1.2.1. Mục tiêu chung Nghiên cứu tình hình quản lý thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Đa Phúc, từ đó đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý thu gom và xử lý rác thải đạt hiệu quả cao nhất. 1.2.2. Mục tiêu cụ thể Điều tra số lượng và thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Đa Phúc, quận Dương Kinh, Hải Phòng. Đánh giá được thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường. Điều tra và đánh giá tình hình quản lý thu gom và phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường. Đề xuất một số giải pháp để công tác quản lý thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Đa Phúc đạt hiệu quả cao hơn.
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay, Việt Nam đã và đang từngbước thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước và đã đạtđược nhiều thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực Cùng với tốc độ phát triểnkinh tế rất nhanh trong thời gian gần đây là sự hình thành các thành phố lớn,các khu đô thị và khu công nghiệp tập trung Đời sống của người dân từ đó đãđược nâng cao rõ rệt, đặc biệt ở các thành phố lớn và các khu đô thị Nhưngmặt trái của nó là khả năng phát sinh các vấn đề về môi trường tại các khu vựcnày cũng khá lớn… người dân ngày càng sử dụng nhiều hơn những sản phẩmnhân tạo, chế biến sẵn… và thải ra môi trường những phế, phụ phẩm, vì thếrác thải cũng ngày một thay đổi về cả số lượng và thành phần Tuy nhiên,công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay vẫn chưa thực sự đi vàocuộc sống và phát huy hiệu quả Đây là vấn đề dặt ra cho những nhà quản lýmôi trường một yêu cầu cấp bách trong công tác thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt Quản lý rác thải sinh hoạt khá khó khăn và phức tạp bởi tính đặcthù của nó, do rác thải bao gồm nhiều thành phần, có một lượng lớn chất hữu
cơ dễ phân huỷ, tuy nhiên lại được thải ra một cách không tập trung và khôngthể thu gom thường xuyên Các đô thị và thành phố công nghiệp Việt Nam có
sự khác nhau về quy mô dân số, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội lên việcđầu tư và quản lý vận hành hệ thống thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt ở đôthị được thực hiện bởi chính quyền đô thị Hiện nay, nước ta đang chú trọngviệc thu gom và phân loại rác thải sinh hoạt, gần đây nhất là chương trình 3 Rđang được thử nghiệm và nhân rộng trên toàn phạm vi quốc gia
Trang 2Vì vậy việc nghiên cứu ứng dụng tìm ra giải pháp thu gom và xử lý rácthải sinh hoạt để phù hợp với đặc điểm các đô thị, thành phố của nước ta và phùhợp với khả năng đầu tư, nguồn vốn đầu tư là hết sức quan trọng và cấp báchtrong thời điểm hiện nay Các giải pháp thu gom và xử lý rác thải với chi phíthấp và bền vững phù hợp với điều kiện của Việt Nam phải được coi là mộtphương thức tiếp cận.
Quận Dương Kinh thuộc thành phố Hải Phòng là quận có vị trí quantrọng chiến lược trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thành phố, là nơi cónền kinh tế đang phát triển năng động nhất Phường Đa Phúc là phường duynhất của quận tiếp giáp với cả ba quận Kiến An, Hải An và Ngô Quyền; là đầumối giao thông quan trọng giữa quận Dương Kinh với trung tâm Thành phố vàcác quận, huyện khác Do vậy đây là nơi có mật độ dân cư tập trung đông đúc,các cơ quan, trường học, các khu công nghiệp, xí nghiệp tư nhân bao gồmnhiều ngành nghề, và dịch vụ phát triển Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cácngành nghề và dịch vụ đã kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càngbức xúc, ảnh hưởng đến cảnh quan - vệ sinh môi trường và sức khỏe của nhândân Trong đó vấn đề thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đang là một điểmnóng trong quá trình phát triển toàn diện kinh tế xã hội của phường, quận cũngnhư của thành phố
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự phân công của Bộ môn Kinh
tế Tài nguyên môi trường, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội, được sự đồng ý của ban quản lý Môi trường phường
Đa Phúc, quận Dương Kinh, Hải Phòng; tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tình hình quản lý thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường Đa Phúc, quận Dương Kinh, Hải Phòng”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 3Nghiên cứu tình hình quản lý thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địabàn phường Đa Phúc, từ đó đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống quản
lý thu gom và xử lý rác thải đạt hiệu quả cao nhất
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Điều tra số lượng và thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường
Đa Phúc, quận Dương Kinh, Hải Phòng
- Đánh giá được thực trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường
- Điều tra và đánh giá tình hình quản lý thu gom và phương pháp xử lýrác thải sinh hoạt trên địa bàn phường
- Đề xuất một số giải pháp để công tác quản lý thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt trên địa bàn phường Đa Phúc đạt hiệu quả cao hơn
1.2.3 Yêu cầu
- Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến khối
lượng rác thải sinh hoạt
- Thu thập số liệu về khối lượng, thành phần rác thải sinh hoạt trên địabàn phường Đa Phúc
- Điều tra phỏng vấn nông hộ về công tác thu gom và phân loại rác thảisinh hoạt trên địa bàn phường
- Tìm hiểu công tác quản lý và thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bànphường Đa Phúc
- Điều tra và đánh giá công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của phường
1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
Trang 4- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tình hình thu gom và xử lý rác thảisinh hoạt của địa phương.
- Phạm vị về không gian: Phường Đa Phúc, quận Dương Kinh, Hải Phòng
- Phạm vi về thời gian: Từ 23/1/2010 đến 16/5/2010
1.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra hiện trạng rác thải sinh hoạt ở phường Đa Phúc, quận DươngKinh, Hải Phòng
+ Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
+ Điều tra tình hình quản lý, ý thức của người dân
+ Khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt
+ Điều tra công tác quản lý rác thải sinh hoạt
+ Điều tra công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt
- Đánh giá hiện trạng rác thải sinh hoạt trên địa bàn phường
+ Đánh giá tình hình quản lý, ý thức của người dân
+ Đánh giá khối lượng và thành phần rác thải sinh hoạt
+ Đánh giá công tác quản lý rác thải sinh hoạt
+ Đánh giá công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt
Trang 5PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm, nguồn gốc và phân loại rác thải
2.1.1.1 Các khái niệm
Chất thải rắn - CTR (còn gọi là rác thải) là các chất rắn loại ra trong quátrình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con người và động vật Chất thảirắn sinh hoạt là rác thải sinh ra trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trongquá trình duy trì hoạt động sống của con người
CTR phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng, bến xe, khu thươngmại, khu bệnh viện, khu xây dựng, khu xử lý chất thải Trong đó, CTR sinhhoạt chiếm tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từngquốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế,khoa học, kĩ thuật
Bất kì một hoạt động sống nào của con người, tại nhà, công sở, trênđường đi, tại nơi công cộng đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phầnchủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trườngsống nhất Cho nên, CTR sinh hoạt (hay rác thải sinh hoạt) có thể định nghĩa lànhững thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người,chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống
Trang 6Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ vật chất được con ngườiloại bỏ trong các hoạt động kinh tế – xã hội của mình Trong đó, quan trọng
nhất là các hoạt động sản xuất và hoạt động duy trì sự sống
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thị (gọi chung là rác thải đô thị)được định nghĩa là: Vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong đô thị màkhông đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó Thêm vào đó, chất thải đượccoi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như là một thứ màthành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ
2.1.1.2 Nguồn gốc phát sinh
- Từ các khu dân cư
- Từ các công sở trường học, công trình công cộng
- Từ các dịch vụ đô thị
- Từ các hoạt động công nghiệp
- Từ các hoạt động nông nghiệp
- Từ các hoạt động xây dựng đô thị
- Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường cống dẫn thoát nước củathành phố
Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn được thể hiện trong hình sau:
Trang 7Hình1: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn.
