Hiệp định đối tác kinh tếchiến lược xuyên Thái Bình Dương được kí kết sẽ đem lại rất nhiều cơ hội cũng nhưthách thức cho ngành dệt may Việt Nam do đó Việt Nam cần có những giải pháp đốiv
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước hết, nhóm nghiên cứu chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viênhướng dẫn Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, thầy đã luôn tận tình chỉ bảo, hướngdẫn chúng em để hoàn thành bài nghiên cứu một cách hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, chúng em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ quản
lý thư viện Trường Các thầy cô đã luôn tạo điều kiện cho chúng em sử dụng và thamkhảo các loại tài liệu của thư viện Nhờ đó chúng em mới có thể hoàn thành bài nghiêncứu của mình
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
PHẦN THUYẾT MINH 1
I MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY KHI HIỆP ĐỊNH TPP ĐƯỢC KÍ KẾT 4
1.1 Khái quát về Hiệp định TPP có liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may 4
1.1.1Khái quát về quá trình đàm phán Hiệp định TPP 4
1.1.2 Nội dung của Hiệp định TPP có liên quan đến việc xuất khẩu hàng dệt may 4
1.1.3 Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TPP 8
1.1.3.1 TPP – Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 8
1.1.3.2 TPP – Sự phát triển của P4 9
1.1.3.3 TPP – “FTA của thế kỷ XXI” 9
1.2 Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may khi Hiệp định TPP được kí kết 10
1.2.1 Các tiêu chí đánh giá đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may khi Hiệp định TPP được kí kết 10
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu dệt may 17
1.3 Tác động của Hiệp định TPP đến việc xuất khẩu hàng dệt may 21
1.3.1 Tác động tích cực 21
1.3.2 Tác động tiêu cực 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 24
2.1 Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2010-2015 24
2.1.1 Kim ngạch và tốc độ xuất khẩu 24
Trang 32.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu 26
2.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu 27
2.1.4 Hiệu quả xuất khẩu 29
2.2 Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang các nước là thành viên của TPP giai đoạn 2010-2015 32
2.2.1 Kim ngạch và tốc độ xuất khẩu 32
2.2.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu 34
2.2.3 Hiệu quả xuất khẩu 37
2.3 Đánh giá chung thực trạng xuất khẩu của Việt Nam: 38
2.3.1 Một số thành công 38
2.3.2 Một số tồn tại: 42
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM KHI HIỆP ĐINH ĐỐI TÁC KINH TẾ CHIẾN LƯỢC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG ĐƯỢC KÝ KẾT 49
3.1 Cơ hội , thách thức cho xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi tham gia vào hiệp định TPP 49
3.1.1 Một số cơ hội 49
3.1.2 Một số thách thức 51
3.2 Triển vọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi tham gia TPP 53
3.3 Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may của Việt Nam khi tham gia vào hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương ( TPP) 57
3.3.1 Giải pháp từ phía chính phủ 57
3.3.2 Giải pháp từ phía các doanh nghiệp 62
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính 8 tháng năm
2014 26
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết
Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á –Thái Bình DươngASEAN Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
xuất khẩu
FTAAP Free Trade AREA of the
Asia-Pacific
Khu vực thương mại tự do toàn diệncủa Châu Á- Thái Bình Dương
ngoàiODM Original design manufacturer Nhà thiết kế và chế tạo sản phẩm
theo đơn đặt hàngOTEXA Office of Textiles and Apparel Văn phòng dệt may Hoa Kỳ
quân đầu người
Thương mại của các nước thành viên
Tổ chức thương mại thế giới
xuyên Thái Bình Dương
Trang 6PHẦN THUYẾT MINH
I MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái BìnhDương (TPP) là một vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới vàViệt Nam cũng là một trong số đó Khi Hiệp định này được kí kết, nền kinh tế của ViệtNam đã, đang và sẽ có rất nhiều biến động Tham gia vào Hiệp định TPP, một cấu trúcquan trọng của khu vực, sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội doquá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tếkhu vực đem lại Bên cạnh đó, tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điềukiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triểnkhai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á
- Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế vàViệt Nam sẽ có cơ hội đàm phán để Hoa Kỳ mở cửa thị trường cho hàng hóa của ViệtNam, tạo cú hích mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu Bên cạnh đó, việctham gia Hiệp định TPP sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa đầu tư của Hoa Kỳ và các nướcvào Việt Nam.Ngành dệt may Việt Nam đang ngày càng khẳng định được vị thế,khách đặt hàng ngày càng nhiều hơn Đến nay, một số doanh nghiệp lớn đã ký đượcđơn đặt hàng cũng như hợp đồng xuất khẩu giữa năm 2016 Hiệp định đối tác kinh tếchiến lược xuyên Thái Bình Dương được kí kết sẽ đem lại rất nhiều cơ hội cũng nhưthách thức cho ngành dệt may Việt Nam do đó Việt Nam cần có những giải pháp đốivới việc xuất khẩu hàng dệt may.Ưu đãi về thuế do Hiệp định đối tác kinh tế xuyênThái Bình Dương (TPP) mang lại cũng là yếu tố thuận lợi cho các doanh nghiệp mởrộng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ khi hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường này sẽgiảm dần xuống 0% so với mức 17-18% như hiện nay Đây là một cơ hội lớn cho ViệtNam tiếp cận và có thể thâm nhập vào thị trường may mặc Hoa Kỳ với mức thuế 0%.Tuy nhiên đây cũng là thách thức đối với Việt Nam vì Hoa Kỳ là một thị trường khótính Họ đặt vấn đề tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm lên hàng đầu Muốn thâm nhậpvào thị trường này, Việt Nam cần đáp ứng tất cả các yêu cầu về sản phẩm của họ để cóthể cạnh tranh với các dòng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ
TPP yêu cầu cao về xuất xứ đối với ngành dệt may.Đây là thách thức lớn đối vớidoanh nghiệp dệt may Việt Nam bởi xuất phát điểm của ngành dệt may đang yếu trongnguồn cung cấp nguyên phụ liệu cho dệt may như vải, nhuộm đang lệ thuộc nhiềuvào việc nhập khẩu Chính vì vậy, chúng ta cần sự nỗ lực của toàn ngành, xã hội vàChính phủ để thu hút được doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào điểm yếu nhấtnày Bên cạnh đó, cần tăng cường liên kết trong ngành, giữa các nhà sản xuất trongnước với những nhà sản xuất nguyên vật liệu, tận dụng thành phẩm của nhau để làm
Trang 7nguyên liệu dệt may Việt Nam cần tái cấu trúc ngành dệt may để hoàn thiện chuỗicung ứng, như tăng cường đầu tư vào các công đoạn dệt, nhuộm và hoàn tất dệt.Đây làđiều kiện sống còn không chỉ để thực hiện TPP mà còn để phát triển bền vững và nângcao năng lực cạnh tranh Điều này đòi hỏi đầu tư vốn lớn cũng như tính chất môitrường cao Vì Việt Nam là một nước đang phát triển, vẫn còn muôn vàn khó khăn nênkhi cần đến vốn, Chính phủ Việt Nam cần lên kế hoạch lâu dài Chúng ta có thể tiếnhành vay vốn từ các Ngân hàng thế giới hoặc huy động vốn ODA tới mức có thể Vềvấn đề môi trường, Việt Nam không hạ thấp chỉ tiêu môi trường nhưng Chính phủ cần
hỗ trợ tài chính cho hoạt động xử lý nước thải trong ngành nhuộm Đặc biệt, thúc đẩymối liên kết giữa các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị thông qua phát triển các cụm dệtmay Việt Nam cũng cần có cách tiếp cận mở cửa rộng hơn nữa đối với tất cả cácngành nói chung và ngành dệt may nói riêng, trái ngược với cách tiếp cận phòng thủtrong đàm phán TPP Chúng ta cần chủ động nắm bắt những cơ hội về việc xuất khẩuhàng dệt may mà TPP đem lại Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẵn sàng đối mặt vớinhững thách thức, khó khăn và vượt qua nó
Việc tuân thủ quy định về nguyên tắc xuất xứ, kỹ thuật, tiêu chuẩn về lao động,môi trường hay thủ tục pháp lý trước mắt sẽ là khó khăn nhưng lại là động lực thúcđẩy, tạo đà cho các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêngtrong quá trình phát triển lâu dài
