Tổng quan tình hình nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS Ryan và cộng sự 1999, nghiên cứu quá trình cải cách
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với hầu hết các quốc gia trên con đường hội nhập quốc tế, việc cải cách hệ thống tài chính - kế toán của Chính phủ và tiến trình thực hiện đang trở nên quan trọng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công Một trong những nội dung của chương trình cải cách là xây dựng một hệ thống chuẩn mực kế toán cho khu vực công trên cơ sở vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế, vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính quốc gia vừa được sự thừa nhận của quốc tế
Đối với Việt Nam, trong những năm qua với chính sách mở cửa, tăng cường quan hệ song phương và đa phương, Việt Nam đã ngày càng khẳng định vị thế của mình trên chính trường quốc tế Quá trình đó, kế toán công Việt Nam đã không ngừng đổi mới góp phần quan trọng trong quản lý, điều hành ngân sách Nhà nước, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy có những chuyển biến tích cực, song kế toán công Việt Nam được đánh giá là còn nhiều hạn chế và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Hiện nay, khu vực công Việt Nam tồn tại nhiều chế độ kế toán theo đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động, cùng là kế toán ngân sách nhưng cấu trúc của các chế độ kế toán lại khá khác biệt nhau, mỗi chế độ kế toán được thiết lập phục vụ cho mục đích quản lý riêng, số liệu được tổng hợp từ cơ quan tài chính qua các nguồn thông tin khác nhau thường không thống nhất Với những bất cập như hiện nay, chắc chắn kế toán công sẽ không thể phản ánh một cách đầy đủ, tin cậy về tình hình tài chính Nhà nước chưa kể là còn nhiều khác biệt so với quốc tế
Từ thực trạng đó, nhu cầu về một khuôn khổ pháp lý quy định thống nhất cho việc thực hành kế toán công hay nói khác hơn là xây dựng một hệ thống chuẩn mực kế toán chung cho khu vực công là nhu cầu tất yếu khách quan nhằm quản lý thống nhất về tài chính Nhà nước, thực hiện công khai minh bạch các hoạt động tài chính Nhà nước, tổng hợp thông tin đồng bộ, cung cấp thông tin tin cậy cho việc quản lý hiệu quả nguồn lực Nhà nước, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, trong những năm qua Bộ Tài chính đã triển khai và đề xuất lộ trình xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên cơ sở vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc
tế Kể từ năm 2004 đến nay, nhiều cuộc hội thảo giữa các chuyên gia, các nhà nghiên cứu nhằm tìm ra những phương hướng tốt nhất cho việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam Tuy nhiên, tiến độ thực hiện khá chậm theo đánh giá của nhiều chuyên gia quá trình
Trang 2đó gặp nhiều khó khăn, bất cập phát sinh từ thực trạng quản lý tài chính – kế toán công Một câu hỏi đặt ra là nguyên nhân nào làm trở ngại tiến trình này?
Để trả lời câu hỏi trên, luận án sẽ đi sâu nghiên cứu nhằm phát hiện những nhân tố đã
và đang tác động đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, đo lường và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với quá trình thực hiện Những phát hiện này sẽ làm
cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp thiết thực để thúc đẩy tiến trình xây dựng Chuẩn mực
kế toán công Việt Nam Với những lý do đó tác giả đã chọn đề tài: “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế” làm nội dung nghiên cứu cho luận án
Tiến sĩ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chủ yếu của luận án là nghiên cứu các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Chính vì vậy, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án tập trung vào:
1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công quốc gia trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc
tế
2 Phân tích thực trạng hệ thống kế toán công Việt Nam, nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế
3 Xây dựng mô hình nghiên cứu để kiểm định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố
4 Lập luận, đề xuất một số giải pháp và điều kiện cần thiết nhằm thúc đẩy tiến trình xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu chung của đề tài, nội dung nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi như sau:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực
kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Các nhân tố này tác động như thế nào đến việc xây dựng
Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, nguyên nhân phát sinh chúng?
Trang 3Câu hỏi nghiên cứu 3: Những điều kiện nào cần thiết để Việt Nam có thể xây dựng
Chuẩn mực kế toán công?
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt
Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế, xu hướng vận dụng IPSAS để xây dựng chuẩn mực kế toán công của các quốc gia trên thế giới, cụ thể nghiên cứu tại Mỹ, Canada và Nam Phi làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong xây dựng chuẩn mực kế toán công
Tuy nhiên, do khu vực công Việt Nam khá rộng, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, mỗi lĩnh vực mang tính chất đặc thù, vì thế tác giả chọn các đơn vị thuộc khu vực công được tài trợ bằng ngân sách Nhà nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ chủ đề nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Trong đó, phương pháp nghiên cứu định tính giúp tác giả khái quát hóa các lý thuyết nghiên cứu và đồng thời xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IPSAS) Phương pháp nghiên cứu định lượng giúp tác giả kiểm định các nhân tố đã được tổng hợp trong phạm vi rộng hơn nhằm xác định rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố làm
cơ sở cho các đề xuất của luận án Các phương pháp được sử dụng bao gồm:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, phân tích và so sánh
Các phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm tiếp cận với các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc phát hiện các nhân tố tác động ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng trong điều kiện vận dụng IPSAS Đồng thời, tiếp cận với thực trạng hệ thống kế toán công Việt Nam như các chế độ, chính sách kế toán, các quy định pháp lý hiện hành áp dụng cho khu vực công, các tác động từ môi trường qua đó phân tích, so sánh và đánh giá những nhân tố có ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam Thông qua đó, tổng hợp và phân tích làm rõ nguyên nhân phát sinh các nhân tố, mức độ tác động của chúng, đây là cơ sở quan trọng giúp tác giả có những đề xuất hợp lý hỗ trợ cho việc hoạch định các chính sách thích
Trang 4hợp để xây dựng chuẩn mực kế toán công của Việt Nam Ngoài ra, từ quá trình nghiên cứu thực tế, tác giả đánh giá những điều kiện cần thiết để xây dựng chuẩn mực kế toán công cho Việt Nam
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia
Thực hiện phương pháp này, tác giả có cuộc trao đổi với 2 nhóm đối tượng, thứ nhất là các chuyên gia, đặc biệt là các chuyên gia đầu ngành tham gia trong việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, những người đã và đang giảng dạy, công tác nhiều năm trong lĩnh vực kế toán công Và đối tượng thứ hai là đối tượng áp dụng chuẩn mực kế toán công bao gồm những nhân viên kế toán khu vực công, những người đã và đang làm việc liên quan tới lĩnh vực công Cuộc phỏng vấn xoay quanh các nội dung bao gồm: Quan điểm riêng của họ về thực trạng kế toán công Việt Nam, những nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến
độ xây dựng chuẩn mực kế toán công tại Việt Nam, điều kiện cần thiết cho Việt Nam để vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Cuộc trao đổi này sẽ củng cố những nhận thức của tác giả để có sự nhìn nhận đúng đắn về các nhân tố thực sự đang tác động đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công Tuy nhiên để kết quả nghiên cứu mang tính thuyết phục và có độ tin cậy cao hơn, tác giả tiếp tục xây dựng bảng câu hỏi và mở rộng đối tượng khảo sát nhằm khẳng định lại quan điểm, từ đó giúp tác giả có những đề xuất hữu ích
- Phương pháp điều tra chọn mẫu và thống kê mô tả
Luận án sử dụng hai phương pháp chọn mẫu bao gồm: Phương pháp chọn mẫu mở rộng dần và phương pháp chọn mẫu tới hạn Sở dĩ tác giả sử dụng phương pháp này là vì khu vực công khá rộng nên việc khảo sát trên tổng thể là rất khó khăn Bên cạnh đó, để tổng hợp quan điểm đánh giá của các chuyên gia về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả theo hai phương pháp: mô tả một biến và mô tả các biến cùng thang bậc
- Các phương pháp kiểm định
Các kiểm định tác giả đã sử dụng trong luận án của mình bao gồm: kiểm định Bartlett, kiểm định KMO, kiểm định phương sai trích, kiểm định Independent-Samples T test và Kiểm định Mann – Whitney Kết quả thống kê sẽ giúp tác giả khám phá và đo lường mức
độ tác động của các nhân tố làm cơ sở cho những đề xuất của luận án
6 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là một phần quan trọng không thể thiếu để tạo nên độ tin cậy cũng như tính thuyết phục của luận án Để đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của luận án tác giả
sử dụng cả 2 loại dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Trang 57 Những đóng góp của luận án
Về mặt lý luận
Luận án tổng hợp các lý luận liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Trên cơ sở đó, kết hợp với nghiên cứu thực trạng, tác giả đã phát triển các lý luận này trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam
Dựa trên các nhân tố đã phát hiện, nghiên cứu làm rõ những điều kiện tiền đề cần thiết để Việt Nam xây dựng chuẩn mực kế toán công theo hướng vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế nhưng phù hợp với thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tác động vào cơ chế quản lý tài chính công và hệ thống kế toán công, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách thích hợp nhằm tác động thúc đẩy tiến trình xây dựng Chuẩn mực kế toán công Việt Nam
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và phụ lục, luận án gồm 5 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Sự ra đời của IPSAS đã khẳng định vai trò của chuẩn mực kế toán đối với khu vực công trong mỗi quốc gia Chính vì thế, trong những năm gần đây ngày càng có nhiều nghiên cứu liên quan đến chuẩn mực kế toán công Trong đó, nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến chuẩn mực kế toán công và việc vận dụng IPSAS được nhiều nhà khoa học quan tâm với mong muốn tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc thiết lập một hệ thống chuẩn mực kế toán cho khu vực công quốc gia Đối với nội dung nghiên cứu của luận án, các tài liệu này sẽ là những hỗ trợ quan trọng cho nghiên cứu của tác giả Trong phạm vi chương này, tác giả khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề nghiên cứu của mình, qua đó đánh giá và xác định khoảng trống từ các nghiên cứu trước Nội dung chương này cũng sẽ nêu bật những phương pháp, những bằng chứng thực nghiệm đã được các nhà khoa học sử dụng, các tài liệu này sẽ giúp định hướng cho tác giả cách thức và thiết
kế mà tác giả sẽ thực hiện để làm rõ chủ đề nghiên cứu
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu công bố ở nước ngoài
1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xu hướng cải cách hệ thống kế toán công
và vận dụng IPSAS
Trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa IPSAS và việc cải cách hệ thống kế toán công tại các nước đang phát triển Chan, J L (2006) nhận định những hạn chế từ hệ thống quản lý tài chính Chính phủ của các nước đang phát triển đó là: tình trạng tham nhũng đe dọa tính hợp pháp và thẩm quyền của Chính phủ, những rủi ro trong đầu tư tài chính công,… đã làm giảm nguồn lực tài trợ cho các dịch vụ công Từ đó, nội dung của cuộc cải cách là nhằm thay đổi các chính sách và thủ tục của kế toán Chính phủ, hỗ trợ cho việc quản
