cấp gần 1000 lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện.
* Mô hình ở tỉnh Vĩnh Phúc:
Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhiều diện tích đất nôngnghiệp bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp Mỗi nămtrên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thống kêcủa các cơ quan chức năng, sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997),Vĩnh Phúc đã thu hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các khucông nghiệp, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000
hộ dân mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh tác Sau khi bị thu hồiđất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thờigian tới đây, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bịthu hồi để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa Số lượng nôngdân không còn tư liệu sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trongvấn đề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chứcnăng của tỉnh đã có nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết cơ bản…TỉnhVĩnh Phúc đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, laođộng ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểmthực hiện cho đến năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xâydựng, nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy mócthiết bị; hỗ trợ học phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanhniên); phát triển hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấnđấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2010 Đến naytoàn tỉnh đã có 52 cơ sở đào tạo nghề, với cơ cấu nghề đào tạo khá đa dạng,quy mô đào tạo hơn 31.000 lao động mỗi năm, cơ bản đã đáp ứng được nhucầu học nghề của người lao động Để nâng cao hơn nữa số lượng thanhniên nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhận vào làm việc tại cáckhu, cụm công nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ
Trang 27như: các hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếu thamgia các khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; thamgia học bổ túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗtrợ 200.000 đồng/học viên/tháng) Hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhậnlao động nông thôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu laođộng chưa được đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã đượcđào tạo nghề)…Chính từ những chủ trương đúng đắn này mà đến nay 23%lao động nông thôn có đất bị thu hồi đã được nhận vào làm việc ổn địnhtrong các khu công nghiệp Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưngtuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạoviệc làm tại chỗ Để làm được điều này, một mặt, tỉnh chú trọng đến côngtác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công,tiểu thủ công Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… vào cuộc, nhằmđịnh hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhucầu
Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính “đột phá” đã vàđang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là mô hình “đổi đất lấy dịch vụ” Quyếtđịnh 2502/2004/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đấtdịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để xây dựng khu côngnghiệp, khu đô thị… đã nêu rõ: các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bịthu hồi chiếm 40% tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên của hộ gia đình, cánhân đó sẽ được cấp đất để làm dịch vụ Cứ 1 sào (360m2) đất thu hồi sẽ đượccấp 10m2 đất dịch vụ (tối thiểu 20m2, tối đa 100m2) Đất “dịch vụ” sẽ đượcnông dân sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hàng ăn, tạpphẩm… tùy từng gia đình Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sựđồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân có đất bị thu hồi Đất “dịchvụ” không những giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn
có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng…
Trang 28Những kết quả đạt được trong thời gian qua của Vĩnh Phúc rất đáng được ghinhận Thời gian tới, để tiếp tục giải quyết tốt hơn nữa vấn đề việc làm chonông dân có đất bị thu hồi, ngoài việc thực hiện có hiệu quả những chủtrương, biện pháp nêu trên, tỉnh cần làm tốt công tác quy hoạch phát triểncông nghiệp, đô thị Kiên quyết tránh tình trạng thu hồi đất nông nghiệp trànlan, kém hiệu quả, đặc biệt không để xảy ra dự án “treo”… Đồng thời, tỉnhcần nghiên cứu để lập quỹ “hỗ trợ nông dân có đất bị thu hồi” nhằm phát huysức mạnh của toàn xã hội trong việc “tiếp sức” cho người nông dân…
* Mô hình ở huyện Yên Khánh - tỉnh Ninh Bình:
Khánh Phú là một xã thuần nông của huyện Yên Khánh Từ năm 2004,tỉnh Ninh Bình đã thu hồi hơn 200 ha đất nông nghiệp của Khánh phú để xâydựng khu công nghiệp Ninh Phúc Điều này ảnh hưởng đến hơn 400 hộ với3.250 lao động nông nghiệp không còn đất canh tác, buộc phải chuyển sangnghề khác mà họ chưa quen làm
Thực hiện chủ trương giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồiđất tại các khu công nghiệp, bốn năm qua, các ngành, đoàn thể đã tập trungdậy nghề, tạo việc làm cho người lao động ổn định đời sống và phát triển kinh
tế Xã đã lập danh sách, phân loại lao động và nhu cầu việc làm cho từng loạiđối tượng cho phù hợp Lãnh đạo xã đã mời các doanh nghiệp trong và ngoàitỉnh về liên kết dạy nghề cho người lao động gồm các nghề thêu ren, đan mócsợi, mây tre đan, may công nghiệp và phát triển mạnh các dịch vụ sẵn có ở địaphương như vận tải, sửa chữa cơ khí, mộc, nề, thu hút nhiều lao động vào làmviệc, ổn định về tư tưởng của người dân, bảo đảm an ninh trật tự trong thônxóm
Đến nay, toàn xã đã tổ chức đào tạo nghề, chuyển giao khoa học kỹthuật cho gần 2.100 lao động và giải quyết việc làm cho hơn 1.700 lao độngvào làm việc thường xuyên ở các doanh nghiệp, HTX ngành, nghề, có thu
Trang 29nhập ổn định, từng bước cải thiện được tình hình lao động không có việc làmtại địa phương.
