1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020

168 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguy cơ tụt hậu kinh tế giữa các quốc gia nói chung, các địa phương trong nước nói riêng ngày càng thể hiện rõ rệt, do đó để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều việc làm, góp phần

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời đại ngày nay, khi xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh

mẽ thì ranh giới giữa các quốc gia ngày càng trở nên ít quan trọng, các nhà đầu tư dễ dàng hơn trong việc tiếp cận tới các thị trường của một quốc gia Nguy cơ tụt hậu kinh tế giữa các quốc gia nói chung, các địa phương trong nước nói riêng ngày càng thể hiện rõ rệt, do đó để thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, tạo ra nhiều việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân các bộ tộc, một điều kiện cần thiết

và quan trọng là phải có sự đầu tư phát triển kinh tế cũng như phải sử dụng hiệu quả nhất các nguồn vốn đầu tư cho công cuộc phát triển

Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng bộ Thủ đô, Ủy ban nhân dân Thủ

đô Viêng Chăn đã đưa ra nhiều giải pháp để thu hút đầu tư phát triển kinh tế-

xã hội của Thủ đô, huy động tối đa mọi nguồn lực, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo sự phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản đưa Thủ đô ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo tiền đề quan trọng để Viêng Chăn cơ bản trở thành Thủ đô công nghiệp hóa hiện đại hóa trước năm

2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế phấn đấu bình quân hàng năm tăng 12,62% Thực hiện chủ trương trên Thủ đô đã ban hành nhiều quyết định về thu hút đầu tư, các quy trình đầu tư liên quan đến cấp phép đầu tư, báo cáo đánh giá tác động môi trường, thanh quyết toán vốn đầu tư, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức hội nghị mời gọi đầu tư tại Viêng Chăn và đã có những thành công nhất định như tạo môi trường đầu tư thuận lợi, giải quyết những vướng mắc cho nhà đầu tư Phát triển phải đứng trên quan điểm bền vững đảm bảo hiệu quả của sự phát triển đó phát huy tác dụng lâu dài Điều đó đặt ra cho đất nước cũng như các Thủ đô, thành phố phải chủ động, sáng tạo, khai thác triệt

Trang 2

để các lợi thế để phát triển kinh tế Quá trình này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, phân tích cho Thủ đô, thành phố để tìm ra những đặc điểm, lợi thế riêng

từ đó xác định phương hướng, giải pháp phát triển kinh tế cho phù hợp Trên

cơ sở lý luận và thực tiễn đó mà tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Đầu tư phát triển kinh tế Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2007- 2011 và tầm nhìn đến năm 2020” Qua đề tài sẽ làm rõ những cơ sở lý luận, thực tiễn về hoạt động

đầu tư phát triển, đầu tư phát triển kinh tế, phân tích những điểm mạnh, yếu, thuận lợi và khó khăn để đề xuất những giải pháp và phương hướng cho sự phát triển kinh tế của Thủ đô Viêng Chăn

2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về phát triển kinh tế tại các nước trong khu vực và trên thế giới

Lịch sử phát triển kinh tế cho thấy, mỗi quốc gia tuỳ theo quan niệm khác nhau cả vấn đề chủ quan và khách quan của các nhà lãnh đạo đã lựa chọn những con đường phát triển khác nhau: Nhấn mạnh vấn đề tăng trưởng nhanh, nhấn mạnh vấn đề bình đẳng, công bằng xã hội và phát triển toàn diện

- Theo học thuyết kinh tế chính trị học của Các Mác đã phản ánh bản chất yếu tố tăng trưởng kinh tế như quá trình tuần hoàn, chu chuyển của tư bản, cơ cấu kỹ thuật tái sản xuất xã hôi Các Mác đã đề cập đến quá trình hình thành cơ sở vật chất tạo “Cái cốt” cho nền kinh tế phát triển qua các giai đoạn Hiệp tác và công trường thủ công là quá trình chuyển sang chuyên môn hoá lao động, góp phần làm tăng sức sản xuất Quá trình công nghiệp hoá thay đổi

cơ cấu sản xuất là tác nhân tăng năng suất lao động và làm tăng hiệu quả của nền sản xuất xã hôi, mở rộng sản lượng tiền năng của nền kinh tế Do đó tăng tích luỹ đầu tư vốn, thay đổi cơ cấu kỹ thuật của sản xuất là cơ sở của tăng trưởng và động thái tăng trưởng trong nền kinh tế phát triển ( tr118 – 119)

* Ở Việt Nam đã có nhiều nhà nghiên cứu viết về vấn đề liên qua đến đầu tư phát triển kinh tế thể hiện như sau:

- Luận án tiễn sĩ, Nguyễn Phương Bắc ,Trường đại học Kinh tế Quốc

dân Hà Nội “Định hướng và giải pháp đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Bắc

Trang 3

Ninh” : Luận án cũng đã nêu ra Một số vấn đề lý luận về đầu tư phát triển

trong nền kinh tế của một quốc gia Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế và định hướng, giải pháp chủ yếu về đầu tư phát triển kinh tế ở Bắc Ninh, nhưng

về phạm vi, thời gian và mức độ nghiên cứu và đánh giá của luận án là có sự khác nhau

- Đề tài luận án tiến sỹ: “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2001 –2010”, của NCS Trần Đức Lộc, năm 2005 Đề tài đã đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, nghiên cứu sâu và tương đối kỹ vào lĩnh vực hiệu quả việc sử dụng vốn đầu tư Làm rõ thêm các cơ sở lý luận về đầu tư phát triển nói chung và việc sử dụng vốn đầu tư như thế nào là hợp lý nhất Hiệu quả nhất, nhưng tác giả cũng chưa nghiên cứu sâu về đầu tư phát triển kinh tế của một vùng hoặc địa phương nhất định;

- Luận án tiến sĩ : Từ Quang Phương (hiện tại là PGS.TS), Hiệu quả đầu tư và các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước/ Từ Quang Phương, 2003 Tác giả đã làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung về hiệu quả đầu tư phát triển của doanh nghiệp, nêu ra thực trạng hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước ở thời điểm nghiên cứu, những quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu;

- Luận án tiến sĩ: Nguyễn Thị Thu Hương, “ Hoàn thiện công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam” ; 2005 Luận án

đã đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát triển các khu công nghiệp Thực trạng của công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian qua Sau đó định hướng

và đề ra một số giải pháp để thực hiện công tác xúc tiến đầu tư nhằm phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam trong thời gian tới Đề tài nghiên cứu sâu về công tác xúc tiến đầu tư phát triển với góc độ của doanh nghiệp;

- Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Ngọc Tú, “ Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Yên Bái thực trạng và giải pháp” , 2010 Luân văn đã nêu ra các vấn đề về

Trang 4

đầu tư phát triển kinh tế và từ đó phân tích các khía cạnh như nguồn vốn;

- Luận văn thạc sĩ : Phạm Thị Mai Anh, “ Nghiên cứu thống kê mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn

1995 – 2001”, 2003 Lý luận chung về vốn đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế Lựa chọn hệ thống chỉ tiêu thống kê mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế, phân tích mối quan hệ giữa vốn đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1995 – 2001;

- Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh - Thực trạng và giải pháp,

Nguyễn Trọng Bình, 2008

- Đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2001-2015: Thực

trạng và giải pháp/ Hoàng Thị Ngọc Huệ, 2008

- Giải pháp thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Bắc

Giang đến năm 2010/ Nguyễn Văn Dũng, 2008

- Một số giải pháp tăng cường huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh

tế Hà Nội giai đoạn 2006-2010 / Hoàng Quốc Thắng, 2006

- Các nghiên cứu trên mặc dù tên của đề tài có sự tương đồng nhưng, đều được nghiên cứu với nội dung, khía cạnh và góc độ tiếp khác nhau

- Riêng ở nước CHDCND Lào việc nghiên cứu chủ đề này là rất ít và phần lớn là các cơ quan có thẩm quyền như sở kế hoạch đầu tư, bộ kế hoạch

và đầu tư đứng ra nghiên cứu và nghiên cứu một cách tổng quát tức là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội 5 năm của các tình thành phố và cả nước trong từng giai đoạn

3 Mục tiêu nghiên cứu

Hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện lý luận về đầu tư trong phát triển kinh tế, trong đó xác định rõ vai trò của đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư để vận dụng vào điều kiện cụ thể của Thủ đô Viêng Chăn

Phân tích thực trạng đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn Thủ đô, đánh giá những ưu nhược điểm, làm rõ những cơ sở khoa học và thực tiễn, từ đó đề

Trang 5

xuất những giải pháp cho đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn Thủ đô Viêng Chăn trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những cơ sở khoa

học và thực tiễn trong nội dung của hoạt động đầu tư phát triển kinh tế, giải pháp đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn Thủ đô Viêng Chăn