lý hiệu quả nguồn lực công, cung cấp thông tin minh bạch cho các nhà quản lý khu vực công để thực hiện các chức năng cơ bản của Nhà nước, tăng cường năng lực thể chế để đạt được mục tiêu phát triển Nghiên cứu chỉ ra rằng thành công của cuộc cải cách phụ thuộc vào vai trò hỗ trợ của các cán bộ lãnh đạo cấp cao và nguồn tài chính cung cấp để thực hiện Các nước đang phát triển được khuyến khích thực hiện kế toán dồn tích và vận dụng IPSAS làm định hướng cho việc cải cách Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến giải pháp để các nước đang phát triển có thể thực hiện nhằm cải cách và vận dụng IPSAS
Roje và cộng sự (2010), dựa trên nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt về thực trạng
kế toán Chính phủ ở các nước Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina, đây là các quốc gia đang trong quá trình thực hiện việc cải cách để chuyển đổi sang IPSAS Nghiên cứu tập trung kiểm tra tính đầy đủ của hệ thống kế toán Nhà nước, mô hình báo cáo tài chính, các
Trang 7quy định kế toán hiện hành và những khuôn khổ báo cáo tài chính của các quốc gia trên Sự khác biệt giữa các quốc gia khi thực hiện IPSAS phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trước hết các quy định pháp luật có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc chuyển đổi, theo đó quốc gia có hệ thống pháp luật không mạnh mẽ sẽ dễ dàng hơn khi chuyển sang IPSAS Thứ hai có một mối liên hệ chặt chẽ giữa ngân sách và kế toán để tài trợ cho dự án Bên cạnh đó, những khó khăn để chuyển từ kế toán tiền mặt sang kế toán dồn tích, những hạn chế trong chuyển đổi ngôn ngữ, thuật ngữ, sự hỗ trợ từ quản lý cấp cao, đổi mới hệ thống công nghệ thông tin, sự gián đoạn trong cải cách khu vực công cũng là những rào cản nhất định cho việc chuyển sang IPSAS, vì thế cần cung cấp các yêu cầu về kỹ thuật để phát triển hệ thống kế toán hỗ trợ cho quá trình thực hiện, tuy nhiên nghiên cứu chưa khai thác sâu các giải pháp cần thiết
để thực hiện
Thực hiện điều tra nguyên nhân của việc cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS tại các quốc gia với nhiều mức độ khác nhau, Christiaens và cộng sự (2013), đã phát triển các nghiên cứu trước đó nhưng mở rộng phạm vi trên 81 quốc gia tại các vùng lãnh thổ Các quốc gia được khảo sát phân chia thành 6 nhóm theo phong cách khác nhau của việc quản lý tài chính công để giải thích các tính năng khác nhau của cải cách khu vực công thực hiện trên toàn thế giới Kết quả khảo sát cho thấy do sự khác biệt về văn hóa, bối cảnh lịch sử hoặc trong cấu trúc của mỗi quốc gia đã ảnh hưởng đến việc cải cách hệ thống kế toán công và do đó việc vận dụng IPSAS cũng được thực hiện với nhiều mức độ khác nhau Trong đó, nghiên cứu chỉ ra việc áp dụng kế toán dồn tích cho khu vực công được thực hiện tại các quốc gia theo 3 cấp độ khác nhau bao gồm: Nội dung, thời gian và phương pháp Do
cơ chế không thể thực hiện IPSAS và thiếu biện pháp bắt buộc, nhiều Chính phủ xem xét nhu cầu riêng của mình và không thực hiện đầy đủ các yêu cầu theo quy định của IPSAS vì thế cải cách kế toán dồn tích sẽ không đồng nhất trong vận dụng IPSAS
Irina và cộng sự (2013), trên cơ sở nghiên cứu những hạn chế từ hệ thống kế toán khu
vực công của Ukraine bao gồm: thiếu phương pháp thống nhất trong cơ quan lập pháp cho hoạt động kế toán của các đơn vị thuộc khu vực công; thông tin về tình trạng tài chính của Nhà nước không được ghi nhận đầy đủ, chính xác và không có khả năng so sánh; báo cáo ngân sách hợp nhất nhiều thông tin trùng lặp, dẫn đến tăng chi phí cho việc xử lý thông tin; thiếu các quy định cho những hoạt động khác nhau trong cơ cấu tổ chức và quy trình của kế toán, những hạn chế này làm ảnh hưởng đến mức độ tin cậy của thông tin trên Báo cáo tài chính Từ đó, việc cải cách hệ thống kế toán là nhằm thiết lập một hệ thống báo cáo chuẩn, không những phục vụ cho quản lý điều hành ngân sách mà còn đáp ứng nhu cầu thông tin
Trang 8cho nhiều đối tượng sử dụng kể cả công chúng và nâng cao tính minh bạch của các Báo cáo tài chính được lập bởi Chính phủ Việc cải cách theo hướng hiện đại hóa dịch vụ tài chính
kế toán tạo nên sự thích ứng giữa chương trình ngân sách với các nguyên tắc, phương pháp luận mới về kế toán trên quan điểm vận dụng IPSAS
Gomes (2013), phân tích những nỗ lực của Malaysia thực hiện kế toán cơ sở dồn tích
để hội tụ với IPSAS Áp dụng kế toán dồn tích sẽ cho phép cung cấp thông tin chính xác về việc sử dụng các nguồn lực, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công, tạo thuận lợi cho Chính phủ đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế Nghiên cứu này cũng phân tích những hạn chế của hệ thống kế toán cơ sở tiền mặt, phân tích xu hướng áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích và thực hiện chuyển đổi sang IPSAS Đối với Malaysia, những nỗ lực của Chính phủ là nhằm hướng tới áp dụng IPSAS trước ngày 01/01/2015 và thực hiện chính sách kế toán dồn tích khi phát hành các Báo cáo tài chính vào tháng 01 năm 2015, đồng thời đáp ứng được các yêu cầu của IPSAS
Theo nghiên cứu của Alshjairi (2014), lý do cho sự cần thiết phải cải cách hệ thống kế toán Chính phủ và áp dụng IPSAS tại Iraq trước hết bắt nguồn từ sự thay đổi trong thể chế chính trị, kinh tế và chủ trương hội nhập kinh tế thế giới Ngoài ra, tình trạng tham nhũng và thiếu minh bạch trong quản lý tài chính công đã làm phát sinh yêu cầu cải cách hệ thống kế toán công trên cơ sở áp dụng IPSAS Thực hiện đánh giá tính khả thi của việc áp dụng IPSAS tại Iraq, một bảng câu hỏi khảo sát trong đó có những câu hỏi liên quan đến nhu cầu cải cách quản lý tài chính công, những yêu cầu và thách thức đối với việc áp dụng IPSAS tại Iraq Các đối tượng được khảo sát bao gồm: Bộ Tài chính, Ban Kiểm toán viên tối cao, các trường Đại học Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cần thiết cải cách hệ thống kế toán Chính phủ Iraq theo hướng áp dụng IPSAS là một giải pháp tốt nhất để cải thiện tình hình của Iraq
Lý do thứ nhất để áp dụng IPSAS là do sự phù hợp với các tổ chức quốc tế hoặc các nhà viện trợ phát triển, theo đó cần thiết áp dụng kế toán trên cơ sở dồn tích nhằm cung cấp một
hệ thống thông tin tin cậy Lý do thứ hai cho việc áp dụng IPSAS là thúc đẩy khả năng so sánh thông tin tài chính trên phạm vi quốc tế Hơn nữa, IPSAS tăng cường tính minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của Chính phủ cho người dân, cử tri và các đại diện của
họ
Mhaka (2014), thực hiện một nghiên cứu phân tích và so sánh việc áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt với việc thiết lập các Báo cáo tài chính của Chính phủ trên cơ sở vận dụng IPSAS taị Zimbabwe Từ những năm 2008, nền kinh tế Zimbabwe được xác định là siêu lạm phát, cuộc khủng hoảng nợ quốc gia cộng với những sai sót, hạn chế từ khu vực công
Trang 9như ghi nhận không đầy đủ tình hình tài chính, các hoạt động gian lận và chi tiêu lãng phí làm phát sinh nhu cầu về cải cách hệ thống quản lý tài chính – kế toán của Chính phủ Hàng loạt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa chuẩn mực kế toán và chất lượng Báo cáo tài chính được thực hiện Kế thừa các nghiên cứu trước, nghiên cứu này đã đi sâu phân tích chi phí và những lợi ích cho việc áp dụng IPSAS đồng thời đề xuất các biện pháp ngăn chặn những thách thức cho việc áp dụng IPSAS tại Zimbabwe
Ijeoma, NB (2014) dựa trên nghiên cứu đánh giá việc cải cách Báo cáo tài chính của Chính phủ tại Nigeria và thực hiện chuẩn mực kế toán công trên cơ sở vận dụng IPSAS Nghiên cứu tập trung vào việc xem xét chất lượng Báo cáo tài chính Chính phủ và những yêu cầu cho việc cung cấp một hệ thống thông tin tài chính minh bạch Thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi khảo sát và công cụ thống kê là Chi-square và Kruskal Wallis để kiểm tra, phân tích, các đối tượng được khảo sát bao gồm: tất cả các phòng ban khác nhau của kế toán Nhà nước, các kế toán chuyên nghiệp, các kiểm toán viên, giảng viên kế toán tại Đại học Nnamdi Azikiwe, Awka… Kết quả khảo sát cho thấy việc vận dụng IPSAS sẽ tăng cường mức độ trách nhiệm giải trình và tính minh bạch trong khu vực công, cho phép cung cấp thông tin có ý nghĩa hơn và tăng cường khả năng so sánh trên phạm vi quốc tế
● Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về xu hướng cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS
Bảng 1.1 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về xu hướng cải cách hệ thống kế toán
công và vận dụng IPSAS
Tên tác
giả ( Năm) Tên đề tài Nơi công bố
Nghiên cứu cải cách hệ thống
kế toán công tại các nước đang phát triển nhằm thay đổi các chính sách và thủ tục của kế toán trên cơ sở vận dụng IPSAS
Kết quả của cải cách và vận dụng IPSAS phụ thuộc vào:
- Vai trò hỗ trợ của các cán bộ lãnh đạo cấp cao
- Nguồn tài chính cung cấp để thực hiện
6 (12): 1-17
Nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt về thực trạng kế toán Chính phủ ở các nước Slovenia, Croatia, Bosnia và Herzegovina
để chuyển đổi sang IPSAS
Sự năng động của việc vận dụng IPSAS tại các quốc gia phụ thuộc vào thành tựu của cuộc cải cách
hệ thống kế toán công
Hạn chế từ quá trình cải cách để chuyển đổi sang IPSAS bao gồm: Chuyển từ kế toán tiền mặt sang
kế toán dồn tích; khó khăn khi chuyển đổi ngôn ngữ kế toán
Trang 10Nguyên nhân của việc cải cách
hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS tại các quốc gia theo nhiều mức độ khác nhau
- Do sự khác biệt về văn hóa, bối cảnh lịch sử hoặc trong cấu trúc của mỗi quốc gia
- Việc áp dụng kế toán dồn tích cho khu vực công được thực hiện tại các quốc gia theo các cấp độ khác nhau
- Do sự thống trị của kế toán doanh nghiệp
Nghiên cứu quá trình cải cách
kế toán khu vực công tại Ukraine nhằm cải thiện hệ thống Báo cáo tài chính khu vực công theo hướng vận dụng IPSAS
- Chiến lược cải cách kế toán của Ukraine: Hoàn thiện hệ thống kế toán: phân chia trách nhiệm hạch toán kinh doanh đối với tài sản, công nợ, thu nhập, chi phí; cải thiện Báo cáo cáo tài chính
- Các nhân tố quyết định thành công: Hiệu lực quản lý của Chính phủ; tăng cường kiểm soát tài chính công; tăng cường đầu tư hệ thống công nghệ thông tin chuyển đổi sang IPSAS
Nghiên cứu xu hướng cải cách
hệ thống kế toán công áp dụng
kế toán trên cơ sở dồn tích và chuyển đổi sang IPSAS trên thế giới đồng thời liên hệ thực tế tại Malaysia
Phân tích những hạn chế của hệ thống kế toán cơ sở tiền mặt và những nỗ lực của Chính phủ Malaysia nhằm hướng tới thực hiện chính sách kế toán dồn tích
và áp dụng IPSAS trước ngày 01/01/2015
ISSN2222-1697
Vol.5,No.24
Nghiên cứu quá trình cải cách
hệ thống kế toán công tại Iraq
để chuyển đổi sang IPSAS
- Nguyên nhân thực hiện cải cách
hệ thống kế toán công tại Iraq là
do sự thay đổi trong thể chế chính trị, kinh tế và chủ trương hội nhập kinh tế thế giới Tình trạng tham nhũng và thiếu minh bạch trong quản lý tài chính công
- Cải cách hệ thống kế toán công trên cơ sở vận dụng IPSAS
Trang 11Nghiên cứu phân tích, so sánh việc áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt và thiết lập các Báo cáo tài chính trên cơ sở vận dụng IPSAS tại Zimbabwe
Hạn chế từ kế toán khu vực công Zimbabwe như ghi nhận không đầy đủ tình hình tài chính, các hoạt động gian lận và chi tiêu lãng phí làm phát sinh nhu cầu về cải cách hệ thống quản lý tài chính – kế toán của Chính phủ Nghiên cứu này phân tích chi phí
và những lợi ích cho việc áp dụng IPSAS
Nghiên cứu xem xét chất lượng Báo cáo tài chính Chính phủ và những yêu cầu cho việc cung cấp một hệ thống thông tin tài chính minh bạch nhằm thực hiệc chuẩn mực kế toán công Nigeria trên cơ sở vận dụng IPSAS
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng,
để cải thiện độ tin cậy, uy tín và tính toàn vẹn của các Báo cáo tài chính trong quản lý tài chính công, cần vận dụng IPSAS để thực hiện chuẩn mực kế toán công quốc gia
(Nguồn Tác giả tự tập hợp) Tóm lại, nghiên cứu việc cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS thực hiện
tại nhiều quốc gia được tập trung chủ yếu vào một số nội dung:
(i) Nghiên cứu nguyên nhân thực hiện cải cách kế toán công tại các quốc gia: Nguyên