Ngành lao động, thương binh và xã hội tỉnh đã phối hợp với doanhnghiệp hỗ trợ kinh phí đào tạo miễn phí cho người dân, đồng thời tạo điềukiện cho các đơn vị vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất Số lao động còn lạiđang được vay vốn phát triển chăn nuôi, sản xuất nấm, chế biến thực phẩm vànhiều ngành nghề khác trong nông thôn, góp phần vào việc xóa đói giảmnghèo tại địa phương Tỉnh Ninh Bình coi đây là một mô hình giải quyết việclàm cho lao động nông thôn để các địa phương khác bị thu hồi đất nôngnghiệp học tập và giải quyết tốt hơn đến việc làm và đời sống của người laođộng
Thời gian tới, Ninh Bình tập trung thực hiện đề án đào tạo nghề, giảiquyết việc làm cho người lao động có tay nghề cao, với ngành nghề phù hợpvới thực tiễn và điều kiện của từng địa phương, phát triển bền vững và có thunhập khá Các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn phải ưu tiên sử dụng lao độngtại chỗ Tỉnh phấn đấu đào tạo và giải quyết việc làm cho các lao động khôngcòn đất nông nghiệp ở Khánh Phú đều có việc làm ổn định vào năm 2010
2.2.5 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
- TS Nguyễn Hữu Dũng và các tác giả khác (1997) trong nghiên cứu
"
Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam” đã đề cập đến chính sách giải
quyết việc làm của nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước Vềmặt lý luận nghiên cứu đã nêu khá chi tiết về phương pháp luận, cách tiếp cận
về chính sách việc làm, hệ thống khái niệm về lao động - việc làm và phươngpháp tính Về mặt thực tiễn các tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng vấn
đề việc làm ở nước ta nói chung, trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng vànhững nguyên nhân chủ yếu Trên cơ sở đó đưa ra hệ thống quan điểm giảiquyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH ở nước ta Giải pháp cơbản cho khu vực nông thôn đó là giải quyết nạn thiếu việc làm còn rất phổ
Trang 30biến và nghiêm trọng, việc làm kém hiệu quả và thu nhập thấp thông quachuyển dịch cơ bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH.
- Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi
để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia.( Đề tài độc lập cấp
nhà nước 12/2005) Nghiên cúư này được thực hiện tại 8 tỉnh/TP: Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bắc Ninh, Hà Tây, Cần Thơ và BìnhDương với mục tiêu:
+ Đánh giá thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bịthu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế, xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia hiện nay, chỉ ranhững thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của vấn đề này
+ Đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp và các điều kiệngiải quyết thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xâydựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xãhội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia những năm tới
- Về vấn đề giải quyết việc làm đề tài cấp Bộ (2000) “Những biện
pháp chủ yếu giải quyết lao động thiếu việc làm ở vùng thuần nông” do
Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Nguồn lao động - Viện Khoa học Lao động
và Xã hội thực hiện, đã đưa ra nhận định: Khả năng tạo việc làm ở khu vựcnông thôn hiện nay rất phong phú và đa dạng, tạo việc làm phi nông nghiệpngay tại địa phương, tăng cường dạy nghề cho lao động nông thôn, ưu tiêncác dự án quốc gia và quốc tế cho việc giải quyết việc làm, dạy nghề và nângcao dân trí
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đăc điểm huyện Tĩnh Gia
Trang 313.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tĩnh Gia là huyện cực nam của tỉnh Thanh Hoá, với tổng diện tích tựnhiên là 45.733,61 ha Phía Bắc giáp huyện Quảng Xương, phía Nam giáphuyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp huyệnNông Cống và huyện Như Thanh Vị trí địa lý của huyện thể hiện sự hội tụđồng thời của cả 3 vùng sinh thái là vùng biển và ven biển, vùng đồng bằng
và vùng trung du, miền núi Đây chính là điều kiện cho phép phát triển kinh tếvới một cơ cấu đa dạng, trong đó bao gồm kinh tế vùng đồng bằng, kinh tếmiền bán sơn địa và kinh tế biển
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất của huyện Tĩnh Gia ( 2005 - 2009)
Chỉ tiêu
DT(ha) CC(% ) DT(ha) CC(%) DT(ha) CC(%) Tổng DT đất
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tĩnh Gia)
Trong giai đoạn từ năm 2005-2009, tổng diện tích đất tự nhiên củahuyện không thay đổi, trong đó đất lâm nghiệp vẫn giữ nguyên 18523,34 ha,đất nông nghiệp giảm từ 9168,06 ha năm 2005 xuống còn 9154,00 ha năm
Trang 322007, và 9143,06 ha năm 2009 Đất nông nghiệp giảm đi nhưng đất chuyêndùng lại tăng lên, tăng mạnh nhất là đất thổ cư từ 1240,00 ha năm 2005; đếnnăm 2009 là 1709,02 ha tăng 37,82%
3.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình tăng trưởng kinh tế nói chung của huyện tương đối ổn địnhtrong nhữn năm gần đây Cụ thể được thể hiện ở bảng dưới đây cho thấy, quátrình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng khá phù hợp với quátrình phát triển: tỷ trọng nông nghiệp giảm, tỷ trọng công nghiệp tăng dần quacác năm Tuy nhiên, mức độ chuyển dịch còn chậm, cơ cấu ngành kinh tế vẫn
có dạng: nông - công - dịch vụ, có thể nói kinh tế huyện còn phụ thuộc chủyếu vào nông nghiệp
Bảng 3.2 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu đến hết năm 2010
STT ( tính theo giá cố định 1994) Chỉ tiêu ĐVT Giá trị
2 Cơ cấu kinh tế:
- công nghiệp - tiểu thủ côngnghiệp % 18,53 – 28,75
3 Thu nhập bình quân đầu người Nghìn đồng/năm 2675 - 3150
4 Lương thực bình quân đầungười kg/năm 255 - 277
5 Số lao động có việc làm người 108662 - 122500
6 Số lao động được đào tạo người 18926 - 21700
(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tĩnh Gia)
Hiện nay, động lực của chuyển dịch cơ cấu ngành được xác định khi xâydựng khu kinh tế ( KKT) Nghi Sơn thành KKT trọng điểm quốc gia Lúc này,các ngành kinh tế huyện, nhất là công nghiệp và dịch vụ sẽ có hướng pháttriển mạnh theo hướng khu vực đô thị này Với khả năng ấy, cơ cấu ngành cóthể chuyển dịch sang một dạng mới là công - nông - dịch vụ trong khoảngthời gian từ năm 2011 – 2015
Trang 333.1.2 Đặc điểm chung khu Kinh tế Nghi Sơn
