1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUÍ I DỰ BÁO LÃI SUẤT, TỶ GIÁ CÁC QUÝ NĂM 2015

34 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá tác động của kịch bản chính sách giảm lãi suất cho vay và phá giá tiền đồng tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam .... Tác động của USD lên

Trang 1

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUÍ I

DỰ BÁO LÃI SUẤT, TỶ GIÁ CÁC QUÝ NĂM 2015

 Tình hình chính sách tài khóa, tiền tệ tại một số nước chủ chốt của thế giới

 Phân tích tác động của các chính sách tới chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam

 Dự báo xu hướng thực thi chính sách lãi suất, tỷ giá các quý còn lại năm 2015

Ban Thống kê và Dự báo Kinh tế

Tầng 17, số 18 Trần Hữu Dực, Từ Liêm, Hà Nội

Tel: 04.3.8 313 971 Fax: 04.3.8 314 074

Email : huongtrinhthithu@agribank.com.vn

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

I Khái quát tình hình thị trường tài chính tiền tệ thế giới quý I/2015 3

1 Kinh tế thế giới quý I/2015 và tình hình thực thi chính sách tài khóa và tiền tệ một số nước, khu vực chủ chốt của thế giới 3

2 Biến động các đồng tiền chính trên thế giới 7

II Khái quát tình hình thực thi chính sách tài chính tiền tệ trong nước 10

1 Tình hình kinh tế trong nước quý I/2015 10

2 Thị trường tài chính tiền tệ trong nước 10

III Phân tích đánh giá các chính sách tài khóa và tiền tệ đang được thực hiện tại Việt Nam 16

1 Chính sách tài khóa 16

2 Chính sách tiền tệ 17

IV Dự báo xu hướng thực thi chính sách lãi suất tỷ giá thời gian tới 28

1 Dự báo nền kinh tế thế giới 28

2 Đánh giá tác động của kịch bản chính sách giảm lãi suất cho vay và phá giá tiền đồng tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 30

3 Tác động của USD lên giá so với các ngoại tệ mạnh trên thế giới tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và lĩnh vực tài chính ngân hàng Việt Nam 31

 Phụ lục 1: Các giả định dự báo đến tháng 2/2015 cho Mô hình NiGEM 34

Trang 3

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

VÀ DỰ BÁO LÃI SUẤT, TỶ GIÁ ĐÁNH GIÁ QUÝ I

VÀ DỰ BÁO CÁC QUÝ CÒN LẠI NĂM 2015”

I KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH TIỀN TỆ THẾ GIỚI QUÝ I/2015

1 Kinh tế thế giới quý I/2015 và tình hình thực thi chính sách tài khóa

và tiền tệ một số nước, khu vực chủ chốt của thế giới

Những số liệu kinh tế khả quan của các nước/khu vực kinh tế trên thế giới trong quý I/2015 đã cho thấy những nỗ lực chính sách và hợp tác giữa các nền kinh tế để tháo gỡ những khó khăn về tài chính dần dần phát huy hiệu quả nhất định

1.1 Kinh tế Mỹ

Kinh tế Mỹ quý I/2015 phục hồi tăng trưởng mạnh Chỉ số quản lý sức mua (PMI) trong lĩnh vực chế tác và dịch vụ của Mỹ tiếp tục đạt mức trên 501 Thị trường việc làm tiếp tục cải thiện Số việc làm mới được tạo ra (trong lĩnh vực phi nông nghiệp) trong tháng 2/2015 là 295.000 người, khiến cho tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 5,5%2 Do giá dầu giảm mạnh, áp lực lạm phát của Mỹ tiếp tục giảm Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 1/2015 giảm 0,7% so với tháng trước (đã điều chỉnh mùa vụ) và giảm 0,1% so với cùng kỳ năm trước (không điều chỉnh mùa vụ) Trong các nhóm hàng hóa tiêu dùng, chỉ số giá đối với mặt hàng xăng giảm mạnh nhất, với mức giảm 18,7% so với tháng trước và 35,4% so với cùng kỳ năm trước

Chính sách tài khóa được nới lỏng do thâm hụt ngân sách của Mỹ đã giảm mạnh trong những năm gần đây Thâm hụt ngân sách trong năm tài khóa 2014 là

486 tỷ USD, tương đương 2,8% GDP, giảm mạnh từ mức 680 tỷ USD (tương đương 4,1% GDP) trong năm tài khóa trước3 và là mức thâm hụt trong tài khóa

2014 thấp nhất trong 6 năm cầm quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama4 Có

sự giảm mạnh như vậy là nhờ thu ngân sách tăng 8,6%, chủ yếu là thu thuế, trong khi mức chi tăng nhẹ 1,4% Năm 2015, mục tiêu ngân sách của Tổng

1 Mức điểm cho thấy sự mở rộng sản xuất

2 So với một năm trước, số lượng người thất nghiệp đã giảm 1,7 triệu người và tỷ lệ thất nghiệp giảm 1,2 điểm phần trăm

3 Theo số liệu tài khóa được công bố ngày 17/10 tại Mỹ

4 Thâm hụt ngân sách của Mỹ ở mức cao kỷ lục là 1.400 tỷ USD trong tài khóa 2009, do những nỗ lực đẩy lùi khủng hoảng tài chính, nhưng đã giảm dần trong những năm sau đó, khi nền kinh tế hồi phục giúp tăng nguồn thu và việc cấp ngân sách cho hoạt động của các cơ quan cũng bị hạn chế hơn