nhân của việc thực hiện cải cách kế toán công để vận dụng IPSAS bắt nguồn từ những hạn chế của hệ thống quản lý tài chính, tình trạng tham nhũng đe dọa tính hợp pháp và thẩm quyền của Chính phủ, việc cải cách theo hướng vận dụng IPSAS nhằm làm minh bạch thông tin tài chính, nâng cao trách nhiệm giải trình và hạn chế sự khác biệt so với thông lệ quốc tế (Chan, 2006; Alshjairi, 2014) Cải cách kế toán công còn phát sinh do thiếu phương pháp thống nhất trong cơ quan lập pháp cho hoạt động kế toán công, thông tin về tình trạng tài chính Nhà nước không được ghi nhận đầy đủ, chính xác, không có khả năng so sánh, báo cáo ngân sách nhiều thông tin trùng lắp làm tăng chi phí khi xử lý thông tin, thiếu quy định cho các hoạt động khác nhau trong cơ cấu tổ chức và quy trình kế toán (Irina và cộng sự, 2013) Việc cải cách hệ thống kế toán còn phát sinh do sự thay đổi trong thể chế chính trị, kinh tế và chủ trương hội nhập kinh tế thế giới (Alshjairi, 2014) Bên cạnh đó, những hạn
Trang 12chế sai sót từ kế toán khu vực công làm cho việc ghi nhận không đầy đủ về tình hình tài chính công, các hoạt động gian lận, chi tiêu lãng phí cũng là một trong những lý do dẫn đến việc thực hiện cải cách hệ thống kế toán công của quốc gia (Mhaka, 2014) Ngoài ra, để phát triển hệ thống thông tin kế toán chi phí của Chính phủ, cơ sở kế toán tiền được cho là không phù hợp vì thế cải cách kế toán công trên cơ sở thực hiện kế toán dồn tích nhằm gia tăng độ tin cậy của thông tin (Cardoso và cộng sự, 2014)
(ii) Nội dung của cuộc cải cách
Cải cách hệ thống kế toán công theo hướng vận dụng IPSAS nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình, tính minh bạch của các Báo cáo tài chính Chính phủ (Irina và cộng sự, 2013; Ijeoma, NB, 2014) IPSAS phù hợp với các tổ chức quốc tế hoặc các nhà viện trợ phát triển, thúc đẩy khả năng so sánh thông tin tài chính trên phạm vi quốc tế, tăng cường sự minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của Chính phủ cho người dân, cử tri và các đại diện của họ (Alshjairi, 2014; Gomes, 2013)
- Các nhân tố tác động đến quá trình cải cách và vận dụng IPSAS
Trước hết, sự khác biệt về văn hóa, bối cảnh lịch sử, cấu trúc của mỗi quốc gia và sự thống trị của kế toán doanh nghiệp đã có những ảnh hưởng đáng kể đến quá trình cải cách
và vận dụng IPSAS tại các quốc gia với nhiều mức độ khác nhau (Christiaens và cộng sự, 2013) Bên cạnh đó, những khác biệt về ngôn ngữ, thuật ngữ sử dụng trong kế toán, những khó khăn khi chuyển từ kế toán trên cơ sở tiền mặt sang kế toán trên cơ sở dồn tích hoặc thực hiện kế toán dồn tích không đầy đủ, sự gián đoạn trong cải cách khu vực công, cùng với sự hạn chế về trình độ nguồn nhân lực và công nghệ là những nhân tố cản trở việc vận dụng IPSAS tại các quốc gia (Roje và cộng sự, 2010; Cardoso và cộng sự, 2014) Ngoài ra, đối với các nước đang phát triển, vai trò hỗ trợ của cán bộ lãnh đạo cấp cao và nguồn lực tài chính có ý nghĩa quan trọng để thực hiện việc chuyển đổi và vận dụng IPSAS (Chan, 2006)
1.1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS
Ryan và cộng sự (1999), nghiên cứu quá trình cải cách toàn diện các báo cáo tài chính, làm rõ vai trò của các cá nhân và tổ chức tham gia trong quy trình thiết lập chuẩn mực kế toán công tại Úc Theo đó, việc thiết lập các chuẩn mực kế toán công đòi hỏi phải có sự lựa chọn xã hội giữa xung đột lợi ích của các cá nhân khác nhau và các nhóm bị ảnh hưởng Trên cơ sở phân tích vấn đề của ED55, nghiên cứu xem xét mức độ tham gia của các tổ chức, cá nhân trong thiết lập chuẩn mực kế toán công tại Úc và xây dựng mô hình thiết lập chuẩn mực Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tham gia của các cơ quan Chính phủ là
Trang 13khá thấp, điều này có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng các chuẩn mực được xây dựng và hậu quả của quá trình thực hiện kế toán dồn tích
Boolaky (2003), trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước như nghiên cứu của Larson, Hofstede, Gray, Nobes, Parker, Muller, Doupnik, Doost, D'Arcy, sử dụng phương pháp thử nghiệm đa thức trên hai nhóm quốc gia có và không có thị trường chứng khoán, đồng thời áp dụng mô hình PESC để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến chuẩn mực kế toán trong Cộng đồng phát triển Nam Phi (SADC) Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán và thực hành trong một đất nước mà khi phân tích chặt chẽ,
có thể được nhóm lại thành các nhân tố: Chính trị và pháp lý; kinh tế; xã hội và văn hóa (Political, Economic, Social, Cultural - PESC) Trong đó:
- Nhân tố chính trị: Sức mạnh chính trị; khả năng thực thi
- Nhân tố kinh tế: Các loại hình kinh tế; mức độ phát triển kinh tế quốc gia; chi phí và
các ưu tiên của Chính phủ; số lượng công ty niêm yết và thị trường vốn; gia tăng về cầu người sử dụng thông tin; mục tiêu của việc thiết lập thông tin
- Nhân tố xã hội: Phát triển nghề kế toán; giáo dục và đào tạo; thái độ của quốc gia đối
với kế toán
- Nhân tố văn hóa: Khoảng cách quyền lực; tôn giáo và tín ngưỡng
Từ đó, tác giả khẳng định rằng các nhà hoạch định chính sách cần xem xét các nhân tố chính trị và pháp lý; kinh tế; xã hội và văn hóa khi phát triển chuẩn mực kế toán của một quốc gia hay khi vận dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế
Trong một nghiên cứu mô hình cơ bản cho việc áp dụng thành công kế toán dồn tích ở khu vực công, Ouda (2004) đã mở rộng vấn đề nghiên cứu đối với các nước đang phát triển Theo đó, việc cải cách hệ thống kế toán công tại các nước đang phát triển có những hạn chế nhất định bắt nguồn từ những nguyên nhân như việc thâm hụt ngân sách, những yếu kém trong quản lý tài chính công dẫn đến tình trạng tham nhũng, tỷ lệ lạm phát cao, những hạn chế về trình độ chuyên môn cũng như nguồn lực về tài chính để thực hiện Do đó, tác giả đã
đề xuất mô hình các nhân tố giúp các nước đang phát triển thực hiện cải cách kế toán trên cơ
sở dồn tích như sau: AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI +
ABC+ ITC + IFS) Trong đó: Quản lý thay đổi văn hóa (MCC); hỗ trợ chính trị (PBS); hỗ
trợ học thuật (PAS); chiến lược truyền thông (CS); động lực sẵn sàng thay đổi (WC); tư vấn
và điều phối (CC); ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán (BAC); các vấn đề kế toán cụ thể (SAI); sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán (ABC); năng lực công nghệ thông tin
Trang 14(ITC); sự hỗ trợ tài chính của quốc tế (IFS), đặc biệt Ouda nhấn mạnh các nước đang phát triển cần có sự hỗ trợ về tài chính để thực hiện việc cải cách
Zhang (2005), dựa trên nghiên cứu các lý thuyết bao gồm lý thuyết Muller (1967), Cộng đồng kế toán Mỹ (1977), Nobes (1984), Arpen và Radebaugh (1981), Belkaoui (1985), Harrison và McKinnon (1986), Gray (1988), Radebaugh và Gray (1993), Lawrence (1996), Walton (1998),… về những nguyên nhân của sự khác biệt trong hệ thống kế toán ở mỗi quốc gia và nghiên cứu thực trạng quá trình phát triển của hệ thống kế toán Trung Quốc giai đoạn (1949 -2005), tác giả đã phân chia các giai đoạn phát triển của hệ thống kế toán Trung Quốc và chỉ ra những nhân tố tác động ảnh hưởng đến hệ thống kế toán qua từng giai đoạn lịch sử Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển kế toán của Trung Quốc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố khác nhau bao gồm: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa, luật pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp Mặc dù nghiên cứu này được thực hiện đối với
hệ thống kế toán tài chính thuộc khu vực tư, song có thể vận dụng để đánh giá khu vực công trong mối liên hệ với điều kiện thực tiễn của môi trường trong mỗi giai đoạn nghiên cứu Karia (2007), nghiên cứu quá trình vận dụng IPSAS của Liên Hiệp Quốc đã xác định những nhân tố tác động ảnh hưởng đến quá trình thực hiện bao gồm: khó khăn khi chuyển
từ kế toán trên cơ sở tiền sang kế toán trên cơ sở dồn tích; hệ thống công nghệ thông tin kế toán không đáp ứng yêu cầu cho việc thực hiện IPSAS; những hạn chế trong các quy định
về quản lý; sự yếu kém trong công tác đào tạo chuyên môn và nhận thức của đội ngũ nhân viên đối với IPSAS Việc vận dụng IPSAS của kế toán công Liên Hiệp Quốc được đề xuất thực hiện ở hai cấp độ là cấp độ toàn hệ thống và cấp độ tổ chức, cá nhân (1) Đối với cấp
độ toàn hệ thống: Một dự án phát triển các chính sách kế toán áp dụng trong toàn hệ thống,
kế hoạch chuyển đổi được xây dựng bao gồm: thiết lập lộ trình chặt chẽ, xem xét các vấn đề liên quan tác động đến thực hành kế toán ngân sách, phát triển các sản phẩm đào tạo, nâng cao trình độ công nghệ thông tin (2) Đối với cấp độ tổ chức, cá nhân: Thành công của quá trình thực hiện phụ thuộc vào việc nâng cao nhận thức, trình độ và trách nhiệm trong các nhóm dự án
Aboagye (2007), nghiên cứu nội dung của IPSAS và xu hướng cải cách mạnh mẽ của nhiều quốc gia theo hướng áp dụng IPSAS Nghiên cứu này cũng đi sâu phân tích, đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS bao gồm: (1) Chi phí để thực hiện, theo
đó kinh phí cho giáo dục và đào tạo chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí thực hiện (2) Hạn chế về trình độ nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu IPSAS (3) Những phức tạp từ việc chuyển đổi ngôn ngữ, thuật ngữ của IPSAS (4) Khó khăn để thực hiện kế toán cơ sở dồn
Trang 15tích (5) Hạn chế từ hệ thống công nghệ thông tin Các đề xuất về phương hướng để vận dụng IPSAS bao gồm: Sự hỗ trợ cần thiết từ Chính phủ, nâng cao trình độ của đội ngũ nhân viên, tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý hành chính, tăng cường vai trò của tổ chức nghề nghiệp kế toán và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác Nhìn chung, nghiên cứu chưa phân tích mối liên hệ giữa hệ thống pháp lý, cơ chế quản lý tài chính công, các yếu tố tác động từ môi trường ảnh hưởng đến việc thực hiện IPSAS tại Ghana
Năm 2008, Rkein đã nghiên cứu về cải cách kế toán khu vực công áp dụng kế toán dồn tích đã nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn tại các quốc gia thuộc khu vực lãnh thổ Bắc Úc Trước hết, khu vực tư nhân nhỏ đã không được hỗ trợ trong việc tạo ra một thị trường cạnh tranh đối với hầu hết hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ Thứ hai, mặc dù kế toán dồn tích
đã có thể cung cấp thông tin chi phí đầy đủ nhưng tính không đồng nhất của một số dịch vụ của Chính phủ đã dẫn đến một con số chi phí đầy nghi vấn Thứ ba, nghiên cứu này cho thấy rằng ngân sách dồn tích đã không được sử dụng hợp lý do đó nó đã thất bại trong việc đạt được mục tiêu của mình Nghiên cứu này cho thấy, quá trình cải cách khu vực công trên toàn thế giới và việc thay đổi chính sách kế toán, được nhấn mạnh như là một phương tiện cần thiết để đạt được mục tiêu cải cách tổng thể kế toán khu vực công trong mỗi quốc gia
Hamisi K.S (2012), dựa trên mô hình nghiên cứu của Ouda (2010) nhằm khám phá các
nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện IPSAS ở Kenya Đây là một nghiên cứu mô tả, tập hợp bao gồm cả số liệu sơ cấp và thứ cấp, sử dụng mô hình hồi quy và tương quan để thiết lập mức độ mà các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện IPSAS ở Kenya Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố bao gồm: hỗ trợ chính trị; hỗ trợ học thuật; chiến lược truyền thông; động lực sẵn sàng thay đổi; tư vấn và điều phối; ngân sách để thực hiện; các vấn đề
kế toán cụ thể; quản lý thay đổi văn hóa; sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán; năng lực công nghệ thông tin; sự hỗ trợ tài chính của quốc tế là những nguyên nhân chủ yếu đang kìm hãm hiệu quả trong việc thực hiện IPSAS Nghiên cứu này khuyến cáo rằng một khuôn khổ pháp lý cần được thiết lập để thực hiện IPSAS, theo đó tất cả các bên liên quan và Chính phủ phải nâng cao nhận thức về IPSAS, nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong khu vực công, đồng thời tăng cường áp dụng công nghệ thông tin để đối phó với các yêu cầu dữ liệu tài chính theo tiêu chuẩn của IPSAS Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xem xét mối quan hệ giữa việc vận dụng IPSAS với quản lý tài chính khu vực công