2.1.1.3 Phân loại chất thải rắn
Các loại chất rắn được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loạitheo nhiều cách:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay chất thải rắn sinh
hoạt trong hộ gia đình, ngoài ngoài hộ gia đình, trên đường phố, chợ, côngviên, khu dịch vụ, khu công nghiệp …
- Theo thành phần hóa học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành
phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da,giẻ vụn, cao su, chất dẻo,…
- Theo bản chất nguồn tạo thành:
+ Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt
động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành
Cơ quan trường học
Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải
Trang 8phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chấtdẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gàvịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả…
Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sau:Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau quả,… loại này mangbản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra mùi khó chịu, đặcbiệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ hộ giađình còn có thức ăn dư thừa từ các nhà bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn,
+ Chất thải rắn công nghiệp: là chất thải phát sinh từ hoạt động công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm:
Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trongcác nhà máy nhiệt điện
Các phế thải nhiên liệu phục vụ cho sản xuất
Bao bì đóng gói sản phẩm
+ Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ
do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình…chất thải xây dựng gồm:
Trang 9Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng.
Đất đá do việc đào móng trong quá trình xây dựng
Các vật liệu như lim loại, chất dẻo,…
+ Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và những mẩu thừa thải ra
từ các hoạt động nông nghiệp như: trồng trọt, thu họach các loại cây trồng, cácsản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ…
- Theo mức độ nguy hại:
+ Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hoá chất dễ gây phản ứng, độc
hại, chất sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, cácchất thải nhiễm khuẩn, lây lan…có nguy cơ đe doạ tới sức khoẻ người động vật
và cây cỏ
+ Chất thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất
có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp hoặc tương tác với chất khácgây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Các loại băng bông, gạc, nẹp dùng trong khám bệnh, điều trị, phẫu thuật
và các chất thải trong bệnh viện bao gồm:
Các loại kim tiêm, ống tiêm
Các phần cơ thể cắt bỏ chất thải sinh hoạt từ các bệnh nhân
Các chất thải có chứa các chất có nồng độ cao sau đây: chì, thuỷ ngân,Cadimi, Arsen, Xianua…
- Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất
và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tácthành phần với các chất khác
Trang 10Các nguồn phát sinh chất thải và phân loại chất thải được thể hiện tronghình sau đây:
Hình 2: Các nguồn phát sinh rác thải và phân loại chất thải Nguồn : GS.TS Trần Hiếu Nhuệ , TS Ứng Quốc Dũng, TS Nguyễn Thị Kim
Thái, Quản lý chất thải rắn, Nhà xuất bản xây dựng,2001
2.1.2 Thành phần và tác hại của chất thải rắn
2.1.2.1 Thành phần của chất thải rắn
* Thành phần hóa học của chất thải rắn,
Thành phần hóa học của chất thải chủ yếu là : C, O, H, N, S và các chất tro Tùy thuộc vào các thành phần hữu cơ mà hàm lượng các nguyên tố trên daođộng khác nhau
Số liệu qua bảng 1 thể hiện thành phần hóa học của chất thải rắn:
Bảng 1: Thành phần hoá học các chất hữu cơ có trong rác thải
cống Chất dầu lỏng Hơi độc hại Chất thải sinh hoạt Chất thải công nghiệp Các loại khác
Các hoạt động kinh tế xã hội của
Hoạt động sống và tái sinh sản của con người
Các hoạt động quản lý
Các hoạt động giao tiếp và đối ngoại
CHẤT THẢI
Trang 11Nguồn:PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, Giáo trình Công nghệ vi sinh vật trong
xử lý ô nhiễm môi trường, NXB Nông nghiệp, 2004.
Qua bảng số liệu trên cho thấy: các thành phần trong rác thải sinh hoạtchủ yếu là Cacbon và Oxy Tỷ lệ cacbon rất lớn, dao động từ 41,0% - 78,0%,còn Oxy 11,6% - 42,7%, còn lại là các thành phần khác Các chất khác nhau sẽ
có thành phần hóa học khác nhau Độ trơ của chất dẻo, cao su, da là cao nhất(10%), độ trơ của gỗ là thấp nhất (1,5%)
* Thành phần lý học của chất thải rắn
Thành phần lý học của chất thải rắn đô thị rất khác nhau tuỳ thuộc vàotừng địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tốkhác, được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2: Trọng lượng, độ ẩm của chất thải rắn đô thị
Hợp phần
% Trọng lượng Độ ẩm(%)
Trọng lượng riêng (kg/m 3 ) Khoảng
giá trị (KGT)
Trang 12Nguồn : GS.TS Trần Hiếu Nhuệ , TS Ứng Quốc Dũng, TS Nguyễn Thị
Kim Thái, Quản lý chất thải rắn, Nhà xuất bản xây dựng,2001
Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Trọng lượng của các thành phần rác thải sinh hoạt là rất khác nhau,chiếm tỷ lệ cao nhất là giấy (40%), thấp nhất là cao su và da vụn (0,5%)
- Độ ẩm của thành phần rác thải sinh hoạt là khác nhau, độ ẩm cao nhất
là của chất thải thực phẩm (70%), thấp nhất là chất dẻo, cao su, thủy tinh, kimloại không thép (2%)
- Trọng lượng riêng cao nhất là bụi, tro, gạch (480 kg/m3), thấp nhất làchất dẻo và vải vụn (64kg/m3)
* Thành phần của rác thải sinh hoạt