Trang 4

thống Mỹ Obama tập trung vào việc kích thích nền kinh tế

Đối với chính sách tiền tệ, từ sau suy thoái kinh tế 2008 -2009, Mỹ đã hạ lãi suất xuống gần 0% (0,25%) và bơm hàng nghìn tỷ USD để kích thích kinh tế Giờ đây, với tỷ lệ thất nghiệp giảm, Mỹ có khả năng sẽ tăng lãi suất ngắn hạn5trong thời gian tới, lần đầu tiên kể từ năm 2006 Tuy nhiên, kết quả của cuộc họp định kỳ của Ủy ban Thị trưởng mở liên bang (FOMC) thuộc FED đã quyết định vẫn chưa vội tăng lãi suất và vẫn duy trì mức lãi suất hiện tại Điều này cho thấy, FED vẫn lo ngại nguy cơ suy giảm của nền kinh tế Mỹ khi mức tăng lương

và lạm phát tại Mỹ vẫn thấp do giá dầu giảm và đồng USD mạnh lên khiến cho hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu rẻ đi

1.2 Khu vực châu Âu

Kinh tế khu vực châu Âu trong qúy I/2015 cũng cho thấy nhiều dấu hiệu khả quan Chỉ số PMI tổng hợp của khu vực Eurozone đã đạt mức cao nhất kể từ tháng 7/2014, ở mức 53,3 điểm trong tháng 2/2015, sau khi đã đạt mức 52,6 điểm trong tháng 1/2015, báo hiệu một sự mở rộng tăng trưởng kinh tế bền vững hơn của khu vực này6 Đặc biệt là, lần đầu tiên kể từ tháng 4/2014, sự mở rộng các hoạt động kinh tế được trải tương đối đều ở 4 nền kinh tế lớn nhất của khu

vực Eurozone, bao gồm Đức (với PMI đạt 53,8 điểm), Italia (51 điểm), Tây Ban

Nha (56 điểm) và Pháp (52,2 điểm) trong tháng 2/2015 Bên cạnh đó, hai nỗi lo lớn nhất của khu vực này là giảm phát và thất nghiệp cũng có tín hiệu cải thiện hơn Tỷ lệ lạm phát của khu vực Eurozone tháng 2/2015 là -0,3%, tăng 0,3% từ mức -0,6% của tháng 1/2015, trong khi đó của khu vực Eurozone là -0,2%, tăng

từ mức -0,5% của tháng 1/2015 Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực Eurozone tháng 1/2015 đạt 11,2% và là mức thấp nhất kể từ tháng 4/2012 so với mức 11,3% của tháng 12/2014 và 11,8% của cùng kỳ năm ngoái Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực châu Âu là 9,8% trong tháng 1/2015, giảm từ mức 9,9% trong tháng 12/2014 và mức 10,6% của cùng kỳ năm ngoái

Về tài khóa, ngân sách bớt căng thẳng kể từ năm 2014 đã khiến khu vực châu Âu bắt đầu nới lỏng dần tài khóa Bên cạnh đó, các kế hoạch kích thích kinh tế đã được các nền kinh tế thuộc khu vực này bắt đầu thực hiện Ngày 22/1/2015, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã công bố một chương trình nới lỏng định lượng (QE) trị giá ít nhất 1,1 ngàn tỷ EUR (tương đương 1,3 ngàn

tỷ USD) vào nền kinh tế Eurozone Theo đó, ECB sẽ triển khai chương trình

5 Hiện Mỹ có hai loại lãi suất Lãi suất cho vay dài hạn được thả nổi cho thị trường quyết định theo các tiêu chuẩn cung cầu, lãi suất trái phiếu và mức an toàn tức là khả năng đổi giấy nợ thành tiền mặt Lãi suất ngắn hạn do Cục dự trữ liên bang Mỹ(FED) quyết định Đây là lãi suất nền hay cơ bản, là cơ sở để các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính tính cho khách hàng của mình

6

Trang 5

mua tài sản (bao gồm các chứng khoán của cả khu vực công và khu vực tư nhân) với giá trị lên tới 60 tỷ EUR mỗi tháng Trong đó, tập trung chủ yếu vào trái phiếu chính phủ - loại tài sản lớn nhất và có tính thanh khoản cao nhất ở Eurozone Gói QE của châu Âu đã được bắt đầu triển khai từ ngày 9/3/2015 và

sẽ kéo dài cho tới tháng 9/2016 Cùng với quyết định tung ra gói kích thích kinh

tế, ECB đã giữ nguyên lãi suất cho vay ở mức thấp kỷ lục 0,05% bắt đầu được

áp dụng từ tháng 9/2014 và lãi suất tiền gửi ngân hàng qua đêm ở mức -0,2%, đồng nghĩa với việc các ngân hàng phải trả phí để gửi tiền tại ECB

1.3 Kinh tế Nhật Bản

Những số liệu kinh tế khả quan đưa ra trong quý I/2015 đã cho thấy kinh tế Nhật Bản dù thoát khỏi suy thoái nhưng vẫn thấp hơn dự kiến và tồn tại những thách thức Chỉ số PMI trong lĩnh vực chế tác tiếp tục trên 50 điểm trong 2 tháng đầu năm 2015 với con số lần lượt cụ thể là 52,2 (tháng 1/2015) và 51,6 điểm (tháng 2/2015) Tính đến tháng 1/2015, tỷ lệ lạm phát cơ bản tại Nhật Bản - chưa điều chỉnh theo tác động của đợt tăng thuế tiêu thụ hồi tháng 4 – đã giảm 0,2% do giá dầu giảm Cán cân thương mại của nước này tiếp tục thâm hụt nhưng ở mức thấp hơn khi xuất khẩu tăng nhờ chính sách hạ giá đồng Yên Thặng dư tài khoản vãng lai của nước này trong tháng 1/2015 đạt 61 tỷ Yên (tương đương 509 triệu USD), đánh dấu tháng thứ 7 liên tiếp đạt thặng dư, trong bối cảnh xuất khẩu tăng và đồng Yên giảm