Harun (2012), tập trung nghiên cứu việc cải cách hệ thống kế toán công của Indonesia, theo hướng vận dụng kế toán dồn tích trong khu vực công Tác giả chỉ ra rằng việc vận dụng thành công kế toán dồn tích là rất hạn chế Điều này khuyến khích nghiên cứu sâu hơn vào
Trang 16các nhân tố tác động đến việc thực hiện và một trong những nhân tố quan trọng chính là văn hoá Cuối cùng, thông qua tìm hiểu kinh nghiệm cải cách kế toán khu vực công tại một số quốc gia trên thế giới và đánh giá thực trạng kế toán công Indonesia trong mối liên hệ với hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội, tác giả đã đề xuất hướng cải cách kế toán và vận dụng kế toán dồn tích trong khu vực công
Lê Thị Nha Trang (2012), dựa trên nghiên cứu các lý thuyết về kế toán công và IPSAS
để đánh giá những lợi thế và bất lợi của IPSAS cùng với những ảnh hưởng của IPSAS đến các mức độ vận dụng khác nhau tại các quốc gia Nghiên cứu cũng khảo sát thực trạng các chế độ kế toán thuộc khu vực công Việt Nam, phân tích những khác biệt so với IPSAS Theo đó, các hạn chế ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS bao gồm: (1) Khó khăn trong tổng hợp các dữ liệu về ngân sách quốc gia cho kế toán công được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau và chưa có quy định thống nhất; các thông tin kế toán không cung cấp đủ cơ
sở để đánh giá tình hình tài chính của Chính phủ do việc sử dụng cơ sở kế toán của các đơn
vị công khác biệt nhau; (2) Việc hạn chế về trình độ nguồn nhân lực là một vấn đề cần quan tâm, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy nhân lực của Việt Nam chưa trang bị hiểu biết một cách đầy đủ về IPSAS; (3) Một hạn chế nữa mà nghiên cứu đề cập đó là nguồn lực tài chính để thực hiện dự án; (4) Hệ thống công nghệ thông tin không đạt yêu cầu để thực hiện IPSAS Với những thách thức trên, điều kiện cần thiết để vận dụng IPSAS tại Việt Nam được đề xuất bao gồm: Sự hỗ trợ từ các nhà tài trợ tài chính như ngân hàng thế giới; cải cách quản lý khu vực công, sửa đổi Luật Ngân sách và cơ chế quản lý tài chính công, đào tạo kế toán có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực công, xây dựng và phát triển một hệ thống xử lý thông tin kế toán hướng tới hợp nhất Báo cáo tài chính Chính phủ, đào tạo kế toán có trình độ và chuyên môn cao trong lĩnh vực công, xây dựng và phát triển một hệ thống xử lý thông tin kế toán cùng với việc nâng cấp công nghệ thông tin Nhìn chung, nghiên cứu đã đánh giá được những hạn chế từ khu vực công Việt Nam ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS, tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu khai thác những tác động từ hệ thống pháp lý, các quy định về quản lý tài chính công, kỹ thuật nghiệp vụ được áp dụng trong kế toán công trong mối liên hệ với việc vận dụng IPSAS, cũng như chưa khai thác sâu những điều kiện cần thiết để Việt Nam có thể vận dụng IPSAS
Brusca và cộng sự (2013), thông qua nghiên cứu quyết định của Chính phủ Tây Ban Nha để vận dụng IPSAS và những nhân tố tác động đến việc thực hiện Theo đó, ba lý do cơ bản để điều chỉnh và vận dụng các IPSAS tại Tây Ban Nha: (1) Sự hội tụ song song IPSAS-IFRS (2) Nhận thức về tính hợp pháp của IPSAS trên phạm vi quốc tế (3) Yêu cầu từ việc
Trang 17cải cách hệ thống kế toán công theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế Cùng với nhiều quốc gia Châu Âu khác, Tây Ban Nha có một truyền thống mang tính pháp lý mạnh mẽ, khoảng cách quyền lực cao, chính quyền Trung ương là cơ quan quan trọng quản lý kế toán
và có trách nhiệm trong việc xác lập các chuẩn mực kế toán cho cả doanh nghiệp và khu vực công Ảnh hưởng từ hệ thống pháp lý đã làm cho kế toán ngân sách Tây Ban Nha chậm đổi mới, nội dung kế toán ngân sách mang tính chính trị gắn liền với truyền thống hành chính, mặc dù Tây Ban Nha áp dụng khá nhanh chóng các chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, khu vực công không có những thay đổi đáng kể trong kế toán ngân sách, kế toán thực hiện trên cơ sở tiền mặt, sự phát triển các chuẩn mực kế toán công luôn phản ánh những thay đổi trong kế toán cho doanh nghiệp, đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế việc vận dụng IPSAS tại Tây Ban Nha
Bello (2013), đánh giá lợi ích và thách thức khi vận dụng IPSAS tại Nigeria, theo đó những mong đợi từ việc vận dụng IPSAS tại Nigeria bao gồm: Cải thiện tính nhất quán và tính so sánh của Báo cáo tài chính; thông tin toàn diện hơn về chi phí sẽ hỗ trợ cho việc quản lý dựa vào kết quả; tăng cường trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của khu vực công;…Vận dụng IPSAS, Nigeria phải đối mặt với hai nhóm thách thức bao gồm: Thách thức chung và thách thức cụ thể Trong đó, thách thức chung thể hiện: Không có lộ trình rõ ràng cho việc thực hiện, yếu kém trong hệ thống quản lý của Chính phủ Thách thức cụ thể được nghiên cứu đề cập đó là: Khác biệt về thể chế chính trị, pháp lý, những khó khăn của một quá trình thay đổi quản lý phức tạp và toàn diện kể cả gặp phải những kháng cự, đòi hỏi
về trình độ năng lực nguồn nhân lực về IPSAS, Các điều kiện cần thiết được đề xuất để vận dụng IPSAS bao gồm: Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin; nâng cao trình độ nguồn nhân lực về IPSAS; chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang dồn tích; sự hỗ trợ từ quản lý cấp cao từ bên trong và bên ngoài quốc gia
Bellanca (2014), thực hiện nghiên cứu và cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức độ
áp dụng IPSAS khác nhau tại các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu Một cuộc khảo sát với mục tiêu đo lường mức độ thực hiện IPSAS (ở cấp địa phương và Trung ương) tập trung vào các khuôn khổ pháp lý và cơ cở kế toán được sử dụng trong mỗi quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy, vai trò của Chính phủ trong thiết lập hệ thống pháp lý là một nhân
tố quan trọng ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng IPSAS Bên cạnh đó, sự khác biệt trong
áp dụng cơ sở kế toán giữa các quốc gia, trong khi một số nước đang tích cực hiện đại hóa các phương pháp kế toán thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích thì cũng có một số nước sử dụng hệ thống kế toán truyền thống, áp dụng kế toán trên cơ sở tiền mặt Chính những khác
Trang 18biệt này là nguyên nhân làm cho mức độ áp dụng IPSAS tại các quốc gia khác nhau, hơn nữa việc thiếu hẳn một đạo luật chi phối cho việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích cũng làm cản trở việc hài hòa với IPSAS
Mike Mbaya (2014), nghiên cứu so sánh hệ thống kế toán hiện tại và hệ thống kế toán khi vận dụng IPSAS Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố tác động đến việc vận dụng IPSAS bao gồm: Vai trò tham gia của Chính phủ, yêu cầu về đào tạo, cần có lộ trình rõ ràng và đầu
tư nguồn tài nguyên để thực hiện Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra các khuyến nghị về điều kiện cho việc vận dụng IPSAS như: Sự hỗ trợ và giám sát của quản lý cấp cao; Hỗ trợ từ các kiểm toán viên bên ngoài (văn phòng của Tổng kiểm toán viên); Hỗ trợ từ Trung ương, Chính phủ, các bên liên quan, các nhà tài trợ…; Đẩy mạnh quá trình kiểm toán; Đào tạo quản lý toàn diện; Cách tiếp cận văn hóa thích hợp; Nâng cao nhận thức và sự sẵn sàng của nhân viên để vận dụng thay đổi và thích ứng với các mốc thời gian; Cải thiện trình độ ứng dụng công nghệ thông tin và thực hiện ERP;
Bảng 1.2 Tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc
xây dựng Chuẩn mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS
Tên tác
giả
( Năm)
Tên đề tài Nơi công bố
Bài viết này xem xét các mô hình điều tiết
áp dụng cho chuẩn mực kế toán được thiết lập ở khu vực công Úc và xác định
ý nghĩa của các mô hình này
Kết quả nghiên cứu cho thấy: mức độ tham gia của các cơ quan Chính phủ là khá thấp, điều này có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng các chuẩn mực được xây dựng và hậu quả của quá trình thực hiện
n University
Bài báo chỉ rõ những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng các chuẩn mực kế toán ở Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC)
Kết quả thực nghiệm của nghiên cứu cho thấy rằng các nhân tố thuộc về môi trường và quốc gia là hoàn toàn độc lập Bài viết cho rằng có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống và thực hành kế toán của một nước, cụ thể là chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa (PESC), hệ thống pháp lý thiếu quy định thống nhất cho hoạt động kế toán khu vực công, những yếu kém trong quản lý tài chính công, hế thống cung cấp tài chính, các loại hình kinh tế Đồng thời bài viết này cũng sử dụng các mô hình PESC để chỉ ra yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng đến các tiêu
Trang 19chuẩn kế toán trong SADC Phân tích này cũng cho thấy rằng không có mối liên hệ giữa các yếu tố môi trường và các quốc gia Do đó bài viết gợi ý rằng mặc dù các nước có thể được nhóm lại theo nhiều cách khác nhau, các nhà hoạch định chính sách nên xem xét các yếu tố PESC khi phát triển các chuẩn mực kế toán của một nước nếu không thì là để thích ứng với các tiêu chuẩn kế toán quốc tế
on Government
al Financial Managemen
t Public Fund Digest Vol IV, No.1
Nghiên cứu việc áp dụng kế toán dồn tích
ở khu vực công, mở rộng sang các nước đang phát triển, xây dựng mô hình các nhân tố để thúc đẩy quá trình này
Nghiên cứu cho rằng việc cải cách hệ thống kế toán công tại các nước đang phát triển có những hạn chế nhất định bắt nguồn từ những nguyên nhân như việc thâm hụt ngân sách, những yếu kém trong quản lý tài chính công dẫn đến tình trạng tham nhũng, tỷ lệ lạm phát cao, những hạn chế về trình độ chuyên môn cũng như nguồn lực về tài chính để thực hiện
Do đó, tác giả đã đề xuất mô hình gồm 11 nhân tố giúp các nước đang phát triển thực hiện công việc này
Tìm hiểu những nguyên nhân của sự khác biệt trong hệ thống kế toán ở mỗi quốc gia, đồng thời nghiên cứu những tác động từ môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán Trung Quốc qua từng giai đoạn lịch sử
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển kế toán của Trung Quốc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố khác nhau trong kế toán quốc tế bao gồm: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa, luật pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp
Cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình hướng đến việc
áp dụng IPSAS ở Liên hiệp quốc
Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về quá trình hướng đến việc áp dụng IPSAS ở Liên hiệp quốc bao gồm: các chuẩn mực hiện tại, tại sao nên áp dụng IPSAS, cấu trúc của IPSAS, chiến lược chuyển đổi sang IPSAS, những thách thức Chính phải đối mặt và đề xuất những việc quan trọng cần làm theo từng khoảng thời gian cụ thể góp phần hỗ trợ việc chuyển đổi áp dụng IPSAS Đồng thời bài viết cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS như: trình độ nguồn nhân lực, những yếu kém trong quản lý tài chính công, kỹ thuật để chuyển đổi sang kế toán dồn tích, lộ trình và giám sát chặt chẽ của Chính phủ, trình độ ứng dụng CNTT
Trang 20ipsas.pdf
adoption-of-Tìm hiểu nội dung của IPSAS, đánh giá những thách thức mà Ghana phải đối mặt
để áp dụng IPSAS và
xu hướng cải cách mạnh mẽ của nhiều quốc gia theo hướng
áp dụng IPSAS
Nghiên cứu này cũng đi sâu phân tích, đánh giá những thách thức mà Ghana phải đối mặt để áp dụng IPSAS bao gồm:
(1) Chi phí để thực hiện, theo đó kinh phí cho giáo dục và đào tạo chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí thực hiện
(2) Hạn chế về trình độ nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu IPSAS
(3) Những phức tạp từ việc chuyển đổi ngôn ngữ, thuật ngữ của IPSAS
(4) Khó khăn để thực hiện kế toán cơ sở dồn tích (5) Hạn chế từ hệ thống công nghệ thông tin
Tìm hiểu nội dung về cải cách kế toán khu vực công thông qua việc sử dụng kế toán dồn tích, nghiên cứu thực tiễn và kinh nghiệm tại các quốc gia thuộc khu vực lãnh thổ Bắc Úc