Trang 13Khác với rác thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một hỗn hợp không
đồng nhất Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính rất khác biệt trong
thành phần rác thải sinh hoạt
Qua điều tra đánh giá bình quân thì rác thải rắn có các đặc trưng điển
hình như sau:
Bảng 3: Thành phần rác thải sinh hoạt
1 Rau, thực phẩm thừa, chất hưu cơ dễ phân hủy 64,7
Nguồn : Số liệu HOWADICO, tháng 6- 2002
Qua bảng trên ta thấy, lượng rác thải hữu cơ chiếm một tỷ lệ rất cao
(64,7%) và chiếm tỷ lệ thấp nhất là giấy, bao bì giấy (2,1%) và đất đá, bê
tông (1,6%) Điều này rất có lợi cho việc phân loại và phương pháp xử lý,
đặc biệt là sử dụng công nghệ vi sinh
Thành phần rác thải sinh hoạt rất đa dạng đặc trưng cho từng đô thị, mức
độ văn minh, tốc độ phát triển của xã hội Việc phân tích thành phần rác thải
sinh hoạt có vai trò quan trọng trong việc quản lý, thu gom, phân loại và lựa
chọn công nghệ xử lý
2.1.2.2 Tác hại của chất thải rắn
Trang 14Nếu không được quản lý một cách hợp lý và khoa học, rác thải rắn đô thị
sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khoẻ con người Một sốảnh hưởng chính của sự ô nhiễm rác thải rắn tại đô thị bao gồm:
- Rác thải không được thu gom tại đầu cuối của các cống thoát nướccủa đô thị có thể dẫn tới tắc các đường cống thoát nước, nguyên nhân gây lụtkhi mưa lớn và ảnh hưởng tới vệ sinh môi trường
- Các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh có thể phát triển trên một sốloại chất thải như phân người và phân động vật nuôi, các loại thức ăn thải bỏ làmôi trường thuận lợi cho các loài trung gian truyền bệnh như: ruồi, nhặng, gián.Các mầm bệnh này trực tiếp gây tác hại cho sức khoẻ của công nhân vệ sinh,những người nhặt rác, bới rác và trẻ em
- Nước ứ đọng tại các chất thải rắn như: can, chai lọ bỏ đi là môitrường thuận lợi cho sự phát triển của các loại muỗi là nguyên nhân quan trọngtrong việc truyền các bệnh sốt rét và sốt xuất huyết
- Nơi cư trú ưa thích của chuột là các đống rác, thức ăn thải bỏ vàchúng là nguyên nhân truyền bệnh dịch hạch
- Đốt rác dẫn tới ô nhiễm không khí do những sản phẩm sau quá trìnhđốt có chứa các chất độc hại như dioxin, cacbonic khói từ nơi đốt rác có thểlàm giảm tầm nhìn dẫn đến nhiều tai nạn nguy hiểm, nguy cơ gây cháy nổ vàgây hoả hoạn
- Một nguy cơ nghiêm trọng đối với rác đô thị đó là các loại túi chấtdẻo tổng hợp, những loại túi này gây mất mỹ quan đô thị và là nguyên nhân gâychết những động vật ăn phải chúng
Trang 15- Những chất thải nguy hiểm như các vật sắc nhọn, các chất thải y tế,các bình chứa chất có khả năng cháy nổ, các hoá chất nông nghiệp có thể dẫnđến những chấn thương hoặc nhiễm độc, đặc biệt với trẻ em và những ngườitiếp xúc với rác thải.
- Các chất ô nhiễm từ các bãi rác có thể ngấm vào mạch nước ngầmgây ô nhiễm nước ngầm và ô nhiễm đất xung quanh
- Rác thải bệnh viện được đổ chung vào rác thải đô thị là nguồn nguyhiểm đáng kể Các mầm bệnh truyền nhiễm có thể theo đó mà lan truyền ra môitrường xung quanh Đặc biệt, rác thải bệnh viện trực tiếp tác động tới sức khoẻcủa những người thu gom rắc, nhặt rác, bới rác hoặc xử lý rác
* Tác động lên môi trường.
Các bãi rác đổ ngoài trời và các bãi chôn lấp rác không được xây dựngtheo đúng tiêu chuẩn có thể gây ô nhiễm không khí, tạo ra mùi khó chịu chomột khu vực rộng lớn xung quanh bãi rác, đồng thời cũng là nguyên nhân tiềmtàng gây ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước ngầm Trong quá trìnhphân huỷ, một số chất tạo ra các loại khí độc, chất độc, kim loại nặng có thểgây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ cộng đồng, các loại động vật và hệ sinh tháimôi trường khu vực
Chất thải rắn cũng có nguy cơ cao gây nên ô nhiễm đất Các khu vựcđược sử dụng để chôn lấp rác, chất thải rắn bị ô nhiễm nặng nề, dẫn đến việcmất đất canh tác Những thay đổi này dẫn tới sự thay đổi về mặt sinh thái học
và dẫn tới sự phá vỡ cân bằng của hệ sinh thái
* Tác động lên sức khoẻ con người
Trang 16Sự ô nhiễm ảnh hưởng tới nguồn thức ăn như: các chất ô nhiễm có trongđất, nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm của con người ( rau, độngvật,…) qua lưới và chuỗi thức ăn, những loại chất ô nhiễm này tác động xấu tớisức khoẻ con người Các bãi chôn lấp là nơi phát sinh các nguồn bệnh truyềnnhiễm: tả, lỵ, thương hàn,…Các loại côn trùng trung gian truyền bệnh (ruồi,muỗi, gián, ) và các loại gặm nhấm (chuột ) cũng ưa thích sống ở nhữngkhu vực có chứa rác thải Sơ đồ hình 3 thể hiện tác động của rác thải lên sứckhỏe con người và động vật:
Nước ngầm
Ăn uống, tiếp xúc qua da
Nước mặt Kim loại nặng,
chất độc
Người, động vật
Qua chuỗi thực phẩm Môi trường đất
Qua đường hô hấp
Trang 17Hình 3: Sơ đồ ảnh hưởng của chất thải rắn đối với môi trường và sức
khoẻ con người
Các bãi chôn lấp rác cũng mang nhiều nguy cơ cao đối với cộng đồngdân cư làm nghề rác Các vật sắc nhọn, thuỷ tinh vỡ, bơm kim tiêm cũ,… cóthể là mối đe doạ nguy hiểm với sức khỏe con người khi họ dẫm phải hoặc bịcào xước vào tay chân Các loại hoá chất độc hại, và nhiều chất thải nguy hạikhác cũng là mối đe doạ đối với những người làm nghề này Các động vậtsống ở bãi rác cũng có thể gây nguy hiểm tới sức khoẻ người bới rác
Các bãi rác cũng làm thay đổi thẩm mỹ cảnh quan theo hướng tiêu cực,làm ảnh hưởng đến mỹ quan khu vực quanh bãi rác, tạo ra những mùi khó chịucho khu vực xung quanh
2.1.3 Nội dung quản lý thu gom và xử lý chất thải rắn
2.1.3.1 Nội dung quản lý thu gom chất thải rắn
