1.2.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường, nghiên cứu ứng xử của người dân trước vấn đề ô nhiễm đó và khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường tại xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung đó, nghiên cứu này nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường tại xã Tam Sơn. Phân tích ứng xử của người dân và những yếu tố ảnh hưởng tới ứng xử của người dân đối với vấn đề ô nhiễm môi trường tại địa bàn nghiên cứu. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường tại xã trong thời gian tới.
Trang 1Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trungthực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đều đãđược cảm ơn và mọi thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2010
Sinh viênNgô Giang Sơn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập tốt nghiệp, để hoàn thành được khóa luận tốtnghiệp này ngoài sự cố gắng hết mình của bản thân tôi đã được sự giúp đỡ nhiệttình của các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội, cùng với sự động viên, khích lệ của toàn thể gia đình vàbạn bè trong suốt quá trình tôi học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy, côgiáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông nghiệp HàNội đã trang bị cho tôi những kiến thức cũng như những điều kiện để tôi hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Thạc
sỹ Vi Văn Năng đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn chú Ngô Sách Viện - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xãTam Sơn - thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh, cùng toàn thể các cô, các chú trong PhòngTài nguyên & Môi trường Thị xã Từ Sơn, Đảng ủy, UBND và các hộ gia đình cùngcác cơ quan đoàn thể trên địa bàn xã Tam Sơn đã tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tìnhgiúp đỡ tôi trong suốt quá trình đi thực tế để nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốtnghiệp này tại xã
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng tới gia đình, bạn bè và ngườithân đã hết lòng tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ và luôn ở bên tôi trong suốt quátrình học tập và rèn luyện
Do trình độ, thời gian có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Vìvậy, tôi mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn
để đề tài được hoàn thiện hơn và có ý nghĩa trong thực tiễn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Trang 3TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Môi trường là thành phần có ý nghĩa quan trọng, không thể thiếu đối với con người Trong những năm gần đây trong quá trình CNH - HĐH, bên cạnh những thành tựu đạt được thì tình trạng ONMT trên địa bàn ngày càng nghiêm trọng Nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển
KT - XH của xã Người dân chính là nguyên nhân cũng là người gánh chịu hậu quả củatình trạng ONMT trên Sự hiểu biết của họ về môi trường còn chưa rộng, ý thức của họ
về môi trường còn chưa sâu Trước vấn đề ONMT trên địa bàn thì thái độ, ứng xử của người dân như thế nào? Bằng cách nào để hạn chế và giảm thiểu ONMT ở địa phương?Xuất phát từ sự cần thiết của thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu ứng xử của người dân về thực trạng ô nhiễm môi trường của xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Hướng nghiên cứu chính của
đề tài là tìm hiểu thực trạng ô nhiễm môi trường cũng như những ứng xử của người dân trên địa bàn trước thực trạng đó Từ thực trạng đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã
Để bước vào nghiên cứu thực tế, chúng tôi đã tìm hiểu và góp phần hệ thống hóa
cơ sở lý luận về môi trường, ô nhiễm môi trường Trong đó, các khái niệm được tìm hiểu qua nhiều góc độ, cách nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu trước đây Đồng thời,
từ các khái niệm về ứng xử, về môi trường và ô nhiễm môi trường, đề tài bước đầu đã khái quát hóa khái niệm về ứng xử của người dân trước thực trạng ô nhiễm môi trường
Trong quá trình tiến hành, đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh và phương pháp dự báo làm phương pháp trung tâm cho nghiên cứu Phương pháp thống kê mô tả dùng để mô tả, phân tích tình hình kinh tế
- xã hội, các ứng xử của người dân trong từng điều kiện cũng như trường hợp cụ thể Phương pháp phân tích kinh tế dùng trong nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng
về quy mô, các ứng xử và vận động của nó Phương pháp so sánh dùng để so sánh các hiện tượng với nhau từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng ô nhiễm đến các quyết định của người nông dân đồng thời đánh giá được những ứng xử đó
Từ thực trạng và phân tích ở trên kết hợp với phương pháp dự báo, đề tài có được
Trang 4cơ sở để đề ra định hướng, giải pháp cho vấn đề ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng
ô nhiễm môi trường ở địa phương
Qua nghiên cứu thực tế tình hình ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã, chúng tôi rút ra được một số kết luận sau: Nhìn chung tình trạng ô nhiễm môi trường nơi đây đang ở mức báo động Rác thải do không được xử lý khoa học và đúng quy trình nên ảnh hưởng tới môi trường xung quanh Môi trường nước và đặc biệt là môi trường không khí đang bị ô nhiễm khá nặng nề Môi trường đất đang bị suy thoái và dần dần không thể tiến hành sản xuất nông nghiệp được Tình trạng này đã làm mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp và đặc biệt
là sức khỏe của người dân nơi đây
Trước thực trạng đó, khi được hỏi, phỏng vấn thì đại đa số người dân đều ứng
xử, nhận thức sâu sắc về ô nhiễm môi trường và mong muốn đóng góp một phần vào công tác bảo vệ môi trường như quy hoạch khu chế biến và chăn nuôi ra xa địa bàn dân cư, đóng phí môi trường, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất vàchăn nuôi,… Tuy rằng các mức độ đồng ý và chấp nhận là khác nhau Mặc dù vậy vẫn còn một số người dân thờ ơ, vô trách nhiệm trước thực trạng này
Để khắc phục được những tồn tại đồng thời phát huy được những điểm mạnh trong công tác bảo vệ môi trường, đề tài nêu lên những định hướng, giải pháp về côngtác quy hoạch, xây dựng, phát triển các ngành nghề cần chú trọng ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, các giải pháp cơ bản đó là: Tăng cường sử dụng các công
cụ pháp luật, quy hoạch thành các khu sản xuất và chăn nuôi ở xa địa bàn dân cư, hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật, thực hiện xã hội hóa vấn đề bảo vệ môi trường,
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài chủ yếu dừng lại ở mô tả thực trạng ONMT và những đánh giá về ứng xử của người dân trước thực trạng này Hướng nghiên cứu chính mở ra đối với đề tài là đi sâu đánh giá sự ảnh hưởng của các dự án, các ngành nghề sản xuất tới môi trường trên địa bàn theo một dòng thời gian nhất định đồng thời tìmhiểu một số chương trình BVMT như đào tạo cán bộ chuyên môn, chính sách tín dụng ưuđãi cho mọi người để cải thiện ONMT, Bên cạnh đó, nếu phát triển mở rộng, người nghiên cứu có thể tham khảo thêm về phương pháp xây dựng và phân tích mô hình để áp dụng vào việc phân tích ứng xử của người dân trước thực trạng ONMT trên địa bàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT ix
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5.1 Phạm vi không gian 3
1.5.2 Phạm vi thời gian 3
1.5.3 Phạm vi nội dung 3
PHẦN THỨ HAI: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1 Lý luận về môi trường và ô nhiễm môi trường 4
2.1.2 Lý thuyết về ứng xử 7
2.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường trên thế giới 9
2.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 14
2.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan 20
PHẦN THỨ BA: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đặc điểm của xã Tam Sơn 22
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của xã 23
3.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 33
3.2.1 Phương pháp chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu 34
Trang 63.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 34
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 36
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 37
3.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 37
3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân trong xã 37
3.3.2 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh mức độ ô nhiễm môi trường 38
3.3.3 Chỉ tiêu phản ánh ứng xử của người dân 38
PHẦN THỨ TƯ: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Tình hình ứng xử của người dân về thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh 39
4.1.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh 39
4.1.2 Đặc điểm tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra ở xã 58
4.1.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường tới sản xuất và đời sống của con người ở xã 60 4.1.4 Ứng xử của người dân về thực trạng ô nhiễm môi trường ở xã Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh 68
4.1.5 Nhận xét, đánh giá chung về thực trạng ô nhiễm môi trường và ứng xử của người dân trước thực trạng ô nhiễm môi trường trên địa bàn xã 92
4.2 Định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh trong thời gian tới 94
4.2.1 Các căn cứ chung để đề xuất định hướng và giải pháp 94
4.2.2 Định hướng 95
4.2.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường ở xã Tam Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh 95
PHẦN THỨ NĂM: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
5.2.1 Đối với nhà nước 100
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 100
5.2.3 Đối với người dân 100
PHỤ LỤC 103
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình đất đai xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009 24
Bảng 3.2: Tình hình hộ khẩu và lao động xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009 27