Nghiên cứu đã tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng quá trình áp dụng kế toán ở khu vực công bao gồm: (1) Khu vực tư nhân nhỏ đã không được hỗ trợ trong việc tạo ra một thị trường cạnh tranh đối với hầu hết hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ
(2) Mặc dù kế toán dồn tích đã có thể cung cấp thông tin chi phí đầy đủ nhưng tính không đồng nhất của một số dịch vụ của Chính phủ đã dẫn đến một con số chi phí đầy nghi vấn
Nghiên cứu kết luận có những vấn đề cơ bản mà hiện đang kiềm hãm hiệu quả và hiệu suất của việc thực hiện IPSAS như: Áp dụng công nghệ ở mức độ thấp, cải cách NPFM nghèo nàn, những yếu kém trong quản lý tài chính công, vai trò của Quốc hội và các cơ quan Chính phủ như trong việc áp dụng các IFMIS của Chính phủ Kenya, thiếu khung pháp lý
và nền chính trị yếu kém, thất bại của Quốc hội ban hành Luật quản lý tài chính mới 2004 để thừa nhận IPSAS, thiếu cán bộ được đào tạo và có thẩm quyền
về việc thông qua hệ thống IPSAS của Báo cáo tài chính, công việc điều phối và tư vấn, chiến lược truyền thông, trình độ ứng dụng CNTT, trợ giúp từ các tổ chức quốc tế và các chuyên gia nước ngoài
Trang 21University
of Waikato
Mục tiêu của nghiên cứu là để hiểu được quá trình thể chế hóa
hệ thống kế toán dồn tích ở khu vực công Indonesia
Nghiên cứu tìm ra rằng kinh tế, chính trị, công nghệ, năng lượng, thói quen cũ, kỹ thuật chuyển đổi sang
kế toán dồn tích là những nhân tố có ảnh hưởng đến quá trình này
t
Đánh giá những lợi thế và bất lợi của IPSAS cùng với những ảnh hưởng của IPSAS đến các mức
độ vận dụng khác nhau tại các quốc gia, đồng thời khảo sát thực trạng các chế độ
kế toán thuộc khu vực công Việt Nam, phân tích những khác biệt so với IPSAS
Nghiên cứu tìm ra các hạn chế ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS bao gồm:
(1) Khó khăn trong tổng hợp các dữ liệu về ngân sách quốc gia cho kế toán công được thực hiện bởi nhiều cơ quan khác nhau và chưa có quy định thống nhất; các thông tin kế toán không cung cấp đủ cơ sở
để đánh giá tình hình tài chính của Chính phủ do việc sử dụng cơ sở kế toán của các đơn vị công khác biệt nhau
(2) Nhân lực của Việt Nam chưa trang bị hiểu biết một cách đầy đủ về IPSAS
(3) Nguồn lực tài chính thực hiện dự án còn hạn chế (4) Hệ thống công nghệ thông tin không đạt yêu cầu
Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến việc hợp thức hóa việc áp dụng IPSAS
ở Tây Ban Nha
Nghiên cứu cho thấy việc hợp thức hóa áp dụng IPSAS ở Tây Ban Nha bao gồm sự kết hợp của các nhân tố: Tính hợp pháp của IPSAS, xu hướng thế giới áp dụng IPSAS, sự ra đời của IPSAS, nhận thức
về IPSAS, sự phù hợp với xu hướng cải cách kế toán công trên thế giới, vai trò của Quốc hội và các cơ quan Chính phủ, sự thống trị của kế toán doanh nghiệp, trình độ ứng dụng CNTT
Đánh giá lợi ích và thách thức khi vận dụng IPSAS tại Nigeria
Tác giả nói rõ nhu cầu cần một hệ thống áp dụng chung để hòa hợp khu vực tư nhân và khu vực công đồng thời nâng cao chất lượng của BCTC Tác giả
đã liệt kê các lợi ích của việc áp dụng IPSAS và cũng nêu lên những thách thức như chính trị, thể chế, tổ chức, các nguyên tắc, tính chuyên môn nghề nghiệp, tài liệu nghiên cứu… khi các nước chuyển đổi dần sang áp dụng IPSAS Cụ thể hơn, tác giả giải thích rõ các nhân tố làm nên sự thành công trong việc áp dụng IPSAS ở Nigeria bao gồm: Sự thống nhất hệ thống pháp lý cho hoạt động kế toán khu vực công, trình độ nguồn nhân lực, xung đột lợi ích, lộ trình và sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ
Trang 223, 257-269
Cung cấp một bức tranh toàn cảnh về mức độ áp dụng IPSAS khác nhau cũng như tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc áp dụng IPSASs tại các quốc gia thành viên của Liên minh Châu
Âu
Nghiên cứu tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình áp dụng IPSASs ở các quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu bao gồm:
(1) Vai trò của Chính phủ trong thiết lập hệ thống pháp lý
(2) Sự khác biệt trong áp dụng cơ sở kế toán giữa các quốc gia, trong khi một số nước đang tích cực hiện đại hóa các phương pháp kế toán để thực hiện
kế toán trên cơ sở dồn tích thì cũng có một số nước
sử dụng hệ thống kế toán truyền thống, áp dụng kế toán trên cơ sở tiền mặt
(3) Việc thiếu hẳn một đạo luật chi phối cho việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích cũng làm cản trở việc hài hòa với IPSAS
content/uplo ads/2015/09 /CPA-Mike- Mbaya- Implication- of-IPSAS- on-County- Financial- Magt- pdf.pdf
wp-Bài viết nói rõ về mục tiêu của IPSAS;
ảnh hưởng của việc
áp dụng IPSAS; so sánh hệ thống hiện tại
và IPSAS; một vài thách thức trước mắt của IPSAS; trách nhiệm trong việc áp dụng IPSAS; các lợi ích khi áp dụng đầy
(7) Trình độ ứng dụng CNTT
Tổng hợp các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn
mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS
Nghiên cứu về những yếu tố thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS tại các quốc gia, một
số tác giả nhất trí rằng mức độ lan tỏa và tính hợp pháp của IPSAS sẽ tạo nên những thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS Theo đó, IPSAS tạo nên cơ sở nền tảng cho việc đánh giá tình hình tài chính được thừa nhận rộng rãi trên phạm vi quốc tế (Brusca và cộng sự, 2013) Tiếp
đó, sự ủng hộ từ Chính phủ và sự đồng thuận từ các cấp chính quyền, việc đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến, trình độ chuyên môn cao cộng thêm nhận thức về sự đổi mới của lực lượng cán bộ quản lý và những người làm kế toán cũng tạo nên thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS… (Aboagye, 2007) Ngoài ra, hệ thống quản lý tài chính hiện hành tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận dụng IPSAS, theo đó một khuôn khổ pháp lý phải được
Trang 23thiết lập, cụ thể cần thiết quy định IPSAS là cơ sở của việc thực hiện các Báo cáo tài chính của Chính phủ IPSAS phải được chấp nhận bởi tất cả các bên liên quan bao gồm cả Quốc hội, Kho bạc, cơ quan Chính phủ, các đối tác phát triển IPSAS (Hamisi, 2012)
Bàn về những nhân tố tác động đến việc cải cách hệ thống kế toán và vận dụng IPSAS được nhiều tác giả quan tâm Trước hết, Boolaky (2003) trên cơ sở tổng hợp và phát triển các nghiên cứu về những nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống kế toán và thông qua việc thử nghiệm đa thức bằng mô hình PESC (Political, Economic, Social, Cultural) ứng dụng tại Nam Phi, tác giả đã chứng minh rằng khi phát triển các chuẩn mực kế toán của một nước hay khi vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế cần xem xét các nhân tố bao gồm: Hệ thống chính trị và pháp lý, kinh tế, xã hội và văn hóa Trong khi đó, nghiên cứu của Ouda về cải cách kế toán công để áp dụng kế toán dồn tích đối với các nước đang phát triển thì các nhân tố được phát hiện bao gồm 11 nhân tố như đã đề cập ở mô hình trên Từ mô hình của Ouda kết hợp với lý thuyết dự phòng của Luder (1992), Hamisi (2012) thông qua nghiên cứu thực nghiệm đã khẳng định 11 nhân tố này thực sự tác động đến việc vận dụng IPSAS tại Kenya Tiếp theo đó, nghiên cứu của Zhang (2005) trên cơ sở phân tích các giai đoạn phát triển của kế toán và những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hệ thống kế toán Trung Quốc, tác giả đã chỉ ra 7 nhân tố bao gồm: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa, luật pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp
Nghiên cứu so sánh mức độ vận dụng IPSAS được thực hiện bởi Christiaens và cộng
sự (2013) trên cơ sở phát triển các nghiên cứu so sánh kế toán khu vực công của Benito, Brusca và Montesinos (2007), Brusca và Condor (2002) Tuy nhiên, các nghiên cứu này phần lớn tập trung vào một mẫu nhỏ của các nước hoặc trên một khía cạnh cụ thể của pháp luật về kế toán Thừa hưởng kết quả từ các nghiên cứu này, Christiaens tiếp tục so sánh mức
độ vận dụng IPSAS trong một bối cảnh quốc tế rộng lớn hơn cho tất cả các chính quyền địa phương và Trung ương trên toàn thế giới Lý do thứ nhất nhóm nghiên cứu đưa ra đó là, các nước Anglo - Saxon do hệ thống pháp luật và ngân sách đã không được mạnh mẽ nên dễ dàng hơn để thay đổi và vận dụng kế toán dồn tích đầy đủ để chuyển đổi sang IPSAS Trong khi đó, các nước Đông Âu hạn chế trong việc vận dụng IPSAS đó là vì các nước này hệ thống luật luôn được coi trọng, mọi việc soạn thảo ban hành các chuẩn mực kế toán, chế độ
kế toán đều được quy định chặt chẽ trong các bộ luật Vì thế, để vận dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế có thể sẽ gặp nhiều khó khăn từ tư tưởng coi trọng những chuẩn mực kế toán quốc gia mà họ đã thiết lập Lý do thứ hai theo nhóm tác giả đó là luật kế toán dựa trên các nguyên tắc kế toán của doanh nghiệp đã làm hạn chế việc vận dụng IPSAS cho khu vực
Trang 24công Đối với các nước đang phát triển, theo Jreisat (2010) do thiếu một khuôn khổ kế toán khu vực công nghiêm ngặt là một nhân tố góp phần gây nên sự lãng phí và tham nhũng ở một số quốc gia Vì thế, theo Chan (2006) để vận dụng IPSAS ở các nước đang phát triển cần tập trung vào chi phí giáo dục và đào tạo con người
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng do thiếu quy định cho hoạt động của các tổ chức dịch vụ trong khu vực công, chưa kể nhiều khác biệt trong quy định nên các quỹ tài chính cần phải cải thiện để vận dụng IPSAS (Irina và Victoria, 2013) và những yếu kém trong hệ thống quản lý của Chính phủ được cho là nguyên nhân làm hạn chế khả năng vận dụng IPSAS (Bello, 2013) Bên cạnh đó, việc không thống nhất các hoạt động kế toán của các đơn vị khu vực công trong cơ quan lập pháp sẽ không cho phép ghi nhận đầy đủ, chính xác thông tin so sánh về tình trạng tài chính của Nhà nước làm cho thông tin bị trùng lắp, đòi hỏi chi phí xử
lý tốn kém (Irina, 2013) Phần lớn các tác giả đều đồng tình nhân tố trình độ nguồn nhân lực
có ảnh hưởng đáng kể đến việc vận dụng IPSAS Theo đó, nếu nhân viên không được đào tạo đầy đủ về IPSAS thì họ không hiểu hoặc không thể thực hiện các báo cáo dựa trên IPSAS, việc nâng cao trình độ học vấn và sự chuyên nghiệp sẽ tăng cường mức độ thực hiện IPSAS (Hamisi, 2012; Bello, 2013; Irina, 2013; Aboagye, 2007)
Vấn đề về công nghệ thông tin là một nội dung được nhiều nghiên cứu đề cập, theo Karia (2007), để đáp ứng yêu cầu của IPSAS, cần thiết nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin kế toán để cung cấp kịp thời báo cáo tài chính theo IPSAS (Hamisi, 2012; Bello, 2013; Aboagye, 2007) Theo đó, cần tái cấu trúc hệ thống công nghệ thông tin khu vực công để thực hiện các báo cáo, thống nhất phần mềm sử dụng tại các đơn vị công để đảm bảo thông tin cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin được cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời, ngoài ra cần thiết lập hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP (Irina, 2013)
Nhân tố truyền thông có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền hiểu biết, nhận thức cho việc vận dụng IPSAS, theo đó các kênh thông tin qua sách báo, tạp chí, các hội nghị, hội thảo sẽ làm cho nhân viên hiểu rõ nguồn gốc của IPSAS, mục tiêu và các yêu cầu cho việc ứng dụng IPSAS (Hamisi, 2012) Song song đó, việc điều phối và tư vấn cần thực hiện thường xuyên, giữa điều phối viên và người thực hiện sẽ hỗ trợ cho việc vận dụng IPSAS, trong đó những người tham gia tư vấn phải là cơ quan điều phối viên cho IPSAS (Hamisi, 2012) Ngoài ra, nhiều tác giả đồng tình rằng chi phí thực hiện là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc vận dụng IPSAS Chi phí để thực hiện IPSAS là rất cao, Chính phủ không thể tài trợ cho các dự án IPSAS một mình, vì vậy cần có sự hỗ trợ từ các tổ chức tài chính quốc tế (Hamisi, 2012; Aboagye, 2007) Các nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò
Trang 25của Chính phủ và việc thiết lập một lộ trình chặt chẽ để thực hiện cũng là các nhân tố quan trọng trong ứng dụng IPSAS tại quốc gia, theo đó cần thiết có sự hỗ trợ và giám sát của quản lý cấp cao và hỗ trợ từ các kiểm toán viên bên ngoài (Mbaya, 2014)