3.1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội
Khu kinh tế Nghi Sơn đươc thành lập tại quyết định số: TTg ngày 15/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ Mục tiêu chủ yếu của khukinh tế Nghi Sơn là xây dựng khu Kinh tế Nghi Sơn thành một khu vực pháttriển năng động, một trọng điểm phát triển ở phía Nam của vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ, đồng thời là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung và Nam bộ,với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan, tạo động lực mạnh để thúcđẩy, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hoá và các tỉnh lân cận, thuhẹp khoảng cách phát triển với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.Nghi Sơn là khu kinh tế tập trung nhiều ngành, với trọng điểm là pháttriển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp hoá lọc dầu, côngnghiệp cơ khí chế tạo, nhiệt điện, công nghiệp chế biến hải sản, đóng sửa tàuthuyền và một số ngành công nghiệp nhẹ khác
102/2006/QĐ-Khu kinh tế Nghi Sơn có tổng diện tích là 18611,8 ha, trong đó tổngdiện tích đất quy hoạch các khu công nghiệp (KCN) gần 3500 ha Địa hìnhcủa KKT đa dạng, gồm vùng núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển, trong đóđất đồng bằng chiếm khoảng 60% Nằm trong vùng có nhiều mỏ đá vôi, mỏsét với trữ lượng lớn, Nghi Sơn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triểnngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, có nguồn nước dồi dào đủ đápứng cho nhu cầu dân sinh và phát triển công nghiệp nặng với quy mô lớn Tổng dân số toàn tỉnh Thanh Hóa là 3,7 triệu người, trong đó số ngườitrong độ tuổi lao động là 2,2 triệu người Còn dân số của KKT Nghi Sơnkhoảng 80590 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 43598người (chiếm 54,1%)
Nghi Sơn có nguồn nhân lực dồi dào, đã qua đào tạo cơ bản ở các trườngđào tạo nghề ở Việt Nam, đủ điều kiện để cung ứng cho các nhà đầu tư về sốlượng và chất lượng Nguồn lao động khu vực Nghi Sơn tương đối dồi dào,
Trang 34tổng số dân 80590 người, 60% tốt nghiệp PTTH, lao động trong độ tuổi năm
2005 là 43313 người, số lao động đang làm việc là 37856 người Cơ cấu nhưsau : lao động nông nghiệp: 73,2%, lao động CN-TCN và XD: 13,1% và laođộng khu vực dịch vụ: 13,7%
Bảng 3.3 Một số dự án đã hoàn thành thuộc KKT Nghi Sơn trong
giai đoạn 2006-2010
DT thu hồi (ha)
Số hộ ảnh hưởng (hộ)
Số hộ di dời (hộ)
Số tiền chi trả (tỷ đồng)
Nguồn: Ban GPMB huyện
Nhìn vào bảng 3.3 ta thấy trong số những dự án đã triển khai trong KKTNghi Sơn, dự án xây dựng khu liên hợp LHD Nghi Sơn chiếm phần lớn diệntích 650 ha, có số hộ ảnh hưởng nhiều nhất 4058 hộ, số tiền phải chi trả nhiềunhất 447 tỷ đồng Như vậy, có thể thấy được tầm quan trọng của việc xâydựng nhà máy LHD đối với việc phát triển kinh tế-xã hội của huyện nóichung và của xã Hải Yến nói riêng
3.1.2.2 Hệ thống giao thông
Nằm trên trục Bắc - Nam của Việt Nam, KKT Nghi Sơn có đường quốc
lộ 1A và tuyến đường cao tốc quốc gia Bắc - Nam đi qua (quy hoạch phía Tâyquốc lộ 1A) Hệ thống giao thông đường bộ liên hoàn giữa các vùng miềntrong tỉnh và khu vực, có đường 513 nối quốc lộ 1A với cảng nước sâu Nghi
Trang 35Sơn, tuyến đường nối cảng Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh dài 55 km Cáctrục đường giao thông nối từ khu đô thị trung tâm đến các KCN và cảng NghiSơn, các trục Đông Tây nối từ cảng Nghi Sơn với đường cao tốc Bắc – Nam.Tuyến đường sắt quốc gia chạy qua có ga Khoa Trường, nằm trong KKTđang được dự kiến nâng cấp thành ga Trung tâm Từ ga Hà Nội đến ga KhoaTrường là 200 km, từ ga TP Hồ Chí Minh đến ga Khoa Trường là 1500 km.Hiện tại, hệ thống cảng biển của KKT đang được gấp rút đưa vào sửdụng Bến số 1, số 2 cảng Nghi Sơn đã được đưa vào hoạt động, có khả năngđón tàu có trọng tải từ 10000 - 30000 DWT với tổng chiều dài hai bến là290m, năng lực xếp dỡ hàng hóa 1,4 triệu tấn/năm Hệ thống thiết bị, kho bãiđược trang bị khá đồng bộ đảm bảo việc bốc xếp hàng hóa Các sân bay dândụng cấp 3C của KKT đã được quy hoạch tại huyện Quảng Xương, diện tíchkhoảng 300 ha, cách KKT Nghi Sơn khoảng 30 km về phía Bắc.