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở vật chất của xã Tam Sơn năm 2009 30
Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế của xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009 32
Bảng 4.1: Lượng chất thải rắn phát sinh tại Tam Sơn 44
Bảng 4.2: Vị trí chọn mẫu không khí ở xã Tam Sơn 46
Bảng 4.3: Kết quả phân tích môi trường không khí tại xã Tam Sơn 47
Bảng 4.4: Kết quả so sánh môi trường không khí tại xã Tam Sơn với TCVN 5937/5938 -2005 48
Bảng 4.5: Vị trí chọn mẫu đất ở xã Tam Sơn 50
Bảng 4.6: Kết quả phân tích chất lượng môi trường đất tại xã am Sơn 50
Bảng 4.7: Kết quả so sánh chất lượng môi trường đất tại xã Tam Sơn với TCVN 7209-2002 50
Bảng 4.8: Đặc điểm nước thải trên địa bàn xã Tam Sơn 51
Bảng 4.9: Vị trí chọn mẫu nước thải kiểm nghiệm ở xã Tam Sơn 51
Bảng 4.10: Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại Tam Sơn 52
Bảng 4.11: Kết quả so sánh chất lượng nước thải tại Tam Sơn v ới TCVN 5945 - 2005 52
Bảng 4.12: Vị trí chọn mẫu nước ở xã Tam Sơn 53
Bảng 4.13: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại Tam Sơn 54
Bảng 4.14: Kết quả so sánh chất lượng nước mặt tại Tam Sơn với QCVN 08:2008/BTNMT 54
Bảng 4.15: Vị trí chọn mẫu nước ngầm ở xã Tam Sơn 55
Bảng 4.16: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại xã Tam Sơn 56
Bảng 4.17: Kết quả so sánh chất lượng nước ngầm tại xã Tam Sơn với QCVN 09:2008/ BTNMT 57
Bảng 4.18: Thông tin cơ bản về chủ hộ của các hộ được điều tra năm 2009 58
Bảng 4.19: Đánh giá ảnh hưởng chất thải của hộ sản xuất và chăn nuôi đến môi trường 61
Trang 8Bảng 4.20: Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của ô nhiễm tới cảnh quan 62Bảng 4.21: Một số bệnh thường mắc trong dân cư ở xã Tam Sơn 64Bảng 4.22: Ứng xử của hộ nông dân trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mớitrong sản xuất phân theo trình độ học vấn 70Bảng 4.23: Ứng xử của hộ nông dân trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mớitrong sản xuất phân theo thu nhập 71Bảng 4.24: Ứng xử của hộ nông dân trong việc chuyển đổi ngành nghề sản xuất phân theotrình độ học vấn 73Bảng 4.25: Ứng xử của hộ nông dân trong việc chuyển đổi ngành nghề sản xuất phân theothu nhập 75Bảng 4.26: Ứng xử của hộ nông dân trong việc thay đổi quy mô sản xuất phân theo trình
độ học vấn 76Bảng 4.27: Ứng xử của hộ nông dân trong việc thay đổi quy mô sản xuất phân theo thunhập 78Bảng 4.28: Ứng xử của hộ nông dân trong việc đóng phí môi trườngphân theo trình độ họcvấn 80Bảng 4.29: Ứng xử của hộ nông dân trong việc đóng phí môi trường phân theo thu nhập 82Bảng 4.30: Ứng xử của hộ nông dân trong việc lựa chọn mức đóng góp quỹ xây dựng hệthống xử lý chất thải chung phân theo trình độ học vấn 84Bảng 4.31: Ứng xử của hộ nông dân trong việc lựa chọn mức đóng góp quỹ xây dựng hệthống xử lý chất thải chung phân theo thu nhập 86Bảng 4.32: Ứng xử của hộ nông dân trong việc vay vốn xây dựng hệ thống xử lý chất thảichung phân theo trình độ học vấn 87Bảng 4.33: Ứng xử của hộ nông dân trong việc vay vốn xây dựng hệ thống xử lý chất thảichung phân theo thu nhập 89Bảng 4.34: Ứng xử của hộ nông dân trong việc quy hoạch khu sản xuất và chăn nuôi phântheo trình độ học vấn 90Bảng 4.35: Ứng xử của hộ nông dân trong việc quy hoạch khu sản xuất và chăn nuôi phântheo thu nhập 91
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1: Quy trình sản xuất đồ gỗ tại Tam Sơn 40
Trang 10: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CN-TTCN : Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
∆i : Lượng tăng (giảm) tuyệt đối định gốc
Trang 12Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người.
Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định,… ở các tầng lớp khácnhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng,
xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức, đoàn thể,… Môi trường xã hội địnhhướng hoạt động của con người tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự pháttriển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Ngoài ra còn có khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố
do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống như ôtô, xe máy,nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiếtcho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất,nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội,… Còn theo nghĩa hẹp thì môi trườngkhông xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hộitrực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người
- Vai trò của môi trường:
Môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để tồn tại, sinhsống và phát triển Vai trò của môi trường thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, môi trường là nơi con người khai thác nguồn nguyên vật liệu cũng
như năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống
Thứ hai, môi trường là nơi cư trú và cung cấp thông tin cho con người.
Thứ ba, môi tường là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra trong
cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình
Thứ tư, môi trường là không gian sống và cung cấp dịch vụ cảnh quan.
Như vậy, môi trường có vai trò đặc biệt trong cuộc sống của con người Nóquyết định tới sự tồn tại và phát triển của con người Bên cạnh đó, mối quan hệ giữacon người với môi trường là mối quan hệ hai chiều, có tác động trực tiếp qua lại vớinhau Con người vừa là nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đồng thời cũng là tácnhân thúc đẩy môi trường phát triển Để phát huy vai trò của môi trường, làm chomôi trường có tác động tích cực đến con người thì với tư cách là chủ thể tác động
Trang 13con người phải có trách nhiệm và ý thức bảo vệ môi trường, làm cho môi trườngcân bằng và trong sạch.
2.1.1.2 Ô nhiễm môi trường
- Khái niệm:
Theo định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường của nước Cộng hoà Xã hộichủ nghĩa Việt Nam: Ô nhiễm môi trường (ONMT) là sự làm thay đổi tính chất củamôi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường
Theo Tổ chức Y tế thế giới: ONMT là việc chuyển các chất thải hoặc nguyênliệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người và sựphát triển của các sinh vật hoặc giảm chất lượng môi trường sống
Ô nhiễm môi trường là hiện tượng suy giảm chất lượng môi trường quá mộtgiới hạn cho phép, đi lại với mục đích sử dụng môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻcon người và sinh vật (Lê Huy Bá và cộng sự, 2005)
Theo cách hiểu chung, ô nhiễm môi trường là hiện tượng một chất nào đó có mặttrong môi trường với thành phần và lượng chất có khả năng ngăn cản các quá trình tựnhiên vận hành một cách bình thường hoặc làm cho các quá trình này xảy ra theo xuhướng không như mong muốn, gây nên những ảnh hưởng có hại đối với sức khoẻ và sựsinh tồn của con người hoặc của các loài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóahọc, sinh học, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác Ônhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người
Vậy ô nhiễm môi trường là hiện tượng giảm chất lượng môi trường và tácđộng tiêu cực đến sức khoẻ con người và sự phát triển của sinh vật
- Nguyên nhân:
Ô nhiễm môi trường hoàn toàn không phải là một hiện tượng mới Từ thờithượng cổ, con người đã có những hoạt động làm ô nhiễm môi trường, nhưng chưađáng kể vì dân số ít, khoa học kĩ thuật chưa phát triển Dần dần những tác động củacon người gây ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt và tăng lên đáng kể (đặc biệt làtrong nửa cuối thế kỉ XX) do những nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất: Sự gia tăng dân số và tốc độ đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh.
Trang 14Thứ hai: Sự gia tăng chất thải độc hại do con người sử dụng quá nhiều loại
hoá chất mới trong các ngành sản xuất công - nông nghiệp cũng như để đáp ứng cácnhu cầu sinh hoạt, trong khi chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu, đặc biệt là cácchất phân huỷ ảnh hưởng đến khả năng tự thanh lọc của môi trường
- Phân loại:
Trên cơ sở phân loại các chất gây ô nhiễm và những tác động chính củachúng đối với môi trường, ONMT được phân thành 7 loại: 1) Ô nhiễm đất; 2) Ônhiễm không khí; 3) Ô nhiễm nước; 4) Ô nhiễm biển; 5) Ô nhiễm phóng xạ; 6) Ônhiễm nhiệt; 7) Ô nhiễm tiếng ồn Tuỳ phạm vi lãnh thổ có: Ô nhiễm môi trườngtoàn cầu, khu vực hay địa phương Ô nhiễm môi trường có ảnh hưởng xấu đến điềukiện tự nhiên, nhất là đến sinh vật và sức khoẻ con người Để chống ô nhiễm môitrường, chúng ta cần phải áp dụng các công nghệ không chất thải, hoặc phải làmsạch các chất thải khí và nước, tiêu huỷ các chất thải rắn
2.1.2 Lý thuyết về ứng xử
2.1.2.1 Khái niệm về ứng xử và khả năng ứng xử
Theo Từ điển Tiếng Việt (2000) do Hoàng Phê chủ biên, ứng xử được địnhnghĩa là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong việc xử sự
Trong Từ điển tâm lý do Nguyễn Khắc Viện chủ biên (1991), các soạn giả lạicho rằng hai từ "ứng xử" và "hành vi" thường thay thế cho nhau Từ "ứng xử" chỉ mọiphản ứng của động vật khi một yếu tố nào trong môi trường kích thích, các yếu tố bênngoài và tình trạng bên trong gộp lại thành một tình huống, và tiến trình ứng xử để cókích thích, có định hướng nhằm giúp chủ thể thích nghi với hoàn cảnh Khi nhấnmạnh về tính khách quan, tức là các yếu tố bên ngoài kích thích cũng như phản ứngđều là những hiện tượng có thể quan sát được, chứ không như tình ý bên trong, thìnói là ứng xử Khi nhấn mạnh mặt định hướng, mục tiêu thì là hành vi
Trong cuốn Tâm lý học ứng xử, khái niệm ứng xử được các tác giả Lê Thị Bừng
và Hải Vang (1997) xác định như sau: Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sựtác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ởchỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn,
Trang 15tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tuỳ thuộc vào tri thức,kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp nhất định.