Phạm vi nghiên cứu: Về mặt lý luận: Chủ yếu đề cập đến những vấn đề

lý luận về đầu tư và đầu tư phát triển, các lý thuyết về đầu tư và phát triển kinh tế

Về mặt thực tiễn: Tìm hiểu, phân tích, đánh giá về thực trạng đầu tư phát triển kinh tế Thủ đô Viêng Chăn, đưa ra những giải pháp chủ yếu về đầu

tư phát triển kinh tế Thủ đô Viêng Chăn trong thời gian tới

Phạm vi về không gian và thời gian: Đề tài thực hiện nghiên cứu trong phạm vi các đối tượng và hoạt động đầu tư phát triển trên địa bàn Thủ đô Viêng Chăn, các số liệu phục vụ cho nghiên cứu tập trung trong thời gian từ năm 2007- 2011

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp biện chứng duy vật, kết hợp với phương pháp lịch sử và logic, phân tích và tổng hợp, phương pháp thống kê, mô hình toán và tiếp cận hệ thống

- Phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống: Việc nghiên cứu hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển tại Thủ đô Viêng Chăn được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể Huy động vốn đầu tư phát triển được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau cả về không gian và thời gian, đồng thời được đặt ra trong bối cảnh chung của toàn bộ nền kinh tế trong quá trình đổi mới và mở rộng quan hệ đối ngoại của Thủ đô Viêng Chăn

- Phương pháp thống kê: Luận án sử dụng các số liệu thống kê thích

Trang 6

hợp để phục vụ cho phân tích quá trình hoạt động huy động vốn đầu tư phát triển ở Thủ đô Viêng Chăn

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Huy động vốn đầu tư phát triển của Thủ đô Viêng Chăn được xem xét trên cơ sở có sự so sánh tác động của nó đối với sự tăng trường và phát triển kinh tế của Thủ đô Viêng Chăn qua từng giai đoạn huy đông, cũng như thực việc huy động vốn đầu tư phát triển của một số nước trong khu vực

6 Những đóng góp mới của luận án:

- Luận giải cơ sở lý luận của quá trình đầu tư phát triển kinh tế các yếu

tố tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế thủ đô Viêng Chăn, đưa ra hệ thống các chỉ tiêu đo lường hiệu quả của quá trình đầu tư phát triển kinh tế

- Vận dụng lý thuyết để đo lường và đánh giá hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở thủ đô Viêng Chăn

- Đề xuất các giải pháp cho sự phát triển kinh tế thủ đô Viêng Chăn từ đầu tư phát triển theo chiều rộng đến đầu tư phát triển theo chiều sâu, đảm bảo phát triển ổn định và biền vững

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, mục lục bảng biểu, các tài liệu tham khảo và kết luận, nội dung luận án được chia làm 3 chương:

Chương 1: Đầu tư phát triển kinh tế địa phương- cơ sở lý luận, thực tiễn

Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển kinh tế Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2007 – 2011

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường đầu tư phát triển kinh tế Thủ

đô Viêng Chăn đến năm 2020

Trang 7

CHƯƠNG 1: ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

ĐỊA PHƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN

1.1 Khái niệm đầu tư phát triển kinh tế địa phương và tác động của đầu tư phát triển kinh tế đến tăng trưởng và phát triển

1.1.1 Các khái niệm

1.1.1.1 Đầu tư

Theo từ điển kinh tế học hiện đại thì đầu tư theo nghĩa rộng có nghĩa là

sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về các nguồn lực đã bỏ ra Nguồn lực bỏ ra

có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là tài sản vật chất khác hoặc sức lao động Sự biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đã bỏ ra trên đây gọi là vốn đầu tư

Theo khái niệm trên thì những kết quả của đầu tư đem lại là sự tăng thêm tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, của cải vật chất khác), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, khoa học kỹ

thuật, của người dân) Các kết quả đã đạt được của đầu tư đem lại góp phần

tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội

Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nhà đầu tư hoặc xã hội kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.[16]

Theo Luật khuyến khích đầu tư năm 2009 của Lào, định nghĩa đầu tư là việc nhà đầu tư đưa các loại tài sản của mình có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tư tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào[19]

Nếu xem xét trên giác độ đầu tư thì đầu tư là những hoạt động sử dụng

Trang 8

các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực

và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có

1.1.1.2 Đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế địa phương Trước khi đánh giá vai trò này, chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế, cụ thể:

• Tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng thường được thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay

ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự tăng trưởng nhanh hay chậm của các thời kỳ

Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế Ngày nay, yêu cầu tăng trưởng được gắn liền với tính bền vững hay việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng càng cao

Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển

Trang 9

Loại đầu tư đem lại các kết quả không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh

tế xã hội được thụ hưởng, không chỉ trực tiếp làm tăng tài sản của người chủ đầu tư mà cả của nền kinh tế chính là đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền vốn Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên Như vậy khi xem xét lựa chọn dự án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư phát triển cần tính đúng tính đủ các nguồn lực tham gia

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư

tư, vai trò quản lý, kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước các cấp

Do đó trong thực tế có những khoản đầu tư không trực tiếp tạo ra tài sản cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống như đầu tư cho y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo và vì mục tiêu phát triển đó cũng được xem là đầu tư phát triển

Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư

Hoạt động đầu tư phát triển là một quá trình, diễn ra trong thời kỳ dài

và tồn tại vấn đề “độ trễ thời gian” “Độ trễ thời gian” là sự không trùng khớp

Trang 10

giữa thời gian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư, đầu tư hiện tại nhưng kết quả đầu tư thường thu được trong tương lai Đặc điểm này của đầu

tư cần được quán triệt khi đánh giá kết quả, chi phí và hiệu quả hoạt động đầu

tư phát triển

Nội dung đầu tư phát triển ở phạm vi doanh nghiệp và phạm vi nền kinh tế có thể khác nhau Trên góc độ nền kinh tế, đầu tư phát triển phải làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế chứ không phải hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các đơn vị

1.1.1.3 Đầu tư phát triển kinh tế

Trên cơ sở quan niệm về đẩu tư như trên, đầu tư phát triển kinh tế được hiểu là hoạt động chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác trong giai đoạn hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản (các tài sản vật chất hữu hình và tài sản vô hình) và giá trị khác của nền kinh tế, tạo thêm việc làm

và nâng cao đời sống của các bộ phận dân cư

Với khái niệm này, đầu tư phát triển kinh tế được xem xét ở các giác độ: Thứ nhất, hoạt động đầu tư phát triển kinh tế là hoạt động chi dùng vốn cho phát triển kinh tế Vốn đầu tư phát triển kinh tế không chỉ giới hạn trong phạm vi vốn ngân sách mà nó bao gồm cả vốn của các thành phần kinh tế khác do vậy, khi đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển kinh tế cũng không giới hạn ở việc xem xét hiệu quả của một nguồn vốn nhất định

Thứ hai, mục tiêu của đầu tư phát triển kinh tế Một trong những mục tiêu của đầu tư phát triển kinh tế là nhằm duy trì hoạt động đầu tư và làm tăng thêm tài sản, giá trị kinh tế cho nền kinh tế Các giá trị kinh tế bao gồm cả tài sản vật chất, tài sản trí tuệ, hữu hình và vô hình, cố định và lưu động, cho cả hoạt động sản xuất kinh doanh và phi sản xuất kinh doanh

Thứ ba, nội dung đầu tư phát triển kinh tế Do, mục đích đầu tư phát triển kinh tế là duy trì hoạt động đầu tư và làm tăng giá trị kinh tế, tạo ra việc

Trang 11

làm và nâng cao đời sống của các tầng lớp dân cư, nên nội dung đầu tư phát triển kinh tế bao gồm nhiều lĩnh vực như đầu tư phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư cho khoa học công nghệ

Luận án nghiên cứu trong phạm vi quản lý nhà nước về đầu tư phát triển kinh tế, do vậy nội dung nghiên cứu về đầu tư phát triển kinh tế giới hạn trong các vấn đề như lượng vốn đầu tư theo thành phần kinh tế, khu vực kinh

tế, nguồn đầu tư, hình thức quản lý và theo ngành kinh tế

1.1.1.4 Đầu tư phát triển kinh tế địa phương

Cũng từ quan niệm đầu tư và đầu tư phát triển đề cập ở trên, đầu tư phát triển kinh tế địa phương được hiểu là hoạt động chi dùng vốn cùng các nguồn lực khác trong từng giai đoạn nhằm khai thác một cách hợp lý các nguồn lực địa phương, làm tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế địa phương, góp phần làm tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của các bộ phận dân cư trong địa bàn địa phương quản lý Như vậy, đầu

tư phát triển kinh tế địa phương được hiểu là toàn bộ các hoạt động chi vùng vốn của Trung ương và địa phương nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế địa phương trong từng giai đoạn, từng thời kì