- Điều tra, đánh giá, dự báo các nguồn phát thải, thành phần, tính chất
và tổng khối lượng các chất thải rắn thông thường và nguy hại;
- Đánh giá khả năng phân loại tại nguồn và khả năng tái chế, tái sử
- Xây dựng kế hoạch và nguồn lực thực hiện để bảo đảm thống kê đầy
đủ và xử lý triệt để tất cả các loại chất thải rắn
Trang 18Xử lý rác thải là công đoạn cuối cùng của công tác vệ sinh môi trường đôthị Đây là công đoạn cần thiết góp phần chống ô nhiễm môi trường không khí,đất, nước mặt và nước ngầm Trong việc xử lý chất thải rắn nói chung và chấtthải sinh hoạt nói riêng, phải dựa trên những phân tích cụ thể của địa phương vàcác chỉ tiêu kinh tế – kỹ thuật để lựa chọn công nghệ Bên cạnh đó cần phảiquan tâm đến các chỉ tiêu như:
- Không ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
- Không ảnh hưởng đến các hệ động vật, thực vật
- Không ảnh hưởng đến các nguồn nước và đất
- Không ảnh hưởng tới môi trường không khí
- Không xâm phạm tới trật tự không gian, quy hoạch đất đai, các khubảo tồn thiên nhiên, các vùng rừng cấm,…
Hiện nay, người ta thường sử dụng các biện pháp sau đây để xử lý và chếbiến rác: Xử lý sinh học, chôn rác, đốt rác
* Phương pháp sinh học
Rác thải sinh hoạt có hàm lượng chất hữu cơ cao và nhiệt độ cao, đây làđiều kiện thuận lợi cho vi sinh vật hoạt động và phát triển Trong rác có rấtnhiều vi sinh vật, trong đó có các loại vi sinh vật có khả năng phân hủy chấtthải Phần lớn chúng là những vi khuẩn hoại sinh có bào tử, phân giải các hợpchất hữu cơ dễ phân huỷ như tinh bột, đường, protein, lipit,…và các chất hữu
cơ khó phân huỷ như xenluloza Một số loại vi sinh vật thường gặp trong rácthải là các nhóm vi khuẩn kị khí, nhóm vi khuẩn hiếu khí, nhóm xạ khuẩn, nấm
Trang 19mốc Xử lý rác thải sinh hoạt bằng con đường sinh học chủ yếu là ủ rác kị khí
và ủ hiếu khí
* Phương pháp ủ kị khí ( Anaerobic Composting )
Là quá trình phân giải các chất hữu cơ mà không có mặt oxy, sản phẩmcuối cùng là CH4, CO2, NH3, một lượng nhỏ các khí khác, axit hữu cơ và sinhkhối vi sinh vật Bản chất của quá trình này là nhờ sự hoạt động của các vi sinhvật, các hợp chất hữu cơ bền vững (xenluloza, hemixenluloza, lignin, tinh bột
và các chất hữu cơ cao phân tử khác) được chuyển thành các hợp chất đơn giảnhơn và các chất khí, trong đó metan chiếm đa số (trên 64%)
Nhược điểm của biện pháp xử lý này là khó áp dụng cho một khối lượngrác thải lớn, mất nhiều thời gian, khó tận thu được hết khí, gây ô nhiễm môitrường Hơn nữa, mùn rác tạo ra để xử lý rác thải ở mức độ công nghiệp, người
ta sử dụng phương pháp ủ hiếu khí
*Phương pháp ủ hiếu khí (Aerobic compasting)
Trừ các thành phần như chất dẻo, cao su, thuỷ tinh, sành sứ, còn lại cácthành phần hữu cơ khác có chứa protein, lipit, hydratcacbon, xenluloza, lignin,hemixenluloza…đều được chuyển hoá trong quá trình lên men hiếu khí Ủ hiếukhí là quá trình phân giải các hợp chất hữu cơ với sự có mặt của oxy, tạo ra sảnphẩm lên men chính là mùn (humus)
Quá trình này được thể hiện như sau:
1 Oxy hóa cacbon hiếu khí
Chất hữu cơ + VSV dị dưỡng tế bào VSV mới + CO 2 + H 2 O C,
Trang 202 Nitrat hóa hiếu khí
- Giai đoạn 1 (giai đoạn nitrit hoá)
NH 3 + VSV dị dưỡng NO 2 + H 2 O + H + + Q Amon
- Giai đoạn 2 (giai đoạn nitrat hoá)
NO 2 + VSV Nitrobacter tế bào VSV mới + NO 3 + H 2 O + Q Nitrit
Hai phương pháp ủ hiếu khí: lên men tự nhiên có đảo trộn và lên men cóthổi khí cưỡng bức:
- Ủ rác thành đống, lên men tự nhiên có đảo trộn (Windrow composting)
Là phương pháp ủ cổ điển nhất, rác được chất thành từng đống có chiềucao khoảng từ 1,5 – 2,5m Hàng tuần đảo trộn 2 lần Nhiệt độ trung bình trongquá trình ủ là 5oC, độ ẩm duy trì khoảng 50 – 60% Quá trình ủ đảo trộn kéo dài
4 tuần Trong giai đoạn này các loài nấm mốc và xạ khuẩn chuyển hoá các chấthữu cơ thành mùn
Sau đó, ủ tiếp 3 - 4 tuần không đảo trộn Ưu điểm của phương pháp này
là dễ thực hiện, nhưng nhược điểm là mất vệ sinh, gây ô nhiễm môi trườngxung quanh
- Ủ rác thành đống không đảo trộn có thổi khí
Trong điều kiện xử lý bằng phương pháp này, nếu nhiệt độ lên quá caohoặc chất ủ bị khô đều hạn chế khả năng phân giải chất ủ, làm quá trình xử lý
bị chậm lại
O2
O2
Trang 21Hình 4: Quy trình công nghệ ủ sinh học quy mô công nghiệp
Phương pháp này được thực hiện đầu tiên ở Beltville (Mỹ) Rác được ủthành đống cao từ 2 – 2,5m phía dưới có lắp đặt hệ thống phân phối khí, nhờ hệthống phân phối khí mà quá trình chuyển hoá được xảy ra nhanh hơn, nhiệt độđống ủ ổn định và phù hợp với sự phát triển của nhiều nhóm vi sinh vật
* Phương pháp nhiệt (đốt)
Cân điện tử Sàn tập kết
Băng phân loại
Kiểm soát
tự động
Ủ chín Sàng Tinh chế
Băng chuyền Công nhân
Đun nóng
Tua bin máy phát và/hoặc hệ thống cung cấp nhiệt
Thu hồi
kim loại
Xỉ lò chứa tro Hầm chứa tro
Thiết bị làm mát (phun nước)
Các cầu vận chuyển tro
Hệ thống sấy Kết tủa tĩnh điện
Thiết bị đóng rắn bụi
Chuyển đi Làm sạch khí ga lỏng
Điều hoà độ khống chê bụi Quạt xúc tác
Trao đổi nhiệt lượng
Rác
Màn chắn
Rác cồng kềnh Máy cắt (thuỷ lực) Máy nghiền rác (búa)
Trang 22Hình 5: Quy trình xử lý rác thải bằng phương pháp đốt quy mô công nghiệp
Trang 23Xử lý rác bằng phương pháp đốt là làm giảm đến mức tối thiểu chất thảicho khâu xử lý cuối cùng Nếu xử dụng công nghệ tiên tiến thì quá trình đốt ráckhông (hoặc ít) gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí Tuynhiên, phương pháp này rất tốn kém, chi phí có thể cao hơn 10 lần so với chônlấp rác hợp vệ sinh.