Kinh tế còn nhiều khó khăn đã khiến Chính phủ Nhật Bản tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tài khóa và tiền tệ từ cuối năm 2014 đến nay Thủ tướng Shinzo Abe chính thức thông qua quyết định cắt giảm thuế doanh nghiệp nhằm thúc đẩy lợi nhuận của khối doanh nghiệp nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung Theo kế hoạch cải cách này, chính phủ Nhật Bản sẽ giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 32,1% kể từ tháng 4/2015 và tiếp tục xuống còn 31,3% trong năm 2016 Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản giới hạn quy mô chi tiêu chung vào khoảng 98 nghìn tỷ Yen trong năm tài khóa 2015 sau khi cắt giảm từ tổng ngân sách là 102,6 nghìn tỷ Yen thông qua cắt giảm chi phí an sinh

xã hội

Đối với chính sách tiền tệ, ngày 17/3/2015, BOJ Nhật Bản quyết định duy trì gói kích thích kỷ lục bất chấp rủi ro giảm phát Cụ thể, các nhà hoạch định chính sách Nhật Bản cam kết bơm khoảng 80 nghìn tỷ Yen (674 tỷ USD) vào nền kinh tế hàng năm thông qua chương trình mua trái phiếu chính phủ và các tài sản rủi ro khác

1.4 Kinh tế Trung Quốc

Kinh tế Trung Quốc có dấu hiệu phục hồi trong Quý I/2015 nhờ lĩnh vực

Trang 6

sản xuất và nhu cầu nội địa tăng mạnh Cụ thể, chỉ số PMI trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc (được điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ) tăng lên 50,7 điểm trong tháng 2/2015 từ mức 49,7 điểm của tháng 1/20157 và cũng là mức cao nhất trong 7 tháng qua Thặng dư thương mại Trung Quốc trong 2 tháng đầu năm

2015 đạt 737,4 tỷ NDT8 Tỷ lệ lạm phát tiêu dùng của Trung Quốc đã tăng mạnh trong tháng 2/2015, qua đó làm dịu những lo ngại về nguy cơ giảm phát tại nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này Chỉ số CPI tháng 2/2015 của Trung Quốc đã tăng 1,4% so với cùng kỳ năm ngoái, cao hơn mức dự đoán là 0,9% và cao hơn mức 0,8% của tháng 1/2015 Tuy nhiên, giá cả hàng hóa bán buôn tại Trung Quốc tháng 2/2105 lại giảm mạnh 4,8%, cao hơn mức dự đoán là 4,3% và cao hơn mức giảm 4,3% của tháng 1/2015

Tăng trưởng ở tốc độ chậm nhất hơn 20 năm qua đã khiến Chính phủ Trung Quốc từ năm 2014 tập trung nới lỏng mạnh tay chính sách tiền tệ có mục tiêu thay vì trên diện rộng Tính chung trong cả năm 2014, NHTW Trung Quốc đã bơm kỷ lục 99,4 tỷ nhân dân tệ vào nền kinh tế thông qua hoạt động cho vay lại

để giảm bớt chi phí huy động vốn cho doanh nghiệp, kích thích tăng trưởng kinh

tế Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đã liên tục hạ lãi suất cho vay cơ bản Cụ thể, Trung Quốc đã thực hiện đợt giảm lãi suất cho vay kỳ hạn 1 năm đầu tiên trong

2 năm vào tháng 11/2014 nhằm thúc đẩy hoạt động cho vay và kích thích tăng trưởng kinh tế Đến ngày 1/3/2015, NHTW Trung Quốc đã quyết định cắt giảm lãi suất lần thứ hai theo đó, cả lãi suất cho vay và tiền gửi giảm 0,25 điểm phần trăm Cụ thể, lãi suất cho vay sẽ là 5,35% còn lãi suất tiền gửi năm giảm xuống còn 2,5%

Ngoài ra, ngày 4/2/2014, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) quyết định giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) của các ngân hàng xuống còn 19,5% Động thái lần này tương đương với việc PBOC sẽ cho khối ngân hàng Trung Quốc vay đến khoảng 500 tỷ nhân dân tệ (81 tỷ USD)

1.5 Các nền kinh tế đang nổi

Các nền kinh tế đang nổi cũng cho thấy những diễn biến kinh tế khả quan Chỉ số phát triển kinh tế (EMI)9 đã tăng từ 51,2 điểm trong tháng 1 lên mức 51,9 điểm trong tháng 2/2015 Tuy nhiên, trong quý I/2015 khi lĩnh vực sản xuất tại khối thị trường đang nổi đang phục hồi với tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 8/2014 thì ngành dịch vụ lại ghi nhận tháng thứ 8 tăng trưởng thấp Trong 4 nền kinh tế đang nổi lớn nhất, Nga và Brazil vẫn là những nền kinh tế khó khăn nhất Sản

7 Theo báo cáo của HSBC

8 Tuy nhiên, Trung Quốc cũng nhận định, chỉ số này tăng là do các đơn hàng xuất khẩu của Trung Quốc có chiều hướng tăng mạnh trước khi người dân bước vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán

9

Trang 7

lượng sản xuất của khối doanh nghiệp tư nhận tại Nga giảm nhanh nhất trong gần 6 năm qua, trong khi sản lượng sản xuất tại Brazil cũng giảm lần thứ 9 trong vòng 10 tháng qua Bên cạnh đó, chi tiêu cho tiêu dùng giảm đã liên tục khiến nguy cơ giảm phát ở các nền kinh tế này cũng đang gia tăng

Từ cuối năm 2014 trở lại đây, các NHTW tại châu Á bắt đầu hạ lãi suất, nhưng không đủ nhanh để bù đắp giảm phát, vì vậy lãi suất thực (trừ lạm phát) vẫn tăng Ngày 12/3/2015, NHTW Hàn Quốc hạ lãi suất cơ bản xuống 1,75% Trước đó một ngày, Thái Lan cũng hạ lãi suất lần đầu tiên trong năm Trước đó,