Có thể hiểu "đầu tư phát triển kinh tế địa phương" trên các nội dung sau:

- Đầu tư phát triển kinh tế địa phương trước hết bao hàm các hoạt động đầu tư nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế địa phương Nghĩa là đầu

tư phải đảm bảo phát triển kinh tế thể hiện ở khía cạnh mỗi suất đầu tư tăng lên mang lại mức tăng lượng của cải (tài sản) tính bằng hiện vật, hay giá trị trong một thời kỳ nhất định Những chỉ tiêu quan trọng nhất để đo mức độ phát triển kinh tế do đầu tư mang lại có thể là: ICOR, GDP, tốc độ tăng GDP; GDP/người; tốc độ tăng GDP/người Mức độ phát triển này phải được duy trì theo thời gian, dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động và hiệu

Trang 12

quả cao, chứ không phải chỉ dựa trên cơ sở gia tăng lượng vốn đầu tư một cách thuần tuý

- Đầu tư phát triển kinh tế địa phương là hoạt động đầu tư, theo đó bao hàm đầu tư phát triển theo các ngành nghề, lĩnh vực tạo ra giá trị sản phẩm hàng hóa hoặc phi hàng hóa tại địa phương nhằm khai thác các nguồn lực, phát huy thế mạnh và mối liên kết ngành trong và ngoài địa phương Sự thay đổi cơ cấu đầu tư phát triển kinh tế địa phương phản ánh mức độ thay đổi của phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại và tính hiệu quả của đầu

tư tại nền kinh tế địa phương Những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả, lĩnh vực kinh tế có năng suất lao động cao, có giá trị gia tăng cao tại địa phương sẽ hấp dẫn và thu hút đầu tư phát triển kinh tế nhanh và nhiều hơn các ngành khác

- Đầu tư phát triển kinh tế địa phương cũng bao hàm hai khía cạnh đầu

tư tạo ra của cải hàng hóa hoặc đầu tư phi tạo ra hàng hóa của địa phương Đầu tư nhằm làm tăng sản lượng hàng hóa dựa trên thế mạnh của địa phương

là loại đầu tư có tầm quan trọng đối với bất cứ địa phương nào, theo đó một đơn vị vốn đầu tư được bỏ ra nhằm mang lại một lượng giá trị sản phẩm hàng hóa lớn hơn nhằm đáp ứng nhu cầu dân cư và xuất khẩu sang các địa bàn khác Đầu tư phi hàng hóa cũng gắn liền với đầu tư tạo hàng hóa, bao hàm khía cạnh tạo ra các giá trị tinh thần, giá trị hỗ trợ hoặc gián tiếp tạo ra giá trị hàng hóa Cái đích của đầu tư phát triển kinh tế là tạo ra của cải hàng hóa nhằm phục vụ con người Mức sống cũng được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là thu nhập cao hay thiếu đói mà còn bao hàm hàng loạt vấn đề như nước sạch, quyền lợi học tập, các vấn đề bảo vệ bà mẹ trẻ em, chữa bệnh, nhà ở Đầu tư cho các lĩnh vực này cũng gọi là đầu tư phát triển kinh tế

Cùng với mức sống còn vấn đề bình đẳng; vấn đề xã hội văn minh (con người sống tin cậy, hài hoà, xã hội an toàn ) Do đó, đầu tư phi hàng hóa là

Trang 13

loại đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu bậc cao của con người

- Đầu tư phát triển kinh tế địa phương trong giai đoạn hiện nay phải đi liền và đảm bảo việc phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo tồn và tái sinh các hệ sinh thái; bảo đảm chất lượng môi trường địa phương cho hiện tại

và cho tương lai; bảo đảm các nguồn lực, cơ sở vật chất hiện tại và tương lai Những yêu cầu này phải được quán triệt trong xây dựng và thực thi các kế hoạch, dự án đầu tư cụ thể trong từng thời kì, từng giai đoạn

Với khái niệm đầu tư phát triển kinh tế địa phương như trên, các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương được hiểu với những quan niệm khác nhau

- Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương bao gồm các hoạt động đầu tư cho sản xuất, tiêu thụ hàng hòa, xây dựng lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trong vùng, nhằm tạo việc làm và mở rộng thu nhập Các hoạt động này có sự tham gia hỗ trợ của chính quyền địa phương, các hiệp hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp, các đối tượng khác nhằm khắc phục các cản trở và giảm chi phí cho doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, khai thác có hiệu quả các lợi thế đang có và tạo lập các lợi thế mới cho địa phương và doanh nghiệp vùng đó

- Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương bao gồm các hoạt động đầu tư và khuyến khích đầu tư tại một vùng, lãnh thổ địa phương nhất định Thực chất của các hoạt động là thu hút các chủ đầu tư ngoài vùng vào đầu tư tại địa phương (quan niệm này có lẽ không đầy đủ bởi chưa tính đến hoạt động đầu tư của các chủ đầu tư đang sống hoặc đang là chủ các doanh nghiệp đang hoạt động tại địa phương)

- Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư nhằm cải thiện và tăng phúc lợi của dân cư địa phương Đầu

Trang 14

tư phát triển kinh tế bao hàm ý nghĩa đầu tư nhằm cải thiện phúc lợi của nhân dân Tuy nhiên, để cải thiện phúc lợi dân cư có thể còn do nhiều loại hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau tác động, trong đó đầu tư phát triển kinh tế chỉ

là một loại hoạt động

- Hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương cũng bao gồm: hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhằm tăng cường khai thác các tiềm năng lợi thế sẵn có, tạo lập các lợi thế mới, hoạt động đầu tư của chính quyền và các tổ chức liên quan nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp chủ động, sáng tạo trong kinh doanh

Nghiên cứu quan niệm trên cho thấy các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương phải bao gồm các hoạt động sau: hoạt động điều tra, nghiên cứu cơ hội đầu tư để có phương án đầu tư phát triển các ngành nghề kinh doanh một cách có hiệu quả; các hoạt động đầu tư khai thác có hiệu quả các lợi thế hiện có, đầu tư tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới; đầu tư tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, khuyến khích đầu tư (từ tất cả các nguồn) phát triển doanh nghiệp tại địa phương; các hoạt động phối hợp hài hoà trong xây dựng kế hoạch, cung cấp thị trường tổ chức phối hợp thực thi kế hoạch

Các tác nhân tham gia các hoạt động trên là: chính quyền, các doanh nghiệp, các hội nghề nghiệp, khu vực tư nhân và đối tác khác Với tất cả các hoạt động trên, để đạt hiệu quả cao cần có sự quản lý nhà nước gọi là quản lý nhà nước về đầu tư phát triển kinh tế địa phương

1.1.2 Tác động của đầu tư phát triển kinh tế đến tăng trưởng và phát triển

1.1.2.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế

Tác động đến cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu tư, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh

tế Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28% trong cơ cầu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Với tổng cầu, tác động

Trang 15

của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn, khi tổng cung và các yếu tố khác không thay đổi gia tăng đầu tư (I) làm cho tổng cầu (AD) tăng

AD = C + I + G + X + M Trong đó:

I: Đầu tư

G: Tiêu dùng chính phủ

X: Xuất khẩu M: Nhập khẩu C: Tiêu dùng

Q0 Q1 Q2

Biểu đồ 1.1 Tác động của đầu tư đến tổng cung và tổng cầu

Theo đồ thị đường cầu dịch chuyển từ D sang D’, kéo sản lượng cân bằng tăng từ Q0 sang Q1 và giá cả đầu vào của đầu tư tăng từ P0 lên P1, điểm cân bằng dịch chuyển từ E0 đến E1

Tác động đến tổng cung: Tổng cung của nền kinh tế gồm 2 nguồn chính là cung trong nước và cung từ nước ngoài Cung trong nước thể hiện qua phương trình sau:

Q = F(K,L,T,R ) K: Vốn đầu tư L: Lao động R: Nguồn tài nguyên T: Công nghệ Như vậy tăng qui mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác, tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất

Trang 16

lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ do đó đầu tư lại gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế[16]

1.1.2.2 Tác động đến tăng trưởng kinh tế

Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng qui mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

Biểu hiện của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh

tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio- tỷ

số gia tăng của vốn so với sản lượng: là tỷ số giữa qui mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm)

∆ : là giá trị sản lượng gia tăng

Từ công thức trên cho thấy: Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vồn đầu tư, theo các nhà nghiên cứu kinh tế, muốn giữ tốc

độ tăng trưởng khá cao và ổn định thì tỷ lệ đầu tư phải chiếm khoảng trên 25% so với GDP, tùy thuộc vào GDP của mỗi nước[16]

1.1.2.3 Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế,

có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế

Trang 17

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về qui mô, tốc độ giữa các ngành, vùng

Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư góp phân làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp qui luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực

Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô vốn nhiều hay

ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất phát triển ngành mới do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành

Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

1.1.2.4 Tăng cường khoa học và công nghệ

Công nghệ là yếu tố trung tâm của công nghiệp hóa, đầu tư là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ Nếu trình độ công nghệ lạc hậu, quá trình CNH- HĐH sẽ gặp nhiều khó khăn và không bắt kịp được với trình độ công nghệ của thế giới là rào cản của quá trình hội nhập

Có hai còn đường cơ bản để có công nghệ là: Nhập công nghệ và tự nghiên cứu, phát minh Dù tiến hành bằng con đường nào thì yếu tố quyết định cũng là phải có tiền- đầu tư Điều quan trọng là cần phải có bước đi phù hợp để lựa chọn công nghệ thích hợp Trên cơ sở đó, đầu tư có hiệu quả để

Trang 18

phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn nền kinh tế quốc dân

1.1.2.5 Tăng khả năng cạnh tranh và xuất khẩu của nền kinh tế

Đầu tư không chỉ nhằm gia tăng sản lượng mà cần chú trọng tới việc nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Khuyến khích đầu

tư vào các dự án đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, khuyến khích phát triển công nghệ sạch

Đầu tư và phát triển hợp lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu

Đầu tư của nhà nước tập trung cho các khâu đòi hỏi vốn lớn có tác dụng hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển như: Hệ thống cơ sở hạ tầng điện, đường nghiên cứu khoa học

1.1.2.6 Nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

Mục tiêu của Đảng và Nhà nước Lào được cụ thể hóa trong Văn kiện đại hội Đảng là: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Vì vậy mà mục tiêu phát triển kinh tế luôn được gắn liền với đảm bảo

an toàn xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng Nhà nước ưu tiên đầu tư vào cơ

sở hạ tầng, môi trường, chính sách tạo tiền đề phát triển kinh tế như các chương trình: Phổ cập giáo dục, xóa đói giảm nghèo, nước sạch nông thôn, phát triển hệ thống giao thông do đó mà chất lượng cuộc sống của người dân

đã được nâng cao, đặc biệt là góp phần phát triển kinh tế tạo ra bộ mặt nông thôn mới, rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giàu và nghèo

Đầu tư phát triển kinh tế là “cú huých” phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo đói ở các nước đang phát triển

Vào những năm 50 của thế kỷ XX, Nurkse đã đưa ra lý thuyết về vòng luẩn quẩn ở các nước đang phát triển Lý thuyết này chỉ ra rằng sự nghèo đói

tự nó kéo dài mãi trong các vòng luẩn quẩn tăng cường lẫn nhau trên cả hai phía cung và cầu

Trang 19

Về phía cung: Do thu nhập thấp tiêu dùng không thể chuyển sang tiết

kiệm để thành vốn được Việc thiếu vốn sẽ dẫn tới năng suất và năng suất tính trên đầu người thấp và duy trì mãi mức thu nhập thấp Như vậy vòng tròn đó không thể chấm dứt, một nước nghèo, không có tăng trưởng là bởi vì vốn dĩ

nó đã quá nghèo không thể tiết kiệm và đầu tư được

Về phía cầu: Vì thu nhập thấp nên người dân phải hạn chế tiêu dùng

làm cho quy mô thị trường là quá nhỏ không thể kích thích những người đầu

tư có tiềm năng Việc thiếu người đầu tư có nghĩa là năng suất thấp và thu nhập thấp tiếp diễn Một đất nước nghèo là bởi vì vốn dĩ nó đã quá nghèo không thể tạo ra thị trường để thúc đẩy đầu tư

Như vậy ở cả phía cung và phía cầu quá trình đó cứ lặp đi lặp lại mà không có được bước phát triển cao hơn, không thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của nghèo đói

Điều này đòi hỏi các nước phát triển phải phá vỡ cái vòng luẩn quẩn này cả về phía cung và phía cầu bằng việc tăng cường tiềm lực cho đầu tư Đầu tư cả nguồn lực trong nước và ngoài nước sẽ cho phép tái sản xuất mở rộng để tăng tích lũy và đầu tư tiếp tục lại cho phép mở rộng năng lực sản suất nâng cao năng lực sử dụng các nguồn lực sản xuất Đầu tư cho phép tạo ra năng lực sản xuất mới theo đó sẽ góp phần tăng thu nhập Thu nhập cao sẽ cho phép và kích thích tiêu dùng Nhờ đó mà nhu cầu về sản phẩm cũng được

mở rộng tạo sức hút cho việc đầu tư tiếp theo Như vậy, đầu tư với sự tác động cả về phía cung và phía cầu là nhân tố cần thiết để phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” của sự nghèo đói ở các nước đang phát triển tạo ra một vòng mở cho phép các nước đó tăng trưởng không ngừng

1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế

1.2.1 Bản chất của nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế

Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích lũy được thể hiện dưới

Trang 20

dạng giá trị được chuyển hóa thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của

xã hội Như vậy nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích lũy nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội Điều này được cả kinh tế học cổ điển, kinh tế chính trị học Mác- Lênin và kinh tế học hiện đại chứng minh

Trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc” (1776), Adam Smith, một đại diện điển hình của trường phái kinh tế học cổ điển đã khẳng định: “Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên” [20]

Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các mối quan hệ giữa các khu vực của nền sản xuất xã hội, về các vấn đề có liên quan trực tiếp đến tích lũy, C.Mác đã chứng minh: Trong một nền kinh tế với hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng

Cơ cấu tổng giá trị của từng khu vực đều bao gồm (c+v+m) trong đó c là phần tiêu hao vật chất, (v+m) là phần giá trị mới sáng tạo ra Khi đó, điều kiện để đảm bảo tái sản xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm bảo (v+m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực II, tức là:

(v+m)I > cII (1.1) Hay nói cách khác

(c+v+m)I > cII + cIĐiều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả hai khu vực) mà còn phải dư thừa để đầu tư làm tăng quy mô tư liệu sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo

Đối với khu vực II cần phải đảm bảo

(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)II (1.2)

Trang 21

Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II Chỉ khi điều kiện này được thỏa mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần thu nhập để tái sản xuất mở rộng, từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ tăng Như vậy theo quan điểm của C.Mác con đường cơ bản và quan trọng về lâu dài để tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản xuất và tiêu dùng

Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh tế đóng Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ Nhưng tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc

độ toàn bộ nền kinh tế không nhất thiết tiến hành bởi cùng một cá nhân hoặc doanh nghiệp nào Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó

có tích lũy nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư Trong khi đó, có một số cá nhân, doanh nghiệp lại thực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích lũy chưa đủ Khi

đó, thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề bằng việc điều tiết khoản vốn

từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng

Ví dụ, nhà đầu tư có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu (nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy trình, thủ tục) để huy động vốn thực hiện một dự án đầu tư nào đó từ các doanh nghiệp, hộ gia đình hay các cá nhân- người dư thừa vốn

Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập Phần tích lũy của nền kinh tế có thể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có thể được chuyển sang nước khác để thực hiện đầu tư Ngược lại, vốn tích lũy của nền kinh tế có thể

ít hơn nhu cầu đầu tư, khi đó nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài khoản vãng lai

Trong đó: CA (current account): tài khoản vãng lai

Trang 22

Như vậy, trong nền kinh tế mở, nếu nhu cầu đầu tư lớn hơn tích lũy nội

bộ của nền kinh tế và tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từ nước ngoài Khi đó, đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong những nguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế Nếu tích lũy của nền kinh tế lớn hơn nhu cầu đầu tư trong nước trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai thì quốc gia đó có thể đầu tư vốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế

1.2.2 Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp

và tiết kiệm của Chính phủ được huy động vào quá trình tái sản xuất của xã hội, bao gồm:

* Nguồn vốn Nhà nước: Bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước

- Nguồn vốn NSNN: Là nguồn chi của NSNN cho đầu tư Đó chính là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu

hạ tầng kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho các dự án lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ, qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn

- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay Chủ đầu tư là người vay vốn phải tính kỹ hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn tiết

Trang 23

kiệm hơn Bên cạnh đó, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước còn phục

vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô Thông qua nguồn tín dụng đầu

tư, Nhà nước thực hiện khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực, khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH

- Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước Chủ yếu từ khấu hao tài sản cố định và thu nhập giữ lại tại doanh nghiệp Nhà nước Theo Bộ

Kế hoạch và Đầu tư nguồn vốn này thường chiếm 14- 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chủ yếu là đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây chuyền công nghệ của doanh nghiệp