Chúng em quyết định chọn đề tài nghiên cứu này vì chúng em muốn bằng nhữngkiến thức mình có và những kiến thức có được trong quá trình nghiên cứu đề tài này,chúng em nhận thấy dệt may là một mặt hàng xuất khẩu chiếm phần lớn trong kinhngạch xuất khẩu của Việt Nam những năm vừa qua Việc xuất khẩu mặt hàng nàykhông chỉ đem lại doanh thu, lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn giúp nền kinh tếViệt Nam ổn định hơn, giải quyết được các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị,…Chính vìvậy, chúng em quyết định đưa ra những giải pháp hợp lý giúp các doanh nghiệp ViệtNam đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may đặc biệt là khi Hiệp định TPP được ký kết Từ
đó, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may có thể phát triển lâu dài và bềnvững
Trang 8- Đề xuất những giải pháp vĩ mô và giải pháp vi mô trong việc vận dung Hiệpđịnh TPP nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường cácnước thành viên TPP và các thị trường khác.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vận dụng Hiệp định TPP vào việc xuất khẩuhàng hóa, nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường cácnước thành viên TPP
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu tiêu chí đánh giá
và các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam khiHiệp định TPP được kí kết; Vận dụng tính tương đương, hài hòa hóa và tính minhbạch vào nội dung của Hiệp định TPP vào việc xuất khẩu hàng dệt may
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tài nghiên cứu về thực trạng xuất khẩuhàng dệt may của Việt Nam và khả năng vận dụng Hiệp định TPP để thúc đẩy xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam giai đoạn 2010- 2015
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu vận dụng Hiệp định TPP để thúcđẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường các nước thành viên củaTPP
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là các phương pháp thu thập thông tin khoa học trên cơ
sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy logic để rút ra kếtluận khoa học cần thiết.Trong bài nghiên cứu có sử dụngnhiềuphương pháp nghiêncứu sau:
- Thu thập thông tin, dữ liệu thứ cấp từ các tài liệu và báo cáo của các cơ quanNhà nước, các doanh nghiệp, từ các công trình khoa học đã được công bố
- Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như phương phápphân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết,…
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆTMAY KHI HIỆP ĐỊNH TPP ĐƯỢC KÍ KẾT
Chương 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAMChương 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦAVIỆT NAM KHI HIỆP ĐỊNH TPP ĐƯỢC KÍ KẾT
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU HÀNG
DỆT MAY KHI HIỆP ĐỊNH TPP ĐƯỢC KÍ KẾT
Trong thời gian gần đây, Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương(TPP) là một vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nước trên thế giới và Việt Namcũng là một trong số đó
1.1 Khái quát về Hiệp định TPP có liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may
1.1.1 Khái quát về quá trình đàm phán Hiệp định TPP
TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement)
là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương Hiệp định này khởi nguồn làHiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chile, New Zealand vàSingapore (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chứctại Mêhicô Tháng 4 năm 2005, Brunay xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lậptrước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4 Hiệp định có hiệu lực
từ 28/5/2006 đối với 4 nước thành viên Đến thời điểm năm 2015 đã có tới 12 nướctham gia là Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, NewZealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam Đây là Hiệp định mang tính "mở" và sẽtrở thành thị trường có hơn 790 triệu dân, chiếm gần 40% GDP toàn thế giới vàkhoảng 1/3 kim ngạch thương mại toàn cầu TPP chính thức khởi động đàm phán vàonăm 2010 thông qua nhiều vòng đàm phán đa phương, song phương và đã đi vào giaiđoạn cuối cùng
1.1.2 Nội dung của Hiệp định TPP có liên quan đến việc xuất khẩu hàng dệt may
Hiệp định TPP được đánh giá là một FTA thế hệ mới, được coi là hiệp định
“khuôn mẫu” của thế kỷ XXI, có phạm vi điều chỉnh rất rộng rãi và phức tạp Nókhông chỉ điều chỉnh các lĩnh vực thương mại truyền thống, với cam kết mạnh mẽ vềthuế và phi thuế như xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biệnpháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), sở hữu trí tuệ, chínhsách cạnh tranh, mua sắm công và minh bạch hóa…và cả các vấn đề phi thuế thươngmại như lao động, môi trường
Hiệp định TPP là một hiệp định khu vực, các nước tham gia nhất trí xây dựngmột biểu thuế thống nhất, cũng như các quy tắc xuất xứ chung để giúp các doanhnghiệp tận dụng nhưng cơ hội mà hiệp định mang lại một các dễ dàng, hiệu quả hơn.Cách tiếp cận khu vực này sẽ thúc đẩy mạng lưới thương mại khu vực, nâng cao nănglực cạnh tranh, khuyến khích sử dụng nguyên liệu đầu vào của TPP
Ngoài ra, các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biệnpháp để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, gắn kết
Trang 10môi trường chính sách của mỗi quốc gia, tăng cường năng lực cạnh tranh và tạo điềukiện kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp các nước thành viên, phát triển chuỗi cungcấp và sản xuất giữa các nước thành viên, cam kết giải quyết các khó khăn của cácdanh nghiệp vừa và nhỏ để doanh nghiệp tìm kiếm lợi thế trong TPP, đồng thời nângcao sự tham gia của các doanh nghiệp này vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa cácquốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc giathành viên Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạpthêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đềphát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lực đưa ranhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiềunhất cho tất cả những nước đang và sẽ tham gia Hiệp định để tạo thành một khu vựcthương mại tự do xuyên Thái Bình Dương Tính mở của TPP giúp một nước tham gia
có các FTA với nhiều nước trong cùng một lúc
* Quy định về thuế quan:
Quy định về thuế quan là các quy định về mở cửa thị trường trong lĩnh vựcthương mại quốc tế và cụ thể là thị trường dệt may Các nước thành viên có tham vọngrất lớn trong việc giảm và xóa bỏ hoàn toàn thuế quan trong nội khối TPP được ápdụng cho tất cả các hàng hóa và không có loại trừ cho bất cứ hàng hóa nào Căn cứ vàoTPP – P4, các nước thành viên sẽ tiến tới cắt giảm ngay 90% các dòng thuế Mỹ là thịtrường xuất khẩu dệt may lớn nhất của Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cụcHải quan, 11 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa
Kỳ đạt 9,88 tỷ ÚD, tăng 11,7% Đối với Mĩ, thuế xuất MFN nhập khẩu dệt may từViệt Nam bình quân 17-18%, Hiệp định TPP kỳ vọng sẽ cắt giảm mức thuế này về 0%hoặc về gần 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực hoặc các bên đàm phán đưa ra lộ trìnhcắt giảm Nhưng Mỹ đã đưa ra một lộ trình mở cửa thị trường đối với hàng hóa dệtmay theo 3 nhóm:
- Nhóm 1: bao gồm các mặt hàng nhạy cảm nhất, ngay sau khi Hiệp định có hiệulực, 19,7% số dòng thuế sẽ được giảm từ 30-50% so với mức thuế hiện hành, sau đógiữ nguyên cho đến 10 năm sau đối với sản phẩm đan và 15 năm sau đối với sản phẩmdệt rồi mới xóa bỏ hoàn toàn thuế quan
- Nhóm 2: bao gồm các sản phẩm nhạy cảm vừa, 7,2% số dòng thuế sẽ được cắtgiảm trong vòng 5 năm, mỗi năm cắt giảm 20% so với mức thuế hiện hành cho đến khixuống 0%
- Nhóm 3: 73,1% số dòng thuế sẽ được đưa về 0% ngay sau khi Hiệp định cóhiệu lực
Với nội dung đàm phán này, phía Mỹ muốn đưa nhiều hàng hóa mà Việt Nam cólợi thế vào nhóm 1 và Việt Nam thì ngược lại Hoặc cách thức giảm thuế cũng được
Trang 11Việt Nam cũng như các nước khác rất quan tâm, cùng giảm bình quân từ 30-50%,nhưng phía Việt nam cần dòng hàng mà Việt Nam có lợi thế có thuế suất giảm nhiềuhơn, các dòng hàng có ít lợi thế có thuế suất giảm ít hơn, bình quân vẫn đảm bảo là 30-50% nhưng Việt Nam sẽ có lợi hơn về tiếp cận thị trường.
