Hoạt động khai thác than có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, xong việc khai thác thiếu quy hoạch tổng thể không quan tâm đến cảnh quan môi trường đã và đang
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua “gần đây” nhờ đường lối đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước đã, đang tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng, vững chắc và mạnh mẽ Cùng với sự phát triển kinh tế thì kéo theo nó các vấn đề môi trường diễn ra ngày càng phức tạp Nguy cơ môi trường đang ở tình trạng báo động ở những quốc gia đang phát triển, nơi nhu cầu cuộc sống ngày càng xung đột mạnh mẽ với sự cần thiết phải phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Nhưng do môi trường là một khái niệm
có nội hàm vô cùng rộng lớn và phức tạp nó chứa đựng rất nhiều vấn đề như:
Ô nhiễm không khí, nước, đất, tiếng ồn…
Bất kỳ hoạt động kinh tế xã hội cũng như trong đời sống sinh hoạt con người đều phải sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau Mặc dù đã có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới, song chúng chưa thể thay thế cho nhiên liệu hoá thạch và có khả năng cạn kiệt bất
cứ lúc nào như than đá dầu mỏ Quá trình khai thác và đốt cháy các nhiên liệu hoá thạch có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đặc biệt là khai thác và sử dụng than Nếu như quá trình đốt cháy than tạo ra các khí nhà kính thì quá trình khai thác than lại gây ô nhiễm, suy thoái, và có những sự cố môi trường diễn ra ngày càng phức tạp đặt con người trước sự trả thù ghê gớm của thiên nhiên đã ảnh hưởng trở lại tới phát triển kinh tế của con người
Hoạt động khai thác than có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước, xong việc khai thác thiếu quy hoạch tổng thể không quan tâm đến cảnh quan môi trường đã và đang làm biến động nguồn tài nguyên thiên nhiên như mất dần đất canh tác, giảm diện tích rừng gây ô nhiểm nguồn nước bao gồm nước mặt, nước ngầm và cả ô nhiểm biển ảnh hưởng tới tài nguyên sinh vậtvà sức khoẻ cộng đồng Vì vậy,việc chống ô
trong vùng vốn đã khó khăn về điều
Vông– Uông bí– Quảng Ninh và các giải pháp quản lý môi trường
- Làm hệ thống phễu chụp tại các máng rót than, cụm sàng và các điểm tạo nhiều bụi.
- Áp dụng phun nước tại các nơi rót than, bến bãi, tưới đường tại các đường vận tải chính
2.4 Tác động của hoạt động khai thác than đến tiến ồn
Hoạt động khai thác mỏ nói chung và mỏ than Đồng Vông nói riêng luôn gây ô nhiễm tiếng ồn với các nguồn đặc trưng khác nhau như: Máy xúc, máy ủi, ôtô vận tải, máy khoan, nổ mìn, sàng,…Tiếng ồn khai thác mỏ thường gây nên các bệnh nghề nghiệp đối vớ
(ít nhất là 3 tháng) về thính giác Ngoài ra nếu tiếng ồn vượt quá chất lượng cho phép nhiều lần thì còn bị ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ công nhân gây nên các bệnh nghề nghiệp như: rối loạn tiêu hoá, rối loạn thần kinh, đau ngực,
Trang 2nhiễn môi trường là một bài toán vô cùng phức tạp và khó khăn đồi hỏi mọi người cùng tham gia thì mới hy vọng giảm thiểu ô nhiễm
Chính vì vậy việc áp dụng các phương pháp Đánh Giá Tác Động môi trường với tìm ra phương pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nhằm phát triển bền vững cho từng dự án là hợp lý
Qua quá trình thực tập tại Công ty tư vấn Đầu Tư mỏ và Công nghiệp thuộc tổng công ty than Việt Nam, được tìm hiểu về các hoạt động sản xuất,
khai thác của mỏ than Đồng Vông Vì vậy, em chọn: "Hiện trạng ô nhiễm
môi trường do hoạt động khai thác than của dự án Đồng Vông– Uông bí– Quảng Ninh và các giải pháp quản lý môi trường.” Làm chuyên đề thực
tập của mình
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, nội dung của đề tái bao gồm những vấn đề sau:
Chương I: Lý luận chung về đánh giá tác động môi trường
Chương II: Giới thiệu tổng quan về dự án khai thác than ở Đồng Vông –Uông bí- Quảng Ninh
Chương III: Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than của dự án Đồng Vông- Uông bí- QuảngNinh
Đây là một vấn đề mới mẻ, hơn nữa thời gian và trình độ còn hạn chế nên đề tài không tránh được thiếu sót Bản thân tác giả xin chân thành cám ơn
và rất mong nhận được đóng góp quý báu của thầy cô giáo, và những ai quan tâm đến đề tài này để đề tài chuẩn xác hơn
Tôi xin chân thành cám ơn thầy giáo Nguyễn Duy Hồng- GVC khoa kinh tế và quản lý môi trường; Ông Phạm Hoàng Gia- Trưởng phòng địa chất môi trường Công ty tư vấn mỏ và công nghiệp Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH TẾ HỌC MÔI TRƯỜNG
1.1 Môi trường và vai trò của nó trong hệ thống môi trường
1.1.1 Định nghĩa
Con người được sinh ra, tồn tại cùng với các họat động kinh tế văn hoá
xã hội trên một không gian sinh sống Con người chịu tác động của không gian sinh sống ấy đồng thời có những ảnh hưởng tới những yếu tố thuộc không gian sinh sống đó, mà không gian đó chính là môi trường Vậy môi trường là gì?