Ấn Độ đã hạ 0,25 điểm phần trăm lãi suất cho vay cơ bản xuống còn 7,5%, trong bối cảnh lạm phát giảm sút và nền kinh tế phát triển ì ạch Dường như khu vực này đang bứt phá khỏi truyền thống, đi ngược lại với chính sách của Mỹ bởi trong những năm trước, nhiều NHTW châu Á bám sát chính sách tiền tệ của FED

2 Biến động các đồng tiền chính trên thế giới

Căng thẳng chính trị leo thang, giá dầu giảm mạnh cùng việc liên tục điều chỉnh các chính sách tài khóa, tiền tệ của các nền kinh tế đã kéo tỷ giá các đồng tiền chính trên thế giới trong quý I/2015 biến động mạnh

Đồng USD đang tăng giá rất mạnh so với các đồng tiền chính trên thế giới

So sánh phần trăm tăng giảm của các đồng tiền so với đồng USD

CNY/USD; JPY/USD, EUR/USD

Trang 8

Chỉ số USD Index từ tháng 10/2014- 3/2015

Nguồn: Bloomberg

Những nhân tố đẩy giá đồng USD tăng mạnh trong thời điểm này có thể là: Triển vọng kinh tế Mỹ ngày càng tích cực, giá dầu giảm và đặc biệt là việc ECB vừa khởi động chương trình nới lỏng định lượng với trị giá lớn trong khi Mỹ lại đang có kế hoạch nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần 10 năm, đã khiến các nhà đầu tư đổ tiền vào Mỹ, trong khi lãi suất tại châu Âu đi xuống

Tuy nhiên, cho đến ngày 19/3, sau cuộc họp định kỳ của FOMC vẫn quyết định duy trì mức lãi suất hiện tại đã khiến đồng USD giảm nhẹ, chỉ số USD Index hiện nay ở quanh mức 97 điểm

Kinh tế suy giảm cùng quyết định tung ra gói QE với giá trị kỷ lục đã khiến đồng EUR mất giá mạnh so với đồng USD trong quý I/2015 Theo Wall Street Journal, ít ai có thể lường trước được việc đồng EUR lại mất giá nhanh và mạnh đến như vậy trong trong quý I/2015 1 EUR - đổi được 1,6 USD vào năm 2008

và tương đương 1,39 USD vào thời điểm tháng 3/2014 - đã giảm giá xuống còn 1,06 USD trong phiên giao dịch ngày 17/3 Đây là mức tỷ giá thấp nhất của đồng EUR so với đồng USD trong vòng 12 năm trở lại đây Tính từ đầu năm đến thời điểm này, EUR đã mất giá hơn 12,3% so với USD

Biến động của tỷ giá EUR/USD trong quý I/2015

Nguồn: Reutes.com

Mặc dù vậy, ngay sau ngày FOMC của Mỹ quyết định chưa vội tăng lãi

Trang 9

suất ngắn hạn, cặp tỷ giá EUR/USD đã tăng nhẹ trở lại, và hiện tỷ giá đồng EUR/USD ở mức 1EUR=1,10 USD

Tương tự, việc kinh tế phục hồi còn kém bền vững và thực hiện chính sách tiền tệ siêu nới lỏng đã khiến cho đồng Yên liên tục mất giá so với các đồng tiền khác, đặc biệt là đồng USD kể từ năm 2014 đến nay Trong 2 tháng đầu năm

2015, đồng Yên mất giá khoảng 0,6% so với đồng USD, tuy nhiên trong tháng

3, đặc biệt sau thời điểm FED quyết định giữ nguyên lãi suất, đồng Yên đã tăng giá nhẹ Hiện 1 Yên đổi được khoảng 0,0084 USD

Biến động của tỷ giá JPY/USD quý I/2015

Nguồn: Reutes.com

Tỷ giá đồng Nhân dân tệ so với USD giảm tương đối trong tháng 2/2015 với 1 CNY đổi được 0,16 USD, tuy nhiên gần cuối tháng 3, đồng CNY có xu hướng tăng giá nhẹ, khoảng 0,3% so với đồng USD

Biến động của tỷ giá CNY/USD quý I/2015

Nguồn: Reutes.com

Trang 10

II KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH TIỀN TỆ TRONG NƯỚC

1 Tình hình kinh tế trong nước quý I/2015

Tăng trưởng kinh tế trong nước quý I/2015 cao hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2014 cho thấy dấu hiệu phục hồi tích cực của nền kinh tế Theo số liệu vừa mới chính thức công bố của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng kinh tế trong nước quý I/2015 đạt 6,03%, cao hơn nhiều so với mức 5,06 của cùng kỳ năm 2014; trong đó: khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,35% (cùng kỳ năm 2014 tăng 4,42%); khu vực nông nghiệp ước tăng 2,14% (cùng kỳ năm 2014 tăng 2,68%);

và khu vực dịch vụ ước tăng 5,82% (cùng kỳ năm 2014 tăng 5,9%)

Tổng kim ngạch xuất khẩu Quý I ước đạt 35,7 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2014, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2014 (cùng kỳ năm 2014 tăng 14,1%) Nhập khẩu ước đạt 37,5 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2014 (cùng kỳ năm 2014 tăng 12,4%) Cán cân thương mại quý I/2015, hàng hóa nhập siêu ở mức 1,8 tỷ USD (tương đương 5,1% giá trị xuất khẩu)

FDI vẫn là khu vực nhập khẩu chủ yếu của thị trường Việt Nam Theo đó FDI là khu vực nhập khẩu chủ yếu của 10 mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam, đặc biệt là mặt hàng máy móc, thiết bị và phụ tùng Trong 2 tháng đầu năm, khu vực FDI đã nhập 3,18 tỷ USD máy móc, thiết bị và phụ tùng, chiếm tới 69,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này Đối với mặt hàng máy

vi tính, khu vực này cũng nhập tới 92,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này, tương đương 3,3 tỷ USD Điều này cho thấy khu vực FDI là động lực chính cho thương mại quốc tế của Việt Nam