Trong thực tế, quan hệ giữa thái độ với lời nói và hành vi là quan hệ giữa cáiđược biểu hiện và cái biểu hiện Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi hiểu ứng xử là sựphản ứng có lựa chọn, thể hiện qua lời nói hoặc hành vi của con người trước sự tácđộng của sự vật, hiện tượng đến mình trong một tình huống cụ thể
Trên đây là một số quan điểm về ứng xử của con người Tuy nhiên, các quanđiểm đó thiên về cách ứng xử giữa con người với con người thông qua giao tiếp.Còn các tác động bên ngoài đối với sản xuất và đời sống của người dân như rủi ro,khó khăn thì họ cũng có những quyết định, lựa chọn, tính toán qua hành vi của mình
để đạt được kết quả mong đợi
2.1.2.2 Ứng xử của hộ nông dân với vấn đề ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường đã tạo ra nhiều thay đổi đối với khu vực nông thôn cũngnhư thành thị Bất cứ ở quốc gia nào, khi có ô nhiễm môi trường xảy ra thì tìnhtrạng sức khỏe cũng như cuộc sống của người dân đều bị ảnh hưởng và người dân
sẽ có những ứng xử khác nhau với quá trình này Song những ứng xử của họ nhưthế nào lại phụ thuộc vào một số nhân tố sau:
Trình độ học vấn của chủ hộ: Trình độ học vấn của chủ hộ là nhân tố có ý nghĩa
quan trọng trong việc ứng xử của hộ nông dân Những người có trình độ cao, hiểu biếtrộng thì thường có những quyết định đúng đắn và có hiệu quả cao Trong việc ứng xửvới tình trạng ô nhiễm môi trường thì điều này cũng không phải là ngoại lệ
Điều kiện sản xuất của hộ: Nếu hộ có vốn, có điều kiện vật chất đầy đủ hơn
thì thường có những quyết định tích cực, thái độ tích cực trong vấn đề bảo vệ môitrường cũng như hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường
Điều kiện tự nhiên của vùng: Các đặc điểm như khí hậu, địa hình, vị trí địa
lý, đều có ảnh hưởng đến vấn đề ô nhiễm môi trường cũng như là các biện pháp
để ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm, xây dựng các hệ thống phục vụ cho mục đíchcải thiện môi trường thì đều phải tính đến vấn đề này, dựa trên các điều kiện hiện tại
để xây dựng phù hợp và lâu bền
Trang 16Truyền thống văn hoá dân tộc: Một số phong tục tập quán cũ, lạc hậu là
nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường Đó là các tập tục như trong chănnuôi lợn hay trâu bò, dùng phân sống để tưới, làm thức ăn cho cá,… ảnh hưởng trựctiếp đến môi trường
Cá tính của người dân hay của chủ hộ: Có một số người thì có thái độ thờ ơ, một
số người lại cảm thấy trăn trở, một số người lại có tư tưởng tự lo cho gia đình mình, một
số người lại có tư tưởng bất chấp tất cả vì lợi nhuận,… nói chung mỗi người có một tínhcách khác biệt nên vấn đề ứng xử hay ra quyết định với ô nhiễm môi trường là khác nhau
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ: Nếu hộ sản xuất kinh doanh thuận lợi hay
không thuận lợi thì có ứng xử với môi trường khác nhau, họ có thể sẵn sàng đầu tư để mởrộng sản xuất kinh doanh, sẵn sàng chi trả cho ô nhiễm, hoặc họ sẵn sàng thay đổi ngànhnghề sản xuất kinh doanh của mình,… nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường
Chính sách của cơ quan cấp trên: Đây được hiểu là những gì bắt buộc người
dân phải làm theo Nếu chính sách hợp lý, hiệu quả thì được lòng dân, dân nhiệttình làm theo và ngược lại Do đó, chính sách đưa ra cần được xem xét sao cho phùhợp với điều kiện cũng như hoàn cảnh cụ thể của người dân
2.2 Tình hình ô nhiễm môi trường trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Thực trạng ô nhiễm môi trường trên thế giới
"Ta có thể nói rằng, càng ngày hành tinh của chúng ta càng trở nên độc hại,
vì có khoảng hơn 4 triệu sản phẩm hoá học đang lưu thông trong xã hội chúng ta"(Môi trường ô nhiễm và hậu quả, Nguyễn Thị Thìn và Tuấn Lan, 2005)
Trung tâm quốc gia Nghiên cứu Kinh tế ở Washington dựa vào 21 chỉ tiêu vềmôi trường trong 9 nước là Anh, Canada, Đan Mạch, Đức, Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan,Pháp và Thụy Điển khẳng định rằng chất lượng môi trường đã bị suy thoái đáng kểtrong vòng 20 năm nay
Ngày nay, các hiểm hoạ và thách thức về môi trường không còn giới hạntrong phạm vi của từng quốc gia hay từng khu vực mà đã mang tính toàn cầu Năm
1992, 165 quốc gia đã tham dự Hội nghị Thượng đỉnh về môi trường và phát triểncủa Liên Hợp Quốc tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin), báo động cho toàn thể nhânloại biết rằng sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế trên toàn thế giới ở thế kỷ XX
Trang 17đã làm thay đổi khí hậu Trái Đất theo chiều hướng xấu đi Đến năm 1997, hội nghịtoàn cầu ở Kyoto (Nhật Bản) đã đưa ra kế hoạch giảm lượng khí thải độc hại, ngănchặn hiện tượng "hiệu ứng nhà kính" làm cho Trái Đất nóng lên và gây ra các thảmhoạ cho môi trường toàn cầu, và các hội nghị được tổ chức ở The Hague (Hà Lan)năm 2000 hay Bonn (Đức) năm 2001 để tiếp tục công việc trên Môi trường thế giớithế kỷ XXI đang phải đương đầu với các vấn đề sau:
- Khí hậu thế giới biến đổi và tần suất thiên tai gia tăng:
Vào cuối năm 1990, mức phát tán dioxit cacbon (CO2) hàng năm xấp xỉ bằng
4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO2 đã đạt đến mức cao nhất trongnhững năm gần đây Theo đánh giá của Liên bang Chính Phủ về biến đổi khí hậu thì
có bằng chứng cho thấy về ảnh hưởng rất rõ rệt của con người đến khí hậu toàn cầu.Những kết quả dự báo gồm việc dịch chuyển của các đới khí hậu, những thay đổitrong thành phần loài và năng suất của các hệ sinh thái, sự gia tăng của các hiệntượng thời tiết khắc nghiệt và những tác động đến sức khoẻ con người Các nhà khoahọc cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên có thể mang lạinhững bất lợi Đó là:
Các băng ở hai cực, ở các dãy núi cao sẽ tan ra và làm mực nước biển dâng lênkhoảng 70 - 100 cm/100 năm và có thể dâng cao tới 1 - 3 m vào năm 2100 sẽ nhấnchìm một vùng ven biển rộng lớn, làm mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp, dẫnđến nghèo đói, đặc biệt ở các nước đang phát triển (Trương Quang Học, 2010)
Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất, cường độ lẫn độ bất thường củathiên tai như gió, bão, hoả hoạn và lũ lụt Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sốngcủa loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ranhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác Các trận hoả hoạn tự nhiên không kiểmsoát được vào các năm 1996 - 1998 đã thiêu huỷ nhiều khu rừng ở Braxin, Canada,khu tự trị nội Mông ở Đông Bắc Trung Quốc, Indonesia, Italia, Mêxicô, Liên BangNga và Mỹ Những tác động của các vụ cháy rừng có thể rất nghiêm trọng Chi phíước tính cho nạn cháy rừng đối với người dân ở Đông Nam Á là 1,4 tỷ USD khôngnhững vậy các vụ cháy rừng còn đe doạ nghiêm trọng tới đa dạng sinh học
- Tài nguyên rừng bị suy thoái:
Trang 18Rừng, đất rừng và đồng cỏ đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đấthoang bị biến thành sa mạc Sa mạc Sahara có diện tích rộng 8 triệu km2, mỗi nămtăng thêm 5 - 7 km2 Một bằng chứng mới cho thấy, sự biến đổi khí hậu cũng lànguyên nhân gây thêm tình trạng xói mòn đất ở nhiều khu vực Gần đây, 250 nhàThổ Nhưỡng học được Trung tâm Thông tin tư liệu Quốc tế Hà Lan tham khảo lấy
ý kiến đã cho rằng khoảng 305 triệu ha đất màu mỡ (gần bằng diện tích của Tây Âu)
đã bị suy thoái do bàn tay của con người, làm mất đi tính năng sản xuất nôngnghiệp Khoảng 90 triệu ha đất tương đối tốt (tương đương với diện tích củaÔxtrâylia) sẽ bị suy thoái ở mức trung bình, giảm tính năng sản xuất và nếu không