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
1.1.2 Vai trò của hệ thống môi trường
Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng tồn tại các hệ thống tự nhiên và xã hội Các hệ thống này có mối quan hệ phức tạp với nhau song chung quy lại có hai hệ thống lớn ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người đó là :
*Hệ thống kinh tế
*Hệ thống môi trường
Hai hệ thống này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau, quy định lẫn nhau trong đó hệ thống môi trường đợc coi là điểm khởi đầu của các quá trình kế tiếp vơí 3 chức năng chính của hệ thống này cụ thể là:
- Hệ thống môi trường nó cung cấp tài nguyên cho hệ thống kinh tế
- Hệ thống môi trường là không gian sống của con người
Trang 4- Hệ thống môi trường là nơi chứa đựng chất thải
a Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho hệ thống kinh tế
Quá trình hoạt động của hệ thống kinh tế đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình1- Hệ thống kinh tế
Tài nguyên được khai thác từ hệ thống môi trường như: gỗ, than, dầu, xăng, Những tài nguyên này sau khi khai thác được đem chế biến ra sản phẩm phục vụ con người, quá trình này gọi là quá trình sản xuất (P) các sản phẩm được phân phối lưu thông và cuối cùng là tiêu thụ (C) Như vậy hệ thống kinh tế hình thành và tạo ra một dòng năng lượng di chuyển dần từ tài nguyên sản xuất tiêu thụ
Hệ thống kinh tế muốn hoạt động được thì phải có nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào, chúng là các dạng tài nguyên lấy từ môi trường (R) tài nguyên
đó có thể là tài nguyên tái tạo như đất, rừng, cây cối, hay tài nguyên không tái tạo được như than, đá, dầu mỏ,
Việc khai thác tài nguyên từ hệ thống môi trường để phục vụ cho hệ thống kinh tế dẫn đến nhiều hậu quả gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế và làm ảnh hưởng đến môi trường khó khắc phục được Vì vậy chúng ta phải biết khai thác và sử dụng tài nguyên làm sao cho hợp lý Nếu việc khai thác mà lớn hơn khả năng phục hồi tài nguyên thì không những dẫn đến cạn kiệt tài nguyên mà còn có thể gây sự cố môi trường ngược lại thì môi trường được cải thiện việc cải thiện như vậy là hợp lý
b Môi trường là không gian sống của con người
Không gian của con người được biểu hiện thông qua số lượng và chất lượng của cuộc sống Khi không gian đó không đầy đủ cho cuộc sống thì
Trang 5chất lượng cuộc sống bị đe doạ Từ môi trường con người khai thác tài nguyên để tiến hành quá trình sản xuất ra các sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu cho cuộc sống của mình ngoài ra môi trường đem lại cho con người những giá trị tinh thần, nâng cao thẩm mỹ, hiểu biết Vì vậy môi trường là điều kiện sống còn của loài người
c Môi trường là nơi chứa đựng chất thải
Hoạt động của hệ thống kinh tế tuân theo quy luật nhiệt động học:
Đó là năng lượng và vật chất không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác
Từ đó chúng ta có thể biết được rằng tổng lượng chất thải của các quá trình trong hệ thống kinh tế chính bằng lượng tài nguyên đưa vào sử dụng trong hệ thống kinh tế
Hình 2- Quan hệ chất thải với hệ thống kinh tế
Trong đó:
R- là lượng tài nguyên đa vào sử dụng trong hệ thống kinh tế
W- là tông lượng chất thải trong quá trình hoạt động kinh tế
WR- là lượng chất thải do khai thác tài nguyên
WP- là lượng chất thải do quá trình hoạt động sản suất
WC- là lượng chất thải do tiêu dùng sản phẩm
Từ những lí luận trên ta có thể rút ra kết luận sau:
Trang 6Phần lớn các chất thải tồn tại trong môi trường, song môi trường có khả năng đặc biệt đó là đồng hoá các chất thải, biến hoá các chất thải độc hại thành chất thải ít độc hại hoặc không độc hại Nhờ khả năng đồng hoá của môi trường lớn hơn lượng chất thải chất thải thì chất lượng môi trường luôn đảm bảo, tài nguyên được cải thiện ngược lại nếu như khả năng đồng hoá của môi trường nhỏ hơn lượng chất thải thì chất lượng môi trường bị suy giảm, gây tác động xấu đến tài nguyên
Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh tế, môi trường đang bị đe doạ: Tài nguyên bị khai thác nhiều hơn chất thải sinh ra nhiều hơn không gian sống của con người ngày càng thu hẹp,…
Vì vậy mục tiêu phát triển kinh tế và bền vững môi trường đang là mục tiêu hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay nhằm hướng tới phát triển bền vững
Nhận thức được vấn đề trên các nhà khoa học đã ra lời kêu gọi thực hiện chiến lược phát triển bền vững trên toàn cầu Đây là sự phát triển liên tục dựa trên sự kết hợp các yếu tố: tài nguyên, kinh tế, xã hội và môi trường quá trình này đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt của tất cả mọi người mọi tầng lớp Từ nhận thức được vai trò của môi trường đối với sự tồn tại của con người trong hiện tại và tương lai Hội nghị môi trường toàn cầu tại RIO đã ra
Trang 7một quan điểm mới và nó đã nhanh chóng trở thành mục tiêu hành động của các quốc gia đó là quan điểm “ Phát triển bền vững”
“ Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại những không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống của các thế hệ tương lai”
Như vậy quá tình phát triển bền vững không chỉ bảo đảm sự trong sạch cho môi trường trong tương lai, thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ mà còn đòi hỏi nâng cao hiệu quả sử dụng và mức độ tiết kiệm tài nguyên, đặc biệt như là các tài nguyên không tái sinh như: Dầu mỏ, than đá, khoáng sản,
Quan điểm phát triển bền vững chỉ định rằng tất cả mọi tài nguyên đều có thể thay thế và mức độ thay thế ngày càng cao Không còn nghi ngờ gì nữa , công nghiệp giúp chúng ta khai thác các lực lượng thiên nhiên bằng cách đó tăng cường nâng cao mức sống của chúng ta
Tuy nhiên công nghiệp cũng có thể là con dao hai lưỡi trong rất nhiều trường hợp:
Ví dụ: Như khí CFC khi tích tụ lại phía trên bầu khí quyển nó bất đầu phá hủy tầng OZON từ đó kéo theo sự phục hồi sinh thái và cân bằng tự nhiên bị phá vỡ, và có thể gây ra thiệt hại cơ bản cho con người Sự thật là
sự tác động qua lại giữa con người và môi trường phức tạp hơn nhiều so với mối quan hệ giữa các giống loài và môi trường
Tuy nhiên các vấn đề toàn cầu về sự suy giảm tầng OZON và nóng lên bởi hiệu ứng nhà kính đã chỉ ra rằng: Luật lệ của tự nhiên không miễn trừ bất cứ loài nào phá hoại chúng