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi ở những nước như Đức, Thuỵ
Sỹ, Hà Lan, Đan Mạch, Nhật Bản, đó là những quốc gia có số lượng đất chocác khu rác bị hạn chế và những quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế
đủ mạnh để cung cấp các chi phí trong quá trình xử lý, từ việc thu hồi rác sinhhoạt (như là một công cụ phúc lợi cho toàn dân), trung chuyển đến việc xử lý.Mỗi lò đốt rác phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải tốn kém, nhằmkhống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt rác gây ra Việc đốt rác sinh hoạt
sẽ gây ra nhiều khói độc hại như dioxin, giải quyết tốt việc xử lý khói là côngđoạn tốn kém nhất trong công nghệ đốt rác Năng lượng phát sinh có thể tậndụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành công nghiệp nhiệt và phát điện.Hiện nay, nhiều nước ở Châu Âu có xu hướng giảm việc đốt rác thải vì nó làmphát sinh hàng loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần giải quyết
Trang 24lên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm xuống Việc đổ rác lại tiếp tục cho đếnkhi bãi rác đầy thì lấp lại và chuyển sang bãi mới
Hiện nay, việc chôn lấp rác thải sinh hoạt và rác hữu cơ vẫn được sửdụng ở các nước đang phát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệmôi trường một cách nghiêm ngặt Các bãi chôn lấp phải xa khu dân cư, khônggần nguồn nước ngầm và nước mặt Nền đất bãi rác phải là đất sét, á sét hoặcđược phủ các lớp chống thấm bằng màng địa chất Ở các bãi chôn lấp rác cầnphải thiết kế thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường
Ưu điểm của phương pháp này là:
- Công nghệ đơn giản, rẻ và phù hợp với nhiều loại rác thải
- Chi phí cho bãi chôn lấp thấp
Nhược điểm của phương pháp này là:
- Chiếm diện tích đất tương đối lớn
- Không có sự đồng tình của khu dân cư xung quanh
- Tìm kiếm xây dựng bãi là việc làm khó khăn
- Nguy cơ dẫn tới ô nhiễm môi trường nước, không khí
* Xử lý chất thải rắn bằng công nghệ ép kiện
Công nghệ xử lý chất thải rắn bằng phương pháp ép kiện được thể hiệntrong hình 6:
Trang 25Hình 6: Công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải thu gom vàonhà máy Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải, cácchất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thuỷ tinh,plastic…được thu hồi tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải truyền qua
hệ thống ép nén rác bằng thuỷ lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khốirác và tạo thành các kiện ép với tỷ số nén rất cao Các kiện ép đã được sử dụngvào việc đắp các bờ chắn hoặc san lấp các vùng trũng sau khi được phủ lên mộtlớp đất cát
* Phương pháp ổn định chất thải rắn bằng công nghệ Hydromex
Đây là một phương pháp mới, lần đầu tiên được áp dung ở Hawai (HoaKỳ) (2/1996) Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (cả rác độc hại)thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và sản phẩmnông nghiệp hữu ích Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau
Kim loại
Thuỷ tinh Giấy
Nhựa Máy ép
rác
Băng tải thải vật liệu Các khối sau ép
khi ép kiện
Trang 26Quy trình công nghệ như sau:
- Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác công kềnh) chuyển vềnhà máy, rác thải không cần phân loại được đưa vào máy cắt và nghiền nhỏ,sau đó chuyển đến các thiết bị trộn bằng băng tải
- Chất thải lỏng được pha trộn trong bồn phản ứng, các phản ứng trunghoà và khử độc xảy ra trong bồn Sau đó, chất thải lỏng từ bồn phả ứng chấtlỏng được bơm vào các thiết bị trộn, chất lỏng và rác phải kết dính với nhauhơn sau khi thành phần polyme được thêm vào Sản phẩm ở dạng bột ướt đượcchuyển đến một máy ép khuôn và cho ra sản phẩm mới Các sản phẩm nay bền,
an toàn về mặt môi trường, không độc hại
Công nghệ của Hydromex có những ưu điểm :
- Công nghệ tương đối đơn giản, chi phí đầu tư không lớn
Trang 27Hình 7: Sơ đồ xử lý rác theo công nghệ Hydromex
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tổng quan tài liệu về quản lý thu gom và xử lý rác thải
2.2.1.1 Tình hình ô nhiễm rác thải ở các nước trên thế giới
Quản lý rác thải là một công việc hết sức phức tạp bởi rác thải có độ biếnđộng rất lớn về thành phần và tính chất Nó phụ thuộc vào nhiều điều kiện: khảnăng kinh tế, thói quen, về khả năng công nghệ của khu vực…Thành phần rácthải của một số nước trên thế giới được thể hiện trong bảng 4:
Bảng 4: Thành phần rác thải của một số nước
Chất thải rắn chưa
phân loại
Kiểm tra bằng mắt
Cắt xé hoặc nghiền tơi nhỏ
Trang 28Nguồn: PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, Giáo trình Công nghệ vi sinh vật
trong xử lý ô nhiễm môi trường, NXB Nông nghiệp 2004.
Qua bảng 4 ta thấy, thành phần rác thải của các nước là rất khác nhau,kéo theo tình trạng ô nhiễm rác thải cơ bản cũng sẽ khác nhau
Nếu tính bình quân mỗi người mỗi ngày thải ra khoảng 0,5kg chất thảithì dân số trên thế giới khoảng 6 tỷ người thì mỗi ngày sẽ thải ra 1,08 tỷ tấn rác
và mỗi năm sẽ có hàng tỷ tấn rác thải ra môi trường Trong vài thập kỷ vừa qua
do sự phát triển khoa học kỹ thuật dẫn đến sự phát triểm mạnh mẽ về kinh tế
và do sự bùng nổ về dân số, vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường sống đãtrở thành vấn đề lớn của hầu hết các nước trên thế giới
Trang 292.2.1.2 Tình hình quản lý và xử lý rác thải ở các nước trên thế giới
Chính vì sự phức tạp của rác thải mà xử lý rác thải trở thành vấn đề nóngbỏng của các nước, thành phố lớn trên thế giới Tuỳ theo đặc điểm kinh tế xãhội và tình hình khối lượng chất thải của từng nước mà các nước lựa chọn chomình các giải pháp quản lý thu gom và xử lý thich hợp thích hợp
Ở Nhật Bản, rác được phân thành hai loại: rác cháy được và không cháyđược để riêng trong các túi màu khác nhau Hàng ngày, khoảng 9 giờ sáng cáctúi đựng rác được thu gom và vận chuyển đến nơi quy định, rác cháy được sẽđược dưa vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng cho nhà máy phát điện Ráckhông cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn lấp Theo cách này vừa tậndụng được rác vừa chống ô nhiễm môi trường
Ngoài ra, ở một số nước khác người ta có thể áp dụng các biện pháp sinhhọc để xử lý rác thải sinh hoạt Phương pháp này đã mang lại những hiệu quảrất lớn và đang được nhân rộng Viện nghiên cứu nông nghiệp thực nghiệmBeltville (Mỹ) đã áp dụng phương pháp ủ thành đống có thổi khí lần đầu tiên
Hiện nay, ở hầu hết các nước Châu Âu, các giải pháp như chôn lấp, đốtrác ít được thực hiện và có xu hướng chấm dứt vì các lý do kinh tế cũng nhưmôi trường sau này Giải pháp chôn lấp chỉ thực hiện đối với những chất thảiđộc hại không thể xử lý hoặc xử lý quá tốn kém (ví dụ như chất thải hạt nhân).Giải pháp đốt (nhiệt) cũng chỉ thực hiện đối với những chất thải khó phân huỷsinh học, chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp, hoá chất bảo vệ thực vật…
2.2.2 Tổng quan tài liệu về quản lý và xử lý rác thải ở Việt Nam
2.2.2.1 Tiêu chuẩn rác thải sinh hoạt của Việt Nam
Trang 30Tiêu chuẩn rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải rắnmang đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh củadân cư ở mỗi khu vực.