Tóm lại, thông qua những quan điểm của các nhà nghiên cứu trước, tác giả lựa chọn và
kế thừa nghiên cứu của 3 tác giả bao gồm: Thứ nhất, Boolaky (2003) cho rằng khi phát triển các chuẩn mực kế toán hay vận dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế cần xem xét các nhân tố: Hệ thống chính trị và pháp lý, kinh tế, xã hội và văn hóa Thứ hai, Ouda (2004) chỉ ra 11 nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách hệ thống kế toán Căn cứ vào nội dung tác giả phân chia các nhân tố thành 6 nhóm nhân tố như sau:
- Nhóm nhân tố về hệ thống pháp lý: Sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán (ABC)
- Nhóm nhân tố về hệ thống chính trị và môi trường hoạt động: Hỗ trợ chính trị (PBS)
- Nhóm nhân tố văn hóa: Động lực sẵn sàng thay đổi (WC); Quản lý thay đổi văn hóa
(MCC)
- Nhóm nhân tố về kỹ thuật nghiệp vụ: Hỗ trợ học thuật (PAS); các vấn đề kế toán cụ
thể (SAI)
- Nhóm nhân tố điều kiện tổ chức: Chiến lược truyền thông (CS); tư vấn và điều phối
(CC); ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán (BAC); năng lực công nghệ thông tin (ITC)
- Nhóm nhân tố quốc tế: Sự hỗ trợ tài chính của quốc tế (IFS)
Thứ ba, Zhang (2005) đã xác định các nhân tố: chính trị, quốc tế, kinh tế, văn hóa, luật pháp, giáo dục và tính chuyên nghiệp Sở dĩ tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu của Zhang bởi vì qua nghiên cứu thực tế cho thấy có nhiều điểm tương đồng về yếu tố môi trường giữa Việt Nam và Trung Quốc Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu, tác giả hình thành các nhóm nhân tố tác động đến việc cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS như sau:
Hệ thống chính trị và môi trường hoạt động
Kỹ thuật nghiệp vụ Kinh tế Văn hóa Điều kiện
Trang 26Từ những tài liệu thu thập được, kết hợp với việc nghiên cứu và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc cải cách hệ thống kế toán và vận dụng IPSAS, tác giả thiết lập Bảng
tổng hợp các nhân tố như sau:
Bảng 1.4 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng IPSAS
Nội dung các nhân tố Quốc
tế
Hệ thống pháp
lý
Hệ thống chính trị
và môi trường hoạt động
Kỹ thuật nghiệp
vụ
Kinh
tế
Văn hóa
Điều kiện
tổ chức
Giới hạn về trình độ nguồn nhân lực X
Chi phí để thực hiện chuyển đổi sang
Sự yếu kém và không thống nhất của hệ
Tính hợp pháp của IPSAS X
Xu hướng thế giới vận dụng IPSAS X
Thiếu quy định thống nhất cho hoạt động
Yêu cầu đổi mới để hội nhập X
Phù hợp với xu hướng cải cách kế toán
Luật Kế toán dựa trên kế toán doanh
Những yếu kém trong quản lý tài chính
Trang 27Yếu kém trong cơ chế quản lý X
Quy định pháp lý nhiều khác biệt giữa
Cơ sở kế toán chưa phù hợp với Chuẩn kế
Điều kiện vật chất không đáp ứng X
Hạn chế về trình độ nguồn nhân lực để
nghiên cứu và vận dụng X
Thông tin cung cấp qua BCTC nhiều
Chuẩn mực kế toán công quốc tế còn
đang trong lộ trình thay đổi cho phù hợp X
Các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính chưa
(Nguồn: Tác giả tự tập hợp) Tóm lại, thông qua tài liệu nghiên cứu nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến
việc xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia trên cơ sở vận dụng IPSAS phần lớn tập trung vào một số nội dung sau đây:
(i) Phát hiện những nhân tố ảnh hưởng đến chuẩn mực kế toán công quốc gia: Dựa
trên mô hình PESC, các nhân tố ảnh hưởng đến chuẩn mực kế toán công quốc gia bao gồm:
Hệ thống chính trị và pháp lý; kinh tế; xã hội và văn hóa
(ii) Phát hiện những nhân tố tác động đến việc vận dụng IPSAS: Theo các tác giả, hai
nhóm nhân tố chính tạo nên cơ hội và thách thức cho việc vận dụng IPSAS: (1) Nhóm nhân
tố tạo nên cơ hội bao gồm: Xu hướng cải cách hệ thống kế toán Chính phủ và việc hợp pháp
Trang 28hóa IPSAS trên toàn cầu cung cấp kinh nghiệm thực tiễn để vận dụng IPSAS; trình độ công nghệ thông tin hiện đại; những điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang cơ sở dồn tích (2) Nhóm nhân tố tạo nên thách thức mà các quốc gia phải đối mặt bao gồm: Thách thức chung và thách thức cụ thể Trước hết, các nhân tố tạo nên thách thức chung có thể kể đến
đó là việc không có lộ trình rõ ràng để thực hiện; những yếu kém trong hệ thống quản lý tài chính của Chính phủ Kế đến là những thách thức cụ thể bao gồm: Sự khác biệt về thể chế chính trị, pháp lý; hệ thống quản lý tài chính công được thiết lập theo đặc thù của từng quốc gia; thiếu phương pháp và quy định thống nhất cho hoạt động kế toán của các đơn vị công; khó khăn để chuyển đổi sang kế toán dồn tích; hạn chế về trình độ, nhận thức và khả năng thực hiện theo IPSAS; sự giới hạn về nguồn lực tài chính… mà khi phân loại có thể nhóm các nhân tố này thành 7 nhóm nhân tố bao gồm: Nhóm nhân tố hệ thống chính trị và môi trường hoạt động; nhóm nhân tố hệ thống pháp lý; nhóm nhân tố kinh tế; nhóm nhân tố văn hóa; nhóm nhân tố điều kiện tổ chức; nhóm nhân tốc kỹ thuật nghiệp vụ và nhóm nhân tố quốc tế Ngoài ra, bằng những thử nghiệm thực tế, các tác giả đã giải thích nguyên nhân IPSAS được vận dụng tại các quốc gia với nhiều mức độ khác nhau
(iii) Nghiên cứu những điều kiện cần thiết và việc thiết lập lộ trình rõ ràng để chuyển đổi sang IPSAS: Theo các tác giả những điều kiện cần thiết để vận dụng IPSAS bao gồm:
nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin; chú trọng công tác đào tạo trình độ chuyên môn và nhận thức của nguồn nhân lực để tạo khả năng thực hiện IPSAS; cải cách hệ thống kế toán công theo hướng chuyển đổi từ kế toán tiền mặt sang dồn tích; tăng cường vai trò và sự hỗ trợ từ quản lý cấp cao, các tổ chức quốc tế và các tổ chức nghề nghiệp; ưu tiên nguồn tài chính cho dự án
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Nếu như trước đây kế toán khu vực công Việt Nam chưa được chú trọng, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào kế toán doanh nghiệp thì ngày nay, đặc biệt là kể từ khi IPSAS ra đời, tiếp theo đó nhiều quốc gia trên thế giới tiếp cận đã và đang xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia, làm cho nội dung nghiên cứu về kế toán công đã nhận được sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo, các nhà nghiên cứu cũng như những người tham gia công tác trong khu vực công Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu, bài báo khoa học cùng với những cuộc hội thảo liên quan đến việc nghiên cứu ban hành chuẩn mực kế toán công đã được Bộ Tài chính tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
Trang 291.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về xu hướng cải cách hệ thống kế toán công
và vận dụng IPSAS
Đặng Thái Hùng (2007), nhận định để quản lý thống nhất tài chính Nhà nước cần tập
trung thông tin và công khai hóa tài chính Nhà nước, sự cần thiết phải cải cách hệ thống kế toán công, thực hiện Tổng kế toán Nhà nước và tất yếu phải tuân thủ IPSAS Nghiên cứu
này đã đi sâu phân tích và làm rõ vai trò, mối quan hệ giữa tài chính Nhà nước và kế toán
Nhà nước cũng như những yêu cầu cho việc quản lý thống nhất và công khai tài chính Nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới Đối với Việt Nam, nhìn chung hệ thống kế toán Nhà nước Việt Nam còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới, công tác kế toán Nhà nước bị chia cắt, tách rời cả về khung pháp lý và tổ chức thực hiện Việc thu thập thông tin phục vụ cho điều hành NSNN gặp nhiều khó khăn, thông tin tài chính Nhà nước trong tình trạng chia cắt, cục bộ theo chức năng quản lý
Trong một nghiên cứu về sự tác động của chuẩn mực kế toán công đến kế toán ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc, Phạm Văn Liên (2007) nhận định việc xây dựng CMKTCVN bắt nguồn từ nhu cầu quản lý thống nhất tài chính Nhà nước, tổng hợp thông tin đồng bộ, cung cấp thông tin tin cậy phục vụ cho quản lý tài sản công Nghiên cứu này chỉ ra những tác động của chuẩn mực kế toán công đến kế toán ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc, trước hết là tác động đến việc tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán, tiếp theo là sự tác động đến việc thiết kế hệ thống tài khoản và sổ kế toán, quy định phương pháp kế toán và thiết kế
hệ thống Báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị cho khu vực công Cuối cùng, chuẩn mực kế toán công còn ảnh hưởng đến việc nghiên cứu, xây dựng mô hình kế toán Nhà nước
và bộ máy kế toán Nhà nước thống nhất
Hà Thị Ngọc Hà (2007), trên cơ sở nghiên cứu sự khác biệt của hệ thống kế toán Hành chính sự nghiệp Việt Nam và IPSAS, nghiên cứu này đã đề xuất những giải pháp cho việc cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam Những khác biệt được nghiên cứu đề cập bao gồm: Khác biệt trong quy định thiết lập hệ thống Báo cáo tài chính, kế đến là khác biệt về đặc điểm đơn vị HCSN ở Việt Nam, nhìn chung kế toán HCSN Việt Nam đang thực hiện nhiều hoạt động SXKD và đầu tư tài chính dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng chưa có chính sách tài chính nên không có cơ sở để quy định về kế toán Khác biệt thứ ba là do Việt Nam chưa có quy định cho việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất cho khu vực công Nghiên cứu này đưa ra khuyến nghị cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Luật NSNN, cũng như cần có chính sách tài chính công phù hợp với thông lệ chung làm nền tảng cho việc nghiên cứu xây dựng và công bố chuẩn mực kế toán công theo hướng áp dụng IPSAS
Trang 30Mai Vinh (2007), trong một nghiên cứu về sự tác động của chuẩn mực kế toán công đến phương pháp lập dự toán ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn và theo kết quả đầu ra Nghiên cứu này đã làm rõ vai trò quan trọng của chuẩn mực kế toán công trong việc lập dự toán ngân sách, bởi vì chuẩn mực kế toán công hướng tới mục tiêu quy định thống nhất các nguyên tắc kế toán, đảm bảo Báo cáo tài chính được trình bày theo cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính và các luồng tiền của đơn vị Đây là những thông tin hữu ích cho việc lập dự toán ngân sách, đặc biệt là dự toán ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn
và theo kết quả đầu ra Thông qua phân tích thực trạng kế toán công Việt Nam, nghiên cứu
đề xuất áp dụng phương pháp lập dự toán ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn kết hợp với kết quả đầu ra cho Việt Nam phù hợp với yêu cầu đổi mới và hội nhập
Nguyễn Đăng Huy (2008), dựa trên nghiên cứu phân tích và đánh giá thực trạng kế toán công Việt Nam cho thấy những khó khăn và hạn chế của hệ thống kế toán công hiện hành bao gồm: (1) Kế toán ngân sách chưa tập trung và thống nhất về tổ chức, phạm vi, nội dung và phương pháp kế toán Hiện nay, kế toán ngân sách được thực hiện bởi nhiều đơn vị khác nhau, vì thế đối tượng kế toán, nội dung, chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính của các đơn vị còn nhiều khác biệt, chưa đáp ứng yêu cầu phân tích dữ liệu cho mục đích quản lý ngân sách (2) Các quy định hiện tại của kế toán công khá phức tạp và quá tập trung vào chi tiết, thậm chí chồng chéo về nội dung (3) Sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, thêm vào đó là mức độ phức tạp của các yêu cầu về báo cáo tài chính (4) Việt Nam chưa có chuẩn mực kế toán cho lĩnh vực công (5) Báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam được lập trên cơ sở tiền mặt có điều chỉnh hoặc dồn tích có điều chỉnh không phù hợp để áp dụng IPSAS Nghiên cứu này đề xuất những cải cách để vận dụng IPSAS: (1) Xem xét và tổ chức lại hệ thống Báo cáo tài chính (2) Đề ra các nguyên tắc kế toán cơ bản và khái niệm cho kế toán công có hệ thống và thống nhất (3) Thành lập Ủy ban đặc biệt để nghiên cứu IPSAS (4) Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong thiết lập lộ trình áp dụng IPSAS
Để làm rõ tính cấp thiết cho việc xây dựng CMKTCVN, Mai Thị Hoàng Minh (2008), nhận định rằng yêu cầu của quá trình hội nhập là thông tin kế toán phải có tính chuẩn mực,
có thể so sánh và được thế giới thừa nhận Đối với Việt Nam, mặc dù trong nhiều năm qua Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong hoàn thiện hệ thống kế toán nhưng thông tin