* Nguồn vốn của dân cư và tư nhân: Bao gồm phần tiết kiệm của dân

cư và phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo Bộ

Kế hoạch và Đầu tư tiết kiệm trong dân cư và các doanh nghiệp dân doanh thường chiếm khoảng 15% GDP Với số lượng doanh nghiệp ngày càng lớn phần tích lũy của các doanh nghiệp này cũng sẽ đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn của toàn xã hội Nguồn vốn này còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình, trình độ phát triển của đất nước, tập quán tiêu dùng của dân cư, chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội

1.2.3 Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại Trên phạm vi rộng hơn

đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (là biểu hiện cụ thể của quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có các loại sau:

Trang 24

- Nguồn tài trợ phát triển chính thức: (ODF- Official Development Fianance) bao gồm nguồn Viện trợ phát triển chính thức (ODA- Official Development Assistance) và các hình thức tài trợ khác Trong ODF thì ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu

Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển So với các hình thức tài trợ khác ODA mang tính ưu đãi cao như: Ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay dài, khối lượng vốn vay lớn, bao giờ trong ODA cũng có yếu tố không hoàn lại (còn gọi là thành tố tài trợ) đạt ít nhất 25% ODA thường đi kèm với các ràng buộc về chính trị, xã hội tương đối khắt khe, đặc biệt là tính hiệu quả của nguồn vốn Nguồn vốn ODA chủ yếu dành hỗ trợ các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo

- Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế: Điều kiện

ưu đãi của loại vốn này không dễ dàng như đối với nguồn vốn ODA và nó cũng không gắn với các ràng buộc về chính trị, xã hội Nhưng thủ tục vay vốn tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, lãi suất cao lại là trở ngại với các nước nghèo Do đó nó được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn

- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Directed Investment): Là vốn của các doanh nghiệp, các cá nhân người nước ngoài đầu

tư sang các nước khác và trực tiếp quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn

bỏ ra Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các nước nghèo mà kể cả các nước công nghiệp phát triển Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không làm phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần

Trang 25

lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên

nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn Vì vậy nguồn vốn này có vai trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở các nước nhận đầu tư

- Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hóa, mối liên kết ngày càng tăng của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc tế đã tạo nên vẻ đa dạng về các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu Thực tế cho thấy, trong vòng 30 năm qua tất cả các nguồn vốn đều có sự gia tăng về khối lượng Ở CHDCND Lào, để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững nhằm mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhà nước rất coi trọng và huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân Trong đó, nguồn vốn huy động qua thị trường vốn cũng được Chính phủ quan tâm, các đề án cũng đã và đang được triển khai Nhưng để phát hành trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế Lào phải nghiên cứu

kỹ, lựa chọn loại hình trái phiếu phát hành, thời gian đáo hạn, số lượng và thị trường phát hành Bên cạnh đó cần cân nhắc giữa việc huy động vốn qua phát hành trái phiếu và vay nợ qua hệ thống ngân hàng và xây dựng kế hoạch để việc sử dụng vốn có hiệu quả

1.2.4 Mối quan hệ tác động qua lại giữa hai loại nguồn vốn

Trong sự nghiệp phát triển của đất nước, Lào không thể chỉ dựa vào nội lực, bởi trong thời điểm hiện tại, nội lực của Lào còn yếu, không đủ để tạo sức bật đưa Lào nhanh ra khỏi tình trạng nghèo và lạc hậu Ngoại lực – nguồn vốn đầu tư nước ngoài – là chất xúc tác quan trọng, giúp tạo lực đẩy cho nền kinh tế và giúp nội lực phát huy hiệu quả

Trang 26

Giữa nguồn vốn trong nước và nước ngoài tồn tại một mối quan hệ hữu

cơ chặt chẽ Chúng tác động qua lại lẫn nhau, kích thích lẫn nhau tạo ra sức mạnh to lớn cho sự phát triển của mỗi quốc gia Điều quan trọng là chúng ta phải tìm hiểu kỹ về mối quan hệ này, từ đó tạo điều kiện cho nó phát huy mau chóng tác dụng và hạn chế những khiếm khuyết nếu có

Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định

Chúng ta phải xem xét vị trí của nguồn vốn trong nước trong tăng trưởng và phát triển kinh tế , vậy nguồn vốn này giữ vai trò quyết định như thế nào?

Trước tiên, cần phải khẳng định mọi nền kinh tế muốn phát triển bền vững và lâu dài thì phải dựa vào nội lực khả năng sẵn có của nền kinh tế bởi các nguồn vốn từ bên ngoài mặc dù có vai trò quan trọng là “cú kích” để đẩy nền kinh tế đi lên nhưng không phải là nhân tố quyết định nếu nền kinh tế đó không có nội lực sẵn có của mình thì mọi sự tác động sẽ trở thành vô nghĩa

Thứ nhất, Nguồn vốn trong nước thể hiện vai trò quan trọng của mình

thông qua đóng góp vào GDP toàn xã hội từ các đơn vị sử dụng vốn trong nước, trong đó có các doanh nghiệp của nhà nước , các doanh nghịêp tư nhân

Tỉ trọng đóng góp vào GDP của nguồn vốn trong nước là rất lớn, chiếm xấp

xỉ 2/3 GDP và đặc biệt trong đó các doanh nghiệp tư nhân luôn dẫn đầu trong

cơ cấu GDP của xã hội , vào khoảng gần một nửa tổng GDP chủ yếu trong công nghiệp xây dựng và dịch vụ

Thứ hai, nguồn vốn trong nước phân bổ cho các doanh nghiệp nhà

nước giữ vai trò chủ đạo giúp cân bằng hàng hoá của nền kinh tế qua việc nắm giữ một số ngành quan trọng như điện xi măng , dầu khí , nắm giữ một lượng vốn khá lớn của nền kinh tế Ngoài ra, chỉ có thông qua nguồn vốn nhà nước mới có thể đầu tư vào các công trình, các ngành kinh tế phục vụ cho mục đích công cộng cũng như để thực hiện vai trò của nhà nước trong việc

Trang 27

giải quyết các thất bại của thị trường Nguồn vốn nhà nước này sẽ được đầu tư tập trung vào những ngành được xác định là có tầm quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước cùng với việc thực hiện các mục tiêu phát triển khác của đất nước

Thứ ba, nguồn vốn trong nước có tác dụng đi trước một bước, mở

đường tạo điều kiện thu hút và đón nhận nguồn vốn đầu tư nước ngoài

Cơ sở hạ tầng luôn là điều kiện thiết yếu cho sự phát triển và cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn của nhà nước đóng vai trò chủ chốt là nguồn vốn mà thông qua việc thiết lập và nâng cấp mạng lưới giao thông, mạng lưới điện, nước… Những cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển tạo bước

đi mở đầu, tiên quyết trong việc giới thiệu và quảng bá tiềm năng của mỗi vùng ngành

Không những thế, hoạt động đầu tư từ nguồn vốn trong nước được tiến hành một cách có hiệu quả của chính doanh nghiệp trong nước cũng là dấu hiệu đáng tin cậy khiến các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn và dễ dàng hơn trong việc ra quyết định đầu tư

Ngược lại, các dự án đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại mỗi vùng, miền, khu vực, ngành luôn yêu cầu một mạng lưới cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng mềm (môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh…) phù hợp và thuận lợi Chính những yêu cầu đó đặt ra cho chúng ta những đòi hỏi cấp bách liên tục đó phải đổi mới, nâng cấp tốt hơn nữa cơ sở hạ tầng mềm và cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên phạm vi cả nước, tạo điều kiện thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài và nhiều dự án lớn có tác dụng tích cực ở quy mô lớn trong thời gian dài

Thứ tư, sự lớn mạnh về quy mô và ổn định nguồn lực vốn trong nước

có thể giúp nền kinh tế chống đỡ lại những cú sốc từ bên ngoài Một nguyên nhân quan trong của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 đó là sự lệ thuộc

Trang 28

quá nhiều vào đồng vốn nước ngoài dẫn đến sự sụp đổ dây chuyền giữa các quốc gia Từ cuộc khủng hoảng đó huyễn hoặc về một thị trường tài chính dồi dào, ổn định thường xuyên đáp ứng nhu cầu vốn đã tan biến

Thứ năm, một sự phát triển toàn diện và bền vững đòi hỏi một cơ cấu

vốn đầu tư trong nước-nước ngoài cũng như cơ cấu đầu tư theo vùng ngành hợp lý Ngoài nguồn vốn ODA chủ yếu dành cho việc hỗ trợ cán cân thanh toán, thu chi ngân sách nhà nước và xây dựng cơ sở hạ tầng, nguồn vốn đầu

tư nước ngoài chảy vào Lào chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, do đó chúng ta chỉ được tập trung chủ yếu vào những vùng có nhiều thuận lợi và những ngành mang lại lợi nhuận nhanh, nhiều Vậy còn những vùng lạc hậu, nghèo tài nguyên, những ngành kém phát triển thì sao? Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện, không lệch lạc đòi hỏi nguồn vốn trong nước phải phát huy thúc đẩy các khu vực này giúp cho nền kinh tế phát triển đồng đều, tránh thiếu lệch không cân đối