Bảng 5: Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải rắn đô thị
Khoảng giá trị Trung bình
Vật liệu phế thải bị tháo rỡ 0,05-0,40 0,27
Nguồn thải sinh hoạt(2) 0,05-0,30 0,18
Nguồn: GS.TS Trần Hiếu Nhuệ , TS Ứng Quốc Dũng, TS Nguyễn Thị Kim
Thái, Quản lý chất thải rắn, Nhà xuất bản xây dựng -2001 Ghi chú: (1) : Kể cả nhà ở và trung tâm dịch vụ thương mại.
(2) : Không kể nước và nước thải.
Theo bảng tiêu chuẩn trên thì hàng ngày người dân ở đô thị thải ra lượngrác thải trung bình là 1 – 3 kg (1,59 kg) tiêu chuẩn tương đối thấp còn rác thảiCông nghiệp và rác thải xật liệu xây dựng tương ứng là 0,86 kg và 0,27 kg.Nhưng hiện nay, một số thành phố lớn tại Việt Nam đã trong tình trạng quá tải
về rác thải Lượng rác thải trung bình hàng ngày/đầu người đã vượt quá tiêuchuẩn khá cao, trong khi đó lượng rác thải được xử lý là rất ít như thành phố HàNội hàng ngày thải ra là khoảng 1800 tấn rác thải nhưng chỉ có nhà máy xử lýrác cầu Diễn xử lý được 150 tấn/ngày Tình trạng này cứ tiếp diễn thì các thànhphố lớn sẽ ngập rác thải sinh hoạt
2.2.2.2 Tình hình ô nhiễm chất thải rắn ở Việt Nam - công tác quản lý thu gom
và xử lý rác thải
Trang 31Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, rác thải là vấn đề đang được rấtnhiều người quan tâm, đặc biệt là lãnh đạo các cấp chính quyền, các nhà quản
lý môi trường Rác thải không chỉ là vấn đề của các khu đô thị mà nó còn vươntới cả vùng quê xa xôi trên đất nước Mọi người không muốn mình phải bậntâm về rác nhưng không ai tránh được rác vì nó là một phần trong hoạt độngsống của con người
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra số liệu hàng năm có khoảng 5 triệungười (trong đó có 4 triệu trẻ em) chết vì các bệnh liên quan tới rác trên hànhtinh chúng ta Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường do rác gây ra còn nguy hại hơnnhiều quốc gia khác, gần 100% số người sống bằng nghề nhặt rác đều mắc cácbệnh ngoài da, bệnh viêm đường hô hấp, trong đó có 50% là trẻ em Trong khi
đó, lâu nay tồn tại tâm lý thờ ơ với những nguy hại từ rác
Theo báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam năm 2004 do Bộ TàiNguyên Môi Trường, Ngân hàng Thế giới cùng Cơ quan Phát triển quốc tếCanada nhấn mạnh chất thải rắn tập chung chủ yếu ở các đô thị Vùng này có dân
số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước, nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn rácmỗi năm, bằng một nửa tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước Đồng thời, cácchất thải ở đây cũng có thành phần nguy hại hơn, như pin, dung môi, nhựa, kimloại, thuỷ tinh , là những thứ độc hại và khó phân huỷ Dự báo đến năm 2010, sẽ
có thêm khoảng 10 triệu cư dân sống trong các vùng đô thị, kéo theo sự gia tăng60% chất thải sinh hoạt, cùng chất thải nguy hại tăng lên 3 lần
Lượng rác thải phát sinh không ngừng tăng lên, song việc thu gom vẫnchưa được thực hiện hoàn toàn, khối lượng xử lý hầu như không đáng kể Theo
số liệu của Ngân hàng thế giới, chỉ có gần 3/4 lượng rác thải ở các đô thị đượcthu gom, và 1/5 ở nông thôn Trong số 91 điểm tiêu hủy rác của cả nước, chỉ có
Trang 3217 bãi rác là hợp vệ sinh, số còn lại thường là lộ thiên, gây ô nhiễm nghiêmtrọng đất, nước mặt và nước ngầm Các hũ đốt rác thải y tế có công suất đủ đểtiêu huỷ khoảng một nửa số rác thải y tế nguy hại trên cả nước, song do thiếukinh phí vận hành và bảo dưỡng, các lũ đốt này được hoạt động không đúngquy trình, làm tăng nguy cơ phát thải các khí dioxin và furan độc hại
Tốc độ phát sinh rác thải ở nước ta cũng tuỳ thuộc vào từng loại đô thị vàdao động từ 0,35 kg/người/ngày đến 0,80 kg/người/ngày
Lượng chất thải tạo thành hay còn gọi là tiêu chuẩn tạo rác được địnhnghĩa là lượng rác thải phát sinh từ hoạt động của một người trong một ngàyđêm (kg/người/ngày đêm) Số liệu qua bảng 6 thể hiện khối lượng rác thải ởViệt Nam trong giai đoạn 1997-2002:
Bảng 6: Thống kê khối lượng rác trong giai đoạn 1997- 2002
Trang 33tấn/ngày.Đến năm 2002 lượng rác thải đã tăng lên 1.537.979 tấn/năm tươngđương tăng 4.216 tấn/ngày.So vơi năm 2000 lượng rác thải đã tăng lên là356.990 tấn/năm và 981 tấn/ngày Chỉ trong 2 năm 2000 – 2002 lượng rác thảităng cao hơn 3 lần so với 3 năm từ 1997 - 2000 Lượng chất thải rắn trung bìnhphát sinh từ các đô thị và thành phố năm 1996 là 16.237 tấn/ngày, năm 1997 là19.315 tấn/ngày Con số này đạt giá trị 22.210 tấn/ngày vào năm 1998 Hiệu suấtthu gom từ 40 - 67% ở các thành phố lớn và từ 20 - 40% ở các đô thị nhỏ Lượngbùn cặn cống thường lấy theo định kỳ hàng năm, số lượng ước tính trung bìnhcho một ngày là 822 tấn Lượng chất thải rắn và tỉ lệ thu gom trên toàn quốc từ1997-1999 được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 7: Lượng chất thải rắn tạo thành và tỷ lệ thu gom trên toàn quốc từ
năm 1997-1999
Loại chất thải
Lượng phát sinh (tấn/ngày)
Lượng thu gom
Trang 34Tổng cộng 19315 21979 25049 64,6 70 73,4
Nguồn: Số liệu quan trắc – CEETTA
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy:
- Nguồn phát sinh chất thải lớn nhất là nguồn chất thải sinh hoạt Năm
1997 lượng phát sinh chất thải từ nguồn này chiếm tới 75,2%, năm 1998 là75,3% và năm 1999 là 75,4%, phần con lại là các ngồn khác