2 Thị trường tài chính tiền tệ trong nước

2.1 Thu chi ngân sách nhà nước

Thu nội địa nhìn chung vẫn duy trì được tiến độ khả quan, phản ánh rõ nét

xu hướng phục hồi của nền kinh tế Tổng thu ngân sách quý I ước đạt 180.400 tỷ đồng, bằng gần 20% dự toán (cùng kỳ năm 2012 đạt 18,1%, năm 2013 đạt 17,1%, năm 2014 đạt 20,4%) Tổng chi ngân sách trong kỳ ước đạt 214.690 tỷ đồng, bằng gần 19% dự toán Chi NSNN 15 ngày đầu tháng 3 diễn biến bình thường, với tổng số chi ước đạt 42.470 tỷ đồng; tập trung đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính và thanh toán đầy đủ các khoản chi trả nợ đến hạn Lũy kế chi đến ngày 15/3/2015, tổng chi NSNN ước đạt 214,69 nghìn tỷ đồng, bằng 18,7% dự toán

Giá dầu thô trên thị trường thế giới trong kỳ có xu hướng giảm (giá dầu

Trang 11

WTI hiện đang giao động quanh mức 43 USD/thùng, giảm khoảng 7 USD/thùng

so với cuối tháng 2/2015); giá dầu thô thanh toán của Việt Nam bình quân khoảng 58 USD/thùng, giảm 42 USD/thùng so với giá dự toán Thu từ dầu thô lũy kế đến ngày 15/3/2015 ước đạt 15,1% dự toán

2.2 Ngân hàng

Bước vào quý I/2015, tín dụng ngân hàng vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng từ nửa cuối năm 2014 Tính đến 20/3/2015, tín dụng của toàn nền kinh tế

tăng 1,25%- đây là mức tăng trưởng cao so với mức tăng trưởng âm của cùng

kỳ vài năm gần đây, cụ thể so với tháng 12 năm 2014 (cùng kỳ năm 2014 giảm 0,57%) Điều này cho thấy khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đã có sự cải thiện Cơ cấu tín dụng cũng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ

Tổng phương tiện thanh toán đến 20/3/2015 tăng 2,09% so với tháng 12

năm 2014 (so cùng kỳ năm 2014 tăng 3,56%) Tổng số dư tiền gửi của khách

hàng tại các tổ chức tín dụng đến 20/3/2015 tăng 0,94% so với cuối năm 2014

(so cùng kỳ năm 2014 tăng 2,7%)

Tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo từ các NHTM đã tăng mạnh trong thời gian qua,

cụ thể nợ xấu lên đến 4,2% năm 2012, 3,6% năm 2013 và tiếp tục trên 4% năm

2014 Theo cách tính tỷ lệ nợ xấu của thế giới (bằng tổng nợ xấu/tổng tài sản của ngân hàng) thì với khoản nợ xấu khoảng 500 ngàn tỷ đồng như báo cáo của Thống đốc NHNN tháng 9/2014 thì tỷ lệ nợ xấu của các NHTM đã lên đến

22% Bước sang Quý I/2015, NHNN đã thể hiện quyết tâm trong việc xử lý nợ

xấu thông qua việc ban hành chỉ thị số 02/CT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 27/1/2015 về tăng cường xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, theo đó, yêu cầu các TCTD trước ngày 30/6/2015 phải giải quyết ít nhất 60% nợ xấu và phải bán được 75% số nợ dự kiến bán cho VAMC cả năm 2015

2.3 Bảo hiểm

Năm 2014, thị trường bảo hiểm ghi nhận những tín hiệu khả quan, trong đó tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm toàn ngành đạt 131.371 tỷ đồng, tăng 15,6% so với năm 2013 Tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường ước đạt hơn 52.000 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 14%, một mức tăng trưởng đáng mơ ước khi nền kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều khó khăn Theo ước tính của Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), năm 2014, khối bảo hiểm nhân thọ đạt hơn 27.000 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm, tăng trưởng gần 18% so với năm 2013 Đây là mức tăng khả quan cho một năm nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn như năm 2014 Không tăng trưởng cao như khối bảo hiểm nhân thọ, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt mức doanh thu thấp hơn

Trang 12

với con số doanh thu phí ước đạt hơn 25.000 tỷ đồng, tăng trưởng 10,5% so với năm 2013 Nhưng tốc độ tăng trưởng của thị trường này được đánh giá chưa tương xứng với kỳ vọng, bởi các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống vẫn chưa

thực sự phục hồi

Trên nền tảng đó, năm 2015 được đánh giá thị trường bảo hiểm sẽ có nhiều

cơ hội tăng trưởng kỳ vọng về đà tăng trưởng Thị trưởng bảo hiểm được kỳ vọng ở mức hai con số trong năm 2015, tổng doanh thu phí BH đạt 59.319 tỷ đồng, tăng 12,6% Ngoài ra, năm 2015 cũng sẽ có nhiều chính sách thuế tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm phát triển Chẳng hạn, mức khấu trừ thuế thu nhập cá nhân cho doanh nghiệp và cá nhân mua bảo hiểm sẽ nâng lên mức 3 triệu đồng, thay vì 1 triệu đồng như quy định hiện nay… Để đón đầu những cơ hội này, các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ cũng cần có các hoạt động Marketing, cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm đa dạng và chất lượng cao

2.4 Trái phiếu và chứng khoán

Đối với trái phiếu, tính đến ngày 21/3/2015, Ngân sách nhà nước đã huy động được khoảng 54 nghìn tỷ VND Trong đó trái phiếu chính phủ có kỳ hạn 5 năm chiếm 64,4%, trái phiếu chính phủ có kỳ hạn 15 năm chiếm khoảng 20,4%

và trái phiếu có kỳ hạn 10 năm là 15,2% Theo Kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ Quý I/2015 của KBNN dự kiến phát hành khoảng 70.000 tỷ đồng (trong đó kỳ hạn 5 năm là 55.000 tỷ đồng, kỳ hạn 10 năm khoảng 10.000 tỷ đồng và kỳ hạn 15 năm: 5.000 tỷ đồng)