Thứ sáu, nguồn vốn nước ngoài là một nguồn vốn quan trọng đang có

tác động tạo nên “cú kích” cho nền kinh tế Nhưng việc tiếp nhận và sử dụng

có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài là vấn đề quan trọng Một số vốn đối ứng phù hợp là điều kiện tiên quyết để tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài một cách có triệt để và có hiệu quả Số vốn đối ứng này sẽ được huy động từ chính nguồn vốn trong nước

Vốn nước ngoài giữ vai trò quan trọng

Muốn tăng trưởng kinh tế nhanh chóng thì cần một tỷ lệ đầu tư toàn xã hội rất cao Nguồn vốn trong nước chỉ đáp ứng được một phần nên vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng Đặc biệt ở các nước đang phát triển và kém phát triển thì một trong những đặc trưng và nguyên nhân của nghèo đói

là thiếu vốn Vậy ở những nước này thì nguồn vốn nước ngoài càng giữ vị trí quan trọng, là động lực giúp cho các nước này bắt đầu quá trình “cất cánh”

Trang 29

Không những chỉ là nguồn bổ sung đơn thuần, các nguồn vốn nước ngoài còn

có các tác động ảnh hưởng ngược trở lại đến nguồn vốn trong nước

Vốn nước ngoài thúc đẩy quá trình sử dụng vốn ở nội địa linh hoạt và hiệu quả hơn

- Thông qua kênh cạnh tranh: Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ biến thị trường trong nước trở thành một nơi có tính cạnh tranh mạnh mẽ Thông thường khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước sở tại, họ thường chọn những nơi có cơ sở hạ tầng tốt, sử dụng tối đa công suất của chúng, kích thích nguồn vốn trong lĩnh vực này hoạt động có hiệu quả hơn Các doanh nghiệp trong nước trước sức ép cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài sẻ phải

tự đổi mới để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

- Thông qua kênh sao chép và học hỏi: Các doanh nghiệp nước ngoài khi sang sẽ mang theo các công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất kinh doanh tiên tiến Thông qua các quá trình tương tác trong hoạt động, các doanh nghiệp trong nước có thể học hỏi và sao chép những kinh nghiệm của nước ngoài để tự mình hoạt động có hiệu quả hơn Đó có thể là các kinh nghiệm về quản lý, tổ chức sản xuất hay cải thiện trình độ công nghệ Khi công nghệ của nước ngoài đã cũ, họ có thể chuyển giao sang cho nước sở tại, cũng làm tăng tiềm lực công nghệ của nước sở tại

- Thông qua kênh liên kết sản xuất: Các doanh nghiệp nước ngoài có thể thiết lập nên các liên doanh với doanh nghiệp trong nước, cải thiện khả sử dụng vốn của các đối tác trong nước Các doanh nghiệp trong nước muốn làm

ăn với nước ngoài thì cần phải đảm bảo các tiêu chuẩn về độ tin cậy, chất lượng và tốc độ giao hàng Ngoài ra thì sự năng động của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ kéo theo các ngành sản xuất trong nước và vận tải nội địa hoạt động mạnh hơn nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp nước ngoài còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong

Trang 30

nước tiếp cận với thị trường thế giới, giúp nước nhận mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và là cầu nối trung gian giúp cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu vươn ra thịt trường bên ngoài

- Thông qua kênh di chuyển lao động (nhân lực): Các nhà đầu tư tiến hành tuyển dụng lao động ở nước sở tại và đào tạo họ để đáp ứng các yêu cầu công việc Họ đào tạo từ công nhân cho tới cán bộ quản lý Khi có sự luân chuyển lao động thì những kỹ năng lao động hữu ích này sẽ lan ra toàn bộ nền kinh tế và làm tăng năng lực của người lao động ở nước sở tại

Tất cả các kênh trên sẽ tác động đồng thời làm tăng năng suất lao động của nước sở tại Các nguồn vốn sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả hơn

Vốn nước ngoài cũng làm hoàn thiện thị trường tài chính trong nước và tăng khả năng cạnh tranh, hiệu quả của thị trường tài chính Trong đó tác động mạnh mẽ nhất là lên TTCK Vốn đầu tư nước ngoài vào cổ phiếu trong nước giúp giảm chi phí vốn ở nước sở tại và đa dạng hóa rủi ro Sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài còn tạo áp lực cải thiện thể chế và chính sách trong nước Các nhà đầu tư đi kèm là các công ty đánh giá mức độ tín nhiệm

sẽ cải thiện chất lượng thông tin và nhờ đó tăng tính hiệu quả của TTCK Cơ chế cáo bạch sẽ tăng lên và giúp nước sở tại phát triển các dịch vụ về kế toán, kiểm toán, dịch vụ môi giới và kinh doanh chứng khoán Ngoài ra sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài cũng giúp thị trường vốn nước sở tại từng bước hội nhập với thị trường vốn toàn cầu

Tuy nhiên, việc lạm dụng quá nhiều vốn nước ngoài có thể dẫn đến tác động tiêu cực có thể dẫn đến rối loạn nền kinh tế

Một là, việc sử dụng quá nhiều vốn đầu tư nước ngoài sẽ làm cho nguồn

vốn trong nước bị phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài Nếu tổng số vốn FDI

mà lớn hơn 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì các công ty nước ngoài sẽ chi phối các hoạt động kinh tế làm ảnh hưởng tới tính tự chủ của nước sở tại Vay

Trang 31

nợ quá nhiều sẽ là gánh nặng cho ngân sách quốc gia trong hiện tại và tương lai Qua thống kê số liệu trên thế giới thì tỷ lệ tối đa là 40% GDP

Hai là, quá nhiều vốn đầu tư nước ngoài rót vào một quốc gia sẽ tạo ra

một môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt, bởi vì các nhà đầu tư nước ngoài đều muốn chạy đua để khuếch trương sức mạnh của mình Vì vậy với những nền kinh tế chưa đủ mạnh thì sản xuất trong nước rất dễ bị lấn át và đầu tư trong nước sẽ sụt giảm

Ba là, Các quốc gia nhận vốn nước ngoài dễ rơi vào tình trạng thâm hụt

cán cân thanh toán do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm, chuyển lợi nhuận về nước bằng ngoại tệ làm cho cán cân thanh toán bị ảnh hưởng Do vậy cần khuyến khích các nhà đầu tư hướng vào xuất khẩu và tái đầu tư tại thị trường nội địa

Bốn là, những nước chậm phát triển dễ rơi vào tình trạng nhập khẩu

thiết bị lạc hậu do chưa đủ trình độ kiểm tra và thẩm định phần giá trị sử dụng còn lại của thiết bị Do vậy có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng vốn trong nước

Năm là, hệ thống tài chính và môi trường kinh tế vĩ mô của các nước

đang phát triển thường không đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài và hạn chế rủi ro khi có sự cố Nền kinh tế chịu tác động mạnh hơn từ các tác động bên ngoài Nguy cơ di chuyển vốn ra nước ngoài do các nhà đầu

tư nước ngoài bị mất niềm tin lôi kéo theo cả các nhà đầu tư trong nước theo hiệu ứng tâm lý bầy đàn (herding behavior)

Sáu là, ODA có tác động tới nền kinh tế của nước nhận viện trợ không

chỉ là một chiều Trên thực tế, việc xuất hiện một nguồn vốn từ bên ngoài với những ràng buộc kèm theo có thể gây bất ổn cho cho nền kinh tế vĩ mô Tất

cả các nước nhận viện trợ đều phải đối mặt với nguy cơ lạm phát khi sử dụng ODA Thứ nhất, dòng ODA đổ vào các nước nhận viện trợ phải được đổi

Trang 32

thành hàng hóa và dịch vụ trong nước, làm tăng tổng cầu, đặc biệt là tổng cầu của khối kinh tế công cộng và chính phủ Tổng cầu đẩy giá tăng lên Sau nữa, đồng ODA ngoại tệ cần được đổi ra nội tệ để mua hàng hóa trong nước Việc này làm cho cơ sở tiền tệ tăng lên Cả hai quá trình trên đều không thể tránh khỏi Lạm phát do ODA gây ra sẽ làm tăng các chi phí sản xuất và có thể dẫn đến suy giảm vốn đầu tư trong nước

Một nghiên cứu khác cũng cho thấy ODA có thể làm giảm hiệu quả của vốn đầu tư trong nước thông qua tác động làm tăng chỉ số ICOR Nguyên nhân của việc này có thể là do các nhà tài trợ ODA thường thích những dự án lớn, mức đầu tư cao và chậm hoàn vốn Dự án viện trợ có thể đạt được hiệu quả vĩ mô, song cũng có thể làm mất cân bằng vi mô, dẫn đến giảm hiệu quả hoạt động của ngành, của khu vực và nền kinh tế