Vì vậy việc phát triển bền vững đồng nghĩa với việc xây dựng một nền kinh tế bền vững và một xã hội bền vững đó là mục tiêu mong muốn của mọi người
Trang 81.2 PHÂN TÍCH KINH TẾ CÁC KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Phân tích lợi ích chi phí (CBA) của các dự án đầu tư nhằm bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã trở thành một đề tài đ-ược nhiều người nhận thức rõ và được tranh cãi rộng rãi Rõ ràng là rất khó nhưng không phải là không dự đoán được lợi ích của rất nhiều nguồn tài nguyên Nhưng vấn đề quan trọng là mức độ chính xác trong việc đánh giá chi phí lợi ích, có nghĩa là qua các thí nghiệm giống nhau các cách tính toán không có thiên vị phải đa ra các giá trị được biết trước mang tính trung thực và có độ sai lệch thấp
Rõ ràng là các phân tích kinh tế có một vai trò cụ thể trong việc giúp người ra quyết định nên thực hiện dự án đầu tư đã đợc lập kế hoạch trước hay không nhằm nâng cao chất lượng môi trường Hơn nữa phân tích kinh tế còn được sử dụng để quyết định mức độ ngăn chặn sự phá vỡ môi trường của các dự án đầu tư bởi vì mục đích của dự án này không là thuần tuý về môi trường Ngoài ra độ chính xác không phải là vấn đề không quan trọng do đó điều đáng làm là phải tính tới hiệu quả khi quyết định mức độ dự đoán lơị ích thông qua việc áp dụng các phơng pháp khác nhau hay các hình thức khác nhau trong cùng một phương pháp Đó chính là việc xem xét một vấn
đề xác định các hàm chi phí và nội dung cụ thể
Để cải thiện chất lượng môi trường hoặc ngăn ngừa các hậu quả xấu tới môi trường của các dự án đầu tư không có mục đích chính là môi trường nhất thiết phải có sự phát triển về kinh tế, môi trường của các dự án đó trư-
ớc hết là vấn đề chi phí Kinh nghiệm và thực tế cho thấy tổng các chi phí để hạn chế ô nhiễm không phải là nhỏ Việc đặt ra các quy định về môi trư-ờng thường chỉ chú trọng về mặt kỹ thuật còn vấn đề hiệu quả kinh tế khi tiến hành các biện pháp ít được quan tâm, do vậy không khuyến khích các đối tư-ợng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường áp dụng Dĩ nhiên chất lượng môi trường được cải thiện không nhất thiết phải tốn kém, nếu chúng ta bổ xung
Trang 9thêm một tiêu chuẩn là việc lập kế hoach môi trường phải có hiệu qủa trong việc chi phí, thiết kế và cần được thực hiện theo một phương thức để đáp ứng mục đích về môi trường Các khoản chi phí để đầu tư và hạn chế ô nhiễm không thể xem xét một cách riêng rẽ với những gì chúng mang lại cho chúng
ta xét về các thiệt hại về môi trường ta có thể tránh khỏi vì một lợi ích bị bỏ qua là chi phí và chi phí tránh được là lợi ích
Quá trìng triển kinh tế phải chỉ ra rằng lợi ích của các quy định cụ thể
về môi trqờng hoặc các dự án lớn hơn chi phí dành cho chúng chính là phân tích chi phí lợi ích (CBA) và nếu có một nhóm cụ thể các tiêu chuẩn về chất lqợng môi trường xung quanh của một vùng hay địa phương, làm thế nào để đạt được chúng Tuy nhiên cũng cần chú ý rằng nếu tất cả các tài sản và ảnh hưởng môi trường đều có thể đa ra các đánh giá kinh tế thì chúng ta có thể tin tưởng (CBA) hơn Nhưng thực tế là cả môi trường rộng lớn hơn của chúng ta vẫn chưa thể đánh giá hết và điều này có nghĩa là chúng ta cần có
sự đề phòng và cách thức đặc biệt đối với (CBA) và đôi khi (CBA) không làm cho chúng ta thoả mãn mục đích của mình
Trong phân tích khía cạnh môi trường cho các dự án mà mục đích môi trường không phải là mục đích chính, có một số biện pháp làm cho sự án có tính môi trường hơn Một cách là xác định lại mô hình hoặc chuyển lại vị trí nếu làm nh vậy sẽ khó xác định chi phí Hai cách thức khác là làm giảm ảnh hưởng và hạn chế Mặc dù sẽ biết được chi phí nhưng có điểm khác nhau là chúng có thể thể hiện tổng chi phí hay tổng lợi ích của dự án
Sự khác biệt còn phụ thuộc vào liệu các ảnh hưởng tới môi trường của
dự án có làm cho môi trường tồi tệ hơn là không có dự án (có nghĩa là chỉ làm giảm ảnh hưởng) Rất nhiều dự án có thể làm tăng thêm những ảnh h-ưởng tới môi trường tức là làm cho môi trường xung quanh bị ô nhiễm nhiều hơn với trước khi có dự án Vì vậy vấn đề là liệu có nên tiến hành biện pháp làm giảm nhẹ ảnh hưởng phá hoại tới môi trường và nếu tiến hành thì mức độ như thế nào, có tính đến chi phí để cố gắng hạn chế tất cả ảnh hưởng tiêu cực
Trang 10đối với môi trường không? Và khi chúng ta áp dụng các cách thức để quy định mức độ giảm ảnh hưởng cho phù hợp nhất thì cần sử lý các khoản chi phí và lợi ích ( chính là các thiệt hại tránh được) của phương pháp giảm nhẹ ảnh hưởng của môi trường trong phát triển tổng thể và chi phí - lợi ích của dự án như thế nào?
Để trả lời câu hỏi này, việc xác định tiêu chuẩn môi trường cho mỗi khu vực có hoạt động sản xuất diễn ra, cũng như các chi phí và lợi ích thu được từ các giá trị tiền tệ là cần thiết
Như vậy, đối với việc phát triển kinh tế các dự án mà mục đích chính không phải là môi trường thì chính là việc xác định được tổng chi phí cho việc tiến hành các biện pháp làm giảm hoặc hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, trong trường hợp chi phí này là quá lớn so với tổng chi phí chung của dự án thì cần phải lượng hoá được mức độ thiệt hại đó ra tiền làm cơ sở quyết định cho việc lựa chọn phương án xử lí Và trong tất cả mọi trường hợp, phương án giảm thiếu ô nhiễm hoặc hạn chế ô nhiễm đạt hiệu quả nhất về chi phí luôn được
ưu tiên xem xét làm cơ sở cho việc ra quyết định
1.3 Các phương pháp đo lường giá trị hàng hoá môi trường
Từ trước đến nay, các nhà phân tích và hoạch định chính sách đều liệt
kê ra các môi trường khác nhau mà chúng có ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống vào danh mục “Những mặt hàng không liên quan” Nếu như chúng ta có
được các phương thức đánh giá về hàng hoá môi trường này và đưa vào hình thành chính sách thì chúng ta có thể đề ra những quyết định sáng suốt về môi trường so với những quyết định về môi trường hiện hành Chẳng hạn nhận thức được sẽ giúp chúng ta phân bổ ít nguồn lực hơn như chúng ta đã làm vào lĩnh vực mỏ - địa chất Điêù này có nghĩa là, chúng ta có thể ngăn cản được việc khai thác quá mức các nguồn khoáng sản của đất nước Nói như vậy, thì
có thể hạn chế được sự khai thác tràn lan các tài sản môi trường Để có được điều này thì ta phải lượng hoá được hàng hoá môi trường Trong phàn này ta