kế toán trong lĩnh vực công vẫn còn nhiều hạn chế như chưa nhất quán, chưa đầy đủ, hoàn chỉnh và chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Thông qua việc so sánh giữa IPSAS với chế độ
kế toán Hành chính sự nghiệp của Việt Nam, tác giả chỉ ra những khác biệt, từ đó đề xuất
việc xây dựng CMKTCVN
Trang 31Phạm Quang Huy (2010), trên cơ sở tìm hiểu kế toán công tại một số quốc gia và liên
hệ thực tế tại Việt Nam, tác giả đã đề xuất một số giải pháp vận dụng cho khu vực công Việt Nam nhằm hướng tới việc ban hành CMKTCVN bao gồm: Thay đổi hành lang pháp lý; cải cách các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân; xóa bỏ các thủ tục hành chính mang tính quan liêu; cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách
Phạm Văn Khoan (2011), nghiên cứu quá trình cải cách kế toán công Việt Nam và đánh giá thực trạng kế toán công hiện hành đã chỉ ra những hạn chế từ hệ thống kế toán công bao gồm: Chưa phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán Nhà nước; kế toán NSNN và KBNN, kế toán các quỹ công khác còn chủ yếu dựa vào phương pháp tiền mặt, trong khi kế toán Hành chính sự nghiệp áp dụng kế toán dồn tích có điều chỉnh nên chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý chi tiêu công theo kết quả đầu ra; những quy định áp dụng trong hệ thống
kế toán công không phù hợp với IPSAS Nghiên cứu này đã đưa ra những đề xuất nhằm cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, theo đó kế toán công Việt Nam cần xác định lại đối tượng kế toán, xây dựng Tổng kế toán Nhà nước và hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán Nhà nước, từng bước hòa nhập với thông lệ quốc tế
Thực hiện nghiên cứu thực trạng kế toán công Việt Nam bao gồm: Hệ thống pháp luật
và các quy định chi phối hoạt động kế toán công Việt Nam, Ngô Thanh Hoàng (2014) đã phân tích và chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán công hiện hành như: Hạn chế từ hệ thống pháp lý cụ thể kế toán công Việt nam được quy định trải dài qua nhiều tầng pháp lý như Luật, nghị định, quyết định, thông tư và các văn bản hướng dẫn dưới luật; Cơ sở kế toán chưa rõ ràng làm cho chất lượng thông tin thấp, giảm hiệu quả quản lý và điều hành khu vực công; những khác biệt so với IPSAS về điều kiện ghi nhận, việc ghi nhận giá trị, kế toán quản trị trong lĩnh vực công cũng chưa được chú trọng Nghiên cứu này đưa ra một số
đề xuất: (1) Hoàn hiện hệ thống pháp lý về kế toán trong khu vực công; (2) Ban hành chuẩn mực kế toán công theo hướng vận dụng IPSAS; (3) Cần có quy định phân biệt giữa lĩnh vực doanh nghiệp và lĩnh vực công khi thực hiện tính giá; (4) Đề xuất chia kế toán công thành 5 cấu phần: Kế toán trong lĩnh vực quản lý ngân sách, kế toán thu ngân sách, kế toán đơn vị
sử dụng NSNN và đơn vị không sử dụng NSNN, kế toán các quỹ công chuyên dụng, kế toán nghiệp vụ và Tổng kế toán Nhà nước
Trang 32● Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về xu hướng cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS
Bảng 1.5 Tổng hợp các nghiên cứu trong nước về xu hướng cải cách hệ thống kế toán
công và vận dụng IPSAS
Tên tác
giả
( Năm)
7-Nghiên cứu mối quan hệ giữa tài chính Nhà nước, kế toán Nhà nước và những yêu cầu cho việc thực hiện Tổng kế toán Nhà nước
Thực hiện Tổng KTNN là một yêu cầu cấp bách nhằm: Quản lý thống nhất TCNN, tập trung thông tin để thực hiện công khai hóa TCNN, đáp ứng yêu cầu hội nhập
Bộ Tài chính, trang 125 – 130
Nghiên cứu sự tác động của chuẩn mực kế toán công đến kế toán ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc
Tác động của chuẩn mực kế toán công đến kế toán ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc bao gồm: Tác động đến việc tổ chức công tác kế toán; tác động đến việc thiết kế hệ thống tài khoản và sổ kế toán; việc quy định phương pháp kế toán; việc thiết kế hệ thống báo cáo báo cáo kế toán; tác động đến việc nghiên cứu, xây dựng mô hình kế toán Nhà nước và bộ máy KTNN thống nhất
Bộ Tài chính, trang 120 - 124
Phân tích sự khác biệt giữa
hệ thống kế toán HCSN của Việt Nam và IPSAS, đề xuất những giải pháp cải cách hệ thống kế toán HCSN VN theo hướng vận dụng IPSAS
Những khác biệt giữa hệ thống kế toán HCSN và IPSAS: Khác biệt
về hệ thống BCTC; về đặc điểm đơn vị HCSN ở VN; về lập Báo cáo tài chính hợp nhất
Các giải pháp đề xuất: Sửa đổi Luật NSNN và chính sách quản lý tài chính công; nghiên cứu xây dựng và ban hành CMKTCVN theo hướng vận dụng IPSAS
ngân sách theo khuôn
khổ chi tiêu trung hạn và
theo kết quả đầu ra
Tài liệu Hội thảo Định hướng và lộ trình vận dụng IPSAS vào Việt Nam, Hà nội, trang 106 - 109
Nghiên cứu về sự tác động của chuẩn mức kế toán công đến phương pháp lập
dự toán ngân sách theo khuôn khổ chi tiêu trung hạn và theo kết quả đầu ra
Những tác động của CMKTC đến phương pháp lập dự toán chi tiêu trung hạn và theo kết quả đầu ra: Cung cấp thông tin về thu, chi NS theo từng Bộ, Ngành, TW và địa phương; Cung cấp thông tin về
Trang 33doanh số thu, chi NSNN và tính cân đối giữa thu, chi NSNN; CMKTC quy định thống nhất các nguyên tắc, phương pháp kế toán tài sản, nơi phải thu, phải trả; CMKTC tăng cường tính minh bạch về tài chính và ngân sách, xác định trách nhiệm giải trình của các cơ quan tham gia lập dự toán
Nguyễn
Đăng
Huy
(2008)
Giải pháp cho kế toán
công ở Việt Nam
Tạp chí nghiên cứu Tài chính kế toán số 1(54) trang 49 – 51
Phân tích, đánh giá những hạn chế của hệ thống kế toán công VN và đề xuất giải pháp cải cách hệ thống
kế toán công để vận dụng IPSAS
Các giải pháp đề xuất: Tổ chức lại
hệ thống BCTC công; Xây dựng cách tiếp cận nhận thức về kế toán công; Bộ Tài chính cần thành lập một Ủy ban đặc biệt để nghiên cứu IPSAS nhằm hướng tới xây dựng CMKTCVN; Từng bước áp dụng các IPSAS
và những khác biệt giữa kế toán HCSN Việt Nam và những yêu cầu cho việc xây dựng CMKTCVN
Phân tích nội dung của
khuôn mẫu lý thuyết nền
Nghiên cứu hệ thống kế toán công tại một số quốc gia và thực trạng hệ thống
kế toán công Việt Nam, đề xuất các giải pháp cải cách
hệ thống kế toán công VN
và ban hành CMKTCVN
Giải pháp áp dụng cho khu vực công Việt Nam nhằm hướng tới ban hành CMKTCVN:
- Thay đổi hành lang pháp lý
- Cải cách thủ tục hành chính
- Xóa bỏ các thủ tục hành chính quan liêu
- Cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương đến địa phương
- Đổi mới phân cấp quản lý ngân sách
toán Nhà nước hiện nay
ở Việt Nam và những cải
cách cần thiết trong
tương lai cho phù hợp
với thông lệ quốc tế
Hội thảo Khoa học: hệ thống IPSAS và lộ trình xây dựng hệ thống CMKTCVN Hà Nội, Bộ Tài chính, trang 46 – 49
Nghiên cứu thực trạng và
đề xuất phương hướng cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế
Những cải cách cần thiết trong tương lai cho kế toán Nhà nước Việt Nam: Cải cách TCNN cần đi trước hoặc song song với cải cách
kế toán NN; Xác định lại đầy đủ các đối tượng kế toán Nhà nước; Chuyển đổi áp dụng kế toán dồn tích trong tương lai; Xây dựng hệ
Trang 34thống CMKTCVN; Thực hiện Tổng kế toán Nhà nước; Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán
Nghiên cứu thực trạng hệ thống kế toán công và đề xuất các giải pháp cải cách nhằm hoàn thiện hệ thống
kế toán công VN theo hướng vận dụng IPSAS
Những hạn chế từ hệ thống kế toán công hiện hành: Hệ thống pháp lý; cơ sở kế toán; điều kiện ghi nhận; về giá trị; về kế toán quản trị công
Các giải pháp đề xuất: Chỉnh sửa Luật NSNN; Luật Kế toán cần gắn chặt với các văn bản pháp luật tài chính công; Ban hành ngay hệ thống CMKTCV; Cần phân biệt giữa lĩnh vực DN và lĩnh vực công trong xác định phương pháp tính giá; nghiên cứu phân loại hệ thống kế toán công
(Nguồn Tác giả tự tập hợp) Tóm lại, nghiên cứu xu hướng cải cách hệ thống kế toán công và vận dụng IPSAS tại
Việt Nam được nhiều tác giả quan tâm, các nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau đây:
(i) Nguyên nhân của việc cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam
Trước hết, nguyên nhân của việc cải cách hệ thống kế toán công Việt Nam bắt nguồn
từ những hạn chế của hệ thống kế toán công hiện hành bao gồm: Hệ thống kế toán công Việt Nam được đánh giá là chậm đổi mới và kém phát triển, công tác kế toán bị chia cắt tách rời cả về khung pháp lý và quá trình thực hiện (Đặng Thái Hùng, 2007) Kế toán công Việt Nam nói chung, kế toán HCSNVN nói riêng có nhiều khác biệt so với IPSAS (Mai Thị Hoàng Minh, 2008) do thiếu các chính sách tài chính cho các hoạt động SXKD và đầu tư tài chính nên không có cơ sở để quy định kế toán Bên cạnh đó, kế toán công Việt Nam có nhiều khác biệt so với IPSAS do Việt Nam chưa có quy định cho việc lập Báo cáo tài chính hợp nhất (Hà Thị Ngọc Hà, 2007) Kế toán công Việt Nam còn được đánh giá là chưa tập trung và thống nhất về tổ chức, phạm vi, nội dung và phương pháp Kế toán ngân sách được thực hiện bởi nhiều đơn vị khác nhau nên đối tượng kế toán, nội dung các chỉ tiêu trên BCTC cũng khác biệt nhau Hơn nữa, các quy định trong kế toán công khá phức tạp, thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và các nguồn lực, thêm vào đó cơ sở kế toán áp dụng cho khu vực công Việt Nam khác biệt nhiều so với IPSAS, đồng thời Việt Nam chưa có chuẩn mực kế toán
Trang 35cho khu vực công (Nguyễn Đăng Huy, 2008; Phạm Văn Khoan, 2011) Đánh giá hệ thống pháp lý của kế toán công Việt Nam, Ngô Thanh Hoàng (2014) nhận định các quy định của
hệ thống kế toán công trải dài nhiều tầng pháp lý, cơ sở kế toán chưa rõ ràng, nhiều khác biệt về điều kiện ghi nhận và xác định giá trị Chính vì những hạn chế trên nên cần thiết cải cách nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán công Việt Nam
(ii) Nghiên cứu sự tác động của CMKTC
Trước hết, chuẩn mực kế toán công tác động đến kế toán ngân sách và nghiệp vụ Kho bạc (Phạm Văn Liên, 2007) bao gồm tác động đến công tác tổ chức kế toán, thiết kế hệ thống tài khoản và sổ tài khoản, các quy định của kế toán và lập BCTC, xây dựng mô hình
kế toán Nhà nước và bộ máy kế toán Nhà nước thống nhất Chuẩn mực kế toán công còn có những ảnh hưởng nhất định đến công tác dự toán NSNN, những quy định của chuẩn mực sẽ
là những thông tin có giá trị để lập dự toán NSNN (Mai Vinh, 2007)
(iii) Nội dung của cải cách KTCVN và các đề xuất cải cách để vận dụng IPSAS
Kế toán công Việt Nam được cải cách theo hướng vận dụng IPSAS Đề xuất từ các nghiên cứu bao gồm: Xây dựng Tổng kế toán Nhà nước Việt Nam để thống nhất toàn bộ hoạt động kế toán khu vực công; Sửa đổi Luật NSNN, Luật KTNN và chính sách tài chính công phù hợp với thông lệ chung (Hà Thị Ngọc Hà, 2007), xem xét và tổ chức lại hệ thống BCTC, xây dựng và ban hành CMKTCVN trên cơ sở vận dụng IPSAS (Nguyễn Đăng Huy, 2008; Ngô Thanh Hoàng, 2014), hoàn thiện hành lang pháp lý và cải cách thủ tục hành chính (Phạm Quang Huy, 2010), quy định phân biệt giữa lĩnh vực kế toán công và lĩnh vực
kế toán doanh nghiệp, chia kế toán công thành 5 cấu phần trong thực hiện kế toán (Ngô
Đoàn Xuân Tiên (2009), qua việc tìm hiểu hệ thống IPSAS, tác giả đưa ra quan điểm
về các nguyên tắc xây dựng CMKTCVN Theo đó, các đề xuất về nguyên tắc thiết kế hệ thống CMKTCVN bao gồm: Vận dụng kinh nghiệm xây dựng Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp Việt Nam và hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam để định hướng nguyên tắc,
Trang 36nội dung và kết cấu; Về phạm vi, tác giả đề xuất phạm vi của CMKTCVN phải bao trùm các hoạt động liên quan đến ngân sách; áp dụng kế toán dồn tích; Về tổ chức kế toán ngân sách Nhà nước giao cho KBNN, kế toán các hoạt động trong cơ quan Nhà nước vẫn thực hiện như hiện nay; đối tượng vận dụng chuẩn mực kế toán công là các hoạt động liên quan đến NSNN