* Quy định về phi thuế:
- Xuất xứ hàng hóa: Xuất xứ hàng hóa là vấn đề phức tạp trong đàm phán
thương mại tự do Trong khuôn khổ đàm phán TPP, đàm phán về quy tắc xuất xứ có ýnghĩa đặc biệt quan trọng với Việt Nam Kết quả đàm phán này quyết định các hànghóa của Việt Nam có được hưởng các ưu đãi từ các cam kết giảm thuế từ TPP haykhông
Thông thường, theo quy định của WTO cà các Hiệp định thương mại tự do khác,quy tắc xuất xứ được áp dụng theo quy tắc chuyển dịch dòng thuế, có nghĩa là đối vớihàng may mặc được coi là có xuất xứ tại một nước, nếu hàng may mặc được cắt maytoàn bộ hay từng phần tại nước đó, phần còn lại được thực hiện ở các nước nội khối,còn vải và các phụ kiệncó thể được nhập khẩu từ các nước ngoài khối, quy tắc xuất xứnày được gọi là quy tắc xuất xứ “cắt và may” Những tiêu chuẩn xuất xứ quy địnhtrong TPP có tiêu chuẩn cao hơn so với cơ chế hiện hành của WTO và có các quy địnhchặt chẽ hơn, buộc các quốc gia thành viên phải tuân thủ và có cơ chế kiểm soát chặtchẽ hơn các vấn đề về nguồn gốc xuất xứ của các mặt hang nhập khẩu Đối với hànghóa nói chung , các thành viên của TPP đã đưa ra quy tắc cộng gộp về tỷ lệ nội địa hóaphải đặt từ 35-45% trở lên thì hàng hóa mới được coi là có xuất xứ từ các nước thànhviên TPP và được hưởng các ưu đãi từ TPP, có nghĩa là giá trị phần nguyên vật liệu đểsản xuất ra hàng hóa có xuất xứ từ các nước thành viên TPP chiếm từ 35-45% giá trịhàng hóa nhập khẩu đã được điều chỉnh (chỉ tính giá trên FOB) Tuy nhiên, để sảnxuất ra hàng dệt may phải trải qua bốn công đoạn chính: sản xuất xơ, sợi, vải và cắtmay thành hàng may mặc và phía Mỹ đã đề xuất quy tắc xuất xứ cho hàng dệt maylinh hoạt hơn, quy tắc “từ sợi trở đi- yarn forward” được gọi là quy tắc “ba côngđoạn”, có nghĩa là sản phẩm dệt may để được hưởng ưu đãi về thuế nhập khẩu theoTPP thì sản phẩm dệt may, các công đoạn sợi, vải, cắt may phải được thực hiện tại cácnước thành viên của TPP Tính tới thời điểm ngày 1/5/2015 thì đàm phán dệt may, cácnước thành viên của TPP đã chốt nguyên tắc quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi- yarnforward”, theo đó các sản phẩm dệt may muốn được hưởng các ưu đãi thuế quan TPPphải được sản xuất từ sợi trở đi tại các nước thành viên TPP
- Tuy nhiên, bên cạnh quy tắc chung thì sẽ có ngoại lệ nằm trong hai danh sách
bổ sung (danh mục các hàng dệt may không áp dụng quy tắc này) hay còn được gọi làdanh mục “nguồn cung ngắn hạn thiếu hụt- short supply” Hiệp định TPP đã quy địnhmột số trường hợp có quy tắc xuất xứ linh hoạt như sau;
Trang 12+ 3 nhóm hàng may mặc được áp dụng quy tắc xuất xứ 1 công đoạn, cắt vàmay, bao gồm: vali, túi xách, áo ngực phụ nữ, quần áo trẻ em bằng sợi tổng hợp;
+ Danh mục nguồn cung thiếu hụt gồm 194 loại sợi, vải được phép sử dụng từngoài khu vực TPP Trong đó, 186 mặt hàng sẽ được áp dụng vĩnh viễn và 8 mặt hàngchỉ được áp dụng cơ chế này trong vòng 5 năm;
+ Cơ chế 1 đổi 1 áp dụng với quần nam, nữ bằng vải bông xuất khẩu sangHoa Kỳ Doanh nghiệp mua 1 đơn vị vải bông thích hợp làm quần có xuất xứ từ Hoa
Kỳ sẽ được phép sử dụng 1 đơn vị vải bông nhập khẩu từ ngoài khu vực TPP để mayquần xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hưởng thuế 0% Tỷ lệ quy đổi giữa vải bông xuất xứHoa Kỳ và vải bông được phép nhập khẩu từ ngoài khối TPP khác nhau giữa quầnnam và nữ
Đây là các sản phẩm mà nguồn cung từ các nước thành viên TPP không đủ và do
đó có thể được cung cấp bởi các nguồn ngoài TPP mà vẫn dược hưởng ưu đãi thuế ,hay còn gọi là danh mục các ngoại lệ không áp dụng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi-yarn forward” Có hai loại danh mục nguồn cung ngắn hạn thiếu hụt là danh mụcthường xuyên và danh mục tạm thời Danh mục tạm thời- tempoary: bao gồm cácnguyên liệu dệt may hiện không được sản xuất trong các nước thành viên của TPP,nhưng có thể được sản xuất trong tương lai Vì thế, các sản phẩm dệt may sử dụngnguyên liệu trong danh mục này sẽ chỉ áp dụng quy tắc “cắt và may” trong mộtkhoảng thời gian, sau đó thì các sản phẩm này sẽ phải áp dụng quy tắc xuất xứ “từ sợitrở đi- yarn forward”
Đây là danh mục được xem là ngoại lệ, do đó số lượng các sản phẩm nguyên liệuđược đưa vào danh mục này là có hạn Số lượng các sản phẩm đưa vào danh mục cóảnh hưởng đến quyền lợi của các nước thành viên Để thuyết phục các nước đối tácchấp thuận cần có các giải pháp cụ thể về tính chất thiếu hụt của các tài nguyên nàytrong nội khối TPP
* Biện pháp tự vệ:
Đàm phán về hàng dệt may trong khuôn khổ TPP, các nước đề xuất biện pháp tự
vệ đặc biệt chỉ áp dụng cho mặt hàng dệt may cho cơ chế riêng Cơ chế này nhằm bảo
vệ cho nước nhập khẩu (đặc biệt là Mỹ) Theo cơ chế này, cho phép nước nhập khẩu
có thể đưa ra các biện pháp tự vệ cần thiết, tăng thuế ưu đãi trở lại mức thuế MNFtrong trường hợp hàng dệt may ồ ạt nhập khẩu vào thị trường có khả năng gây ra thiệthại hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho ngành dệt may của nước nhập khẩu Khi áp dụngbiện pháp tự vệ, nước nhập khẩu phải có giải pháp đền bù thiệt hại vè kinh tế mà nướcxuất khẩu phải gánh chịu do không được hưởng thuế ưu đãi như trong Hiệp định Đối với Việt Nam là nước xuất khẩu dệt may, đây là điều khoản gây bất lợi chocác doanh nghiệp xuất khẩu Tuy nhiên, trên thực tế, khả năng áp dụng cơ chế này
Trang 13không cao vì khả năng xuất khẩu dệt may tăng đột biến không cao và Mỹ hầu nhưkhông có ngành may nội địa sản xuất hàng tương tự với hàng dệt may của Việt Nam.
Do đó, yếu tố gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa, yếu tố quyết định
áp dụng biện pháp tự vệ hầu như không xảy ra
* Những vấn đề liên quan đến lao động:
Bản dự thảo các vấn đề lao động trong TPP, có yêu cầu các thành viên của TPPphải duy trì trong các luật, các văn bản dưới luật các quyền liên quan đến tự do thànhlập hội, thừa nhận một cách hữu hiệu quyền thương lượng tập thể, loại bỏ mọi hìnhthức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, bãi bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em vàcấm mọi hình thức tồi tệ nhất đối với lao động trẻ em, loại bỏ các hình thức phân biệt
về đối xử, về lao động và việc làm
Hiệp định cũng đưa ra các quy định cụ thể về các điều kiện làm việc chấp nhậnđược, các cam kết về lương tối thiểu, giờ làm việc, vệ sinh an toàn lao động, đại diệncho người lao động, bồi thường trong lao động, chế độ bảo hiểm hưu trí Hiệp địnhcũng đưa ra chế tài xử phạt đối với các trường hợp vi phạm, mà cụ thể các nước thànhviên được phép tính thuế với các hàng dệt may nhập khẩu vi phạm các quy định về laođộng
*
Các quy định phi thuế khác:
Các cam kết phi thuế quan có liên quan đến hoạt động sản xuất hàng dệt may cònbao gồm các vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, TBT, về cạnh tranh, tiêu chuẩn vềmôi trường Trong đó thiết lập cơ chế hợp tác nhằm minh bạch hóa và xử lý các tranhchấp phát sinh, đối với lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chú trọng đến thủ tục bảo
hộ và tiêu chuẩn bảo hộ Như vậy, các lĩnh vực này chú trọng nhiều đến thủ tục, minhbạch hóa, cơ chế hợp tác, giải quyết tranh chấp hơn là thỏa thuận, đưa ra các tiêuchuẩn bảo hộ cao hơn
1.1.3 Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TPP
Trải qua các vòng đàm phán tương đối thành công, các nước thành viên đượcxem là đã đạt được nhất trí cơ bản trong các nguyên tắc đàm phán và đã thiết lập đượckhuôn khổ cho các cam kết nền (kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, cạnhtranh…) Cụ thể, phạm vi điều chỉnh của TPP “bị quy định” bởi các yếu tố sau:
1.1.3.1 TPP – Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Về nguyên tắc, các Hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreements - FTA)đòi hỏi mức độ cam kết mở cửa sâu hơn các cam kết mở cửa thương mại thông thường(thể hiện chủ yếu ở các lĩnh vực phải cam kết mở cửa rộng hơn, mức độ mở cửa nhưcắt giảm thuế quan, loại bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường…)
Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa hoạt động thương mại trên thế giới đã chứngkiến 03 thế hệ các FTA, bắt đầu từ các FTA thế hệ thứ nhất tập trung ở việc tự do hóa
Trang 14lĩnh vực thương mại hàng hóa (cắt giảm thuế quan, loại bỏ các rào cản phi thuế), sangcác FTA thế hệ thứ hai với việc mở rộng phạm vi tự do hóa sang các lĩnh vực dịch vụnhất định (xóa bỏ các điều kiện tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ liênquan), và FTA thế hệ thứ ba tiếp tục mở rộng phạm vi tự do về dịch vụ, đầu tư.