sẽ xem xét giá trị của hàng hoá môi trường cũng như chi phí để bảo vệ môi
Trang 11trường mang hiệu quả ra sao? Điều này rất quan trọng khi xem xét các dự án đầu tư
Lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm có thể chia thành hai loại: lợi ích thị trường và lợi ích phi thị trường Chẳng hạn như việc làm sạch một dòng sông
có thể dẫn đến tăng lượng cá sống ở đó, tạo giá trị cho ngành dịch vụ du lịch, làm giảm các chi phí y tế hàng năm cho dân cư sống hai bên bờ sông Các giá trị phi thị trường nêu trên phải được xem xét đánh giá lợi ích của dòng sông mang lại Việc định lượng lợi ích phi thị trường là rất khó
Vì vậy ta có thể xử dụng một số phương pháp sau:
1.3.1 Phương pháp đánh giá tổng giá trị kinh tế của hàng hoá môi
trường
Lợi ích thi trường và phi thị trường của hàng hoá môi trường biểu hiện qua 3 giá trị: giá tri sử dụng, giá trị tuỳ chọn, giá trị tồn tại Phương pháp đánh giá tổng giá trị hàng hoá môi trường xem xét giá trị tổng hợp của 3 loại nêu trên trong đó:
Giá trị tuỳ chọn của hàng hoá môi trường được xem xét khi hàng hoá môi trường có giới hạn về số lượng, chất lượng Chẳng hạn như việc khai thác
và sử dụng trong ngày hôm nay sẽ ảnh hưởng đến khai thác và sử dụng than trong tương lai vì than là tàinguyên không tái tạo Giá trị tuỳ chọn được xác định trong tương lai và chính là chi phí cơ hội cho việc sử dụng tài nguyên ở thời điểm hiện tại
Giá trị sử dụng của hàng hoá môi trường là toàn bộ giá trị của việc sử dụng trực tiếp của hàng hoá môi trường mang lại Nếu như việc sử dụng các thành phần môi trường đó người sử dụng phải trả tiền thì khi đó hàng hoá môi trường có giá trị thị trường Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người sử dung không phải trả tiền cho việc sử dụng của mình, chẳng hạn như dân cư sống ở hai bên bờ sông có thể sử dụng sòng sông cho bơi lội, tắm giặt hay các sinh hoạt khác mà không phải trả tiền Khi đó sẽ tạo ra một giá trị phi thị trường
Trang 12Giá trị tồn tại: chúng ta xem xét giá trị tồn tại khi cân nhắc giữa bảo tồn
và sử dụng hàng hoá môi trường Chẳng hạn như việc cân nhắc giữa bảo tồn
và khai thác rừng phòng hộ của một nhà máy thuỷ điện Việc sử dụng khu rừng đó phải được cân nhắc kỹ bởi sự tồn tại của khu rừng được đánh giá thông qua giá trị của nhà máy thuỷ điện hay nói cách khác là thông qua vai trò của nhà máy thuỷ điện đối với đời sống của nhân dân
Vậy ta có thể xác định tổng giá trị kinh tế của hàng hoá môi trường như sau:
1.3.2 Phương pháp chi phí thay thế
Một dự án than trong quá trình sản xuất khai thác gây ô nhiễm môi trường khu vực dân cư quanh đó Để giải quyết ô nhiễm môi trường do dự án
đó gây ra, đan cư quanh vùng phải bỏ ra một khoản chi phí: chẳng hạn như chi phí lắp đặt kính chống bụi cho nhà ở, chi phí y tế do hít thở bụi đãn đến các bệnh về hô hấp, Các chi phí này người dân không phảI trả trước khi dự
án hoạt động
Như vậy sự tồn tại một môi trường trong lành hay nói cách khác giá trị hàng hoá môi trường chính bằng chi phí mà dân cư bỏ ra nhằm khắc phục ô nhiễm Phương pháp đánh giá hàng hoá môi trường nêu trên gọi là phương pháp chi phí thay thế Để giải quyết ô nhiễm trên hàng năm dự án phải chi một khoản tiền để chữa bệnh cho công nhân và dân ở vùng đó lắp đặt kính chống bụi, Nếu như dự án mua sắm thiết bị xử lí ô nhiễm thì sẽ giảm được chi phí nêu trên Toàn bộ những chi phí mà xí nghiệp bỏ ra để chữa bệnh cho công nhân, nhan dân quanh vùng, Được gọi là lợi ích bỏ qua khi dự án không mua thiết bị chống ô nhiễm
Tổng giá
trị kinh tế
Giá trị sử dụng
Giá trị tuỳ chọn
Giá trị tồn tại
Trang 131.4 Lựa chọn chi phí làm giảm nhẹ ô nhiễm của các dự án
Mục tiêu của xã hội là tìm mọi cách để giảm thiểu ô nhiễm, mục tiêu của các dự án là tăng lợi nhuận tức là tiết kiệm tối đa các khoản chi phí Do
đó nếu có một dự án nào đó bắt buộc phải có biện pháp làm giảm nhẹ ô nhiễm thì họ sẽ cân nhắc, xem xét giữa hai bịên pháp sau đây, tuỳ thuộc vào điều kiện của dự án:
* Phương pháp thứ nhất:
Đầu tư để lắp đặt các trang thiết bị chống và xử lí ô nhiễm nhằm giảm bớt ô nhiễm Rõ ràng nếu đầu tư cho các biện pháp giảm nhẹ ô nhiễm thì ô nhiễm sẽ giảm đi
Hình 3- Mối quan hệ giữa ô nhiễm và chi phí giảm ô nhiễm
Từ mô hình:
MAC- Chi phí khắc phục ô nhiễm
MEC- Chi phí bên ngoài (chi phí môi trường )
P Chi phí giảm ô nhiễm
Trang 14Tại mức ô nhiễm Q1 chỉ cần đầu tư MAC1 để khắc phục ô nhiễm Còn
nếu như giảm ô nhiễm từ Q1 Q2 thì cần đầu tư MAC1 mà MAC2 > MAC1
*Phương pháp thứ hai:
Ta đã biết mức ô nhiễm gây ra phụ thuộc vào mức độ khai thác (sản
xuất) Cho nên việc giảm sản lượng cũng làm giảm ô nhiễm Thế nhưng việc
giảm sản lượng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận Vì vậy lựa chọn phương pháp
nào thì cần phải xem xét lợi nhuận của sản xuất MB , chi phí biên môi trường
(MEC) và chi phí khắc phục ô nhiễm (MAC)
(Ta có mô hình sau)
Hình 4 Sự lựa chọn chi phí giảm thiểu ô nhiễm
Từ mô hình trên ta thấy rằng muốn giảm ô nhiễm từ Q1 Q2 (Q1 > Q 2) thì dùng phương pháp tăng chi phí khắc phục ô nhiễm rẻ hơn việc
giảm sản lượng vì đường lợi nhuận biên MB nằm trên đường chi phí biên
khắc phục ô nhiễm Khi mức độ ô nhiễm đạt ở mức Q2 muốn giảm tiếp từ
Q2 O thì việc giảm sản lượng là hợp lí vì lợi nhuận biên nằm dưới đường
chi phí khắc phục ô nhiễm
Mô hình trên cho chúng ta thấy việc lựa chọn, biện pháp, cách thức đầu
tư cho môi trường hợp lí đó cũng là vấn đề quan trọng đối với từng dự án đầu
tư nhằm tiết kiệm tối đa chi phí giảm thiểu ô nhiễm song vẫn đem lại hiệu quả
MB MEC
MAC
Trang 15II LÍ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa Đánh giá tác động môi trường
2.1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay các dự án đầu tư nói chung, các dự án đầu tư cho môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm hoặc cải tạo môi trường nói riêng đang phải đối mặt với những thách thức to lớn: Đó là việc vừa phải tuân thủ những quy địnhvà luật bảo vệ môi trường vừa phải chịu những áp lực cạnh tranh của thị trường Những thách thức này đòi hỏi công ty phải suy nghĩ lại về những nguyên liệu làm đầu vào của quá trình sản xuất, công nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất hay quá trình thiết kế sản phẩm có tạo ra ô nhiễm hay không ? Những ô nhiễm này có được kiểm soát không ?