Khởi đầu năm 2015, hai sàn HOSE và HNX đã tăng điểm hết sức tích cực với dấu ấn rõ nét nhất đến từ hai nhóm cổ phiếu ngân hàng và dầu khí Với mục tiêu kiên quyết xử lý các ngân hàng yếu kém và giải quyết triệt để tình trạng nợ xấu của NHNN trong năm 2015, cùng với các thông tin về việc thâu tóm và sáp nhập của các ngân hàng là nguyên nhân cơ bản khiến các cổ phiếu ngành ngân hàng, đặc biệt là các mã VCB, BID, MBB, tăng điểm trong thời gian qua Tuy nhiên đến tuần giao dịch cuối tháng 1, những tin đồn xấu liên quan đến Sacomreal cũng như việc thông tư 36 có hiệu lực đã kéo thị trường điều chỉnh mạnh Mặc dù điểm số đã hồi phục ấn tượng ngay sau đó nhưng việc thanh khoản sụt giảm mạnh là điểm đáng lưu ý nhất trong tháng 2 Trong tháng 3, tính thanh khoản có hồi phục nhưng không ấn tượng như tháng 1/2015

Trên sàn HOSE, VN-Index tăng mạnh 5,45% từ 545,63 điểm (ngày 31 tháng 12 năm 2014) lên 575,4 điểm (ngày 20 tháng 03 năm 2015), khối lượng giao dịch trung bình đạt 140,88 triệu cổ phiếu/phiên và giá trị giao dịch trung bình đạt 2.452,28 tỷ đồng/phiên Tại HNX, HNX-Index cũng có mức tăng khá cao, cụ thể là 3,71% từ 82,08 điểm (ngày 31 tháng 12 năm 2014) lên 85,13 điểm

Trang 13

(ngày 20 tháng 03 năm 2015) Khối lượng giao dịch trung bình trên HNX đạt 68,65 triệu cổ phiếu/phiên và giá trị giao dịch trung bình đạt 884,92 tỷ đồng/phiên

2.5 Xuất nhập khẩu hàng hóa

- Xuất khẩu: 3 tháng đầu năm 2015, xuất khẩu ước đạt 35,7 tỷ USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó, xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 24 tỷ USD, tăng 16,2% và chiếm 67,2% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) ước đạt 25,1 tỷ USD, tăng 12,9% Xuất khẩu của khu vực 100% vốn trong nước đạt 10,6 tỷ USD, giảm 5,1% Xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu 3 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm trước: dầu thô ước đạt 2,406 triệu tấn, tăng 34,8% về lượng và giảm 31,2% về kim ngạch; than đá ước đạt 600 ngàn tấn, giảm 78,6% về lượng và giảm 64,3% về kim ngạch, dệt may đạt 4,75 tỷ USD, tăng 7,8%; da giày đạt 2,5 tỷ USD, tăng 19,5%; gỗ và các sản phẩm

gỗ 1,45 tỷ USD, tăng 0,6%; điện thoại các loại và linh kiện 6,67 tỷ USD, tăng 21,9%; linh kiện điện tử đạt 3,6%, tăng 65,4%; thủy sản 1,284 tỷ USD, giảm 19,8%; cao su 207 ngàn tấn, tăng 39,1% về lượng và giảm 1,5% về kim ngạch; gạo 1,043 triệu tấn, giảm 25,7% về lượng và giảm 29,9% về kim ngạch; cà phê đạt 354 ngàn tấn, giảm 40,7% về lượng và giảm 36,4% về kim ngạch,…

- Nhập khẩu: 3 tháng đầu năm 2015, tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước ước đạt 37,5 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó nhập khẩu của các doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài đạt 23,1 tỷ USD, tăng 24,1% và chiếm 61,5% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhập khẩu của khu vực 100% vốn trong nước ước đạt gần 14,4 tỷ USD, tăng 5,7%

Lượng và kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu 3 tháng đầu năm

2015 so với cùng kỳ năm trước như sau: xăng dầu 2,4 triệu tấn, tăng 13,3% về lượng và giảm 35,4% về kim ngach; sắt thép các loại 2,9 triệu tấn, tăng 33,3%

về lượng và tăng 1,6% về kim ngạch; phân bón 846 ngàn tấn, tăng 8,5% về lượng và 2,3% về kim ngạch; giấy các loại 382 ngàn tấn, giảm 5% về lượng và 0,1% về kim ngach; máy móc thiết bị đạt 6,9 tỷ USD, tăng 44,4%, máy tính và linh kiện 5,46 tỷ USD, tăng 31,1%

Nhìn chung: Khu vực FDI tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao và đóng

góp chủ yếu cho tăng trưởng xuất khẩu Kim ngach xuất khẩu 3 tháng đầu năm

2015 của cả nước tăng thêm 2,3 tỷ USD so với cùng kỳ; trong đó, kim ngạch của khu vực FDI (không kể dầu thô) tăng khoảng 3,35 tỷ USD, kim ngạch của khu vực trong nước giảm hơn 570 triệu USD và kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm khoảng 480 triệu USD

Trang 14

Nhập khẩu của cả nước tăng 5,26 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, trong

đó nhập khẩu của khu vực FDI tăng gần 4,5 tỷ USD

3 tháng đầu năm 2015, cả nước nhập siêu khoảng 1,8 tỷ USD, chiếm 5% kim ngạch xuất khẩu Khu vực FDI (không kể dầu thô) xuất siêu 920 triệu USD; nếu kể cả dầu thô, khu vực FDI xuất siêu khoảng 2 tỷ USD Nhập siêu của khu vực doanh nghiệp trong nước ước đạt 3,8 tỷ USD