Đào Thị Bích Hạnh (2009), dựa trên nghiên cứu quá trình xây dựng Chuẩn mực kế toán công Pháp để cung cấp kinh nghiệm cho việc xây dựng CMKTCVN Những kinh nghiệm từ quá trình nghiên cứu việc xây dựng Chuẩn mực kế toán công Pháp bao gồm: (1) Việc xây dựng chuẩn mực được đặt trong bối cảnh hiện tại và những định hướng lâu dài về quản lý tài chính công Quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, vận dụng cách thức quản lý của doanh nghiệp, từng bước trao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ quan quản lý, các đơn vị sự nghiệp; (2) Vận dụng có sửa đổi cho phù hợp với Việt Nam, cần phân biệt giữa quản trị tài chính doanh nghiệp với quản trị tài chính công; (3) Cần xây dựng CMKTCVN trên cơ sở dồn tích Theo đó, sự ra đời của LOLF đã thay đổi sâu sắc toàn bộ cơ cấu tài chính Nhà nước, dẫn đến hệ thống kế toán Nhà nước cũng được đổi mới toàn diện Kế toán Nhà nước của Pháp bao gồm 3 loại: Kế toán ngân sách; kế toán tổng hợp; kế toán phân tích chi phí của các hoạt động
Bùi Văn Mai (2007), nhận định khuôn khổ pháp lý về kế toán hiện hành trong lĩnh vực công Việt Nam chưa có sự nhất quán giữa hệ thống kế toán thu, chi ngân sách, kế toán đơn
vị sử dụng ngân sách và kế toán các quỹ tài chính Nhà nước Nhiều quy định pháp lý về kế toán công Việt Nam khá khác biệt so với quốc tế, điều này gây khó khăn trong quá trình hội nhập quốc tế do hạn chế về khả năng so sánh thông tin Ngoài ra, với chủ trương thực hiện cải cách quản lý khu vực công, theo đó đòi hỏi công khai hóa thông tin tài chính Nhà nước theo một chuẩn mực chung phù hợp với thông lệ quốc tế, vì thế cần thiết phải vận dụng IPSAS để xây dựng CMKTCVN Tuy nhiên, để vận dụng IPSAS, bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Việt Nam cũng gặp không ít khó khăn Nghiên cứu này cũng đề xuất lộ trình và đánh giá những điều kiện cần thiết để xây dựng CMKTCVN
Phạm Văn Đăng (2007), thông qua phân tích từng nội dung chi tiết chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hệ thống kế toán công Việt Nam và nội dung của IPSAS Trên
cơ sở đó, các bước để tiến tới hòa hợp giữa kế toán công Việt Nam với IPSAS đã được đề xuất bao gồm: Nghiên cứu đánh giá thực trạng, đề xuất sửa đổi bổ sung cơ chế tài chính và
kế toán công phù hợp với IPSAS; tổ chức biên dịch, nghiên cứu IPSAS; xác định định
Trang 37hướng và lộ trình xây dựng CMKTCVN; đề xuất sửa đổi bổ sung cơ chế tài chính phù hợp IPSAS; nghiên cứu xây dựng CMKTCVN; triển khai vận dụng
Phùng Thị Đoan (2007), nghiên cứu đánh giá khả năng vận dụng IPSAS để xây dựng CMKTCVN đã đưa ra một số khuyến nghị cho việc thực hiện bao gồm: (1) Về quan điểm xây dựng: CMKTCVN phải dựa trên cơ sở IPSAS phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hệ thống luật pháp và trình độ, kinh nghiệm kế toán Việt Nam; CMKTCVN phải đơn giản dễ hiểu, dễ sử dụng (2) Đề xuất các bước trong quá trình soạn thảo CMKTCVN (3) Tạo khả năng vận dụng IPSAS thông qua phương pháp thực hiện (4) Huy động lực lượng chuyên gia để thực hiện (5) Đề xuất về sự thống nhất giữa số hiệu CMKTCVN phù hợp với IPSAS (6) Đề xuất về hiệu lực thi hành các chuẩn mực sau khi ban hành
Đặng Thái Hùng (2011), đánh giá khả năng vận dụng IPSAS vào Việt Nam và đưa ra một số quan điểm về việc xây dựng CMKTCVN: Việc nghiên cứu, ban hành và công bố CMKTCVN phải đảm bảo phù hợp với IPSAS; CMKTCVN phải đáp ứng yêu cầu cải cách quản lý tài chính công của Việt Nam; CMKTCVN được xây dựng theo quy trình của Bộ Tài chính và quy trình ban hành văn bản pháp luật của Việt Nam; những nội dung IPSAS chưa quy định có thể tham chiếu chuẩn mực kế toán doanh nghiệp hoặc tự quy định phù hợp với chính sách của Việt Nam; Việt Nam có thể chọn một phương pháp để thực hiện; việc lựa chọn IPSAS theo từng thời kỳ phụ thuộc vào điều kiện thực tế Ngoài ra, với bài viết này tác giả cũng đưa ra những phương án tiếp cận để đưa IPSAS vào Việt Nam phù hợp với điều kiện thực tế
Ngô Thanh Hoàng (2011), dựa trên nghiên cứu nội dung IPSAS đồng thời qua phân tích, đánh giá thực trạng kế toán công Việt Nam đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa IPSAS với những quy định của CMKTCVN Trong đó, những điểm tương đồng có thể kể đến đó là Việt Nam có luật pháp, có quy định kế toán khá tương đồng với một số nội dung IPSAS Tuy nhiên, những điểm khác biệt bao gồm: Các quy định pháp lý về kế toán còn dàn trải, thiếu tập trung và thống nhất; khác biệt giữa Việt Nam và quốc tế trong việc phân biệt giữa tài chính công và tài chính Nhà nước do Việt Nam tồn tại nhiều chế độ kế toán nên khó khăn để hợp nhất thông tin, ngoài ra Việt Nam chưa có Báo cáo tài chính hợp nhất
Trần Thị Hồng Mai (2011), thông qua việc phân tích, đánh giá những bất cập của hệ thống kế toán công Việt Nam bao gồm: (1) Hạn chế từ việc áp dụng cơ sở kế toán, theo đó Việt nam thực hiện gần như song song hai cơ sở kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích (2) Các quy định của kế toán công Việt Nam không thể hiện sự nhất quán (3) Hạn chế từ hệ
Trang 38thống cung cấp thông tin Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị cho việc xây dựng CMKTCVN bao gồm: Yêu cầu cho việc xây dựng CMKTCVN phải đảm bảo tính độc lập; tính hệ thống; quan hệ giữa chi phí – lợi ích; hội nhập quốc tế Với bài viết này tác giả cũng đi sâu phân tích những khó khăn và thuận lợi khi xây dựng CMKTCVN, đồng thời đề xuất lộ trình cho việc xây dựng và ban hành CMKTCVN
Phạm Văn Đăng và cộng sự (2005), nghiên cứu về lý luận và thực tiễn xây dựng CMKTCVN, nhóm tác giả nêu bật những bất cập hiện có trong hệ thống kế toán công Việt Nam, tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng IPSAS và kinh nghiệm xây dựng chuẩn mực kế toán công tại một số quốc gia để đề xuất bài học cho Việt Nam Theo đó, những nguyên tắc và nội dung cơ bản mà CMKTCVN cần thực hiện bao gồm: Dựa trên nền tảng IPSAS, CMKTCVN phải phù hợp với cơ chế quản lý và hệ thống pháp luật Việt Nam về tài chính công; các chuẩn mực phải được xây dựng phù hợp với trình độ nhận thức về kế toán, đặc điểm văn hóa, xã hội Việt Nam; chuẩn mực được xây dựng phải dễ hiểu, phù hợp với thể thức và quy trình xây dựng pháp luật Việt Nam Cuối cùng tác giả đề xuất định hướng và lộ trình xây dựng CMKTCVN
Nguyễn Văn Hồng (2006), nghiên cứu hướng tới việc hoàn thiện hệ thống kế toán NSNN Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về kế toán và kế toán ngân sách Nhà nước, đánh giá thực trạng kế toán ngân sách Nhà nước ở Việt Nam thông qua tìm hiểu quá trình phát triển của kế toán Việt Nam bao gồm kế toán doanh nghiệp và kế toán ngân sách Nhà nước và nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước Đồng thời, nghiên cứu phân tích về các chế độ kế toán ngân sách, chỉ ra những ưu nhược điểm của hệ thống này Luận án cũng đi sâu trình bày quan điểm để xây dựng hoàn thiện hệ thống kế toán ngân sách Nhà nước và đưa ra những kiến
nghị cho quá trình thực hiện
Mai Đình Lâm (2013), dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, đặc biệt là của Tao Zhang & Heng – Fu Zou (1998), tác giả thực hiện nghiên cứu tác động của phân cấp tài
khóa đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa vào lý thuyết tăng trưởng, đánh giá tác động
phân cấp tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện phân
cấp ngân sách gắn với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Phạm Quang Huy (2010), với mục tiêu hoàn thiện hệ thống kế toán thu chi ngân sách Việt Nam phù hợp với thực tế tình hình kinh tế xã hội và tiếp cận dần với một số nội dung
cơ bản của IPSAS, luận án làm rõ các cơ sở lý luận liên quan đến kế toán thu, chi ngân sách; nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia; đồng thời phân tích những hạn chế của hệ thống
kế toán thu, chi ngân sách Việt Nam Qua đó, một số giải pháp được đề xuất nhằm hoàn
Trang 39thiện hệ thống kế toán thu, chi NSNN được tập trung vào ba nội dung: (1) Phù hợp đặc điểm quản lý thu chi ngân sách tại Việt Nam (2) Từng bước phù hợp và tương thích với IPSAS (3) Tăng cường khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý NSNN
Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), hướng tới việc hoàn thiện nội dung, phương pháp lập và trình bày Báo cáo tài chính khu vực công nhằm đảm bảo hệ thống Báo cáo tài chính khu vực công cung cấp thông tin hữu ích, tin cậy, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế và điều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam Những hạn chế của chế độ kế toán HCSN bao gồm: Tồn tại nhiều chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị HCSN; tồn tại song song cơ sở dồn tích và cơ sở tiền mặt trong đơn vị HCSN; hệ thống chứng từ chưa đầy đủ; hệ thống tài khoản chưa phản ánh đầy đủ các đối tượng kế toán; tên gọi của các tài khoản chưa bao quát hết nhóm và chưa
có cách phân loại hợp lý; báo cáo tài chính rườm rà chưa đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và chưa phù hợp thông lệ quốc tế Hướng hoàn thiện được đề xuất bao gồm: Tách Báo cáo tài chính cho mục đích chung và mục đích đặc biệt; vận dụng IPSAS trên cơ sở dồn tích nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định
● Tổng hợp tình hình nghiên cứu
Bảng 1.6 Tổng hợp các nghiên cứu về hệ thống kế toán công Việt Nam và khả năng
vận dụng IPSAS tại Việt Nam
Tên tác
giả
( Năm)
Tên đề tài Tên Tạp chí khoa học Mục tiêu nghiên
Nghiên cứu CMKTCQT và đưa ra quan điểm xây dựng CMKTCVN
CMKTCVN phải bao trùm các hoạt động liên quan đến ngân sách; áp dụng kế toán dồn tích; về tổ chức kế toán ngân sách Nhà nước giao cho KBNN, kế toán các hoạt động trong cơ quan Nhà nước vẫn thực hiện như hiện nay
Nghiên cứu quá trình xây dựng CMKTC của Pháp cung cấp kinh nghiệm cho Việt Nam
Việc xây dựng chuẩn mực dựa trên định hướng quản lý tài chính công theo kết quả đầu ra, từng bước trao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ quan quản lý, các đơn vị
sự nghiệp; vận dụng có sửa đổi cho phù hợp với Việt Nam; CMKTCVN trên cơ sở dồn tích
Bộ Tài chính, trang 9-21
Nghiên cứu định hướng, giải pháp,
lộ trình và điều kiện xây dựng CMKTCVN
Định hướng: CMKTCVN phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống CMKTCQT nhưng phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam; Lộ trình từ 2007 đến 2015 triển khai áp dụng và ban hành CMKTCVN;
Trang 40Điều kiện để xây dựng: Cải cách khung pháp lý, điều kiện về kỹ thuật nghiệp vụ, phương pháp tổ chức
Bộ Tài chính, trang 37 -
47
Nghiên cứu sự khác biệt giữa CMKTCQT và hệ thống kế toán Nhà nước Việt Nam
Những điểm khác biệt: Về mặt pháp lý; về tên gọi; đối tượng áp dụng và không áp dụng; phạm vi hợp nhất BCTC; về áp dụng
cơ sở kế toán; hệ thống thông tin; các quy định chế độ kế toán và CMKTC
Bộ Tài chính, trang 48 -
52
Nghiên cứu về khả năng Việt Nam vận dụng CMKTCQT để xây dựng CMKTCVN
Đề xuất nguyên tắc soạn thảo ban hành CMKTCVN; các bước đi trong quá trình thực hiện; đánh giá khả năng vận dụng CMKTCQT khi xây dựng CMKTCVN; xem xét về lực lượng chuyên gia; bàn về số hiệu CMKTC và cách thức trình bày nội dung; hiệu lực thi hành
Nghiên cứu khả năng vận dụng CMKTCQT xây dựng CMKTCVN
và phương án tiếp cận CMKTCQT
Bàn về nguyên tắc xây dựng CMKTCVN: Phù hợp với CMKTCQT; đáp ứng yêu cầu quản lý TCC; tuân thủ theo quy trình do
Bộ Tài chính công bố; trường hợp những nội dung CMKTCQT chưa quy định thì tham chiếu CMKTDN; thống nhất áp dụng đối với từng thời kỳ
Phương án tiếp cận CMKTCQT: Dựa trên
cơ sở CMKTCQT với những điều kiện và bước đi thích hợp, phù hợp với trình độ quản lý của Việt Nam
vào Việt Nam
Tài liệu hội thảo Khoa học: Hệ thống IPSAS và
lộ trình xây dựng hệ thống CMKTCVN Hà Nội, Bộ Tài chính, trang
142 – 149
Nhận thức về CMKTCQT, xem xét những điểm chưa tương đồng với CMKTCVN
và kiến nghị những nội dung cần áp dụng CMKTCQT vào Việt Nam
Đánh giá những điểm chưa tương đồng của
kế toán công Việt Nam với CMKTCQT như: Quy định pháp lý thiếu tính tập trung, thống nhất; sự phân biệt giữa TCC và TCNN so với quốc tế nhiều khác biệt; hệ thống báo cáo của các hế độ kế toán chưa tương đồng; chưa có báo cáo hợp nhất của Chính phủ
Các kiến nghị: Về tính pháp lý; về cơ sở kế toán; về đối tượng áp dụng CMKTC; về hạch toán doanh tu, chi phí và thặng dư; áp dụng nội dung các CMKTCQT: 19, 20, 23, 24; bước đầu chuyển từ tổng hợp báo cáo sang báo cáo hợp nhất