Những xu hướng này làm cho nhận thức về vấn đề chống ô nhiễm ngày càng tẵnguất phát từ những quy định bắt buộc phảI thực hiện và cả tính cạnh tranh của thị trường
Những trở ngại về tài chính, công nghệ và quy định khác nhau của các
cơ quan quản lí có thể gây khó khăn trong việc chống ô nhiễm cũng như cho các dư án đầu tư đầy hứa hẹn Các dự án chống ô nhiễm có lợi và có khả năng thực hiện cũng có thể bị bỏ qua vì những chi phí và hiệu quả không được tính chính xác và cũng có thể đánh giá hiệu quả của các dự án mà không tính đến
dự án có ảnh hưởng đến môi trường không thì việc tính cũng không thể chính xác được
Vì vậy để cho các cơ quan cấp trên có quyết định đúng đắn về dự án thì phảithực hiện công tác Đánh giá tác động môi trường cho dự án đó
2.1.2 Đánh giá tác động môi trường
Trong thời đại ngày nay do sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người có tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường, sự can thiệp của con người trực tiếp, có thể là gián tiếp và nhiều khi thô bạo vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường Để chế ngự thiên nhiên nhiều khi con
Trang 16người đã tạo nên những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của xã hội loài người với quá trình diễn biến của tự nhiên, nhằm đạt được năng suất hay lợi nhuận cao vì thế nó đã làm cho tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị kiệt quệ và môi trường bị ô nhiễm nặng nề
Để khắc phuc và sửa đổi những suy nghĩ hẹp hòi, hạn chế trước đây , các nhà khoa học nghiên cứu đã đưa ra nhiều biện pháp để nhằm hạn chế sự phá hoại tài nguyên và gây ô nhiễmđó là thực hiên Đánh giá tác động môi trường
Vậy “Đánh giá tác động môi trường” của hoạt động phát triển kinh tế
xã hội là xác định, phân tích và dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt
và lâu dài mà viêc thực hiện hoạt động đó có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người tại nơi có liên quan đến hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng tránh, khắc phục các tác động tiêu cực
2.1.3 Mục đích của Đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường có mục đích cụ thể là góp thêm tư liệu khoa học cần thiết cho việc ra quyết định hoạt động phát triển Trước lúc có khía niệm cụ thể về Đánh giá tác động môi trường việc quyết định hoạt động phát triển thường dựa chủ yếu vào việc phân tích tính hợp lí, khả thi và tối ưu
về mặt kinh tế - kỹ thuật Nhân tố tài nguyên và môi trường bị bỏ qua hoặc không được chú ý một cách đúng mức do không có công cụ phân tích thích hợp Việc Đánh giá tác động môi trường là điều bắt buộc phải có báo cáo Đánh giá tác động môi trường trong hồ sơ xét duyệt kinh tế – kỹ thuật và có thể gọi là Kinh tế- Kỹ thuật- Môi trường sẽ giúp cho cơ quan xét duyệt dự án hoạt động và cho phép thực hiện hoạt động có đủ điều kiện để đưa ra một quyết định toàn diện hơn và đúng đắn hơn
Đánh giá tác động môi trường có thể tiến hành theo nhiều phương án của hoạt động phát triển so sánh lợi hại của các hoạt động theo những phương
Trang 17án đó Trên cơ sở đó kiến nghị việc lựa chọn các phương án, kể cả phương án không thực hiện hoạt động phát triển được đề nghị
Đánh giá tác động môi trường là việc làm gắn liền với các việc khác như phân tích kinh tế, tìm hiểu giải pháp kỹ thuật trong toàn bộ quá trình xây dựng, thực hiện và thẩm tra và sau thực hiện hoạt động phát triển Trong xây dựng đường lối chiến lược đều phải có Đánh giá tác động môi trường trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, cũng như trong thiết kế phải tiếp tục có phần Đánh giá tác động môi trường Trong quá trình thi công và khai thác công trình sau khi đã hoàn thành việc Đánh giá tác động môi trường vẫn phải tiến hành Đánh giá tác động môi trường mang tính dự báo độ tin cậy của kết quả tuỳ thuộc nhiều yếu tố, do đó việc thường xuyên theo dõi diễn biến của tình hình môi trường bằng đo đạc quan trắc và dựa vào kết quả thực đo để tiếp tục đIều chỉnh dự báo là điều hết sức cần thiết
2.1.4 Ý nghĩa của công tác đánh giá tác động môi trường
Đánh giá tác động môi trường có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xét duyệt và thực hiện hành động phát triển, nhưng nó chỉ là một nhân tố bên cạnh những nhân tố khác của sự quyết định như nhân tố Kỹ thuật –Kinh tế –
Xã hội Đánh giá tác động môi trường không có ý nghĩa phủ quyết đối với quyết định chung Người có trách nhiệm quyết định cũng như người xây dựng báo cáo Đánh giá tác động môi trường không nên đối lập với bảo vệ môi trường và phát triển Phương pháp làm hợp lí và hiệu quả là kết hợp hay hoà nhập Đánh giá tác động môi trường với việc đánh giá kinh tế – xã hội và xã hội trong tất cả các bước của hoạt động phát triển
2.2 Nội dung cần đạt được của công tác Đánh giá tác động môi trường
* Nội dung của một công tác Đánh giá tác động môi trường cụ thể tuỳ thuộc vào: Nội dung và tính chất của hoạt động phát triển, tính chất, và thành phần của môi trường chịu tác động của hoạt động phát triển, yêu cầu và khả năng thực hiện việc đánh giá Không thể có một khuôn mẫu cố định về Đánh
Trang 18giá tác động môi trường chung cho mọi nước trên thế giới, cũng chung chi mọi hoạt động phát triển tại một nước Nói một cách khái quát thì nội dung của Đánh giá tác động môi trường cụ thể là nội dung của báo cáo Đánh giá tác động môi trường – văn bản chính thức mô tả quá trình Đánh giá tác động môi trường và trình bày kết quả Đánh giá tác động môi trường – thường gồm có:
- Mô tả địa bàn nơi sẽ tiến hành hoạt động phát triển, đặc trưng kinh tế,
kỹ thuật của hoạt động phát triển
- Xác định điều kiện biên, hoặc nói các cách khác là phạm vi đánh giá
- Mô tả hiện trang môi trường tại địa bàn đánh giá
- Dự báo những thay đổi về môi trường có thể xảy ra trong và sau khi thực hiện hoạt động phát triển
- Dự báo những tác động có thể xảy ra đối với tài nguyên và môi trường, các khả năng hoàn nguyên hiên trạng hoặc tình trạng không thể hoàn nguyên
* Các biện pháp phòng tránh và điều chỉnh
- Phân tích lợi ích và chi phí mở rộng
- So sánh các phương án hoạt động khác nhau
- Quyết định về phạm vi đánh giá với sự nhất trí của các bên liên quan
và theo quyết định chính thức của cơ quan có trách nhiệm
- Nắm tình hình khái quát về hoạt động phát triển và hiện trạng môi trường
- Xác định, phân tích và dự báo các tác động
- Nghiên cứu đè xuất các biện pháp phòng, tránh, điều chỉnh
- So sánh và đánh giá các phương án hoạt động khác nhau
Trang 19- Biên soạn tài liệu tổng kết việc đánh giá
- Thu thập ý kiến quần chúng
- Chuyển kết quả đánh giá cho cơ quan có thẩm quyền quyết định về hoạt động phát triển xem xét
* Trong quá trình thực hiện việc đánh giá cần theo đúng những nguyên tắc: Hợp lý, phân tích và hệ thống
- Hợp lý: Có nghĩa là phải dựa trên cơ sở khoa học để làm cho người
ra quyết định, cũng như người đề xuất phương án hoạt động hiểu rõ được những hoạt động phát triển mà hoạt động sẽ mang lại cho tài nguyên thiên nhiên, cho chất lượng môi trường sống, cũng như các hoạt động khác đã, đang
và sẽ diễn ra trên cùng địa bàn
- Phân tích có nghĩa là xem xét một cách cụ thể, mức độ chi tiết cần thiết, các thành phần của hoạt động phát triển có tác động đến môi trường, cũng như các nhân tố môi trường sẽ phải chịu tác động, các khả năng diễn biến của nhân tố môi trường thaeo các phương án hoạt đông khác nhau, phải
so sánh một cách khách quan lợi, hại của các phương án, đặc biệt phải cố gắng tiến hành việc phân tích lợi ích chi phí mở rộng
Phương pháp này cho phép xem xét vấn đề một cách định lượng, đưa kết quả so sánh về độ đo kinh tế lúc có thể
- Hệ thống có nghĩa là phải xem xét hoạt động phát triển và các nhân
tố môi trường trong hệ thống kinh tế, hệ thống thiên nhiên và các mối quan hệ
và tương tác chặt chẽ với nhau của hai hệ này
- Về phương pháp luận cần phát huy sự độc lập suy luận của người đánh giá, tránh dựa một cách máy móc vào những phương pháp , thủ tục vay mượn một cách không suy xét từ nước ngoài
- Tư liệu cơ bản sử dúng để đánh giá một phần là những tư liệu về tài nguyên và môi trường có sẵn, một phần khác là những tài liệu được đo đạc quan trắc chuyên dụng cho Đánh giá tác động môi trường.tư liệu, số liệu cần
Trang 20kiểm tra đánh giá độ tin cậy và lựa chọn kỹ càng trước lúc đem sử dụng để phân tích và tính toán
- Trong những nhân tố môi trường được đem ra xem xét trong đánh giá cần phân biệt hai loại: loại có thể quy về tiền tài Đối với loại thứ nhất cần
sử dụng phương phá Phân tích – Chi phí mở rộng Đối với loại thứ hai có thể
sử dụng cách định mức, định bậc để có thể so sánh và lựa chọn phương án tối
ưu
*Các bước tiến hành trong quá trình Đánh giá tác động môi trường
- Lược duyệt các tác động môi trường
- Đánh giá sơ bộ các tác động môi trường
- Đánh giá tác động môi trường đầy đủ
- Các phương pháp Đánh giá tác động môi trường
Trang 21CHƯƠNG II GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN KHAI THÁC THAN Ở ĐỒNG VÔNG - UÔNG BÍ - QUẢNG NINH
I GIỚI THIỆU VỀ VỊ TRÍ, QUY MÔ, LỊCH SỬ & ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI
1.1 Vị trí mỏ
Mỏ Đồng Vông công ty than Uông bí thuộc địa phận xã Tân dân – huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng ninh, nằm cách thị xã Uông bí khoảng 20 km về phía bắc, có giới hạn toạ độ như sau:
Kinh độ đông:106049’ 40” đến 106051’20”
Vĩ độ bắc : 21007’20” đến 21010’20”
Phía bắc và phía tây bắc giáp mỏ Tân dân – công ty than Quảng ninh
và mỏ Đồng rì - công ty Đông bắc
Phía nam và tây nam giáp mỏ Uông thượng và mỏ Vàng danh
Phía đông giáp Khoáng sàng Quảng la
Trong Khoáng sàng Đồng Vông có ba đơn vị, khai thác là: mỏ Tân dân xí nghiệp Hoành Bồ khai thác bắc Đông vông Mỏ Đồng vông xí nghiệp đồng khai thác phần trung tâm Liên doanh ViệtNindo Khai thác phần nam Đồng vông
Danh giới khai trường mỏ Đồng vông do mỏ Đồng vông
Công ty than Uông bí quản lí khai thác theo quyết định 644/TNN/PCTĐL ngày 07/05/1996 của Tổng giám đốc công ty than Việt nam và quyết định số 1313/ THUB/KTBT ngày 01/11/1997 của Giám đốc công ty than Uông bí
Khai trường nằm ở trong giới hạn các điểm mốc toạ độ sau Vị trí và biên giới mỏ
Trang 23Bảng 2
STT Khu vực khai
thác
Vỉa than
Trữ lượng địa chất huy động
103T
Trữ lượng công nghiệp
103T
Tổn thất (%)
1
V7 V6 V5
1345,0 418,1 241,4 461,8 223,7
786,89 250,80 137,93 290,16 108,00
V8 V7 V6
1041,2 279,3 432,5 329,4
622,64 166,10 259,44 197,10
Nguồn: Đề án N.C.K.T dự án khai thác hầm lò
Công suất mỏ giai đoạn I xác định:
Than nguyên khai: 120.000 tấn/ năm
Than sạch : 108.564 tấn/ năm
Sau khi thăm dò bổ sung nâng cấp số lượng và định hình khai thác trong giai đoạn I, tuỳ tình hình khai thác và điều kiện kỹ thuật công nghệ sẽ xem xét lại công nghệ mỏ trong (gia đoạn I)
Tuổi thọ của mỏ trong giai đoạn I là 12 năm kể cả thời gian sử dụng cơ bản
1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn và địa hình công trình