- Tỷ lệ thu gom rác thải là rất thấp: Năm 1997 mới thu gom được 64,6%,năm 1998 là 70% và năm 1999 là 73,4%.Trong đó tỷ lệ thu gom chất thải sinhhoạt là chưa cao: Năm 1997 mơi thu gom là 55%, năm 1998 là 68% và năm
1999 là 75%
- Tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp nguy hại là thấp nhất: Năm 1997 tỷ
lệ thu gom mới là 48%, năm 1998 là 50% và năm 1999 là 60%
Như vậy chúng ta có thể thấy trong giai đoạn này, lượng phát sinh chấtthải là rất lớn nhưng tỷ lệ thu gom lại rất thấp điều này đã gây ra ô nhiễm chấtthải rắn là điều không thể tránh khỏi
Vấn đề thu gom và quản lý rác thải đang là một bất cập hiện nay “Thủcông” là một từ có thể khái quát hoạt động thu gom rác của Việt Nam Thugom rác thủ công là nguyên nhân tạo ra một lượng bụi lớn vào không khí Việcphun nước chỉ được thực hiện trong những dịp lễ lớn Rõ ràng, thu gom rác vàosáng sớm hay đêm như trước đây không còn thích hợp vì lượng rác thải ra làquá lớn Các bãi rác hầu hết nằm ở gần các khu dân cư, các ao hồ, khu đất bị bỏhoang được sử dụng làm nơi chứa rác mà không trên một quy hoạch hay một
Trang 35kết quả điều tra xã hội nào và không được quản lý hiệu quả Điều này đã làmcho tình trạng ô nhiễm ở các khu dân cư ngày càng gia tăng và là nơi phát sinhcác ổ dịch bệnh.
Một thực tế nữa là có rất ít các nhà máy ở Việt Nam có hệ thống xử lýrác thải riêng Ở ngoại thành, người dân đổ rác bừa bãi mọi nơi có thể: bênđường, bờ ruộng, ao, hồ,…Hiện tại, Công ty môi trường đô thị Hà Nội chỉ cóthể thu gom 250/350 tấn chất thải mỗi ngày, chúng được chuyển đến nhà máychế biến phân vi sinh Cầu Diễn để tạo khoảng 700 tấn phân Composting/năm
Cho đến thời điểm này, hầu hết rác thải của Hà Nội được xử lý ở khu xử
lý rác Nam Sơn (huyện Sóc Sơn) và nhà máy chế biến rác Cầu Diễn vớiphương pháp vi sinh có công suất 30.000m3/năm…được xử lý băng phươngpháp đốt Tuy nhiên, các lò đốt rác chưa bao giờ đáp ứng được nhu cầu xử lý
Với tốc độ gia tăng dân số lớn và một nền kinh tế đang phát triển mạnh
mẽ như hiện nay thì vấn đề thu gom và xử lý rác thải ở Việt Nam đang là mộttrong những yêu cầu cấp thiết nhất Và trước khi có những phương thức chiếnlược hợp lý của các cơ quan chức năng trong quá trình thu gom và xử lý rácthải, các biện pháp đối với các hành động thải rác bừa bãi không theo quyđịnh…thì ý thức bảo vệ môi trường của người dân cần được phát huy một cáchtối đa để đảm bảo môi trường sạch sẽ
2.2.2.3 Giải pháp công nghệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt đang được áp dụng ở Việt Nam
Để giải quyết các vấn đề rác thải theo các chuyên gia thì bên cạnh việcnâng cao nhận thức cộng đồng và áp dụng sản xuất sạch hơn, Việt Nam cần mởrộng việc áp dụng các biện pháp về kinh tế, dựa trên nguyên tắc "người gây ô
Trang 36nhiễm phải trả tiền", từ đó sẽ tiết kiệm đáng kể nguồn kinh phí Ước tính, nếugiảm được 10% lượng chất thải phát sinh, thì mỗi năm chúng ta sẽ tiết kiệmđược 200 tỷ đồng cho hoạt động xử lý rác thải sinh hoạt và 130 tỷ đồng cho xử
lý rác y tế
Theo ông Mai Ái Trực, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường, để giảiquyết được lượng rác khổng lồ như hiện nay, cần thực hiện đồng bộ 3 biệnpháp: giảm thiểu việc tạo ra chất thải càng nhiều càng tốt, tái sử dụng chất thải
đó và tái chế chất thải Thực hiện tốt hai biện pháp này sẽ là nguồn lực để bảotồn tài nguyên thiên nhiên nước ta
Theo ông Klaus Rohland, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tạiViệt Nam, thì nhận định: "Điều quan trọng là phải tạo cho người dân ý thứcđược rằng không phải chất thải cứ ra khỏi nhà mình là đã biến mất Nó cầnđược quản lý, chôn lấp và xử lý hợp lý vì có những loại rác thải rất khó phânhuỷ, tồn tại rất lâu trong môi trường, và gây ô nhiễm cho môi trường"
Đối với nước ta hiện nay, có lẽ tối ưu nhất là giải pháp công nghệ
Phương pháp chôn lấp là phương pháp cổ điển nhất và cũng là
phương pháp tự nhiên nhất, rác thải được đổ xuống nơi trũng rồi lấp đất lên, do
đó gây ra nhiều tác hại đến môi trường Rác trong thời gian tập kết về bãi chôn,chưa được chôn lấp gây ô nhiễm nặng nề cho bầu không khí và nguồn nướcxung quanh cần xử lý Vì thế, nhiều bãi rác đã bị dân cư quanh vùng phản đốicông việc vận hành bãi chôn lấp rác
Phương pháp đốt là phương pháp có thể nói là tân tiến nhất nhưng
cũng tốn kém nhất Ở các nước phát triển, rác công nghiệp chiếm tỉ lệ cao trong
Trang 37rác thải sinh hoạt thì phương pháp đốt là phổ biến, còn ở nước ta rác thải hữu
cơ chiếm 50 – 60% khối lượng rác thải thì việc đốt rác là hết sức khó khăn Cóthể tận dụng nhiệt từ quá trình đốt để phát điện, sưởi ấm, song điều này chẳng
dễ bởi vốn đầu tư không nhỏ
Phương pháp công nghệ sinh học là sử dụng công nghệ vi sinh Trong
những thập niên gần đây, công nghệ vi sinh đã đạt nhiều thành tựu quan trọng,trong đó có các chủng vi sinh phân hủy xenlulose Nếu nhiệt độ ổn định vànguồn cung cấp oxy hợp lý, các chủng vi sinh có thể mùn hóa rác hữu cơ trong
20 ngày Mùn rác hữu cơ có thể sử dụng làm phân bón, phân sinh hóa hữu cơ