Các hiệp định FTA trong thời gian gần đây (đặc biệt là các FTA mà Hoa Kỳ đàmphán) chứng kiến một xu hướng mới trong đó không chỉ những lĩnh vực thương mại
mở cửa được đề cập mà cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trườngcũng được đưa vào đàm phán và ký kết TPP là một hiệp định mới nhất được đàmphán trong thời gian này, rõ ràng TPP sẽ khó đi chệch xu hướng này Phạm vi củaHiệp định này, vì vậy, được dự kiến là sẽ rất rộng và phức tạp, với các vấn đề thươngmại và phi thương mại đan xen
1.1.3.2 TPP – Sự phát triển của P4
Với “nền tảng” là Hiệp định P4, TPP được dự kiến là mở rộng và đa dạng hóacác lĩnh vực cam kết mà P4 đã đề cập Theo một logic tự nhiên TPP được suy đoán cóphạm vi rộng hơn P4
Trong khi đó P4 đã có cam kết mạnh về thuế quan và nhiều vấn đề phi thuếquan như (xuất xứ hàng hóa, các biện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp vệsinh dịch tễ, hàng rào kỹ thuật đối với thương mại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chínhsách cạnh tranh…và cả những vấn đề phi thương mại như lao động, môi trường) Vìvậy TPP mới chắc chắn sẽ có phạm vi lớn hơn nữa
1.1.3.3 TPP – “FTA của thế kỷ XXI”
Tham gia đàm phán TPP, Hoa Kỳ tuyên bố nước này kỳ vọng TPP sẽ tạo dựngmột chuẩn mới cho các “FTA của thế kỷ 21” Rõ ràng đây không phải là một tuyên bốhình thức khi người ta nhìn vào các FTA mà Hoa Kỳ đàm phán trong thời gian gầnđây (FTA với Panama, Colombia và đặc biệt là FTA với Hàn Quốc ) Mong muốnđằng sau tuyên bố này là Hoa Kỳ sẽ cố gắng để TPP có phạm vi lớn nhất có thể, và vớimức độ mở cửa rộng nhất có thể
Với tham vọng như vậy của “người cầm trịch”, đàm phán TPP khó có thể là mộtđàm phán ở mức độ “tự do cầm chừng” hay phạm vi “tự do hạn chế”
Những yếu tố nêu trên là căn cứ để nhiều chuyên gia cho rằng mặc dù chưa xácđịnh các nội dung đàm phán thực chất, TPP sẽ có phạm vi điều chỉnh rộng, với xuhướng đàm phán tự do mạnh mẽ , ví dụ:
- Thuế quan: Cắt giảm hầu hết các dòng thuế (ít nhất 90%), thực hiện ngay hoặcthực hiện với lộ trình rất ngắn
- Dịch vụ: Tăng mức độ mở cửa các lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tàichính
Trang 15- Đầu tư: Tăng cường các quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài và bảo vệnhà đầu tư
- Quyền sở hữu trí tuệ: Tăng mức độ bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ cao hơn sovới mức trong WTO (WTO+)
- Các biện pháp SPS, TBT: Siết chặt các yêu cầu về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹthuật;
- Cạnh tranh và mua sắm công: Tăng cường cạnh tranh, đặc biệt trong lĩnh vựcmua sắm công
- Các vấn đề lao động: đặc biệt là các vấn đề về quyền lập hội (nghiệp đoàn),quyền tập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọihình thức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy địnhkhông phân biệt đối xử trong lực lượng lao động
- Các vấn đề phi thương mại khác: Tăng yêu cầu về môi trường
1.2 Tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may khi Hiệp định TPP được kí kết
1.2.1 Các tiêu chí đánh giá đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may khi Hiệp định TPP được kí kết
-Kim ngạch xuất khẩu:
Kim ngạch xuất khẩu là tổng giá trị của tất cả các hàng hóa xuất khẩu của quốcgia (hoặc một doanh nghiệp) trong một kỳ nhất định quy đổi đồng nhất ra một đơn vịtiền tệ nhất định Nói cách khác, kim ngạch xuất khẩu là lượng tiền thu được từ xuấtkhẩu các hàng hóa, dịch vụ của một quốc gia tính trong một thời gian cố định thường
là một tháng, một quý hoặc một năm Trị giá xuất khẩu hàng hóa là toàn bộ giá trịhàng hóa đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam làm giảm nguồn của cải vật chất của ViệtNam trong một thời kỳ nhất định Trị giá xuất khẩu được tính theo giá FOB Giá FOB
là giá giao hàng tại biên giới nước xuất khẩu, bao gồm giá của bản thân hàng hóa, chỉphí đưa hàng đến địa điểm xuất khẩu và chi phí bốc hàng lên phương tiện chuyên chở
-Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vàtổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trênđầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thayđổi về lượng của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng được tính bằng cách lấy chênh lệchgiữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh
tế kỳ trước Tốc độ tăng trưởng được tính bằng đơn vị %
Trang 16Biểu diễn bằng toán học sẽ có công thức:
-Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu:
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu là tổng thế các nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu trongtoàn bộ kim ngạch xuất khẩu với vị trí, tỷ trọng tương ứng và mối liên hệ hữu cơ tươngđối ổn định hợp thành Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu là sự thay đổi của cơ cấuhàng xuất khẩu từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với yêu cầu pháttriển Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu góp phần làm tăng nguồn thu ngoài tệ, cảithiên cán cân thanh toán quốc tế, giúp định hướng cho việc đầu tư sản xuất, tận dụngtiềm năng và phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước, buộc các doanh nghiệpphải luôn nâng cao hiệu quả sản xuất và xuất khẩu, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể.Ngoài những mặt hàng truyền thống như vụ cho các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cóchất lượng trung bình với mức giá thấp, xuất khẩu dệt may đang có xu hướng dịchchuyển sang các sản phẩm mẫu mốt, chất lượng tốt với mức giá cao Hàng dệt may củaViệt Nam xuất ra thế giới chủ yếu là nhóm hàng: bộ comple, quần áo đồng bộ, áojacket, áo khoác thể thao, váy dài, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống chẽn vàquần soóc dành cho phụ nữ và trẻ em gái (HS 6204 và HS 6104), quần soóc dành chonam giới và trẻ em trai (HS 6203); các loại áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy, gi-lê (HS6110); áo phông, áo may ô và các loại áo lot khác (HS 6109)…
-Cơ cấu thị trường xuất khẩu:
Cơ cấu thị trường là tỉ trọng các loại hàng hóa, dịch vụ và khả năng cung cấp cácloại hàng hóa của các nhà cung cấp trên thị trường đó Việt Nam xuất khẩu hàng dệtmay nhiều sang các thị trường Hoa Kỳ, EU, Canada và Nhật Bản, trong đó EU là thịtrường xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam chiếm 34%- 38% tổng kimngạch xuất khẩu hàng năm của Việt Nam Còn sản phẩm dệt may xuất khẩu sang NhậtBản đã được hưởng thuế ưu đãi theo hệ thống GSP nên kim ngạch xuất khẩu hàng dệt
Trang 17may vào thị trường này tăng khá nhanh trong những năm gần đây Bên cạnh đó, TrungĐông cũng là thị trường xuất khẩu hàng dệt may tiềm năng đối với Việt Nam Tại khuvực Trung Đông, thị trường chủ yếu với các sản phẩm may mặc là các Tiểu Vươngquốc Ả-rập thông nhất (UAE) và Ả-rập Xê-út do UAE là trung tâm thương mại, dulịch của khu vực Một phần lớn sản phẩm may sẵn ở UAE dành để phục vụ khách dulịch Do đặc điểm tôn giáo đạo Hồi, trang phục tại các nước Trung đông chủ yếu làtrang phục Hồi giáo, mang đặc điểm văn hóa Hồi giáo Chính vì vậy, các nước TrungĐông chủ yếu nhập vải để may trang phục theo phong cách Hồi giáo Trang phục công
sở hiện đại cũng được sử dụng những không nhiều như ở các thị trường khác ở châu
Âu, Đông Bắc Á Mặc dù vậy, các quốc gia ở khu vực Trung Đông vẫn là thị trường
có nhiều tiềm năng cho các sản phẩm dệt may, đặc biệt là vải và trang phục trẻ emmay sẵn Hiện nay, sản phẩm dệt may của Việt Nam mới chỉ chiếm một thị phần nhỏtại thị trường Trung Đông Nhờ việc tham gia vào Hiệp định TPP, các doanh nghiệpxuất khẩu dệt may của Việt Nam đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với các thị trườngquốc tế tiềm năng- nơi mà trước đây các doanh nghiệp Việt Nam chưa tiến hành hoạtđộng xuất khẩu hàng hóa Vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu các thôngtin thị trường, nghiên cứu về thị hiếu, mẫu mã, phong cách ăn mặc tại các quốc gianày Đồng thời, tích cực tham gia các hội chợ triển lãm hàng hóa trong khu vực cũngnhư trên thế giới nhằm giới thiệu về sản phẩm của doanh nghiệp cũng như nắm bắtđược nhiều cơ hội hơn trong kinh doanh Các doanh nghiệp cũng cần thiết lập các mốiquan hệ kinh doanh, mở rộng việc xâm nhập thị trường để đẩy mạnh hoạt động xuấtkhẩu hàng dệt may sang các quốc gia khác
-Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Hoạt động cuất khẩu chính là việc doanh nghiệp phải cạnh tranh với các doanhnghiệp nghiệp nước ngoài để tiêu thụ hàng hóa ở thị trường đó Trong bối cảnh hiệnnay, khi các quốc gia đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập và phát triển, sự canh tranh đó
là tất yếu Nó đảm bảo cho doanh nghiệp có chỗ đứng trên thị trường quốc tế, giúpdoanh nghiệp nâng cao hình ảnh của mình Việc nắm rõ về đối thủ cạnh tranh trên thịtrường xuất khẩu giúp doanh nghiệp có thể lựa chọn chiến lược kinh doanh, chiến lượccạnh tranh phù hợp và có hiệu quả nhất Hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp cũngnhư bất kì hoạt động sản xuất kinh doanh nào khác đều cần có vốn Khi xem xét nhân
tố này cần phải chú ý đén các chỉ tiêu về quy mô và khả năng thanh toán Quy mô vốncủa doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, khả năng sản xuất hàng hóa, tức làtác động đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường nướcngoài Dựa trên quy mô vốn của mình, doanh nghiệp có thể lựa chọn đoạn thị trường
mà doanh nghiệp dự định kinh doanh xuất khẩu Còn đối với phía nước ngoài, các chỉtiêu về khả năng thanh toán là cơ sở để họ lựa chọn bạn hàng để ký kết hợp đồng kinh
Trang 18doanh Nguồn lao động, máy móc, trang thiết bị và công nghệ là những nhân tố ảnhhưởng trực tiếp đến khả năng sản xuất của doanh nghiệp và quyết định chất lượng sảnphẩm Chất lượng sản phẩm là tiêu chí hàng đầu trong việc cạnh tranh với các sảnphẩm khác ở thị trường nước ngoài Doanh nghiệp quản lý và sử dụng hợp lý nguồnlao động, máy móc, trang thiết bị thì chất lượng sản phẩm sẽ được nâng cao, qua đólàm tăng hiệu quả hoạt động sản xuất Quản lý chi phí và chính sách giá là các nhân tốảnh hưởng trực tiếp tới việc xuất khẩu hàng hóa Việc quản lý tốt chi phí sẽ dẫn tớiviệc giá thành sản phẩm hạ, do đó giá cảm hàng hóa giảm Giá cả hàng hóa cũng làmột yếu tố cạnh tranh của sản phẩm Sản phẩm có chất lượng tốt, đảm bảo thì giá cảthấp là một lợi thế để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm Khách hàng sẽ dễdàng chấp nhận hơn đối với sản phẩm có giá cả thấp và hàng hóa của doanh nghiệp sẽthâm nhập vào thị trường nước ngoài dễ dàng hơn Trình độ quản lý của doanh nghiệpcũng ảnh hưởng đến xuất khẩu Một doanh nghiệp xuất khẩu có trình độ quản lý tốt sẽ
là một bảo đảm cho chất lượng cản phẩm, tạo cho khách hàng một sự tin tưởng nhấtđịnh cho sản phẩm của doanh nghiệp Điều này giúp nâng cao khả năng cạnh tranh củasản phẩm, từ đó tăng hiệu quả xuất khẩu của doanh nghiệp Uy tín và hình ảnh củadoanh nghiệp là những lợi thế vố hình mà doanh nghiệp không thể lượng hóa hết.Doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp có được thị trường trong vàngoài nước biết đến và chấp nhận hay không phụ thuộc vào các yếu tố này Khi doanhnghiệp đã xây dựng cho mình một hình ảnh, tên tuổi trên thị trường quốc tế cũng chính