2.6 Tình hình giá cả hàng hóa trong nước

Đối với giá cả hàng hóa trong nước, lần đầu tiên sau 8 năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 1 và tháng 2 (là tháng có dịp Tết nguyên đán) giảm so với tháng trước và so với tháng 12 năm trước, tháng 1 giảm -0,2% và tháng 2 giảm -0,05% so với tháng trước, dẫn đến 2 tháng đầu năm chỉ số CPI giảm -0,3% so với tháng 12 năm trước Sang tháng 3 với việc chính phủ tăng giá điện 7,5% từ ngày 16/3 và giá xăng tăng khoảng 10,5% từ ngày 11/3 đã đẩy chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 tăng nhẹ khoảng 0,2% so với tháng trước Tuy nhiên do chỉ số giá tiêu dùng 2 tháng đầu năm giảm mạnh nên CPI quí I năm nay ước giảm nhẹ so với tháng 12 năm trước Nguyên nhân chính làm cho chỉ số giả cả hàng hoá giảm chủ yếu là do giá xăng dầu đã giảm mạnh trong thời gian trước, dẫn đến nhóm hàng giao thông giảm mạnh (giảm -4,41% so với tháng 12 năm trước), cùng với giao thông, nhóm hàng hoá nhà ở và vật liệu xây dựng cũng giảm nhẹ (-0,41%) Thêm vào đó sức tiêu thụ và mua sắm hàng hoá của người dân trong dịp nghỉ tết cũng không quá đột biến dẫn đến giả cả một số nhóm hàng hoá khác tương đối ổn định như nhóm hàng ăn uống, lương thực, thực phẩm chỉ tăng ở mức nhẹ so với các năm trước

Tình hình giá cả một số một số mặt hàng công nghiệp:

- Giá xăng dầu trong nước: Tính đến 1/3/2015, giá dầu thô thế giới đã tăng nhẹ và dao động ở mức 50-54 USD/thùng Mặc dù vậy, giá xăng dầu trong nước vẫn giữ nguyên mức 15.670 đồng/lít, nhờ hạ mức trích quỹ bình ổn xuống hơn một nửa so với tháng 1/2015

- Giá điện: giá bán điện tăng 7,5% tương ứng giá bán điện bình quân 1.622,05 đồng/kwh và thời điểm điều chỉnh giá bán điện từ ngày 16/3/2015

- Giá phân U-rê: Tính đến 1/3/2015, giá ổn định so với tháng 1/2015 Tại miền Bắc, mức giá khoảng 8.300-8.500 đồng/kg; tại miền Nam, mức giá khoảng 8.050-8.500 đồng/kg Nguyên nhân là trong nước, giá phân bón U-rê tháng 2/2015 ổn định do nhu cầu với mặt hàng phân bón không cao trong tháng Tết Nguyên đán, nhất là các tỉnh phía Nam

- Giá bán lẻ xi-măng tháng 2/2015 vẫn giữ ổn định so với tháng 1/2015 Tại

Trang 15

các tỉnh miền Bắc, miền Trung từ 1.050.000-1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000-1.850.000 đồng/tấn

- Giá bán lẻ thép xây dựng tháng 2/2015 giảm nhẹ so với tháng 1/2015 Tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung, giá giảm khoảng 300-500 đồng/tấn, dao động

ở mức 14.500-15.200 đồng/kg; tại các tỉnh miền Nam giảm khoảng 200-300 đồng/tấn, dao động phổ biến ở mức 14.700-15.200 đồng/kg

2.7 Tình hình lãi suất

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, mặc dù mặt bằng lãi suất huy động năm 2014 (tính đến ngày 19-12-2014) đã giảm 1,5-2 điểm %/năm, nhưng vốn huy động vẫn tăng cao đến 15,15%, trong đó huy động vốn bằng tiền đồng tăng 16,31% so với cuối năm 2013 Thanh khoản của các tổ chức tín dụng được đảm bảo và dư thừa Đây là cơ sở quan trọng để các NHTM quyết định tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất huy động trong quý đầu năm 2015, như: BIDV đã điều chỉnh giảm lãi suất kỳ hạn dưới 1 năm, với mức giảm từ 0,15 đến 0,55 điểm phần trăm tùy kỳ hạn (từ ngày 13/1/2015); Eximbank áp dụng giảm lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng từ 4,7%/năm xuống còn 4,5%/năm, giảm từ mức 4,7%/năm (từ 5/1/2015); Tại ngân hàng VIB, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng còn 4,25%/năm, giảm từ mức 4,7%/năm; Vietcombank cũng giảm lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng xuống còn 4%/năm (từ ngày 22/12/2014)…

Như vậy, nhìn chung lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng tại các ngân hàng lớn đang ở mức rất thấp, quanh 4%/năm – thấp hơn mức lãi suất cũng những năm 2005-2006 Tuy nhiên, ở một số ngân hàng nhỏ, lãi suất huy động cùng kỳ hạn vẫn được duy trì ở mức cao, như OCB (5,3%), HDBank (5,8%), DongABank (4,8%), và Techcombank (4,6%) Đồng thời, lãi suất tiền gửi ở các

kỳ hạn dài hơn, như 3 tháng và 6 tháng vẫn được hầu hết các NHTM duy trì ở mức khá cao (đối với tiền gửi kỳ hạn 12 tháng nằm ở mức 6-7%/năm, 6 tháng ở mức 5-6%/năm) nhằm thu hút nguồn vốn dài hạn

Trong khi đó, lãi suất cho vay duy trì ở mức cũ (từ năm 2014), cụ thể: lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên phổ biến ở mức 7-8%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác khoảng 9-10,5%/năm đối với ngắn hạn; 11-12,5%/năm đối với trung và dài hạn; trong đó một số doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, sản xuất kinh doanh hiệu quả, lãi suất cho vay chỉ 6-7%/năm