và công việc này tương đối giản đơn đối với tất cả mọi người Nhà máy xử lýrác ứng dụng công nghệ vi sinh có vốn đầu tư gấp 2-3 lần làm bãi chôn lấp,song tính tổng thể thời gian sử dụng thì rẻ hơn các bãi chôn lấp rất nhiều lần.Nhà máy chỉ cần 20% diện tích bãi chôn lấp, tiết kiệm được 80% đất đai so vớicông nghệ chôn lấp Ngoài ra, nhà máy còn sản xuất được lượng phân bón đáng
kể phục vụ cho nông nghiệp
Ưu điểm vượt trội mà nhà máy xử lý rác bằng công nghệ vi sinh là xử
lý triệt để và ngay lập tức lượng rác thải đưa vào, giảm thiểu mùi hôi phát tánvào không khí và vì có ủ vi sinh với nhiệt độ đống ủ lên đến 60 – 700C trongthời gian 10 – 15 ngày nên vi trùng gây bệnh và trứng giun sán cũng bị tiêudiệt, giảm thiểu được mầm bệnh, còn những loại rác thải không phân hủy đượcvẫn gây độc như các loại bao bì, giấy bìa, giẻ lau, , được đốt trong lò có nhiệt
độ cao bằng phương pháp tự cháy
Trang 38Tổng quát hóa cho thấy, các biện pháp xử lý chất thải sinh hoạt ở ViệtNam vẫn còn rất lạc hậu chủ yếu là phương pháp chôn lấp tại các bãi rác màkhông có các biện pháp xử lý nào kèm theo hoặc có nhưng không mang lại hiệuquả cao Các bãi rác thường không đáp ứng được các yêu cầu về an toàn vệsinh môi trường và thường quá tải mà vẫn phải tiếp nhận một lượng rác lớnkhông có bãi thay thế gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho khu vực xungquanh bãi rác.
Các biện pháp ủ sinh học hay đốt thường ít được sử dụng do lượng rácquá lớn Phương pháp đốt thường chỉ được áp dụng trong bệnh viện hay đối vớicác loại rác thải độc hại Phương pháp này không áp dụng đối với các loại rácthải sinh hoạt thông thường do chi phí cao Các công nghệ hiện đại như ép kiệnHydromex chưa được áp dụng tại Việt Nam
Các nhà máy xử lý rác thải chủ yếu chỉ được xây dựng ở một số thànhphố lớn như Hà Nội, Vinh, thành phố Hồ Chí Minh Ở Hà Nội hầu hết rác thảiđược xử lý tại nhà máy xử lý rác Nam Sơn và nhà máy rác Cầu Diễn vớiphương pháp vi sinh có công suất 30000m3/năm
Hiện nay, ở Việt Nam có một công nghệ xử lý rác thải mới đang đượcđưa vào sử dụng là công nghệ Seraphin đã và đang mang lại một hiệu quả caođược đưa vào áp dụng ở nhiều nơi như : Vinh, Hồ Chí Minh, Huế
2.2.3 Những công trình nghiên cứu về quản lý rác thải ở Việt Nam
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý rác thải ở Việt Nam như:
- Báo cáo đề tài cấp nhà nước 02-04B của GS.TS Lê Văn Nhương
- Rác thải sinh hoạt một phần của cuộc sống, Bài dự thi Đại Sứ Môi
Trang 39- Quản lý chất thải rắn của GS.TS Trần Hiếu Nhuệ , TS Ứng QuốcDũng, TS Nguyễn Thị Kim Thái, Nhà xuất bản xây dựng -2001.
- Giáo trình Công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường,PGS.TS Nguyễn Xuân Thành, NXB Nông nghiệp 2004
- Nghiên cứu phương án quản lý rác thải tại trường Đại học Lâm Nghiệp,
TS Nguyễn Quốc Cường, Báo cáo NCKH
PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên của phường Đa phúc
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Phường Đa Phúc nằm ở phía Bắc của quận Dương Kinh, giáp ven đôphía Nam của thành phố:
- Phía Đông giáp phường Hưng Đạo
- Phía Nam giáp sông Đa Độ và Huyện Kiến Thụy
- Phía Tây giáp Phường Nam Sơn, quận Kiến An
- Phía Bắc giáp Phường Đồng Hòa, quận Kiến An và quận Hải An vàquận Ngô Quyền
Phường Đa Phúc có tổng diện tích đất tự nhiên là 595,64 ha, là đầu mốigiao thông quan trọng của quận
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, diện mạo
Địa hình của phường tương đối bằng phẳng, nhìn chung địa hình thuậnlợi cho việc phát triển đô thị, xây dựng công trình phục vụ cho phát triển kinh
Trang 403.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Phường Đa Phúc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên mangđặc điểm chung của vùng, thời tiết trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt.Nhiệt độ trung bình hàng năm là 230C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 38
- 390C (tháng 7), nhiệt độ trung bình thấp nhất là 80C (tháng 1) Lượng mưatrung bình hàng năm là 1869,7 mm, nhưng phân bố không đều giữa các thángtrong năm Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1699,3 giờ ( trung bình 5.12giờ/ngày ) Số giờ nắng cao nhất là tháng 7 với 198 giờ, tháng ít nhất là tháng 3với số giờ nắng là từ 73 đến 105 giờ
3.1.1.4 Thủy văn
Điều kiện thủy văn của phường rất thuận lợi, nguồn nước được lấy chính
từ hai con sông là sông Lạch Tray và sông Đa Độ, qua hệ thống kênh mươngcủa quận chảy từ bắc xuống nam để cung cấp cho nước sản xuất nông nghiệp
3.1.1.5 Tài nguyên và khoáng sản
- Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của phường Đa Phúc là 595,64 ha Trong đó,đất nông nghiệp là 451,84 ha, đất phi nông nghiệp là 140,30 ha Đất đai ở đâyđều thuộc loại đất phù sa cổ sông Hồng, được bồi đắp thường xuyên hàng năm,tầng canh tác dày, chủ yếu là loại đất trung tính, ít chua, thành phần cơ giới đấtpha cát và thịt nhẹ
- Tài nguyên nước
Nguồn nước của phường Đa Phúc được cung cấp chủ yếu từ hệ thốngkênh mương cấp quận, qua các trạm bơm chuyển tiếp trên địa bàn phường, về
cơ bản đáp ứng đầy đủ được nhu cầu của người dân trong sản xuất và sinh hoạt
Về nguồn nước ngầm, đã được người dân trong phường sử dụng tương đối tốt,chất lượng hiện nay đảm bảo là nước sạch, hiện nay phường đã có hai nhà máynước Mini, công suất cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trên 500m3/ngày