có biện pháp cải tạo thì quỹ đất này sẽ bị suy thoái ở mức độ mạnh trong tương lai.Theo Tổ chức lương thực thực phẩm thế giới (FAO) thì trong vòng 20 năm tới, hơn
140 triệu ha đất (tương đương với diện tích của Alaska) sẽ bị mất đi giá trị của trồngtrọt và chăn nuôi Đất đai ở hơn 100 nước đang chuyển chậm sang dạng hoang mạc,nghĩa là có khoảng 900 triệu người đang bị đe doạ Trên phạm vi toàn cầu, khoảng
25 tỷ tấn đất đang bị cuốn trôi hàng năm vào các sông ngòi và biển cả
Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra ở mức độ rất cao, trên thế giới diện tíchrừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất đi một nửa,trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3, còn lại là diện tích rừng nhiệt đới Sựphá huỷ rừng xảy ra mạnh, đặc biệt ở những nước đang phát triển chủ yếu do nhucầu khai thác gỗ củi, nhu cầu lấy đất làm nông nghiệp và cho mục đích khác
Ở các nước phát triển diện tích rừng tăng 9 triệu ha, con số này còn quá nhỏ
so với diện tích rừng đã bị mất đi Chất lượng của những khu rừng còn lại đang bị
đe doạ bởi nhiều sức ép do tình trạng gia tăng dân số, mưa axit, nhu cầu khai thác
gỗ củi và cháy rừng Nơi cư trú của các loài sinh vật bị thu hẹp, bị tàn phá, đe doạtính đa dạng sinh học ở các mức độ về gen, các giống loài và các hệ sinh thái
- Sự suy giảm tầng Ôzôn (O3):
Vấn đề giữ gìn tầng ôzôn có vai trò sống còn đối với sự sống của nhân loại Tầngôzôn có vai trò bảo vệ, chặn đứng các tia cực tím có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sốngcủa con người và các loài sinh vật trên Trái Đất Bức xạ cực tím có nhiều tác động, hầuhết mang tính chất phá huỷ đối với con người, động vật và thực vật cũng như các loại
Trang 19vật liệu khác, khi tầng ôzôn tiếp tục bị suy thoái các tác động này càng trở nên tồi tệ Ví
dụ, mức cạn kiệt tầng ôzôn là 10% thì mức bức xạ cực tím ở các bước sóng gây phá huỷtăng 20% Bức xạ tia cực tím có thể gây hỏng mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá huỷvõng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp Đồng thời bức xạ tiacực tím tăng lên được coi như là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn dịch của conngười và động vật, đe dọa tới đời sống của động và thực vật nổi trong môi trường nướcnhờ quá trình chuyển hoá qua quang hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh
- Sự "khát" nước:
Với tổng lượng nước là 1386.106 km3 bao phủ gần 3/4 diện tích bề mặt TráiĐất, nhưng loài người vẫn "khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng lượngnước đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước mà hầu hết tồn tại ở dạngđóng băng và tập trung ở hai cực, còn lượng nước ngọt mà con người có thể tiếp cận
và sử dụng trực tiếp thì lại rất ít ỏi (chỉ chiếm 0,26%) Sự gia tăng dân số nhanh cùngvới quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quentiêu thụ nước quá mức đang gây ra sự khủng hoảng nước nghiêm trọng trên phạm vitoàn cầu Gần 20% dân số thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệthống vệ sinh an toàn Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiềuvấn đề nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực venbiển đó là sự xâm nhập mặn Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các siêu đô thị, ônhiễm nitrat (NO3-) và sự tăng khối lượng các kim loại nặng gây tác động lớn đếnchất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi Nguồn cung cấp nước sạch trên thế giớikhông thể tăng lên được nữa, ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào nguồn cungcấp cố định này và ngày càng có nhiều người chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn
- Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng:
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thảivào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộngđặc biệt là các khu đô thị Nhiều vấn đề môi trường tương tác với nhau ở các khuvực nhỏ, mật độ dân số cao, ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ônhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môitrường Khoảng 30 - 60% dân số đô thị ở các nước có thu nhập thấp vẫn còn thiếu
Trang 20nhà ở và các điều kiện vệ sinh Lượng nước ngọt đang khan hiếm trên hành tinhcũng bị chính con người làm tổn thương, một số nguồn nước bị nhiễm bẩn nặng đếnmức không còn khả năng hoàn nguyên.
Hiện nay, đại dương đang bị biến thành nơi chứa rác khổng lồ của con người,nơi chứa đựng đủ loại chất thải của nền văn minh kỹ thuật, kể cả chất thải hạt nhân.Việc đổ các chất thải xuống biển đang làm ô nhiễm các khu vực ven biển trên toàn thếgiới, gây huỷ hoại hệ sinh thái như đất ngập nước, rừng ngập mặn và các dải san hô
Trên thế giới, nhiều vùng đất đã được xác định là bị ô nhiễm Ví dụ như ởAnh đã chính thức xác nhận 300 vùng với diện tích 10.000 ha bị ô nhiễm, tuy nhiêntrên thực tế có tới 50.000 - 100.000 vùng với diện tích khoảng 100.000 ha bị ônhiễm Còn ở Mỹ, có khoảng 25.000 vùng, ở Hà Lan là 6.000 vùng bị ô nhiễm cầnphải xử lý
- Sự gia tăng dân số:
Con người là chủ của Trái Đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị của cácđiều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, xung lượng gia tăng dân
số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái môi trường và tình hình kinh tếbất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng nghiêm trọng giữa dân số và môi trường
Đầu thế kỷ XIX, dân số thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm 1999 đãtăng lên 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 14 - 24 tuổi Mỗi nămdân số thế giới gia tăng thêm khoảng 78 triệu người Theo dự tính đến năm 2015,dân số thế giới sẽ ở mức 6,9 - 7,4 tỷ người và đến năm 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người.95% dân số tăng thêm nằm ở các nước đang phát triển, do đó các nước này sẽ phảiđối mặt với những vấn đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội, đặc biệt là môi trườngsinh thái Việc giải quyết những hậu quả về dân số tăng của những nuớc này sẽ cònkhó khăn hơn gấp nhiều lần so với những xung đột về chính trị trên thế giới
- Sự suy giảm đa dạng sinh học:
Các loài động thực vật qua quá trình tiến hoá hàng triệu năm đã và đang gópphần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi trường sống trên Trái Đất, ổnđịnh khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế xói mòn, làm tăng độ phì nhiêu đất
Sự đa dạng của tự nhiên cũng là nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp,
Trang 21dược phẩm, du lịch, là nguồn thực phẩm lâu dài của con người và là nguồn genphong phú để tạo ra các giống loài mới Tuy nhiên, nhân loại đang phải đối mặt vớimột thời kỳ tuyệt chủng lớn nhất của các loài động và thực vật Thảm hoạ này tiếntriển nhanh và có hậu quả rất nghiêm trọng Theo tính toán, trên thế giới có 492chủng thực vật có tính chất di truyền độc đáo đang bị đe doạ tuyệt chủng Sự đe dọakhông chỉ riêng đối với động thực vật hoang dại mà trong nhiều thập kỷ gần đây vớinhững cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp, công nghiệp hoá đã làm biến mấtnhiều giống loài địa phương quý hiếm, 1.500 giống lúa địa phương đã bị tuyệt chủngtrong 20 năm qua ở Indonesia Đối với vật nuôi trên toàn cầu, đã có 474 giống vậtnuôi được coi như là quý hiếm và tổng cộng đã có 617 giống vật nuôi đã bị tuyệtchủng.