là tạo ra cho khách hàng và đối tác kinh doanh khác một sự đảm bảo tin cậy Nhờ vậy,sản phẩm của doanh nghiệp dễ dàng được thị trường nước ngoài chấp nhận, dễ dàngđược tiêu thụ hơn và có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các sản phẩm của cácdoanh nghiệp khác
- Hiệu quả xuất khẩu:
Hiện nay, hoạt động xuất khẩu đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm, chútrọng và đẩy mạnh đầu tư để phát triển về hình thức kinh doanh này Việc đánh giáhiệu quả xuất khẩu rất quan trọng và cần thiết đối với những doanh nghiệp này Đánhgiá hiệu quả xuất nhập khẩu sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được hiệu quả manglại thông qua mỗi hợp đồng xuất khẩu cũng như toàn bộ quá trình hoạt động xuất khẩucủa doanh nghiệp Hơn nữa, dựa trên đánh giá hiệu quả xuất khẩu này để đánh giádoanh nghiệp có phù hợp với hình thức kinh doanh xuất khẩu này không, để từ đóquyết định xem nên tiếp tục hay dừng lại hoạt động kinh doanh xuất khẩu này
Trang 19+ Đối với kinh tế:
Quá trình sản xuất- xuất khẩu của ngành dệt may ảnh hưởng lớn đến hoạt độngxuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế nước ta
và đối với mỗi doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may
Thứ nhất, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may sẽ tạonguồn thu nhập, tích lũy cho Nhà nước một nguồn ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩu cácthiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu… để phát triển sản xuất phục vụ cho sựnghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước Đồng thời, giúp cho mỗi doanh nghiệp
có cơ sở để tự hiện đại hóa quy trình sản xuất của mình Bên cạnh đó, khi xuất khẩucác sản phẩm dệt may, nước ta sẽ thu được một nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tếquốc dân, đáp ứng việc nhập khẩu các loại hàng hóa mà chúng ta cần để đảm bảo cho
sự phát triển cân đối, ổn định của nền kinh tế Việc xuất khẩu hàng dệt may cũng giúpchúng ra khai thác tối đa tiềm lực của doanh nghiệp cũng như tiềm năng của đất nước.Bản thân mỗi doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động kinh doanh sẽ phải nhận thức rõđược điểm mạnh, điểm yếu của mình để tận dụng triệt để, tối đa những điểm mạnh vàtối thiểu những điểm yếu của mình Cùng với tiềm lực sẵn có, doanh nghiệp sẽ kết hợpvới những tiềm năng của đất nước để nắm bắt những cơ hội thách thức, đồng thời giảiquyết những khó khăn trong việc kinh doanh nói chung và trong việc xuất khẩu hàngdệt may nói riêng
Thứ hai, xuất khẩu và mở rộng thụ trường xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàngdệt may nói riêng được xem là một yếu tố thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế vì
nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, gâyphản ứng dây chuyền kéo theo một loạt các ngành khác có liên quan phát triển theo.Khi ngành dệt may đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu thìbuộc doanh nghiệp sẽ phải mở rộng quy mô sản xuất và cần nhiều nguyên vật liệu hơn
để phục vụ cho ngành dệt may Điều đó sẽ dẫn theo sự phát triển của ngành trồng bông
và các ngành liên quan khác như sản xuất phân bón, vận tải… Ở nước ta hiện nay,công nghiệp dệt may đang góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn thông quatăng cường sản xuất bông, đay, tơ tằm và là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế
từ nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp Ngược lại, công nghiệp dệt may sẽ làđộng lực để công nghiệp may và các ngành khác sử dụng dệt làm nguyên liệu pháttriển theo
Thứ ba, việc tiến hành các hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩuhàng dệt may góp phần giúp Nhà nước và bản thân các doanh nghiệp sử dụng có hiệuquả nhất các nguồn lực có sẵn và các lợi thế vốn có của quốc gia cũng như của cácdoanh nghiệp Đồng thời, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với sự phát triển của khoa
Trang 20học công nghệ trên mọi lĩnh vực để nâng cao chất lượng, tăng sản lượng và hướng tới
sự phát triển bền vững, lâu dài cho đất nước và doanh nghiệp đó
Thứ tư, để đẩy mạnh việc xuất khẩu dệt may và mở rộng thị trường xuất khẩu dệtmay có hiệu quả cao, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư vào trang thiết bịmáy móc, công nghệ sản xuất để vừa cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm, vừa tăngnăng suất lao động thì mới có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt, có thể cạnhtranh trên thị trường quốc tế Như vậy, xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩuhàng dệt may có vai trò kích thích đổi mới công nghệ sản xuất cho nền kinh tế nóichung và cho ngành dệt may nói riêng
Thứ năm, nhờ có hoạt động xuất khẩu và công tác mở rộng thị trường xuất khẩuhàng dệt may mà sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực cũng nhưtrên thế giới ngày càng phát triển bền chặt hơn Việc xuất- nhập khẩu chính là sự traođổi hàng hóa giữa các quốc gia, thể hiện mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cácquốc gia và là hình thức ban đầu của hoạt động đối ngoại Không chỉ thế, nó còn tạođiều kiện cho các doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để tiếp xúc với thị trường bênngoài, từ đó có nguồn thông tin vô cùng phong phú và nhạy bén với cơ chế thị trường,thiết lập được nhiều mối quan hệ và tìm được nhiều bạn hàng trong kinh doanh để hợptác xuất- nhập khẩu
Như vậy, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàngdệt may có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với bản thân mỗi doanh nghiệp dệtmay mà còn có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân Chính vì thế, nó được xemnhư hướng phát triển có tính chiến lược góp phần quan trọng vào quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Đối với xã hội:
Đó là những lợi ích của hoạt động kinh doanh xuất khẩu mà doanh nghiệp đómang lại cho đất nước, xã hội Những kết quả về mặt xã hội thường được Nhà nướckhuyến khích để xuất khẩu, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệphoạt động trong các lĩnh vực liên quan
Công nghệ dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn, phát huy được lợithế của những nước có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ Chính vì vậy,hoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may góp phần giúpNhà nước giải quyết vấn đề công ăn việc làm, cải thiện và nâng cao mức sống củangười dân, đưa quốc gia thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu Việc ngành dệt mayhoạt động xuất khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu đồng nghĩa với việc các doanhnghiệp xuất khẩu sẽ phải mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm đểđáp ứng nhu cầu đa dạng, khắt khe của thị trường quốc tế Ngành dệt may cũng thu hútđược nhiều lao động hơn phục vụ cho quá trình sản xuất và đồng thời giúp họ có một
Trang 21mức thu nhập cao, ổn định, tay nghề của người lao động sẽ được cải thiện, nâng cao dokhi xuất khẩu hàng dệt may, gần như tất cả các doanh nghiệp dệt may sẽ phải tiến hànhđào tạo một cách bài bản và có kế hoạch cụ thể Người lao động cũng có cơ hội tiếpcận với công nghệ sản xuất dệt may hiện đại Như vậy, việc xuất khẩu hàng dệt maytạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu lợi nhuận, tích lũy để làm tiền
đề phát triển các ngành công nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống, giải quyếtđược các vấn đề xã hội và ổn định tình hình xã hội
- Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả có tính tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng củahoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề để duy trì và tái sản xuất mở rộng doanhnghiệp, để cải thiện và nâng cao đời sống người lao động
Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu được tính bằng công thức:
TR = P x Q
Trong đó: TR: tổng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu P: giá cả hàng hóa xuất khẩu
Q: số lượng hàng hóa xuất khẩu
Lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu là số chênh lệch của tổng doanh thu và tổngchi phí phải bỏ ra:
Lợi nhuận = TR – TC
Trong đó: TC: tổng chi phí bỏ ra trong hoạt động xuất khẩu
- Tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu: Hiệu quả của việc xuất khẩu được xác định bằng
cách so sánh số ngoại tệ thu được do xuất khẩu (giá trị quốc tế của hàng hóa) vớinhững chi phí bỏ ra cho việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu đó Tỷ suất lợi nhuận xuấtkhẩu là chỉ tiêu hiệu quả tương đối
Biểu diễn bằng toán học có công thức:
Trang 22p = (P/ TR) x 100%
Trong đó: p: tỷ suất lợi nhuận xuất khẩu
P: lợi nhuận xuất khẩu
Nếu p > 1 thì doanh nghiệp đạt hiệu quả trong xuất khẩu
Nếu p < 1 thì doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả trong xuất khẩu
- Tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu:
Tỷ suất ngoại tệ = thu nhập ngoại tệ (USD)/ tổng nội tệ xuất khẩu (VNĐ)
Nếu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu < tỷ giá do Ngân hàng nhà nước công bố thìdoanh nghiệp nên tiếp tục hoạt động xuất khẩu
Nếu tỷ suất ngoại tệ xuất khẩu > tỷ giá do Ngân hàng nhà nước công bố thì doanhnghiệp không nên tiếp tục hoạt động xuất khẩu
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xuất khẩu dệt may
- Hoạt động sản xuất hàng dệt may trong nước cũng tác động đến việc xuất khẩuhàng hóa này Có hai cách nhìn nhận về tác động của sản xuất hàng dệt may đối vớihoạt động xuất khẩu
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng nội địa.Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu, kém phát triển sản xuất về cơ bản chưa đủtiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự dư thừa của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹptrong phạm vi nhỏ và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hộiphát triển
Thứ hai, coi thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu Quan điểm nàytác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc dẩy doanh nghiệp trong nướcsản xuất để xuất khẩu Nó được thể hiện như sau:
+ Sản xuất hàng hóa để xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội pháttriển Điều này có thể thông qua ví dụ như khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, cácngành khác như bông, sợ, nhuộm, tẩy… sẽ có điều kiện để cung phát triển
Trang 23+ Sản xuất hàng hóa để xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thụ trường sản phẩm,góp phần ổn định sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô, mở rộng thị trường tiêu dùng củaquốc gia Nó cho phép một quốc giacó thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượnglớn hơn nhiều lần giới hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó, thậm chí cả những mặthàng mà quốc gia đó không có khả năng sản xuất.
Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp chiu tác động của nhiều yếu
tố và doanh nghiệp chỉ có thể kiểm soát một phần trong số đó Do vậy, việc dự báoảnh hưởng của nó là rất khó khăn Các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp
có hoạt động xuất khẩu cần nắm rõ từng nhân tố để phát huy những tác động tích cực,hạn chế các mặt tiêu cực của các nhân tố này đến hoạt động xuất khẩu của mình
Có bốn nhân tố chính ảnh hưởng đến việc sản xuất cũng như xuất khẩu hàng hóa
đó là: nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ:
- Nguồn nhân lực :
Nguồn nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực Thểlực phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ănuống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, môi trường làm việc,… Trí lực là nguồn tiềm tàng tolớn của con người Đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhâncách… của con người Chất lượng đầu vào của lao động tức là kỹ năng, kiến thức và
kỷ luật của đội ngũ lao động là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Hầu hếtcác yếu tố khác như tư bản, nguyên vật liệu, công nghệ… đều có thể mua hoặc vaymượn được nhưng nguồn nhân lực thì khó có thể làm điều tương tự Các yếu tố nhưmáy móc, nguyên vật liệu hay công nghệ sản xuất chỉ có thể phá huy được tối đa hiệuquả bởi đội ngũ lao động có trình độ văn hóa, có sức khỏe và kỷ luật lao động tốt
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên :
Tài nguyên thiên nhiên là những của cải, vật chất có sẵn trong tự nhiên mà conngười có thể khai thác, chế biến, sử dụng để phục vụ cho cuộc sống của con người.Những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng sản, dầu mỏ, rừng, nguồn nước…Tài nguyên thiên nhiên chia làm 2 loại đó là: tài nguyên tái tạo và tài nguyên khôngtái tạo
+ Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật…) là tài nguyên có thể tự duy trìhoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên,nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạođược Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hóa,bạc màu, xói mòn…
+ Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biếnđổi sau quá trình sử dụng Ví dụ: tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể bị cạn kiệt
Trang 24sau khi khai thác, tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự tiêu diệt của cácloài sinh vật quý hiếm
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế Là một nướcgiàu tài nguyên thiên nhiên, con người có thể tận dụng lợi thế này giúp cho hoạt độngcủa doanh nghiệp Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần hiểu rõ về tài nguyên thiên nhiên
và sự hữu hạn của nó để có những cách sử dụng tài nguyên phù hợp và hiệu quả chohoạt động kinh doanh của mình
- Vốn :
Vốn là các của cải, vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại Nó có thể tồn tạidưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính Vốn là một trong những nhân tố sản xuất Cóvốn, các doanh nghiệp có thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, mua sắm cáctrang thiết bị, máy móc hiện đại hay triển khai các kế hoạch khác trong tương lai Tùytheo mức độ vốn mà người lao động được sử dụng máy móc, trang thiết bị…nhiều hay
ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp Để có được vốn,phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai Điều này đặc biệt quantrọng cho sự phát triển dài hạn Những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP caothường có được sự tăng trưởng cao và bền vững Vốn không chỉ là máy móc, thiết bị
do tư nhân đầu tư cho sản xuất Nó còn được gọi là tư bản cố định xã hội, những thứtạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển Tư bản cố định xã hội thường lànhững dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi có lợi suấttăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện Ví dụ: hạ tầng của sản xuất(đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia…), sức khỏe cộng đồng, thủy lợi… Vậyyêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là họ cần phải có sự quản lý và sử dụng cóhiệu quả nguồn vốn của mình nhằm bảo toàn, phát triển vốn và đảm bảo cho các doanhnghiệp ngày càng phát triển và vững mạnh
- Công nghệ :
Công nghệ là sự tạo ra, sự biến đổi, việc sử dụng và kiến thức về các công cụ,máy mốc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, phương pháp tổ chức nhằm giảiquyết một vấn đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích hay thực hiệnmột chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp như vậy, bao gồmmáy móc, những sự sắp xếp hay những quy trình Công nghệ ảnh hưởng đáng kể lênkhả năng kiểm soát và thích nghi của con người cũng như của những động vật khácvào môi trường tự nhiên của mình Trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế
rõ ràng không phải là sự sao chéo giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động
và tư bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất Côngnghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng caohơn, nghĩa là quá trình có hiệu quả hơn Công nghệ phát triển ngày càng nhanh chóng và
Trang 25ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,… có nhữngbước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên, thay đổi công nghệ không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; côngnghệ có phát triển và ứng dụng một cách nhanh chóng được là nhờ sự duy trì cơ chế chophép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một cách xứng đáng.
- Chính sách hỗ trợ :
Chính sách tỷ giá hối đoái là công cụ hữu hiệu của nhà nước để quản lý xuấtnhập khẩu Tỷ giá hối đoái tăng hay giảm làm cho giá cả của hàng hóa xuất khẩu trởnên đắt gay rẻ một cách tương đối Sự thay đổi đó có thể tạo ra những biến động vềnhu cầu của hàng hóa xuất khẩu Nhưng một chính sách tỷ giá hối đoái ổn định luôn làđiều mà bất kì doanh nghiệp nào mong đợi Chính sách tiền tệ và quản lý ngoại tệ:quản lý ngoại tệ giúp cho việc thanh toán các hợp đồng kinh doanh xuất khẩu trở nênkhó khăn hơn do các đối tác không đủ lượng ngoại tệ do sự quản lý chặt chẽ của nhànước Trong khi đó, chính sách tiền tệ là công cụ nhà nước quản lý lạm phát hay tácđộng đến tỷ giá hối đoái Chính sách đó có thể khuyến khích hay hạn chế nhu cầu tiêudùng của người dân Cùng với đó là các quy định về mức thuế, hạn ngạch cho từngnhóm hàng Thuế nhập khẩu là nhân tố tác động mạnh đến hoạt động xuất khẩu Cácnước nhập khẩu dùng nó để bảo hộ cho nền sản xuất hàng hóa nội địa và làm tăng giá
cả hàng hóa nhưng không hạn chế về quy mô, số lượng sản phẩm được phép xuấtkhẩu Hệ thống các chính sách ưu đãi là các chính sách mà doanh nghiệp cần triệt đểlợi dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu Do vậy, họ thường xây dựng nhiềuchính sách ưu đãi Đối với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, đó cỏ thể là việc giảm thuế,miễn thuế hay các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu Doanh nghiệp có thể hưởng ưu đãi docác Hiệp định thương mại, quy chế đãi ngộ tối hụê quốc (MFN), hệ thống ưu đãi phổcập (GSP) đối với quốc gia của mình để có được mức thuế ưu đãi gia tăng hạn ngạchxuất khẩu Hệ thống các chính sách, pháp luật luôn được các quốc gia thay đổi, buộccác doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu cần phải có những điều chỉnh linh hoạt và hợp
lý để kịp thời thích ứng đối với những quy định mới ở thị trường đã, đang và sẽ tiếnhành hoạt động xuất khẩu
+ Chính sách trên thế giới:
Ở các quốc gia khác nhau trên thế giới sẽ có những chính sách về xuất nhập khẩu
và tiêu thụ hàng hóa khác nhau của từng thị trường tiêu dùng các quốc gia Do vậy, cácchính sách trên thế giới đặc biệt quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp khitiến hành xuất khẩu hàng hóa ra thị trường các quốc gia trên thế giới Hàng hóa cóđược lưu thông hay không phụ thuộc vào yếu tố đầu tiên đó là pháp luật các quốc gia
đó quy định về việc xuất khẩu hàng hóa, các rào cản thuế quan, rào cản thương mại,
Trang 26các chính sách trong việc bảo hộ hàng hóa, bảo vệ và đảm bảo quyền lợi, nhu cầu, sứckhỏe người tiêu dùng,…
+ Chính sách trong nước:
Nhà nước có những vai trò rất quan trọng đối với việc tiến hành hoạt động xuất khẩucủa các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Vai trò chính của Nhà nước chính là tác động đếnquá trình thúc đẩy việc xuất khẩu hàng hóa thông qua những vấn đề cụ thể sau:
Nhà nước tạo ra những môi trường thuận lợi nhất cho việc xuất khẩu hàng hóa
ra các thị trường trên thế giới với những chính sách chủ động, tích cực, thu hẹp bộ máyquản lý hành chính, giảm thiểu những hàng rào thuế quan xuất khẩu Bên cạnh đó,Nhà nước cũng kiểm soát chặt chẽ, thường xuyên những mặt hàng xuất khẩu, nghiêmcấm xuất khẩu các mặt hàng bị pháp luật Nhà nước cấm
Nhà nước cung cấp thông tin, những yếu tố cần thiết như là thông tin nhữngđiều kiện thị trường trong nước cũng như nước ngoài, vật chất kinh tế và xã hội để hỗtrợ cho việc sản xuất, nâng cấp cơ sở hạ tầng và thúc đẩy, nâng cao năng lực cạnhtranh trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như trong quá trình xuất khẩu hàng hóa
1.3 Tác động của Hiệp định TPP đến việc xuất khẩu hàng dệt may
- Mỗi Bên phải có biện pháp thích hợp, có thể bao gồm biện pháp lập pháp,
hành chính, tư pháp, hoặc hành động khác phục vụ cho:
+ Việc thi hành pháp luật, quy định và thủ tục liên quan đến vi phạm pháp luật vềhải quan và
+ Hợp tác với Bên nhập khẩu trong việc thi hành quy định pháo luật và thủ tụccủa mình liên quan đến công tác phòng chống vi phạm pháp luật về hải quan
- Một yêu cầu bất kỳ theo khoản 4 Điều 4.4 phải được lập bằng văn bản, bằng
các phương tiện điện tử hoặc phương pháp khác, và phải bao gồm môt tuyên bố ngắngọn về vấn đề cần giải quyết, yêu cầu hợp tác, các thông tin liên quan về vi phạm phápluật về hải quan, và đầy đủ thông tin để Bên được yêu cầu phản hồi theo đúng luậtpháp và quy định của mình
- Nhằm tăng cường nỗ lực hợp tác theo Điều này giữa các Bên để ngăn chặn và
xử lý vi phạm pháp luật về hải quan, Bên nhận được yêu cầu theo khoản 4 Điều 4.4,theo luật pháp, quy định và thủ tục của mình, kể cả những người liên quan đến bảo mậtđược nêu trong Điều 9.4, phải cung cấo cho Bên yêu cầu thông tin về sự tồn tại củamột nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu, hoặc nhà sản xuất, hàng hóa của một nhà nhập
Trang 27khẩu, nhà xuất khẩu, hoặc nhà sản xuất, hoặc các vấn đề liên quan đến Chương nàysau khi nhận được yêu cầu theo quy định tại khoản 5 Điều 4.4 Thông tin có thể baogồm thư từ có sẵn, báo cáo, vận đơn, hóa đơn, hợp đồng đặt hàng, hoặc các thông tinkhác liên quan đến việc thi hành pháp luật hoặc quy định liên quan đến yêu cầu
- Mỗi Bên phải thiết lập hoặc duy trì các đầu mối liên lạc phục vụ hợp tác theo
Chương này Mỗi Bên phải thông báo cho các Bên khác về các đầu mối liên lạc củamình kể từ khi Hiệp định có hiệu lực và phải thông báo kịp thời cho Bên kia nhữngthay đổi tiếp theo
- Mỗi Bên phải thiết lập hoặc duy trì các chương rình hay các hoạt động để xác
định và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan liên quan đến hàng dệt may, có thẻ baogồm các hoạt động để đảm bảo tinhd chính xác của các yêu cầu hưởng ưu đãi thuếquan đối với hàng dệt và may mặc theo Hiệp định này
- Các Bên nhất trí thành lập một Ủy ban về Hàng dệt may gồm đại diện của
từng Bên Ủy ban về Hàng dệt may sẽ họp ít nhất một lần trong năm có hiệu lực củaHiệ định này và các lần họp sau do các Bên quyết định theo yêu cầu của Ủy ban TPP
Ủy ban sẽ họp tại các địa điểm và thời điểm do các Bên quyết định Các cuộc họp cóthể trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện do các Bên quyết định
- Mỗi bên phải duy trì tính bảo mật của các thông tin thu thập được theo quy
định tại Chương này và phải bảo vệ thông tin đó không bị tiết lộ vì việc tiết lộ thôngtin có thể hại đến vị thế cạnh tranh của những người cung cấp thông tin Trường hợpmột Bên cung cấp thông tin thuộc diện bảo mật cho một Bên khác theo quy định tạiChương này, Bên nhận thông tin có trách nhiệm giữu bí mật thông tin Bên cung cấocác thông tin có quyền yêu cầu Bên nhận thông tin lập một đảm bảo bằng văn bản vềviệc giữ bí mật các thông tin này và chỉ được sử dụng cho các mục đích quy định trongyêu cầu của Bên nhận thông tin, và sẽ không được tiết lộ mà không có sự cho phép củaBên cung cấo thông tin hoặc người đã cung cấo thông tin cho Bên đó Một Bên cóquyền từ chối cung cấp thông tin theo yêu cầu của một Bên khác nếu Bên đó khôngtuân thủ các khoản từ 1 đến 3 trong Điều 4.9 Mỗi Bên phải áp dụng hoặc duy trì cácthủ tục để ngăn chặn việc tiết lộ trái phép thông tin bí mật được cung cấp theo phápluật về hải quan và quy định pháp luật khác của mình, hoặc được thu thập theo quyđịnh tại Chương này, bảo gồm cả thông tin mà việc tiết lộ có thể gây phương hại vị thếcạnh tranh của người cung cấp thông tin
1.3.2 Tác động tiêu cực
- Việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuôn khổ đàm phánHiệp định TPP đặt ra những thách thức không nhỏ, đặc biệt là sức ép về mở cửa thịtrường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp của Việt Nam nói chung và các doanhnghiệp dệt may nói riêng trong khi vốn của các doanh nghiệp còn hạn hẹp, khả năng
Trang 28quản lý còn nhiều bất cập Nếu không có sự chuẩn bị cũng như điều chỉnh tốt, nhiềungành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn
- Tham gia Hiệp định TPP có thể gây ra một số hệ quả xã hội tiêu cực như tìnhtrạng phá sản và thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu Khi tiến
ra thị trường quốc tế, cũng có nghĩa là doanh nghiệp phải đối mặt với muôn vàn khókhăn, thách thức.Ở đó, nhu cầu của người tiêu dùng vô cùng khắt khe, đa dạng, buộcdoanh nghiệp phải cải tiến, nâng cao số lượng cũng như chất lượng sản phẩm đề có thểđáp ứng được những nhu cầu đó.Nếu như doanh nghiệp không làm được điều nàycũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã thất bại và sẽ dẫn đến phá sản Khi doanhnghiệp phá sản, những công nhân lao động của doanh nghiệp sẽ không có việc làm,nạn thất nghiệp gia tăng sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình kinh tế- xã hội
- Để thực thi cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ phải điều chỉnh, sửađổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ… Đây làmột điều không dễ phải
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM
2.1 Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam giai đoạn 2010-2015
2.1.1 Kim ngạch và tốc độ xuất khẩu:
* Có mức tăng trưởng mạnh:
-Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt nam đã có mức tăng trưởng mạnh, tăngtrưởng bình quân giai đoạn 2010-2014 đạt 22,3%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bìnhxuất khẩu của Việt nam Đến năm 2014 có kim ngạch xuất khẩu đạt 24.692 triệu USD
và trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước
-Trong tháng 12 năm 2015, xuất khẩu đạt 2,21 tỷ USD, tăng 29,1% so với thángtrước, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của cả nước trong năm 2015 lên22,81 tỷ USD, tăng 9,1%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 16,4% của năm 2014
-Các thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm qua là: Hoa
Kỳ đạt 10,96 tỷ USD, tăng 11,7%; sang EU đạt 3,47 tỷ USD, tăng 4,2%; sang NhậtBản đạt 2,79 tỷ USD, tăng 6,3%; sang Hàn Quốc đạt 2,13 tỷ USD, tăng nhẹ 2% so vớinăm 2014
-Mặc dù trong thời gian vừa qua, mặt hàng dệt may xuất khẩu đã gặp rất nhiềukhó khăn, phải cạnh tranh gay gắt với hàng dệt may của nhiều nước, đặc biệt là hàngdệt may Trung quốc Nhưng xuất khẩu dệt may của Việt nam nói chung và hàng dệtmay của Việt nam xuất khẩu vào các nước sẽ là thành viên của TPP đã đạt được một
số kết qủa sau:
Bảng 2.1: Kết quả đạt được của mặt hàng dệt may Việt Nam khi xuất khẩu vào
các nước thành viên của TPP ( 2010-2015)
Trang 30Biểu đồ 1: Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may qua các năm (2010-2015)
*Tập trung ở các thị trường lớn:
-Trong 8 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ đạt 6,5 tỷ USD, tăng 15,3%; sang EU đạt 2,21 tỷ USD, tăng 25,3%; sang Nhật Bản đạt 1,68 tỷ USD, tăng 11%; sang Hàn Quốc đạt 1,22 tỷ USD, tăng 39,8% Nhìn chung, tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này sang 4 thị trường lớn nhất chiếm tới 85,4% tổng trị giá xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.