2.8 Tình hình tỷ giá

Sau hơn 6 tháng duy trì ổn định (từ 19/6/2014), tỷ giá VND/USD đã có sự điều chỉnh đầu tiên trong năm nay Theo đó, từ ngày 7/1/2015, tỷ giá trên tăng 1%, từ mức 21.246 VND/USD lên 21.458 VND/USD Với biên độ tỷ giá +/-1%

Trang 16

so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá trần tại các NHTM là 21.673 VND/USD, tỷ giá sàn là 21.243 VND/USD

Sau một tuần NHNN điều chỉnh tỷ giá, tỷ giá USD/VND đã giảm và dần

ổn định, thấp hơn nhiều so với mức trần biên độ cũng như mức Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước định hướng sẽ can thiệp (21.600 VND), hiện tại ổn định ở mức khoảng 21.365 - 21.370 VND bán ra, 21.295 - 21.300 VND giá mua vào

III PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ CÁC CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TIỀN TỆ ĐANG ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

1 Chính sách tài khóa

Với chủ trương đã được đề ra từ đầu năm 2015,trong quý I/2015, Chính phủ tiếp tục thực hiện điều hành thu chi ngân sách theo hướng chặt chẽ, triệt để, tiết kiệm

Chính sách thu tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng cường tiềm lực tài chính cho doanh nghiệp thông qua việc giảm bớt nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp và người dân, tạo thêm nguồn lực cho doanh nghiệp tái đầu tư mở rộng sản xuất - kinh doanh Mặc dù chịu ảnh hưởng của Tết Nguyên đán, song nhìn chung số thu NSNN đã có bước tăng mạnh mẽ cả về tiến độ thực hiện dự toán

và so với cùng kỳ năm 2014 Hầu hết các khoản thu từ hoạt động sản xuất - kinh doanh đều đạt khá, trong đó: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước đạt 20,6%

dự toán; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 21% dự toán; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 22,9% dự toán; thuế thu nhập cá nhân đạt 22,7% dự toán Chính nhờ kết quả khả quan trong hoạt động sản xuất - kinh doanh của cộng đồng doanh nghiệp, đã đem lại những đóng góp quan trọng cho thu NSNN11

Bên cạnh đó, thực hiện Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 22/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá cả thị trường, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong dịp Tết, Bộ Tài chính đã tập trung chỉ đạo cơ quan Thuế, Hải quan và Tài chính các địa phương đẩy mạnh thực hiện các giải pháp chống thất thu, buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và trốn thuế; rà soát, nắm chắc đối tượng, nguồn thu ngân sách trên địa bàn, kiểm soát việc kê khai thuế, quyết toán thuế để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời số phát sinh vào NSNN; tăng cường công tác quản lý giá cả, thị trường, đảm bảo cân đối cung - cầu hàng hoá; kiểm soát chặt chẽ chi phí, kê khai, niêm yết giá, nhất là

11 Tập đoàn Bưu chính viễn thông quân đội (Viettel) tổng doanh thu năm 2014 tăng 20%, lợi nhuận trước thuế tăng 10,5%; Mobifone doanh thu năm 2014 tăng 1,4%, lợi nhuận trước thuế tăng 5,2%; Vietcombank lợi

Trang 17

các mặt hàng thiết yếu, cước vận tải, sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi, thuốc chữa bệnh cho người, xăng dầu, LGP

Về chi ngân sách nhà nước, các nhiệm vụ chi ngân sách đều được đảm bảo

theo đúng tiến độ triển khai thực hiện của các chủ đầu tư và đơn vị sử dụng ngân sách, đáp ứng các nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội, kinh phí phục vụ sản xuất, khắc phục hậu quả thiên tai Riêng chi đầu tư XDCB, do ảnh hưởng của Tết Nguyên đán nên chỉ có một số dự án quan trọng vẫn tổ chức thi công trong dịp Tết để đảm bảo tiến độ, vì thế số thanh toán đạt thấp (14,5% dự toán), trong đó chủ yếu tập trung cấp ứng vốn cho dự án thuộc kế hoạch năm 2015 và tiếp tục thanh toán cho khối lượng XDCB hoàn thành trong kế hoạch năm 2014 chuyển sang

2 Chính sách tiền tệ

Trên cơ sở bám sát mục tiêu của Quốc hội tại Nghị quyết số 77/2014/QH13, ngày 10/11/2014 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm

2015 và kết quả đạt được trong điều hành năm 2014, NHNN xác định mục tiêu

và các giải pháp lớn về điều hành chính sách tiền tệ năm 2015 như sau: Điều hành chủ động và linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, không chủ quan với lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn thanh khoản của các TCTD Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát, bảo đảm giá trị đồng Việt Nam, tiếp tục khắc phục tình trạng đô la hóa, vàng hóa trong nền kinh tế Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng; tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh; tiếp tục triển khai các chương trình gắn kết tín dụng ngân hàng với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD, đảm bảo thực hiện đúng lộ trình của Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tăng cường phối hợp với các chính sách vĩ mô khác Phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu định hướng điều hành: Tín dụng tăng khoảng 13 - 15% nhưng được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế, bảo đảm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ; lãi suất và tỷ giá ở mức hợp lý, phù hợp với các cân đối

vĩ mô, diễn biến thị trường tiền tệ và ngoại hối

Thống đốc NHNN yêu cầu, trong năm 2015 việc đẩy mạnh triển khai thực hiện tái cơ cấu các TCTD và xử lý nợ xấu vẫn là nhiệm vụ trọng tâm của toàn

Ngày đăng: 14/05/2016, 16:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Mô phỏng tác động chính sách cắt giảm lãi suất cho vay tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ - PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUÍ I DỰ BÁO LÃI SUẤT, TỶ GIÁ CÁC QUÝ NĂM 2015
Bảng 1 Mô phỏng tác động chính sách cắt giảm lãi suất cho vay tới một số chỉ tiêu kinh tế vĩ (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w