Ngoài ra còn xuất hiện nhiều vấn đề về môi trường khác nữa như sức khoẻ
và định cư, ô nhiễm biển, quan hệ kinh tế quốc tế, an ninh xã hội và môi trường
2.2.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
2.2.2.1 Khái quát chung về tình hình ô nhiễm môi trường ở Việt Nam
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới có thu nhập thấp vớidân số đông Việt Nam đang đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiênnhiên bị xuống cấp và sự sa sút của chất lượng môi trường Sự chuyển đổi từ mộtnền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh sựtăng trưởng kinh tế Việc giải phóng sức sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cũngnhư việc phát triển nền kinh tế dịch vụ, việc mở cửa cho đầu tư nuớc ngoài, đẩymạnh xuất khẩu và tham gia vào nền thương mại khu vực và quốc tế đã tạo nênnhững thành tựu lớn về kinh tế và xã hội cho nhân dân Việt Nam Nền kinh tế tăngtrưởng tương đối nhanh, nhưng đồng thời nước ta cũng đang phải đối mặt với một
số vấn đề gay cấn trong khi thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của mình là vấn đềmôi trường Các vấn đề về môi trường đặc biệt khó giải quyết vì sự tăng trưởngkinh tế với việc bảo vệ môi trường cho ngày nay và thế hệ mai sau thường mâuthuẫn trực tiếp với nhau
Hiện nay có nhiều vấn đề về môi trường mà Việt Nam đang phải đối mặt,trong đó những vấn đề nghiêm trọng nhất là biến đổi khí hậu (nước ta là 1 trong 5
Trang 22quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu), phá rừng, sự khai thácquá mức tài nguyên sinh học, tài nguyên khoáng sản, sự xuống cấp của tài nguyênđất, việc bảo tồn nguồn nước ngọt kém hiệu quả, nạn thiếu nước ngọt và nạn ônhiễm gia tăng, đó là chưa kể đến tác động lâu dài của chiến tranh đến môi trường,
… Những vấn đề nói trên đang ngày càng trầm trọng hơn do dân số tăng nhanh vànạn đói nghèo chưa giải quyết được một cách cơ bản
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu về thực trạng và nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường ứng với từng loại ô nhiễm cụ thể:
- Ô nhiễm do tác nhân sinh học:
Những tác nhân sinh học có thể làm ô nhiễm đất, gây ra bệnh ở người và độngthực vật như trực khuẩn lỵ, thương hàn hoặc amip, ký sinh trùng (giun, sán,…) Sự ônhiễm này phát sinh là do những phương pháp đổ bỏ chất thải hoặc sử dụng phân bắctươi, bùn ao tưới, bùn kênh dẫn chất thải sinh hoạt hoặc bón trực tiếp cho đất
Hiện nay ở các vùng nông thôn miền Bắc, tập quán sử dụng phân bắc vàphân chuồng tươi trong canh tác vẫn còn phổ biến Chỉ tính riêng trong nội thành
Hà Nội, hàng năm lượng phân bắc thải ra khoảng 550.000 tấn, trong khi đó công ty
Vệ sinh môi trường chỉ đảm bảo thu được 1/3, số còn lại được nông dân chuyên chở
về bón cho cây trồng gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường đất Ở các vùng nôngthôn phía Nam, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tươi ở một số nơicòn được dùng làm thức ăn cho cá Đó là những nguyên nhân gây ô nhiễm môitrường ngày càng gia tăng
- Ô nhiễm do chất thải công nghiệp:
Các chất thải công nghiệp có thể ở dạng lỏng, khí hoặc rắn, có thể là chất vô
cơ, hữu cơ, xà phòng, thuốc nhuộm, kiềm hoặc axit Đặc biệt nguy hiểm là các chấtkim loại nặng như chì, thuỷ ngân, asen,…
Ô nhiễm do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, rác thải, bụi, khói ởmột số vùng sản xuất nông nghiệp ven đô Hà Nội, Nha Trang, Hồ Chí Minh, CầnThơ, khu công nghiệp Việt Trì, đã được ghi nhận là đang trở thành vấn đề môitrường cấp bách và đang gia tăng theo tốc độ đô thị hoá và phát triển công nghiệp.Hiện trạng ô nhiễm đất xung quanh các lò gạch, ngói, gốm sứ, nhà máy luyện kim
Trang 23mà theo kết quả nghiên cứu bước đầu của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường(1995) trước đây cho thấy các chất độc hại tích luỹ trong đất theo hướng ngày càngtăng, xâm nhập vào nông sản, thực phẩm gây ô nhiễm môi trường.
2.2.2.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
Làng nghề đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời trong nông thôn Việt Nam
Nó đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Sự phát triển của làng nghề đem lại lợiích kinh tế và song song với nó tồn tại nguy cơ gây ONMT Do sự ý thức của con ngườitrong quá trình sản xuất không xử lý triệt để các chất thải ra môi trường sống xungquanh gây nên tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng Theo kết quả nghiên cứu của đề tàiKC.08.09 Khoa Công nghệ và Môi trường, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, tìnhhình ô nhiễm môi trường tại các làng nghề diễn ra khá nghiêm trọng, các chỉ tiêu phântích nước thải tại các làng nghề như COD, BOD, SS, hàm lượng các chất khí thải CO2,
SO2, bụi, tiếng ồn đều vượt quá TCCP Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm các môi trườngnước, không khí, đất do sản xuất gây ra là không giống nhau giữa các phân ngành Mức
độ ô nhiễm diễn ra phụ thuộc vào đặc điểm sản xuất, tính chất sản phẩm và thành phầnchất thải thải ra môi trường ONMT là hiện tượng có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sốngcủa con người và luôn phát triển cùng chiều với các hoạt động sản xuất Ở các làng nghề
do quá trình hình thành và phát triển mang tính chất tự phát, thiết bị đơn giản thủ công,công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế,việc đầu tư cho các công trình xử lý chất thải hầu như không được quan tâm
Kết quả khảo sát mới nhất tại 192 làng nghề ở Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định
về nước thải cho biết, cả 192 làng nghề này đều không có hệ thống xử lý nước thảitrước khi đưa ra hệ thống thoát nước chung; còn về khí thải thì có tới 60% số hộ sảnxuất để phát thải tự do Riêng về những làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ, tất cả các hộ sảnxuất đều không có ống khói thoát khí; các chỉ tiêu hữu cơ, coliform, NH4, bụi đều vượtTCCP Các làng nghề cơ khí có nồng độ ô nhiễm bụi và khí, vượt TCCP từ 1 đến 76lần Tại làng gốm Bát Tràng số người chết vì ung thư phổi ngày càng nhiều Theo điềutra, cứ 100.000 người dân thì có 126,6 người bị ung thư, trong đó 40 người bị chết doung thư phổi Nguyên nhân chính là hít phải khí than từ các lò nung gốm,… Đối vớicác vùng trồng rau, ô nhiễm môi trường lại đến từ một hướng khác Việc sử dụng
Trang 24thuốc BVTV, phòng dịch,… không có hướng dẫn khoa học, không có sự kiểm tra,quản lý chặt chẽ những hoá chất cấm sử dụng đã gây ra những tác hại nghiêm trọng vềsức khoẻ người tiêu dùng, làm mất cân bằng sinh thái Ô nhiễm các con sông và vùngven biển do nước sản xuất không được xử lý thải ra đã làm hải sản như tôm chết hàngloạt,… Chỉ nói riêng về ô nhiễm Asen (thạch tín) Loại ô nhiễm này ngày xuất hiệncàng nhiều Asen là nguyên tố tự nhiên, thường nằm trong các tầng đá trầm tích Quátrình khai thác nước ngầm sẽ làm cho hàm lượng ôxi trong nước tăng và chất Asen dễhoà tan trong nước Nếu việc khai thác nước ngầm không có kế hoạch, không có tổchức thì nguồn nước ngầm sẽ cạn kiệt dần, nồng độ Asen sẽ tăng theo Đến một mứcnào đó nó sẽ gây tác hại Như vậy có thể nói, vấn đề ONMT xét về tổng thể, đều là dohành động của con người gây ra Ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sứckhỏe cho gia đình còn hạn chế Do đó, vấn đề ONMT tại các làng nghề đang trở nênbức bối hiện nay (Sở Tài nguyên & Môi trường Hà Nội, 2006)
Chúng ta sẽ đi tìm hiểu về hiện trạng ONMT tại một số làng nghề hiện nay:
- Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng:
Ở các làng nghề này có công nghệ sản xuất còn thô sơ, tỷ lệ cơ khí hóa thấp,lao động đơn giản là chủ yếu, sản xuất vật liệu tiêu thụ một lượng rất lớn là nhiênliệu và than củi Ở các làng nghề này mức độ ô nhiễm không khí là nghiêm trọngnhất Bụi phát sinh từ quá trình khai thác, gia công nguyên liệu, vận chuyển vào lò,
ra lò, tiếng bốc dỡ sản phẩm là rất lớn Khói độc và sức nóng tỏa ra từ các lò nung,tiếng ồn do hoạt động giao thông làm cho môi trường không khí bị ô nhiễm nặngảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, cây cối và hoa màu
- Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại làng nghề chế biến nông sản thực phẩm:
Chế biến nông sản là ngành có nhu cầu lớn và thải ra một lượng nước khôngnhỏ giàu chất hữu cơ gây ra hiện tượng ô nhiễm môi trường Tùy theo mục đích sửdụng, nước thải chế biến nông sản thực phẩm có BOD5 lên tới 5.500 - 12.500mg/l,COD 13.300 - 20.000mg/l (nước tách bột đen trong sản xuất tinh bột sắn) Nước thảicống chung của các làng nghề này đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 5 - 32 lần
Trang 25Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí đặc trưng nhất của các làng nghềnày là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng rắn và chất hữu cơ tồnđọng trong nước thải gây ra, các khí ô nhiễm gồm H2S, CH4, NH3, Mặt khác tạicác làng nghề này than và củi được sử dụng làm chất đốt đã thải vào không khí bụi,khói và các chất khí CO2, SO2, NO, NO2, tuy nhiên do được phát tán nên các chỉtiêu về bụi và các chất khí này đều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép.