1.3.1 Khí hậu
- Khu mỏ nằm trong vùng núi cao gần biển với hai mùa rõ rệt mùa mưa nhiều thường bắt đầu từ tháng 4 tháng 10, mùa này thường có nắng nóng với các trận mưa rào to, mưa nhiều và đột ngột vào tháng 6, 7, 8 Mùa khô bắt đâu từ tháng 11 tháng 3 năm sau ít mưa và lượng mưa không đáng kể
Trang 24+ Về nhiệt độ: Nhiệt độ ngày vào mùa hè là 23oC 240C cao nhất trong các đợt nắng nóng có thể nên đến 410C về mùa đông nhiệt độ có thể xuống đến 4oC 50C Tổng nhiệt độ hàng năm có thể là 80000C
+ Về gió và bão: Phân làm hai mùa rõ rệt Mùa hướng đông bắc và
đông với tần suất Các đợt gió mùa đông bắc có thể kéo dài từ 5 7 ngày tốc độ gió lớn nhất tới 15m/s 17 m/s,vào mùa hè thường có gió hướng đông nam, nam với tần suất cao tốc độ gió trung bình là trong năm là 2m/s 4m/s Trung bình hàng năm chịu khoảng 3 5 trận bão với sức phá hoại lớn Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to, gió lớn, tốc dộ gió có thể đạt tới 30m/s 40 m/s
+ Mưa và ẩm: Về lượng mưa phân bố theo mùa Mưa lớn cường độ
mưa mạnh cùng các địa hình rốc nguyên nhân gây ra lũ quét và dòng chảy bùn cát lớn Độ ẩm tương đối giao động trong khoảng 50% 90%
Trang 25Hệ thống suối chảy về phía Bắc: Có hướng gần song song với nhau theo hướng Bắc – Nam: các suối đều nhỏ lòng suối rốc mùa khô ít mưa, mùa mưa nước thường dâng rất nhanh và rút rất nhanh
Hệ thống suối chảy về phía Nam: có nhiều nhánh nhỏ bắt nguồn từ tầng chứa than lòng suối hẹp Các suối nhỏ thường chảy theo hướng Bắc – Nam đổ vào suối đông Uông thượng Hạ lưu dòng suối tương đối bằng phẳng
có nước xung quanh Mùa mưa mực nước sâu từ 0,5m 1,0m, những ngày mưa nước dâng lên từ 2m 3m, lưu lượng lớn nhất 2500l/s
Nói chung suối trong khai trường đều nhỏ ít nước và ít ảnh hướng đến vỉa than khai thác
1.3.4 Nước dưới đất
Trong khu vức mỏ Đồng vông tồn tại các tầng chứa nước sau:
- Tầng chứa nước trong trầm tích đệ tứ (Q):trầm tích đệ tứ có chiều dày 2m 20m, thành phần chủ yếu là cuội, cát, sỏi không có khả năng thấm nước
- Tầng chứa nước thuộc trầm tích(T3r – J1): có 4 phụ tầng
Phụ tầng thứ nhất (T3r – J1) 1: không chứa vỉa than nào, phạm vi hẹp, nằm ở sâu không ảnh hưởng đến khai thác
Phụ tầng thứ hai (T3r – J1)2: có chiều dày 450m 700m Gồm các loại đất đá Gravelit, sa thạch, Alevrolit, Acgilit Nước chỉ tồn tại trong sa thạch nứt nẻ và Gravelit
Phụ tầng thứ ba (T3r – J1)3: không chứa các vỉa than và phân bố ở độ cao 500m 600m
Phụ tầng thứ tư (T3r – J1)4: Phân bố ở độ cao 600m 800m trong phạm vi hẹp mà không thấy xuất hiện nước ở trong phụ tầng này
Phức hệ chứa nước trong trầm tích chứa than phân bố rộng rãi trong khoáng sàng và nham thạch chứa nước chủ yếu là sa thạch, Gravelit Mức
Trang 26nước tĩnh của nước dưới đất phụ thuộc vào bề mặt địa hình Lưu lượng từ 0,00253l/s 0,113000l/s trung bình 0,01949l/s
3.2.3- Đặc tính của nước mặt
Khu Đồng vông có 213 vỉa than chia thành 3 nhóm vỉa:
- Nhóm vỉa dưới: gồm 1,2,3,4 không có giá trị công nghiệp
- Nhóm vỉa trên: nhóm vỉa 9, 10, 11, 12, 13 không có giá trị công nghiệp
- Nhóm vỉa có giá trị công nghiệp là 6, 7, 8
*Vỉa5: là vỉa cuối cùng cách vỉa 6 là 30m35 môi trường tồn tại chủ yếu trên mức +150 chiều dày chung của vỉa là 0,13m15,1m trung bình 0,1m1,6m Chiều dày tính chữ lượng lớn nhất 0,86m, nhỏ nhất 0,84m, trung bình 2,84m
có từ 0 1 lớp đá kẹp với chiều dày biến đổi 0,1mc 0,5m Vách trụ giả của vỉa 5 thường là ACGRLIT bờ mềm, chiều dày 0,5m 2m vách trụ thật là ALEVROLIT hoặc sa thạch rắn chắc
*Vỉa 6:nằm trên vỉa 5 từ 30mc 35m, dưới vỉa 7 từ 35m 40m vỉa có chiều dày chung lớn nhất là 10,53m, nhỏ nhất là 0,4m, trung bình là 3,52m có từ 2 3 lớp kẹp, chiều dày tính trữ lượng trung bình 2,64m.Vách, trụ giả thường
là ACGLILIT Vách, trụ thật chủ yếu là Alevrolit đôi khi là sa thạch
*Vỉa 7: nằm trên vỉa 6 từ 30m 40m, dưới vỉa 8 từ 25m 35m chiều dày chung của vỉa biến đổi khá lớn, lớn nhất là 13,02m và nhỏ nhất là 0,15m trung bình là 3,54m, có từ 0 9 lớp kẹp chiều dày từ 0,1m 2,2m vách, trụ giả thường là Acgilit, chiều dày 1m 2m Vách, trụ thật là Alevrolit đôi khi là sa thạch cấu tạo khối rắn chắc
Vỉa 8 nằm trên vỉa 7 từ 25m 35m là vỉa có mức độ duy trì và ổn định nhất so với các vỉa trong khu Chiều dày chung của vỉa lớn nhất là 17,27m, nhỏ nhất là 0,13m, trung bình 4,78m có từ 2 5 lớp kẹp chiều dày 0,2m 1,8m, chiều dày tính trữ lượng lớn nhất 9,49m, nhỏ nhất là 0,8m,
Trang 27trung bình 2,8m Vách, trụ giả thường là Acgilit chiều dày 0,5m 3m Vách , trụ thật là Alevrolit rắn chắc
Đối với trầm tích chứa than neogen, trầm tích náy không nằm chỉnh hở ptong các trầm tích cổ hơn, chung có độ dày 15-20m Căn cứ vào đặc điểm thành phần thạch học trầm tích này được chia làm 3 phần: tầng chứa than dưới (Mioxendưới) có chiều dầy của tầng trong khu mỏ từ 120m-150m trung bình là 135m tầng chứa than trên (Mioxen trên) có chiều dầy trung bình là110m tầng trên than (plioxen) được phân bố với một diện tích lớn, tầng này được đặc trưng bởi các lớp đá hạt mịn, dầy không chứa than, trong phần dưới của tầng thườg xen các lớp đá hạt thô và phần trên là các lớp đá hạt mịn Chiều dầy trung bình của tầng là 395m
Hệ đệ tứ phân bố rộng rãi trong vùng thành phần bao gồm cát, sạn cát, sỏi và đất trồng Chiều dày từ 7-18m, trung bình là 6,5m Lớp phủ đệ tứ có thành phần là sạn sỏi, cát sét, và đất trồng, do tỷ lệ sét lớn nên rất ít nước.Trong trầm tích chứa than có sự xen kẽ giữa cuội, sạn, dất sét, cát kết,