1.3 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển

Hoạt động đầu tư phát triển gồm có nhiều nội dung, tùy theo cách tiếp cận

- Theo lĩnh vực phát huy tác dụng thì đầu tư phát triển gồn có các nội dung như : đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng - kỹ thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hóa giáo dục, y tế và dịch

vụ xã hội khác Đây là căn cứ để xác định qui mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả

và hiệu quả hoạt động cho từng ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân

- Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư tài sản hữu hình(tài sản thực) và đầu tư phát triển tài sản vô hình(đầu tư vào nghiên cứu triển khai, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…)

Theo đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh nghiệp, loại đầu tư này bao gồm các hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tong vốn đầu tư phát triển của một đơn vị nào đó

Trang 33

- Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ Hàng tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn

bộ nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh nghiệp

- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế và các đơn vị kinh doanh Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm đầu tư cho hoạt động đào tạo đội ngũ lao động; đầu

tư cho công tác chăm sóc sức khỏe; đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện làm việc của người lao động…

- Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư nghiên cứu hoặc mua công nghệ Đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao

- Đầu tư cho hoạt động marketing Đầu tư cho hoạt động marketing gồm có đầu tư cho quảng cáo, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu…

về chi phí cho hoạt động đầu tư này phải chiếm tỷ trọng hợp lý trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp

- Bắt đầu từ quá trình hình thành và thực hiện đầu tư, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư, đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư và đầu tư trong giai đoạn vận hành các kết quả Và nội dung đầu tư phát triển trong mỗi giai đoạn lại bao gồm nhiều nội dung chi tiết khác nhau

1.4 Nội dung quản lý Nhà nước về đầu tư phát triển kinh tế

Có một số cách phân loại QLNN đối với hoạt động đầu tư phát triển kinh tế như phân loại theo giai đoạn của quá trình quản lý (mà QLNN có các nội dung: định hướng đầu tư, tổ chức - điều hành hoạt động đầu tư, kiểm tra

và điều chỉnh các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế trong địa bàn tỉnh của chính quyền cấp tỉnh); phân loại theo định hướng tác động (gồm: tạo lập môi trường và điều kiện cho hoạt động đầu tư phát triển kinh tế như: hỗ trợ đầu tư,

Trang 34

bảo đảm quyền lợi cho các nhà đầu tư, tạo lập môi trường đầu tư…) hay phân loại theo yếu tố và lĩnh vực mới, QLNN về đầu tư phát triển kinh tế gồm: Quản lý đầu tư theo các dự án đầu tư, quản lý đầu tư theo các lĩnh vực ngành nghề kinh tế, Quản lý đầu tư trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, tài nguyên môi trường …

Trong phần này luận án phân tích sâu QLNN về đầu tư phát triển kinh

tế của chính quyền cấp tỉnh với một số nội dung chủ yếu sau:

1.4.1 Định hướng đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương

Định hướng đầu tư phát triển kinh tế là xác định trước: hướng mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp thu hút đầu tư ở địa phương trong khoảng thời gian nhất định (thường là dài từ 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa)

Định hướng đầu tư là một chức năng QLNN về kinh tế cơ bản, chất lượng của định hướng sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện các chức năng khác và quyết định sự thành công của QLNN về đầu tư phát triển kinh tế

Để thực hiện chức năng định hướng phải thông qua các công tác: Xác định các mục tiêu chiến lược về đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương; xây dựng các quy hoạch đầu tư; xây dựng các kế hoạch và chương trình đầu tư; xây dựng các chính sách đầu tư phát triển kinh tế

Các công tác trên liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi công tác có vị trí nhất định trong nhiệm vụ định hướng đầu tư phát triển kinh tế Trong đó, việc xây dựng mục tiêu chiến lược và chính sách là những bộ phận quan trọng nhất và có tính quyết định nhất

Mục tiêu chiến lược về đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn một địa phương quyết định những phương hướng đầu tư phát triển kinh tế lâu dài, bao gồm: Hệ thống các quan điểm đầu tư; các hướng đầu tư, các mục tiêu đầu tư, các nhiệm vụ và chính sách đầu tư lớn cần thực hiện

Các quan điểm quản lý nhà nước về đầu tư phát triển kinh tế là các tư

Trang 35

tưởng chỉ đạo xuyên suốt từ việc xác định hướng và mục tiêu, đến việc xác định các nhiệm vụ và chính sách

1.4.2 Tạo lập khuôn khổ pháp luật thuận lợi cho đầu tư phát triển kinh tế

ở địa phương

Theo chức năng này, để quản lý nhà nước về đầu tư phát triển kinh tế tại địa phương, chính quyền địa phương cần chỉ đạo thực hiện nghiêm túc luật pháp, chính sách của trung ương ban hành có hiệu quả ở địa phương mình (nghiên cứu đặc điểm, hoàn cảnh địa phương, ra văn bản hướng dẫn, tổ chức thực thi, kiểm tra, uốn nắn lệch lạc, đánh giá kết quả thực thi chính sách ) ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương xuất phát từ yêu cầu quản lý đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương, nhưng không trái với luật pháp của Nhà nước Mục đích là thiết lập môi trường luật pháp đưa các hoạt động đầu tư phát triển kinh tế vào khuôn khổ, và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư phát triển kinh tế có hiệu quả Sở hữu và lợi ích là các mối quan tâm hàng đầu của các chủ thể tham gia đầu tư phát triển kinh tế Pháp luật thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các vấn đề đó Cho nên môi trường pháp lý ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư phát triển kinh tế Luật pháp tác động đến các chủ thể thông qua các vấn đề sau: pháp luật xác định vị trí pháp lý của các chủ thể kinh tế trong ngành (tổ chức hoặc cá nhân) Thí dụ đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều

đó được thể hiện ở nhiều chủ trương, chính sách đã được thể chế hoá Luật Doanh nghiệp đều thừa nhận sự phát triển lâu dài, sự bình đẳng và lợi ích của các thành phần trên trước pháp luật Luật pháp tạo ra luật chơi bình đẳng cho các chủ thể kinh tế tham gia đầu tư Thông qua các chính sách đã luật hoá, Nhà nước khuyến khích các chủ thể kinh tế đầu tư phát triển kinh doanh theo đúng hướng của mục tiêu chiến lược, quy hoạch đã xác định; hạn chế các mặt tiêu cực có hại cho sự phát triển kinh tế (các hiện tượng xâm hại đến môi

Trang 36

trường sinh thái, các tệ nạn xã hội )

1.4.3 Tổ chức chỉ đạo, điều hành hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương

Chức năng tổ chức và điều hành nền kinh tế của Nhà nước có 3 nội dung chủ yếu:

- Tổ chức hệ thống đối tượng quản lý

- Tổ chức và điều hành hệ thống chủ thể quản lý

- Vận hành chủ thể và đối tượng quản lý

Chức năng tổ chức và điều hành nền kinh tế của Nhà nước là chức năng quan trọng, then chốt trong tiến trình QLNN Nếu thực hiện được tốt chức năng này sẽ huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế; tạo ra sự thống nhất, kỷ cương do đó tạo nên sức mạnh tổng hợp; tạo ra động lực phát triển

1.4.4 Kiểm tra, kiểm soát và điều chỉnh hoạt động đầu tư phát triển kinh

tế ở địa phương

Nội dung này bao gồm tổng thể các hoạt động của Nhà nước nhằm phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc đổ vỡ những khó khăn, cũng như tài chính, những cơ hội để thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế ở địa phương phát triển mạnh mẽ và đúng hướng Thực chất là thực hiện nhiệm vụ phản hồi, và

dự báo Hệ thống kiểm soát phản hồi chủ yếu kiểm soát những kết quả đầu ra

để phát hiện sai lệch so với chuẩn mực đã được xác định (như chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển kinh tế đã được các cơ quan có trách nhiệm thông qua; các chính sách phát triển kinh tế của trung ương, của địa phương; các quy định luật pháp…) để khắc phục phát huy ở giai đoạn kế tiếp Hệ thống kiểm soát, dự báo kiểm soát các yếu tố đầu vào, đánh giá khả năng, dự báo xu hướng đầu tư, lường trước kết quả đầu ra nhằm có những can thiệp trước, kịp thời

Trang 37

1.5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu đầu tư phát triển kinh tế địa phương

Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và sự gia tăng

mức thu nhập bình quân trên đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế địa phương

Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức

phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được và sự thay đổi chung của quốc gia được thể hiện ở địa phương như thế nào

Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội của địa

phương Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xóa bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên của tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ giáo dục… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự biến đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

1.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động đầu tư phát triển kinh tế địa phương

Kết quả đầu tư phát triển kinh tế được thể hiện ở hệ thống các chỉ tiêu về

số lượng và giá trị Đối với mỗi nội dung đầu tư phát triển kinh tế, chúng ta sẽ

có chỉ tiêu số lượng tương ứng, ví dụ, đầu tư phát triển giao thông đường bộ thì chỉ tiêu số km đường cấp I, II,… Để có chỉ tiêu đánh giá chung các kết quả đầu tư thì cần chuyển sang đơn vị giá trị Hai chỉ tiêu được đề cập nhiều là khối lượng vốn đầu tư thực hiện và tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất dịch vụ tăng thêm

Trang 38

a) Khối lượng vốn đầu tư thực hiện

Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của các công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây dựng, chi phí cho công tác mua sắm và lắp đặt thiết bị, chi phí quản lý và chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong dự án đầu tư được phê duyệt

- Chi phí xây dựng bao gồm: Chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình; chi phí phá, tháo dỡ các vật kiến trúc cũ; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí xây dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công

- Chi phí mua sắm và lắp đặt công trình bao gồm: Chi phí mua sắm thiết

bị, công nghệ, chi phí đào tạo chuyển giao công nghệ; chi phí vận chuyển từ nơi mua đến công trình, lưu kho, lưu bãi, bảo quản, bảo dưỡng ; thuế và chi phí bảo hiểm thiết bị công trình, chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh

- Chi phí quản lý dự án và chi phí khác bao gồm: Chi phí quản lý chung của dự án, chi tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng; chi thẩm định, thẩm tra thiết kế, tổng dự toán, dự toán xây dựng công trình; chi lập hồ sơ mời thầu, giám sát và chi khác

- Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm: Chi phí lập nhiệm vụ xây dựng; chi phí khảo sát xây dựng; chi phí lập báo cáo đầu tư; lập dự án hoặc lập kinh tế - kỹ thuật; chi phí thẩm tra tính hiệu quả và tính khả thi của dự án; chi phí thi tuyền, tuyển chọn thiết kế kiến trúc; chi phí thiết kế xây dựng công trình; chi phí thẩm tra các thiết kế; kỹ thuật chi phí lập các hồ sơ yêu cầu; giám sát thi công xây dựng, giám sát lắp đặt thiết bị…

- Chi phí khác bao gồm: chi phí rà phá vật nổ; chi phí bảo hiểm công trình; chi phí di chuyển thiết bị thi công và lực lượng lao động đến công trường; chi phí đăng kiểm chất lượng quốc tế; chi phí đảm bảo an toàn giao

Trang 39

thông; chi phí hoàn trả hạ tầng kỹ thuật bị ảnh hưởng; chi phí kiểm toán thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư; chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ; vốn lao động ban đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh

doanh…[16]

b) Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm

Tài sản cố định huy động lả công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm hàng hóa hoặc tiến hành các hoạt động xã hội đã được ghi trong dự án đầu tư) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đưa vào hoạt động được ngay

Cần phân biệt các trường hợp: Huy động bộ phận và huy động toàn bộ Huy động bộ phận là việc huy động từng đối tượng, từng hạng mục xây dựng của công trình vào hoạt động ở những thời điểm khác nhau do thiết kế quy định

Huy động toàn bộ là huy động cùng một lúc tất cả các đối tượng, hạng mục xây dựng không có khả năng phát huy tác dụng độc lập hoặc dự án không dự kiến cho phát huy tác dụng độc lập đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm và sẵn sàng sử dụng ngay

Hình thức huy động bộ phận thường được áp dụng đối với các công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng, hạng mục xây dựng có khả năng phát huy t.ác dụng độc lập sau khi từng đối tượng, hạng mục đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, lắp đặt Hình thức huy động toàn bộ được áp dụng cho những công cuộc đầu tư quy mô nhỏ khi tất cả các đối tượng, hạng mục

đã hoàn thành

Các tài sản cố định được huy động là kết quả đạt được trực tiếp của quá trình thi công xây dựng công trình, chúng có thể được biểu hiện bằng hiện vật hoặc bằng giá trị Chỉ tiêu biểu hiện bằng hiện vật là số lượng các tài sản cố định được huy động như số lượng nhà ở, bệnh viện, cửa hàng chỉ tiêu biểu

Trang 40

hiện bằng giá trị là giá trị các tài sản cố định được huy động Chúng được tính theo giá trị dự toán hoặc giá trị thực tế, tùy thuộc vào mục đích sử dụng trong công tác nghiên cứu kinh tế hoặc quản lý hoạt động đầu tư Cụ thể giá trị dự toán được sử dụng làm cơ sở để tính toán giá trị thực tế của tài sản cố định, lập kế hoạch về vốn đầu tư và tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện, là cơ sở tiến hành thanh quyết toán giữa chủ đầu tư và đơn vị nhận thầu Giá trị thực tế của các tài sản cố định huy động được sử dụng để kiểm tra việc thực hiện kỷ luật tài chính, dự toán đối với các công cuộc đầu tư từ nguồn ngân sách cấp để ghi vào bảng cân đối tài sản cố định, là cơ sở để tính khấu hao hàng năm phục

vụ công tác hạch toán kinh tế

Sử dụng tiêu chí giá trị cho phép xác định toàn bộ khối lượng các tài sản cố định được huy động của tất cả các ngành, đánh giá tổng hợp tình hình thực hiện kế hoạch và sự biến động của chỉ tiêu này ở mọi cấp độ quản lý khác nhau

Chỉ tiêu giá trị các tài sản cố định được huy động được xác định theo công thức sau:

F = IVb + IVr – C - IVe (1.4) Trong đó:

F: Giá trị các tài sản cố định được huy động trong kỳ

IVb: Vốn đầu tư được thực hiện ở các kỳ trước chưa được huy động chuyển sang kỳ nghiên cứu (xây dựng dở dang đầu kỳ)

IVr: Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ nghiên cứu

C: Chi phí trong kỳ không tính vào giá trị tài sản cố định (đó là những khoản chi phí cho nguyên nhân khách quan làm thiệt hại được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép duyệt bỏ: bão, lụt )

IVe: Vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động chuyển sang kỳ sau (xây dựng dở dang cuối kỳ)

Ngày đăng: 14/05/2016, 16:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Quy mô và cơ cấu dân số dự báo năm 2010 và năm 2020 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.2 Quy mô và cơ cấu dân số dự báo năm 2010 và năm 2020 (Trang 55)
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô Viêng Chăn theo từng lĩnh - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô Viêng Chăn theo từng lĩnh (Trang 59)
Bảng 2.4: Cơ cấu tổng sản phẩm trong Thủ đô giai đoạn 2007-2011 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.4 Cơ cấu tổng sản phẩm trong Thủ đô giai đoạn 2007-2011 (Trang 59)
Bảng 2.5:  Vốn đầu tư phát triển kinh tế toàn xã hội Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.5 Vốn đầu tư phát triển kinh tế toàn xã hội Thủ đô Viêng Chăn (Trang 60)
Bảng 2.8: Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn của Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.8 Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn của Thủ đô Viêng Chăn (Trang 63)
Bảng 2.10: Số lượng nhà máy và cơ sở chế biến gỗ Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.10 Số lượng nhà máy và cơ sở chế biến gỗ Thủ đô Viêng Chăn (Trang 68)
Bảng 2.12: Sản lượng khai thác đến 2010 và dự báo đến 2020 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.12 Sản lượng khai thác đến 2010 và dự báo đến 2020 (Trang 71)
Bảng 2.13: GDP và vốn đầu tư cho du lịch Viêng Chăn đến 2010 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.13 GDP và vốn đầu tư cho du lịch Viêng Chăn đến 2010 (Trang 84)
Bảng 2.14:  Cơ cấu GDP của Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2007-2011 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.14 Cơ cấu GDP của Thủ đô Viêng Chăn giai đoạn 2007-2011 (Trang 98)
Bảng 2.15: Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế của Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.15 Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế của Thủ đô Viêng Chăn (Trang 99)
Bảng 2.16: Tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.16 Tốc độ tăng trưởng GDP của Thủ đô Viêng Chăn (Trang 100)
Bảng 2.19: Giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.19 Giá trị sản xuất công nghiệp theo thành phần kinh tế (Trang 105)
Bảng 2.21: Quy mô lao động Thủ đô Viêng Chăn - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.21 Quy mô lao động Thủ đô Viêng Chăn (Trang 107)
Bảng 2.23: Danh sách các nước có nhiều cải thiện trong HDI năm 2010 - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 2.23 Danh sách các nước có nhiều cải thiện trong HDI năm 2010 (Trang 111)
Bảng 3.1: Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế trong những năm tới - Đầu tư phát triển kinh tế thủ đô viêng chăn giai đoạn 2007 2011 và tầm nhìn đến năm 2020
Bảng 3.1 Nhu cầu vốn đầu tư phát triển kinh tế trong những năm tới (Trang 149)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w