Xỉ than có mặt ở hầu hết các làng nghề chế biến nông sản, là nguồn chất thảitạo ra bụi Theo ước tính của Viện Khoa học Công nghệ và Môi trường thì một tấnthan cháy tạo ra 0,2 tấn xỉ Tại các địa phương, một phần xỉ than được dùng làm vậtliệu xây dựng san lấp đường đi, phần còn lại được đổ ở những nơi có thể đổ được.Tuy nhiên theo nghiên cứu mẫu đất do trung tâm công nghệ môi trường - ENTECthực hiện năm 2002 thì đất tại các làng nghề hầu như chưa bị ô nhiễm
- Hiện trạng ô nhiễm tại các làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Yếu tố gây ô nhiễm chính tại làng nghề thủ công mỹ nghệ là tiếng ồn, bụilớn, hơi dung môi và nhiệt Tiếng ồn phát sinh từ các máy xẻ gỗ, máy cưa, máy tiện,máy bào, máy phun sơn, Tại các làng nghề này, tiếng ồn đo được đều vượt tiêuchuẩn cho phép, đặc biệt là khu vực làm việc bên cạnh các máy xẻ gỗ Do đặc thù làlàng nghề nên nơi sản xuất và nhà ở liền kề nhau điều này làm cho người dân phảichịu đựng tiếng ồn lớn cả trong những lúc nghỉ ngơi
Bụi tại các làng nghề phát sinh trong quá trình vận chuyển và gia công sảnphẩm Nồng độ bụi đo được tại làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh) vượt tiêu chuẩn chophép từ 1,2 - 1,67 lần Nồng độ dung môi hữu cơ (Axeton, butyl axetat, ) cũngtương đối cao tại các bộ phận sơn hoàn thiện sản phẩm, do đặc thù sản xuất tại hộgia đình có mặt bằng chật hẹp nên bộ phận sơn thường được bố trí ngoài trời làchính, khả năng phát tán dung môi hữu cơ ra môi trường xung quanh là rất lớn
- Hiện trạng ô nhiễm tại các làng nghề tái chế:
Làng nghề tái chế chất thải bao gồm: Tái chế giấy, tái chế kim loại (nhôm, sắt,đồng), tái chế nhựa, là một ngành mới được hình thành tuy nhiên trong những nămqua đã khá phát triển Ở các làng nghề này mức độ ô nhiễm diễn ra khá nghiêm trọng
do đặc điểm sử dụng nhiều nước Trong quá trình rửa sạch chất thải, nước thải mang
Trang 26theo khá nhiều tạp chất làm ONMT Một kết quả nghiên cứu tại làng nghề Dương Ổ(Bắc Ninh) có hàm lượng COD là 630 - 1.260 mg/l vượt quá tiêu chuẩn cho phép là từ
2 - 12 lần, ngoài ra hàm lượng phenol rất cao (0,2 mg/l) vượt quá tiêu chuẩn cho phép
10 lần Ở các làng nghề tái chế kim loại nước thải của quá trình tẩy rửa và mạ kim loạichứa các chất hóa chất axit, xút, các kim loại như Cr2+, Pb2+, gây ô nhiễm nghiêmtrọng cho nguồn nước Một kết quả nghiên cứu năm 2002 tại làng nghề Phước Kiều(Quảng Nam), hàm lượng Pb2+ là 0,6mg/lít vượt quá TCCP 6 lần Ngoài ra ở nhữnglàng này phải thường xuyên chịu nhiệt độ cao, tiếng ồn lớn, bụi và khí độc nhiều
- Hiện trạng ô nhiễm ở làng nghề dệt nhuộm:
Đây là ngành sử dụng nhiều nước, nhiều hóa chất, thuốc nhuộm Thôngthường khoảng 30% thuốc nhuộm và 85 - 90% hóa chất còn lại trong nước thải có
pH, COD, TS, BOD, độ màu cao Theo đánh giá của Sở công nghệ và môi trường
Hà Tây năm 2001, tại làng nghề dệt nhuộm các chỉ tiêu phân tích nước thải nhưCOD, BOD, SS đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1 - 4 lần Độ ồn do các thiết bịdệt gây ra từ 75 - 90 dB cao hơn tiêu chuẩn cho phép
2.2.2.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường tại các làng nghề
Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của địa phương: Những vùngnông thôn có làng nghề phát triển là những vùng có mật độ dân cư đông đúc, đất thổ
cư chật chội Phần lớn quy mô sản xuất hộ gia đình, sản xuất tự phát, không có quyhoạch nhất định, khó khăn về vốn, đầu ra sản phẩm không ổn định, phụ thuộc nhiềuvào thị hiếu của thị trường Do quy mô sản xuất nhỏ, ít vốn nên nơi sản xuất thườngchật hẹp, xen lẫn với khu dân cư Trong quá trình sản xuất đã gây ảnh hưởng trựctiếp đến môi trường xung quanh Mặt khác, số ao hồ có nhiệm vụ điều hòa nướcthải lại bị san lấp để làm nhà ở, những nhà máy, xí nghiệp để sản xuất hay nhữngviệc khác, số còn lại thì quá tải, ứ đọng vì vậy mức độ ô nhiễm ngày càng tăng Kếthợp với đó là khí hậu thời tiết nóng ẩm đã tạo điều kiện cho quá trình phân hủy, lênmen của các chất hữu cơ, phát sinh các loại nấm mốc và vi khuẩn gây bệnh
Thứ hai, do nhận thức về vấn đề bảo vệ môi trường của cộng đồng còn kém,xuất phát từ nền sản xuất nhỏ lẻ nên ý thức của người dân về việc giữ gìn vệ sinhcũng như bảo vệ môi trường còn thấp
Trang 27Thứ ba, do công nghệ thủ công, lạc hậu Thiết bị được sử dụng tại các làngnghề hiện nay còn thô sơ, chắp vá Việc xử lý chất thải hầu như là chưa có, gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường Thêm vào đó, do thiếu vốn đầu tưnên việc thay đổi công nghệ trong sản xuất là điều khó khăn, do vậy vấn đề bảo vệmôi trường dường như không được chú trọng.
Thứ tư, do trình độ người lao động còn thấp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm,nhận thức về vấn đề bảo vệ mình trước những vấn đề về môi trường còn thấp thìcàng khó khăn hơn trong việc bảo vệ môi trường cho cộng đồng
Thứ năm, mặc dù tổ chức sản xuất ở các làng nghề theo từng hộ đơn lẻnhưng quy mô sản xuất tăng nhanh, trong khi đó công tác quy hoạch quản lý củacác làng nghề chưa được quan tâm đúng mức, mặt bằng sản xuất bố trí phân tán vàmanh mún nên hầu hết các làng nghề không có vị trí chứa chất thải mà việc đổ chấtthải hết sức bừa bãi Do không có quy hoạch nên không có cơ sở vật chất, cơ sở hạtầng, cống rãnh thoát nước Bởi vậy việc chế biến đã gây ảnh hưởng không chỉ chocon người mà còn gây mất cảnh quan làng xóm
2.2.3 Một số nghiên cứu có liên quan
Vấn đề ô nhiễm môi trường là vấn đề được quan tâm khá nhiều trong thờigian gần đây Nguyên nhân là con người đang đứng trước những thảm họa rất lớnvới hiện tượng này Và ngày càng có nhiều những thông tin liên quan đến môitrường cũng như ô nhiễm môi trường nói chung Ứng xử của người dân về ô nhiễmmôi trường cũng là vấn đề được quan tâm
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mậu Dũng về "Tình hình thu phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải ở Việt Nam" chúng ta có thể thấy nghiên cứu nàynhằm đánh giá những kết quả đạt được và những vấn đề còn tồn tại sau hai nămthực hiện Nghị định 67/2003/NĐ-CP và chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bảo
vệ môi trường đối với nước thải trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp nhằm gópphần hoàn thiện công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải trong thờigian tới Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2004 Đây là công cụ kinh tế đầutiên được áp dụng ở Việt Nam theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền"(Nguyễn Mậu Dũng, 2006) Nghiên cứu cũng nêu lên mục đích của việc thu phí
Trang 28nước thải, tình hình thực hiện thu phí ở một số tỉnh, những khó khăn trong quá trìnhthu phí cũng như những bất cập còn xảy ra xung quanh vấn đề thu phí nước thải cònxảy ra ở nước ta
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thọ về "Ứng xử của nông hộ đốivới quá trình đô thị hóa ở phường Thạch Bàn - Long Biên - Hà Nội", chúng ta thấyđược quá trình đô thị hóa ở phường với những mặt tích cực và tiêu cực, đặc điểmcủa hộ nông dân trong quá trình đô thị hóa, những nhân tố ảnh hưởng đến ứng xửcủa hộ và những ứng xử cụ thể của hộ đối với quá trình đô thị hóa Nghiên cứu đã
sử dụng mô hình logistic để giải thích hành vi lựa chọn của nông hộ Kết quả chạy
mô hình cho thấy, mô hình lựa chọn là có ý nghĩa Trong mô tả đặc tính của nhóm
hộ làm nông nghiệp và nhóm hộ không làm nông nghiệp, các biến này tuy có sựkhác nhau giữa hai nhóm hộ nhưng sự khác nhau đó là quá ít nên không có sự biếnđổi tác động đến mô hình Như vậy kết quả giữa thực tế và mô hình là tương đốigiống nhau Nghiên cứu cũng đưa ra những gợi ý về chính sách nhằm nâng caonăng lực ra quyết định lựa chọn sinh kế của nông hộ trong phường