và các vỉa than, sự xen kẽ như vậy tạo nên một lớp chứa nước yếu…
1.4 Các vấn đề môi trường cần đặt ra
Trong quá trình hoạt động sản xuất của mỏ than Đồng Vông như việc khai thác lộ thiên quy mô mỏ trứơc đây tại khu mỏ đã và đang gây nhiều vấn
đề môi trường, vì vậy báo cáo đánh giá tác động môi trường cần làm rõ vấn
Trang 28đề ảnh hưởngcủa việc khai thác trước đây và trong tương lai cả về tiêu cự lẫn tích cựccác yếu tố môi trường khu vực
Hoạt động khai thác than làm cho chất lượng môi trường khu vực bị xùng cấp, gây Ô nhiẽm không khí đất đai, vaf làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái gây tác động xấu đến chất lượng cuộc sống ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng và sức khoẻ của người dân trong khu vực hoạt động sản xuất than cũng như trong các khu vực lân cận
Việc đổ thải của mỏ chưa được quy định cụ thể,đất đá đổ thải ngay gần cửa lò sẽ tạo ra bãi thải đất đá lớn và gây ra các hiện tượng trôi lấp, sụt lở, biến đổi địa hình tạo ra các dòng thải rắn, áp dụng các biện pháp công nghệ ít
ô nhiễm góp phần xử lý cải tạo đất là biện pháp cần phải thực hiện sớm
Ô nhiễm không khí chủ yếu do bụi và khí độc, như khí CO, CH4,H2 từ nguồn gió thải từ các lò khai thác ảnh hưởng tới sức khoẻ của người công nhân Hơn nữa một lượng bụi không lớn nhưng không thể kiểm soát nổi đó là bụi và khí phát sinh từ các hoạt động giao thông vận tải chứa rất nhiều chất độc hại như NOx, SOx, CO, Hydrocacbon và các kim loại nặng (chủ yếu là pb) làm gia tăng ô nhiễm không khí Ô nhiễm không những gây những bệnh
về hô hấp đối với cán bộ công nhân mỏ mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ cộng đồng dân cứ sống gần khu vực mỏ Bảo vệ ô nhiễm trong vùng mỏ và vùng bị ảnh hưởng là vấn đề cấp bách mà xí nghiệp khai thác phải đặt ra
Ô nhiễm nguồn nước do trôi lấp bãi thải, do nước thải mỏ và nước sinh hoạt không được xử lý làm suy thoái chất lượng nước mặt và nước ngầm gây khan hiếm nguồn nước cho sinh hoạt Mà ở đây ảnh hưởng của mỏđối với cônng trình công lập về chất lượng nước cũng như việc nâng cao lòng hồ do chất lượng chất thải rắn trong nước của hồ tạo ra Việc bảo vệ chất lượng nước,thảm thực vật xung quanh, tài nguyên nước ngầm và nghiên cứu xử lý nước thải cũng hết sức quan trọng
Ngoài ra, hoạt động sản xuất than cũng đòi hỏi tiêu thụ một lượng lớn
gỗ chống lò và gây hiện tượng chất lượng chặt phá thảm thực vật che phủ Để
Trang 29lấy mặt bằng cho công trình hoạt động và làm đường vận tải cũng được chất lượng chặt phá phá quang thảm thực vật gây tác hại tới tài nguyên đất rừng vì vậy cần xây dựng các biện pháp bảo vệ và khôi phục
II.SƠ LƯỢC VỀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG, CÔNG NGHỆ CỦA MỎ THAN
2.1.Quá trình thăm dò, thiết kế xây dựng và khai thác
Khoáng sàng Đồng Vông đã được thăm dò và khai thácqua các giai đoạn sau:
- Năm 19391941người pháp đã tiến hành nghiên cứu Đồng Vông
và chia làm 3 phân khu Đào một số công trình hào,lò bằng xác định được đứt gẫy Duclos (f22) Trữ lượng dự tính 97 triệu tấn
- Năm 1960 đoàn địa chất 9 lập bản đồ 1:15000
- Năm 1965 đoàn địa chất 2E liên đoàn 2 tiến hành tìm kiêmsơ bộ và lập bản đồ địa chất 1:25000 vùng Đồng vông , phát hiện 7 vỉa than, dự tính trữ lượng đến –350m là 108 triệu tấn
- Năm 1978 Doàn 2c liên đoàn địa chất 9 lập báo cáo thăm dò tỷ mỉ Kết quả thăm dò đã xác định của 4 vỉa than có giá trị công nghiệp là v5, v6, v7, v8 Trữ lượng than tính được đến -359m là 80.141 ngàn tấn Báo cáo đã được hội đồng xét duyệt
Khoáng sàng Đồng Vông được giao cho 3 đơn vị quản lý khai thác mỏ tan dẫn xí nghiệp Hoành Bồ khai thác chi phí lợi ích Đồng Vông, mỏ Đồng Vông xí nghiệp Hồng Thái khai thác phần trung tâm, liên doanh VIÊTMINDO khai thác phần nam Đồng Vông
Trong phạm vi quản lý mỏ Đồng vông ,công ty Uông Bý mỏ Hồng Thái đã tiến hành khai thác chất lượng lộ thiên vỉa 7 và vỉa 8 ở khối cấu tạo tây đến độ sâu +460m
2.2 Các giải pháp công nghệ đã được thiết kế
2.2.1 Công nghệ khai thác lò chợ
2.2.1.1 Hệ thống khai thác cột dài theo phương
Trang 30Khấu hao ở lò chất lượng đối với hệ thống khai thác cột dài thao phương chủ yếu dùng khoan nổ mìn Để khoan nỏ mìn dùng máy khoan điện cầm tay loại C3P - 19 hoặc tương đương, nổ mìn bằng kíp điện và máy nổ mìn quay tay loại KB11 - 100M vì chất lượng ống gương lò chợ 350 là cột chất lượng chống ma sát CC - 20, xà sắt X - 20 khi vỉa dốc > 350 thìchống lò chợ bằng gỗ
Vì chất lượng ống ở luồng phá hoả là cũi lớn cũi tròn 160 180 hoặc cũi sắt dài 1,2 m bước chuyển cũi lớn là 1,0m Điều khiển và chất lượng bằng phá hoả toàn phần Trong quá trình đào lò khai thác dựa vào tình hình thực tế của đất đá vá chất lượng cơ bản để điều chỉnh bước phá hoả ban đầu cho phù hợp
2.2.1.2.hệ thống khai thác lò dọc vỉa phân tầng
Đối với sơ đồ của hệ thốngkhai thác này thì công tác đào lò lấy than được thực hiện bình thường Các lò dọc vỉa bố chí cách nhau 6 m theo chiều cao và được nối thông bằng các lò nối cách nhau 1012m theo phương Việc đào các lò nối có thể tiến hành bằng thủ công hoạc dung khoan có đường kính lớn để khoan sau đó có thể mở rộng thiết diện
Sau khi đào lò đến biên giới của khũe tiến hành khấu than theo các buồng Chiều rộng của mỗi buồng khoảng 10 m giữa các buồng đẻ lại trụ than bảo vệ 22,5m khấu than bằng các chất lượng khoan các lõ mìtài nguyênừ lò dọc vỉa từ hai phía sau đó nổ mìn từng dải 1,0 m từ trên xuống cho than tụt xuống phỏng rót ở lò dưới cùng