Trang 31Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính 8 tháng
năm 2014
2.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu:
- Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu không đều, hàng dệt may của Việt Nam xuất ra thếgiới chủ yếu là nhóm hàng bộ com- lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, áo khoác thể thao,váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống chẽn và quần soóc dành cho phụ
nữ và trẻ em gái (HS 6204 và HS 6104), bộ com- lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, áokhoác thể thao, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần ống chẽn và quầnsoóc dành cho nam giới và trẻ em trai (HS6203); các loại áo bó, áo chui đầu, áo càikhuy, gi-lê (HS6110); áo phông, áo may ô và loại áo lót khác (HS6109)
Bảng 2.2: Cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2012 theo mã HS
Nguồn: Tổng cục Hải quan (Ghi chú:*Để biết thông tin về mã HS độc giả tham khảo thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài Chính về ban hành danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam)
Trang 322.1.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu:
* Tập trung vào các thị trường lớn:
-Trong năm 2011, 2012 Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác lớnnhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang
4 thị trường này đạt 12,96 tỷ USD, chiếm tới 86% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệtmay của cả nước
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Biểu đồ 3: Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường chính năm 2011 và năm 2012
Biểu đồ 4: Hoa Kỳ- Thị trường xuất khẩu hàng đầu
Trang 33+ Thị trường Hoa Kỳ:
- Trong đó, Hoa Kỳ luôn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu hàng dệt may củaViệt Nam với kim ngạch đạt 7,46 tỷ USD, chiếm 49,4% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may của cả nước Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuấtsang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với tỷ trọng chiếm 37,9% trong tổngkim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ
-Theo số liệu thống kê mới nhất của Văn phòng Dệt may Mỹ (OTEXA), năm
2012 thị phần hàng dệt may Việt Nam tại Hoa Kỳ chiếm khoảng 7,6% Trong nămqua, Hoa Kỳ nhập khẩu hàng dệt may từ tất cả các nước trên thế giới giảm nhẹ (0,4%)nhưng nhập khẩu nhóm hàng này từ Việt Nam vẫn tăng hơn 8% so với năm trước.-Có thể thấy, Hoa Kỳ đang dần trở thành một thị trường xuất khẩu đầy tiềm năngđối với hàng dệt may Việt Nam khi gần 50% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may củaViệt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ
-Chỉ tính riêng mặt hàng này đã chiếm khoảng 28,4% tổng kim ngạch hàng hóa
từ Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ và chiếm gần 46,82% kim ngạch xuất khẩu hàngdệt may của cả nước trong 10 tháng năm 2014
+Thị trường EU:
-EU là thị trường duy nhất có mức suy giảm nhẹ trong năm 2012, đạt 2,5 tỷUSD, giảm 3,8% so với năm 2011 Ba thị trường Hoa Kỳ (đạt 7,5 tỷ USD), Nhật Bản(đạt 2,0 tỷ USD) và Hàn Quốc (đạt 1,1 tỷ USD) đều có mức tăng cao hơn mức tăngchung (7,5%) của nhóm hàng này, lần lượt là 8,7%, 22,2% và 17,6%
+ Các thị trường khác:
-Trong 10 tháng đầu năm 2014, hàng dệt may là mặt hàng chủ lực của Việt Namxuất khẩu sang hầu hết các thị trường trên thế giới Đặc biệt, nhiều thị trường xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD như: Hoa Kỳđạt 8,16 tỷ USD; Nhật Bản đạt 2,16 tỷ USD; Hàn Quốc đạt 1,86 tỷ USD
-Theo sau đó là các thị trường khác như: Đức 628 triệu USD; Tây Ban Nha 584triệu USD; Anh 478 triệu USD; Canada 404 triệu USD; Trung Quốc 388 triệu USD …
Trang 34Biểu đồ 5: Tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường chính
-Sức khỏe của các nền kinh tế lớn cũng có ảnh hưởng đến triển vọng tăng trưởngxuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Theo báo cáo triển vọng kinh tế toàn cầu năm
2015, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nhận định, các nền kinh tế đầu tàu thế giới đang cónhững tín hiệu hồi phục tích cực
-Cụ thể, trong 8 tháng đầu năm 2015, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ - thịtrường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam chiếm 50% Trong khi đó, dù kinh tếNhật Bản vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thịtrường này vẫn ở mức tăng trưởng khá đạt 12% Kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốcđạt 8%, sang Đức và Anh đều ở mức 3%
2.1.4 Hiệu quả xuất khẩu:
* Đối với kinh tế:
-Dự báo cả năm 2015, xuất khẩu dệt may có thể đem về khoảng 28 tỷ USD, gópphần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của cả nước Việt Nam luôn nằmtrong top 5 các nước xuất khẩu dệt may, qua đó cũng tạo cơ hội để tăng thêm nguồnthu và nâng cao nguồn dự trữ ngoại tệ cho đất nước
Trang 35-Nếu so với các quốc gia cạnh tranh trên thị trường Mỹ, Việt Nam tiếp tục đạttăng trưởng dẫn dầu với 2 con số, trong khi các quốc gia khác tăng nhẹ hoặc thậm chícòn tăng trưởng âm (Trung Quốc tăng chưa tới 1%, Ấn Độ tăng 6%, Indonesia,Bangladesh Campuchia tăng trưởng âm).
-Đáng chú ý, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào các thị trường lớn đều giữđược mức tăng trưởng khá, như Mỹ tăng 12,95%; EU tăng 5,96%; Nhật Bản tăng7,95% và Hàn Quốc tăng 8,77% so với năm 2014
-Điều này có sự đóng góp của các doanh nghiệp lớn thuộc Vinatex như TổngCông ty cổ phần Phong Phú; Tổng Công ty cổ phần Dệt May Hòa Thọ; Tổng Công ty
cổ phần May Việt Tiến; Tổng Công ty May 10; Tổng Công ty Đức Giang
-Trong năm 2014, hàng dệt may là mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất khẩusang hầu hết các thị trường trên thế giới Trong đó thị trường Hoa Kỳ dẫn đầu với kimngạch đạt 9,82 tỷ USD; chiếm khoảng 46,9% kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của
cả nước
-Thị trường EU đứng thứ 2 với kim ngạch đạt 3,4 tỷ USD, tăng 17% Các mặthàng xuất khẩu như áo jacket, quần nam nữ, áo hàng suite nam nữ… chiếm tỷ trọngcao trong cơ cấu mặt hàng may mặc xuất khẩu sang EU Thị phần hàng dệt may củaViệt Nam trên thị trường EU tăng từ 1% (trong năm 2013) lên 1,98% (trong năm2014)
-Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 3 của Việt Nam với kimngạch đạt 2,7 tỷ USD tăng 9%, thị phần tăng từ 6,01% lên 6,61% Thị trường HànQuốc tăng tới 27% trong năm 2014 với kim ngạch 2,4 tỷ USD, trong đó tăng trưởngmạnh nhất là các nhóm hàng áo khoác, áo jacket, hàng suite, quần nam nữ
* Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng ấn tượng:
-Đánh giá về kết quả của ngành dệt may trong năm 2014, ông Lê Tiến Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), ngành dệt may đã có sự tăngtrưởng ấn tượng với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 24,5 tỷ USD (chỉ sau kim ngạch xuấtkhẩu điện thoại các loại và linh kiện)
Trường-So với năm 2013, giá đơn hàng dệt may xuất khẩu của năm 2014 thấp hơn bởigiá tất cả nguyên liệu chính đều giảm, trong khi kim ngạch tăng chứng tỏ sản lượngcủa ngành tăng ở mức khá
-Xuất khẩu hàng dệt may 11 tháng đầu năm 2015 sang các thị trường đạt mứctăng trưởng 8,77% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái 2014, thu về 20,63 tỷUSD, chiếm 14% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước Vớimức tăng trưởng khả quan tại các thị trường trọng điểm, xuất khẩu dệt may năm 2015được dự đoán đạt 27,2 tỷ USD, tăng trên 10% so với năm 2014
Trang 36- Thị trường Hoa Kỳ chiếm gần 48% thị phần hàng dệt may xuất khẩu của ViệtNam, đạt trị giá trên 9,88 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm, tăng trưởng 11,57% so vớicùng kỳ năm ngoái; thị trường lớn thứ 2 là Nhật Bản, chiếm 12,26% tổng kim ngạch,đạt 2,53 tỷ USD, tăng 6,11%; đứng thứ 3 là thị trường Hàn Quốc 1,98 tỷ USD, chiếm9,6%, tăng nhẹ trên 1% so cùng kỳ Tiếp đến thị trường Anh 700,17 triệu USD, tăng17,7%; Đức 698,54 triệu USD, giảm 8,62%; Trung Quốc 670,47 triệu USD, tăng43,8%
- Xuất khẩu hàng dệt may năm 2015 sang các thị trường truyền thống nói chungvẫn đạt được mức tăng trưởng dương so với năm 2014 Một số thị trường đặc biệt tăngtrưởng mạnh như: Gana tăng 841,98%, Pháp tăng 99%, Ấn Độ tăng 60,18%
Biểu đồ 6: Kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU (2010-2015)
* Đối với xã hội:
-Tạo việc làm, giải quyết vấn đề lao động, nhất là lao động nông thôn, do laođộng dệt may không đòi hỏi nhiều lao động lành nghề, kỹ năng cao như một số ngànhkhác Sử dụng nhiều lao động giản đơn, phát huy được lợi thế của những nước cónguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ Nhìn vào biểu đồ dưới, có thể thấy tỷtrọng nhu cầu nhân lực của ngành dệt may là 35% - chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tỷtrọng tổng nhu cầu theo các ngành nghề (2011-2015)