Trong nghiên cứu của tác giả Vũ Văn Tin về "Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạtđộng kinh tế nông thôn đến môi trường trên địa bàn xã Đa Tốn - huyện Gia Lâm -thành phố Hà Nội", chúng ta thấy rằng nền kinh tế nông thôn của xã Đa Tốn ngàycàng được phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, trình độ dân trícủa người dân ngày càng được nâng cao Nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra rằng, cáchoạt động kinh tế nông thôn của xã có ảnh hưởng đến môi trường nông thôn, đến sứckhỏe của người dân trên địa bàn Do đó để hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của hoạtđộng kinh tế nông thôn đến môi trường thì mỗi người hãy tự bảo vệ cuộc sống củamình
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hòa về "Nghiên cứu ứng xử của hộ nông dân chăn nuôi lợn thịt tại xã Quảng Văn, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa", chúng ta thấy rằng mặc dù hiệu quả chăn nuôi lợn tại xã ngày một tăng trong khi công lao động lại giảm song còn gặp nhiều khó khăn như giá đầu vào tăng nhanh, dịch bệnh tai xanh đã làm thiệt hại rất lớn ngoài ra còn gây nên tâm lý hoangmang cho hộ nuôi lợn, các khó khăn về vốn, về thị trường đầu ra,… ảnh hưởng trực
Trang 29tiếp tới hiệu quả kinh tế của hộ chăn nuôi lợn Trước khó khăn đó, nhận thức của người chăn nuôi ngày càng được nâng cao và có sự khác nhau, tuy nhiên vẫn mang đặc điểm tâm lý của người nông dân như tính bảo thủ cao, sợ rủi ro Nó tuỳ thuộc vào quy mô và mục đích chăn nuôi vào nhận thức của mỗi hộ Trong đó chủ hộ có vai trò quyết định nhất Ứng xử của các hộ là khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến ứng xử đó là trình độ lao động chủ yếu của chủ hộ, thông tin thị trường, vốn dùng trong sản xuất, hiệu quả kinh tế mà chăn nuôi lợn thịt mang lại, khoa học kỹ thuật,… Tất cả tác động tới người chăn nuôi và người chăn nuôi đưa ra những quyếtđịnh dựa trên những cơ sở đó
PHẦN THỨ BA ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của xã Tam Sơn
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Tam Sơn nằm ở phía Bắc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trên đường liênhuyện N0179 Từ Sơn - Yên Phong
- Phía Bắc giáp sông Ngũ Huyện Khê và xã Phú Lâm của huyện Tiên Du
- Phía Nam giáp phường Đồng Nguyên
- Phía Tây giáp phường Đồng Kỵ
- Phía Đông giáp xã Tương Giang
Xã có 4 thôn với nhiều xóm nằm rải rác ở nhiều khu vực Xã có một đườngliên tỉnh (tỉnh lộ 295) và 1 đường liên huyện (N0179) chạy qua Tam Sơn rất gầnquốc lộ 1A từ thủ đô Hà Nội qua thị xã Từ Sơn đi thành phố Bắc Ninh Do đó, Tam
Trang 30Sơn có nhiều điều kiện giao lưu kinh tế, văn hóa với các xã phường trong thị xãcũng như các huyện, tỉnh lân cận đặc biệt là thủ đô Hà Nội.
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình
Tam Sơn là xã nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, đất đai đượchình thành do sự lắng đọng phù sa của châu thổ sông Hồng và sông Ngũ Huyện Khênên chủ yếu là đất phù sa feralit chiếm 74% còn lại là đất phù sa bị glây Thànhphần cơ giới đất bao gồm: Đất thịt nhẹ chiếm 17%, đất thịt trung bình chiếm 57%
và thịt nặng chiếm 26% diện tích đất canh tác Xã có địa hình khá bằng phẳng,không lồi lõm, không bị chia cắt bởi sông ngòi nhưng ở giữa xã lại nổi lên ba ngọnnúi đất
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Tam Sơn nằm trong vùng khí hậu chung của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đây
là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,70C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất
là 36,20C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 12,70C Số giờ nắng trong nămtrung bình 1.847,3 giờ Tháng 7 có số giờ nắng cao nhất là 267,4 giờ còn tháng 1 có
số giờ nắng thấp nhất với 117,3 giờ
Lượng mưa hàng năm tương đối cao, dao động từ 1450 - 1700 mm và phân
bố không đều giữa các tháng trong năm Lượng mưa chủ yếu tập trung vào cáctháng 6, 7, 8 còn các tháng 11, 12, 01 là không đáng kể
Độ ẩm không khí hàng năm bình quân là 85%, tháng cao nhất là là tháng 3với 93% còn tháng 11 là tháng có độ ẩm thấp nhất với 77%
Tam Sơn có hệ thống sông Ngũ Huyện Khê đi qua Đây không chỉ là mạchgiao thông đường thủy quan trọng mà còn cung cấp nguồn nước tưới tiêu phục vụsản xuất và đời sống nhân dân trong toàn xã
Cũng như các vùng nông thôn khác, môi trường đất, nước, không khí củaTam Sơn bị ô nhiễm nhiều do sử dụng thuốc BVTV, phân vô cơ, phát triển ngànhnghề sản xuất, nên có tác động đến hệ sinh thái đồng ruộng
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của xã
Trang 31Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên như trên đã cho phép Tam Sơn cókhả năng phát triển nền kinh tế nông nghiệp toàn diện: Trồng trọt và chăn nuôi, kếthợp với kinh tế công - thương nghiệp và dịch vụ Do ở gần các trung tâm kinh tế lớncủa đất nước, điều kiện giao thông thuận tiện, Tam Sơn có lợi thế rất lớn để pháttriển kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ Đảng bộ
và nhân dân xã nhà đã và đang huy động mọi nguồn lực, khai thác những tiềm năng,thế mạnh vốn có của mình để phát triển kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phân bổ đất đai của xã
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai vô cùng quan trọng có tác động mạnh
mẽ tới năng suất cũng như chất lượng sản phẩm Đất đai là tài nguyên quốc gia vôcùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được trongsản xuất nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, làđịa bàn phân bổ dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốcphòng Đất đai luôn cố định và có hạn do vậy trong sản xuất nông nghiệp con ngườiphải biết sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả để đất đai khôngngừng phục vụ con người
Trang 32Bảng 3.1: Tình hình đất đai xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009
Trang 34Bảng 3.2: Tình hình hộ khẩu và lao động xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009
Trang 35Tình hình lao động của xã có sự biến động như vậy là do đất nông nghiệp ngày mộtgiảm nên nhiều lao động đặc biệt là lao động nông nghiệp đã và đang có xu hướngchuyển sang các ngành nghề khác như ngành sản xuất đồ gỗ,… đây là một xu thếtất yếu Hơn nữa, một số ngành nghề trong xã mang lại thu nhập cho người laođộng cao hơn và cả những những công việc ở những vùng lân cận đã thu hút đượclao động của xã Tuy nhiên đây chính là bộ phận trực tiếp gây ra hiện tượng ônhiễm môi trường ở xã Tam Sơn mà chúng ta sẽ được tìm hiểu ở phần sau.
Ở Tam Sơn những năm gần đây do hộ nông dân ý thức được việc sinh đẻ có
kế hoạch do vậy có rất ít nhà sinh con thứ 3, thứ 4 nên bình quân khẩu/hộ có tỷ lệthấp, dao động khoảng 3,22 khẩu/hộ Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nôngdân được chăm sóc sức khỏe, văn hóa, giáo dục tạo nguồn lực tốt cho phát triển kinh
tế hộ, song nó cũng làm cho số lượng lao động ít, hoặc “dân số già” ở làng quê Đòihỏi chính quyền địa phương phải có chính sách phát triển nông nghiệp phù hợp vớitình hình dân số và lao động Lao động nông nghiệp bình quân/hộ là không cao và có
xu hướng giảm, năm 2007 là 1,76 lao động/hộ và năm 2009 là 1,72 lao động/hộ
Là một vùng quê được hình thành từ lâu đời của đất Kinh Bắc ngàn năm vănhiến nay còn gặp không ít khó khăn nhưng với bản chất vốn có của con người BắcNinh, truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết, cần cù, sáng tạo, giàu nghị lực vànguồn tài nguyên đa dạng phong phú chắc chắn Tam Sơn sẽ vượt qua khó khăn vàphát huy được những tiềm năng vốn có trong sự nghiệp đổi mới của toàn thị xã nóiriêng và cả nước nói chung
3.1.2.3 Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ở xã.