Hệ thống mạng lưới bưu chính, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm và cácdịch vụ khác đang được đầu tư, nâng cấp, mở rộng và xây dựng mới nhằmđáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư
3.1.3 Một số nét khái quát về khu liên hợp lọc hoá dầu Nghi Sơn
Dự án xây dựng Khu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án trọng điểmcủa Nhà nước trong lĩnh vực dầu khí Liên doanh thực hiện dự án này gồm:Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietNam) 25,1%; Tập đoàn Dầu khí quốc
tế Cô-oét (KPI) thông qua công ty đầu tư của mình là KPE góp 35,1%; Công
ty Idemitsu Kosan (IKC) 35,1% và Công ty Hóa chất Mitsui (MCI) 4,7% Vớitổng mức đầu tư khoảng 6 tỉ USD, tỉ lệ vốn vay, vốn góp dự kiến là 70% -30%
Quan điểm của các đơn vị Liên doanh thực hiện về Dự án xây dựng Khu
LH lọc hoá dầu Nghi Sơn:
- Theo PetroVietNam, dự án này nhằm thực hiện chiến lược phát triểnlĩnh vực khâu sau dầu khí (cả lọc dầu và hóa dầu) của Tập đoàn cũng như
Trang 36quốc gia, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia (nhất là sản phẩmxăng dầu).
- Về phía KPI, tập đoàn này cho rằng dự án phù hợp kế hoạch và chiếnlược lâu dài của "công ty mẹ" của họ cũng như chính họ về việc phát triển các
dự án sau dầu khí mang tính liên thông, đặc biệt tại khu vực châu Á và gắnliền với việc cung cấp dầu thô Cô-oét làm nguyên liệu cho dự án
- Phía Cô-oét cam kết cung cấp dài hạn toàn bộ nhu cầu dầu thô của dự
án (khoảng 10 triệu tấn/năm cho giai đoạn hiện tại và khả năng lên tới 20 triệutấn/năm khi dự án được mở rộng trong tương lai)
- Tương hỗ với các đối tác cùng liên doanh, IKC cho hay dự án khi hìnhthành sẽ góp phần đảm bảo nguồn cung dầu thô cho các cơ sở chế biến củahọ
Đặc biệt, khi nhà máy đi vào vận hành thương mại, khu vực nam ThanhHóa, bắc Nghệ An và vùng phụ cận nhiều khả năng sẽ đạt được được đáng kểmột số mục tiêu kinh tế - xã hội
Toàn bộ Khu LH được xây dựng trong địa bàn của 3 xã: Hải Yến, TĩnhHải và Mai Lâm Tổng diện tích của nhà máy là 650 ha, đến nay diện tích đãbàn giao là 540/650 ha
Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án có quy mô lớn, hiện đại tại ViệtNam Các sản phẩm từ dầu khí như LPG, xăng không chì (A92, A95), nhiênliệu DIESEL (thông thường và cao cấp), dầu hỏa, nhiên liệu phản lực, Poly-propylen, Para-xylene, Bezen, lưu huỳnh
Một số nét chính về Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn:
+ Lĩnh vực sản xuất: Lọc hóa dầu
+ Địa điểm: KKT Nghi Sơn, Huyện Tĩnh Gia, Tỉnh Thanh Hoá
+ Công suất: 8,4 triệu tấn nguyên liệu dầu thô/năm
+ Dự kiến hoạt động vào 2013
Trang 37+ Công ty quản lý: Công ty TNHH Lọc Hoá dầu Nghi Sơn (PVN25,1%, KPI 35,1%, IKC 35,1%, MCI 4,7%)
+ Nguyên liệu: Dầu thô Cô oét nhập khẩu hoặc dầu tương đương+ Sản phẩm: LPG, xăng không chì, dầu hỏa/nhiên liệu phản lực, dầudiesel, dầu đốt lò, Polypropylene, Benzen, Paraxylen, lưu huỳnh
+ Vốn đầu tư: Khoảng 6,2 tỉ USD
3.1.4 Đặc điểm xã Hải Yến
3.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Xã Hải Yến nằm về phía đông nam của huyện Tĩnh Gia, với tổng diệntích tự nhiên 756,35 ha được giới hạn bởi:
Phía bắc giáp xã Tĩnh Hải và xã Hải Bình
Phía Tây giáp xã Xuân Lâm và xã Mai Lâm
Phía nam giáp xã Hải Thượng và nhà máy xi măng Nghi Sơn
Phía đông giáp biển đông
Xã Hải Yến cách đường quốc lộ 1A khoảng 8km, nhưng lại gần vớicảng biển Nghi Sơn, cách cảng biển Nghi Sơn 3km về phía Nam thuận lợi choviệc giao lưu buôn bán hàng hoá, dịch vụ với đảo Nghi Sơn và các xã lân cận
Đặc điểm về thời tiết
Hải Yến là xã ven biển, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm Nhiệt độtrung bình hàng năm là 23,4ºC, độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 85%,lượng mưa trung bình 1,833mm, mưa diễn ra từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm84,4% lượng mưa của cả năm
Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió Nam và gió Đông Nam : rất khô, nắngnóng gay gắt làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp
3.1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Đặc điểm về phân bổ đất đai
Trang 38Đất đai vừa là đối tượng sản xuất, vừa là tư liệu sản xuất Cây trồngmuốn sinh trưởng và phát triển được phải có môi trường sống thuận lợi, phải
có đầy đủ điều kiện thích hợp cho cây trồng phát triển
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 197,85 ha và không thay đổi quacác năm, gồm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng
Đất nông nghiệp của xã qua giai đoạn 2005-2009 có xu hướng giảmmạnh, cụ thể : năm 2005 lúc chưa có dự án diện tích đất nông nghiệp là 113,4
ha, năm 2007 là năm dự án bắt đầu được triển khai thì diện tích đất nôngnghiệp giảm so với năm 2005 là 7,2 ha tương ứng với giảm 6,35%, năm 2009giảm so với năm 2007 là 4,4 ha tương ứng với 4,15%, bình quân 3 năm giảm5,26%
Trong tổng diện tích đất nông nghiệp thì diện tích trồng cây hàng năm
có diện tích nhiều nhất và cũng là đất giảm mạnh nhất qua các năm, cụ thểdiện tích đất trồng cây hàng năm năm 2005 là 49,1 ha, năm 2007 giảm so vớinăm 2005 là 2,8 ha tương ứng với giảm 0,64%, năm 2009 giảm so với năm
2007 là 4,2 ha tương ứng với giảm 4,93% Nguyên nhân dẫn dến diện tích đấtnông nghiệp giảm là do việc thu hồi đất phục vụ cho xây dựng khu kinh tếNghi Sơn, người dân có tâm lý là đằng nào thi đất cũng bị thu hồi nên họkhông làm nông nữa mà chuyển sang đâu tư xây nhà sau này được đền bùnhiều hơn, một số hộ thì bỏ đất trống đi làm ăn xa
Trong khi đất nông nghiệp giảm mạnh thì ngược lại đất phi nông nghiệplại tăng rất nhanh, trong đó đất ở tăng chiếm phần chủ đạo Dân số luôn tăng,thêm vào đó xu hướng các hộ dân trong xã xưa nay sống trong một gia đìnhgồm từ 2-3 thế hệ, nay do có việc đền bù đất nên họ tách các hộ lớn ra thànhcác hộ nhỏ nhằm mục đích sau này tiền đền bù được chia đều cho các con của
họ Như vậy, đương nhiên nó làm cho diện tích đất ở của xã tăng lên, cụ thểlà: năm 2005 chỉ là 24,3 ha, đến năm 2007 tăng lên 28,3 ha, năm 2009 tănglên 33,7 ha Bình quân diện tích đất ở tăng 17,76%
Trang 39Năm 2007 là năm mà xã nhận được quyết định thu hồi đất để phục vụcho việc xây dựng nhà máy lọc hoá dầu Nghi Sơn, cũng kể từ đó diện tích đấtNTTS, đất trồng cây hàng năm, đất vườn có xu hướng giảm mạnh, mà thayvào đó đất ở, đất chưa sử dụng tăng lên Nguyên nhân là do người dân trôngchờ vào nhà nước quá nhiều, tâm lý họ sợ mình làm màu chưa đến mùa thuhoạch thì lại bị phá đi cho nên họ không lo làm ăn mà chỉ ở nhà trông chờ tiềnđền bù Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm tăng tệ nạn xãhội trên địa bàn xã.
Trang 40Bảng 3.4 Diện tích, cơ cấu đất đai của xã qua các năm 2005 – 2009
Chỉ tiêu
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)