Xã Tam Sơn là khu vực đang trên đà phát triển với tốc độ tương đối nhanh, theođúng chủ trương phát triển xã toàn diện, Đảng ủy và các ban ngành đoàn thể của xã đãtiến hành quy hoạch, xây dựng các cơ sở vật chất quan trọng góp phần tạo điều kiện thuậnlợi cho giao lưu buôn bán, thông thương và làm nền tảng phát triển KT - XH của xã
Hệ thống giao thông: Thực hiện chủ trương của xã về CNH - HĐH nông
nghiệp nông thôn nên những năm gần đây hệ thống giao thông của xã đã và đangđược quan tâm đúng mức Qua bảng cho thấy, có đường liên huyện N0179 dài gần3,5km do thị xã quản lý, đi từ phường Đông Ngàn qua địa bàn thôn Dương Sơn và
Trang 36Thọ Trai sang huyện Yên Phong - là con đường được xây dựng mới, rải nhựa rấtkiên cố đã tạo thêm điều kiện cho việc trao đổi giao lưu buôn bán, thúc đẩy pháttriển làng nghề.
Đường giao thông nội bộ do xã quản lý có chiều dài khoảng 22,34 km đãđược bê tông hoá có chiều rộng khoảng 2 - 3 m có đoạn rộng 3 - 4,5 m Hiện tại có100% đoạn đường trong thôn đã được kiên cố bằng bê tông hoá
Hệ thống điện: Cả xã có 13 trạm biến thế, trong đó có 6 trạm thuộc thôn Tam
Sơn với tổng dung lượng là 1.710 KVA để phục vụ cho việc sản xuất và đời sống củathôn Còn lại 3 trạm thuộc thôn Dương Sơn, 2 trạm thuộc thôn Thọ Trai và 2 trạmthuộc thôn Phúc Tinh với công suất tương ứng là 320 KVA và 250 KVA Ngoài ra,trên địa bàn xã có 9 km đường dây cao thế và 47 km đường dây hạ thế phục vụ choviệc dẫn điện tới các cơ sở sản xuất và hộ gia đình trong địa bàn xã Nhìn chung hệthống điện của xã đã đáp ứng được nhu cầu của người dân trong sinh hoạt Tuy nhiên,nhiều khi Chi nhánh điện Thị xã cắt điện lại không thông báo đến người dân nên ítnhiều đã ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân trên địa bàn
Hệ thống thuỷ lợi: Hiện nay xã có 5 trạm bơm có công suất 1000 m3/h với
11 máy bơm phục vụ cho việc tưới tiêu trên địa bàn xã, riêng thôn Tam Sơn có 2trạm bơm với 5 máy bơm, còn 3 trạm bơm với 6 máy bơm thuộc thôn Thọ Trai,Dương Sơn và Phúc Tinh
Với số máy bơm này đã đáp ứng được việc tưới vào mùa khô và tiêu thoátnước vào lúc úng của xã Ngoài ra, xã còn có một số hệ thống cống và mương mángdày đặc, đã được kiên cố hoá, nên việc dẫn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nôngnghiệp ở địa phương là rất thuận lợi
Công trình phúc lợi:
- Về giáo dục: Đây là vấn đề luôn được xã đặc biệt quan tâm và chú trọng Toàn
xã có 5 trường học và 3 nhà trẻ mẫu giáo, trong đó có 1 trường Cao đẳng, 1 trườngTHPT, 1 trường THCS và 2 trường Tiểu học Các nhà trường trong xã đều đạt danh hiệutiên tiến xuất sắc cấp tỉnh Có 4 trường đạt chuẩn quốc gia Công tác phổ cập THCS đạtchuẩn (năm 2001) và đang xúc tiến đẩy mạnh việc hoàn thành phổ cập trung học vàocuối năm 2010 Công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến học, khuyến tài được đẩy mạnh
Trang 37Bảng 3.3: Tình hình cơ sở vật chất của xã Tam Sơn năm 2009
Nguồn: Ban Thống kê xã Tam Sơn
- Về y tế: Toàn xã có 1 trạm y tế với 12 cán bộ bác sỹ, y sỹ và y tá cùng 20
giường bệnh, đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân 100%trẻ trong diện được tiêm và uống vacxin phòng bệnh Xã luôn thực hiện tốt chươngtrình y tế quốc gia, 100% số gia đình được sử dụng nước sạch Công tác dân số - kếhoạch hoá cũng được triển khai mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả khả quan Xãđạt chuẩn quốc gia về y tế
Hệ thống thông tin liên lạc: Dịch vụ Bưu chính viễn thông phát triển nhanh,
đến nay 100% số thôn, xóm đã có đầu cáp nắp điện thoại cố định và có bưu điện
Trang 38văn hoá Tổng số máy điện thoại là 4.068 máy cố định, đạt tỷ lệ 31,2 điện thoại/100dân Xã có 1 đài phát thanh trung tâm dùng để thông tin các tin tức liên quan đếncác chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của nhà nước; các thôngtin riêng của xã, đến nhân dân.
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy, cơ sở hạ tầng ở Tam Sơn là tương đốiđầy đủ, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của người dân và sự phát triển của cácngành nghề Đây sẽ là tiền đề thuận lợi để địa phương có sự phát triển toàn diện vềkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời gian tới Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiệnnay là có một số đoạn đường giao thông đã xuống cấp do nhu cầu vận tải và đi lạicủa các ngành nghề, do đó trong thời gian tới cần được ưu tiên tu bổ và làm mới đểđem lại cảnh quan cũng như phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển của người dân
3.1.2.4 Tình hình và kết quả phát triển kinh tế của xã qua 3 năm
Tam Sơn xuất phát là một xã nông nghiệp nhưng hiện nay tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của địa phương là thấp, sản xuất nông nghiệp hiện nay chủ yếu tập trung ở thôn Thọ Trai và Phúc Tinh, còn ở thôn Tam Sơn thì sản xuất nông nghiệp chỉ có một phần ít, chỉ là để lấy gạo đáp ứng nhu cầu lương thực Thu nhập chính của các hộ là từ ngành nghề thủ công mỹ nghệ Trong những năm qua tỷ trọng của ngành CN - TTCN và DV luôn chiếm tỷ trọng lớn cơ cấu giá trị sản xuất của địa phương Điều này cho thấy Tam Sơn đang chuyển dịch đúng hướng
Qua bảng số liệu cho thấy: Tổng giá trị sản xuất của xã năm 2007 là 134,9 tỷ đồng, đến năm 2009 tăng lên thành 180,62 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân hàng năm
là 15,71%/năm Qua 3 năm cơ cấu giá trị sản xuất của xã có những biến động sau:
Trang 39Bảng 3.4: Kết quả sản xuất kinh doanh các ngành kinh tế của xã Tam Sơn qua các năm 2007 - 2009
Trang 40Năm 2007 giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt 49,2 tỷ đồng, chiếm36,47% tổng giá trị sản xuất, đến năm 2009 con số này đạt 59,12 tỷ đồng chiếm32,73% tổng giá trị sản xuất Như vậy, tuy diện tích đất nông nghiệp giảm dần quacác năm nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng lên do việc áp dụng khoa học
kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng có nhữngchuyển dịch đáng kể về giá trị sản lượng cũng như cơ cấu Nếu năm 2007 giá trị sảnxuất ngành trồng trọt đạt 27,5 tỷ đồng chiếm 55,89% giá trị sản xuất nông nghiệp,giá trị ngành chăn nuôi chỉ đạt 21,7 tỷ đồng chiếm 44,11% giá trị sản xuất nôngnghiệp thì đến năm 2009 con số này tương ứng là 45,62 tỷ đồng chiếm 77,17% và13,5 tỷ đồng chiếm 22,83% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp Điều này cho thấytrong nội bộ ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷngành chăn nuôi và tăng dần tỷ trọng ngành trồng trọt Bởi Tam Sơn là 1 trong 2 xãcủa Thị xã Từ Sơn thường xuyên xảy ra nhiều dịch bệnh có diễn biến phức tạp nhưdịch cúm H5N1 trên gia cầm, dịch lở mồm long móng, dịch lợn tai xanh, dịch cúm
H1N1 trên lợn và gia súc
Đối với ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản vàthương mại dịch vụ: Đây đang là thế mạnh của địa phương, đặc biệt đối với thônTam Sơn Giá trị sản xuất của 2 ngành không ngừng tăng lên qua các năm về mặt sốtuyệt đối cũng như tỷ trọng cơ cấu Năm 2007 giá trị sản xuất của ngành côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản là 35,62 tỷ đồng thì đến năm 2009giá trị sản xuất của ngành là 53,61 tỷ đồng, chiếm 29,68% tổng giá trị sản xuất, bìnhquân 3 năm tăng 22,68% Giá trị sản xuất của ngành thương mại dịch vụ khôngnhững tăng dần qua 3 năm mà còn tăng khá mạnh Từ 50,08 tỷ đồng năm 2007 lên67,89 tỷ đồng năm 2009, chiếm 37,59% tổng giá trị sản xuất, với tốc độ tăng bìnhquân qua 3 năm là 16,43%
Nhìn vào chỉ tiêu bình quân ta thấy, các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất cơbản đều tăng Đây là điều đáng mừng cho cuộc sống cũng như đời sống của ngườidân đang dần được nâng cao
3.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: