Quá trình phát triển các thế hệ công nghệ điện hạt nhân Đối với một số quốc gia, ĐHN đã trở thành cứu cánh và là một trong những nguồn điện chủ lực đảm bảo cung cấp năng lượng ổn định, r
Trang 1& Công nghệ Khoa học
SỐ 43
VIỆN NĂNG LƯỢNG NGUYÊN TỬ VIỆT NAM
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ LÒ PHẢN ỨNG VVER
Trang 2THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
BAN BIÊN TẬP
TS Trần Chí Thành - Trưởng ban
TS Cao Đình Thanh - Phó Trưởng ban
PGS TS Nguyễn Nhị Điền - Phó Trưởng ban
TS Trần Ngọc Toàn - Ủy viên
ThS Nguyễn Thanh Bình - Ủy viên
TS Trịnh Văn Giáp - Ủy viên
TS Đặng Quang Thiệu - Ủy viên
TS Hoàng Sỹ Thân - Ủy viên
TS Thân Văn Liên - Ủy viên
TS Trần Quốc Dũng - Ủy viên
ThS Trần Khắc Ân - Ủy viên
KS Nguyễn Hữu Quang - Ủy viên
KS Vũ Tiến Hà - Ủy viên
ThS Bùi Đăng Hạnh - Ủy viên
Thư ký:
CN Lê Thúy Mai
Địa chỉ liên hệ:
Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
59 Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội
10 CAO CHI Giới thiệu máy tính lượng tử Tô-pô
18 TRẦN MINH HUÂN Cặp nhật ứng dụng đồng vị phóng xạ trong công nghiệp
24 ĐOÀN MẠNH LONG Hội thảo nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực công nghệ hạt nhân Việt Nam – Nhật Bản lần thứ 4
27 ĐẶNG ĐỨC NHẬN, VÕ TƯỜNG HẠNH Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong các thiết bị kiểm tra chất lượng
31 TRẦN MINH HUÂN
10 nước sản xuất Uranium lớn nhất thế giới trong năm 2014
TIN TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ
34 Bế giảng chương trình đào tạo “Ghi đo bức xạ môi trường” cho các thực tập sinh Angola
35 Tổ chức thực tập trên lò phản ứng hạt nhân cho sinh viên các trường Đại học
36 Seminar “Quan trắc thành phần đồng vị trong nước mưa ở Đồng bằng Nam bộ”
37 Chương trình làm việc, giảng dạy và đào tạo Dược chất phóng xạ
38 Phiên họp thứ ba của hội đồng phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử Quốc gia
40 Trọng tâm phát triển Điện hạt nhân dần dịch chuyển về châu Á
41 Nhật Bản chuẩn bị tái khởi động những lò phản ứng đầu tiên
42 Giới nghiên cứu Iran hoan nghênh thỏa thuận hạt nhân
NỘI DUNG
Số 43 06/2015
Trang 31 Quá trình phát triển các thế hệ công
nghệ điện hạt nhân
Đối với một số quốc gia, ĐHN đã trở
thành cứu cánh và là một trong những nguồn điện
chủ lực đảm bảo cung cấp năng lượng ổn định, rẻ
tiền, thúc đẩy kinh tế các quốc gia này phát triển
trong thời gian dài và có hiệu quả Tuy nhiên, qua
sự cố Three Mile Island ở Mỹ năm 1979, tai nạn
Chernobyl ở Liên xô cũ năm 1986, đặc biệt là
thảm hoạ Fukushima ở Nhật ngày 11/3/2011 đã
chứng tỏ rằng, ĐHN chỉ hiệu quả khi nó được
đảm bảo an toàn Chính vì vậy, quá trình phát
triển công nghệ ĐHN là quá trình nghiên cứu, cải
tiến không ngừng nghỉ để nâng cao độ an toàn
của nhà máy, nâng cao độ tin cậy của thiết bị và
nâng cao tính kinh tế của ĐHN
Công nghệ lò phản ứng phát triển đa dạng
và phong phú Đã có trên 10 loại lò đang được nghiên cứu phát triển và sử dụng thử nghiệm Tuy nhiên, cho đến nay, thực chất chỉ mới có
ba loại được thừa nhận là những công nghệ đã được kiểm chứng và được phát triển nhiều nhất,
đó là lò phản ứng nước áp lực (Pressurired Water Reactor – PWR+VVER), lò phản ứng nước sôi (Boiling Water Reactor – BWR) và lò nước nặng kiểu CANDU (Pressurired Heavy Water Reac-tor – PHWR) Tỷ phần của các loại công nghệ này như sau: dẫn đầu là lò phản ứng nước áp lực: 61%, kế theo đó là lò phản ứng nước sôi: 21%
và cuối cùng là lò nước nặng kiểu CANDU: 7%, phần còn lại là các loại lò khác
Xét về mặt thế hệ, cho đến nay, đã có 3 thế hệ công nghệ được xây dựng và khai thác sử dụng Các nhà máy điện hạt nhân hiện đang hoạt
Công nghệ điện hạt nhân (ĐHN) đã được nghiên cứu, phát triển và khai thác, sử dụng trong suốt hơn một nửa thế kỷ qua kể từ ngày 27 tháng 6 năm 1954, khi Liên Xô (cũ) đã đưa vào vận hành thương mại thành công lò phản ứng hạt nhân năng lượng đầu tiên trên thế giới tại thành phố Obn- insk Sau hơn 50 năm phát triển và trưởng thành, ĐHN đã chứng minh được tính khả thi về mặt kỹ thuật, tính cạnh tranh về mặt kinh tế và khả năng góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính vào môi trường Chính vì vậy, ĐHN đã khẳng định được vai trò, vị trí của mình trong cán cân cung cấp điện năng toàn cầu Hiện nay, trên thế giới có 440 lò phản ứng năng lượng hạt nhân đang hoạt động tại
32 quốc gia và vùng lãnh thổ, đáp ứng hơn 15% tổng nhu cầu điện năng của nhân loại.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
LÒ PHẢN ỨNG VVER
Trang 4THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
động trên thế giới, tuyệt đại đa số thuộc thế hệ
thứ II Đối với các dự án ĐHN đang hoặc có kế
hoạch xây dựng, hầu hết các quốc gia, đặc điệt là
các nước nhập công nghệ đều chọn giải pháp xây
dựng các NMĐHN với lò thế hệ III hoặc thế hệ
III+ Gần đây nhất, tại châu Âu, Phần Lan đã chọn
và đang xây dựng lò EPR của Pháp, Ukraina và
Bungari mới hoàn thành đấu thầu NMĐHN năm
2008 và đã chọn lò VVER-1000 thế hệ III của
Nga Tại châu Á, Ấn Độ, Iran cũng chọn
VVER-1000 thế hệ III của Nga, Trung Quốc chọn EPR
của Pháp và AP-1000 của Hoa Kỳ
Các lò phản ứng thế hệ III và III+ đã kế
thừa các đặc tính thiết kế ưu việt của thế hệ thứ
II, vận dụng các kinh nghiệm vận hành và xây
dựng các NMĐHN hiện hành cùng với các tiến
bộ khoa học công nghệ trong các ngành mũi nhọn
như công nghệ thông tin, điều khiển tự động,
khoa học vật liệu v.v Khác biệt lớn nhất so với
các thiết kế hiện thời (thế hệ II) là các nhà máy
ĐHN thế hệ mới (thế hệ III và III+) tích hợp được
đặc điểm an toàn thụ động nội tại, không đòi hỏi
sự kiểm soát chủ động của con người hay sự can
thiệp của nhân viên vận hành để tránh tai nạn khi
có trục trặc
Các loại lò thế hệ mới - thế hệ IV có tính
cách mạng với mục tiêu: an toàn hơn, kinh tế
hơn, giảm nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân và
góp phần giải quyết vấn đề chất thải phóng xạ
còn đang trong giai đoạn nghiên cứu, thiết kế và
thử nghiệm Chúng có thể được thương mại hoá
vào những năm sau 2030
2 Quá trình phát triển các thế hệ công
nghệ lò VVER
VVER - Vodo-Vodyanoi Energetichesky
Reactor (Water-cooled Water-Moderated Power
Reactor) là loại lò phản ứng nước áp lực
(Pres-surized light Water Reactor - PWR) được các chuyên gia Liên Xô nghiên cứu thiết kế chế tạo Các lò phản ứng VVER ở thời điểm ban đầu, khá giống với với PWR, tuy nhiên hiện nay chúng phát triển theo con đường riêng, với nhiều đổi mới về tính năng an toàn Những nguyên bản đầu tiên của lò phản ứng loại này được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ trước Sau đó, các lò phản ứng VVER-440 và VVER-1000 được thiết
kế và xây dựng ở Liên bang Xô-viết, một số nước Đông Âu và Phần Lan
Khoa học kỹ thuật về năng lượng nguyên
tử ở Nga đã phát triển với trên 50 năm với những thành tựu nổi trội và kinh nghiệm phong phú trong quá trình xây dựng các lò phản ứng VVER
ở Nga và ở nước ngoài (Bulgaria, Phần Lan, Hungary, Cộng hòa Séc, Slovakia, Trung Quốc, Ukraina,…) Việc khai thác, vận hành các nhà máy điện hạt nhân (NM ĐHN) sử dụng lò phản ứng VVER đã trải qua hơn 1500 lò-năm kinh nghiệm, trong đó:
- NM ĐHN sử dụng VVER-440 có hơn
1000 lò-năm kinh nghiệm;
- NM ĐHN sử dụng VVER-1000 có hơn
500 lò-năm kinh nghiệm;
Những đặc điểm chính của công nghệ lò VVER là:
- Lò phản ứng nước nhẹ áp lực;
- Hệ thống làm mát theo nhánh (nhiều loop-vòng lặp);
- Các lối vào và ra thùng lò có 2 mức (2
độ cao khác nhau);
- Không có các ống dẫn vào/ra ở phía dưới lối vào thùng lò;
- Các bình sinh hơi nằm ngang;
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 5- Các bó nhiên liệu hình lục lăng.
2.1 Lò phản ứng loại VVER-440
Công nghệ lò phản ứng nước áp lực loại
VVER được Viện thiết kế OKB Gidropress (trực
thuộc Tập đoàn Năng lượng nguyên tử Quốc gia
Liên bang Nga - RosAtom) bắt đầu nghiên cứu
và phát triển từ năm 1955 Lò phản ứng đầu tiên
công suất 210 MWe (VVER-210) đã được vận
hành tại tổ máy số 1 của NM ĐHN
Novovoron-ezh, Liên bang Nga vào năm 1964 Tổ máy số 2
công suất 365 MWe (VVER-365) đã được đưa
vào vận hành năm 1969 Những tổ lò phản ứng
đầu tiên này được thiết kế cho vòng đời 20 năm
và đã cho ngừng hoạt động vào các năm 1984
và 1990 Tiếp theo, vào năm 1971, tổ lò
VVER-440 đầu tiên (phiên bản V-179), với công suất
440 MWe, được vận hành tại tổ máy số 3 và năm
1972 tổ lò VVER-440 thứ hai được vận hành tại
tổ máy số 4 của nhà máy điện hạt nhân
Novovo-ronezh
Cùng với thời gian, các thế hệ lò phản
ứng VVER tiếp theo với những cải tiến nâng cao
tính năng an toàn và hiệu suất được thiết kế và
xây dựng Trong giai đoạn này, tổ lò VVER-440
phiên bản V-230 với hệ thống an toàn có độ dư
gấp đôi, tai nạn thiết kế cơ bản lớn nhất là vỡ
đường ống dẫn chất tải nhiệt có đường kính 100
mm cùng với mất điện hoàn toàn đã ra đời Tất
cả có 14 tổ máy VVER-440 phiên bản V-320 đã
được xây dựng và vận hành Bước tiếp theo là
thiết kế tổ lò VVER-440 phiên bản V-213 với hệ
thống an toàn có độ dư gấp ba và được thiết kế
để đối phó với vỡ ống tải nhiệt có đường kính
500 mm với mất điện hoàn toàn Hai tổ máy đầu
tiên của phiên bản này đã được xây dựng tại NM
ĐHN Lovisa, Phần Lan năm 1977 và 1980 Đến
nay, có cả thảy 16 tổ máy VVER-440 phiên bản
V-213 đang hoạt động [1]
2.2 Lò phản ứng loại VVER-1000
Công nghệ lò phản ứng VVER-1000 đã được OKB Gidropress khởi động nghiên cứu, thiết kế từ năm 1966 Đến năm 1980, tổ lò VVER-
1000 đầu tiên (phiên bản V-187) đã vận hành tại tổ máy số 5, nhà máy ĐHN Novovoronezh Trong giai đoạn 1976-1987, những cải tiến trong thiết kế đã cho đời của lò VVER-1000, phiên bản V-302 và phiên bản V-338, vận hành tại tổ máy
số 1&2, nhà máy ĐHN Nam-Ukraina và tổ máy
số 1& 2, nhà máy ĐHN Kalinin Các phiên bản thiết kế này chỉ có 4 tổ máy được xây dựng và vận hành nên được gọi là “small series”
Từ năm 1978, OKB Gidropress bắt đầu triển khai nghiên cứu, thiết kế công nghệ lò VVER-1000 tiêu chuẩn với phiên bản V-320, dự kiến sẽ triển khai xây dựng hàng loạt và được gọi
là “large series” Thiết kế này có những cải tiến như: tối ưu hóa số lượng các thanh điều khiển, cải tiến thiết kế bó thanh nhiên liệu, nâng cao tính
ổn định trong địa chấn,…nhằm tăng cường hiệu quả kinh tế và an toàn trong việc xây dựng và vận hành nhà máy điện hạt nhân, phù hợp với các văn bản pháp quy đưa ra vào thời điểm đó Nó
có thể đối phó với sự cố xảy ra cùng một lúc vỡ ống đường kính lớn 850 mm, động đất theo thiết
kế cơ bản và mất điện hoàn toàn Từ năm 1985 đến nay, đã có 28 tổ máy sử dụng lò VVER-1000, phiên bản V-320 được xây dựng và vẫn đang hoạt động tại các nhà máy ĐHN Tất cả các thiết kế này đều thuộc loại lò VVER thế hệ thứ II [1]
Lò phản ứng VVER-1000 thuộc loại lò nước áp lực thân đứng Thân lò hình trụ đứng chịu
áp lực cao, trên nắp đậy có bộ phận đấu nối đệm gioăng kín và các đầu ống chờ để lắp ghép các đường ống vận chuyển chất tải nhiệt vào và ra
Trang 6Ở bên trong có giếng lò là điểm tựa và chứa toàn
bộ vùng hoạt; đây cũng là nơi phân luồng dòng
chảy chất tải nhiệt Chất tải nhiệt được bơm vào
lò phản ứng theo đường ống, chảy xuống dưới
qua khe biên giữa giếng lò và thân lò dẫn dòng
hướng đáy, sau đó qua các lỗ có sẵn trên giá đỡ
giếng lò chảy ngược lên theo các hộp chứa thanh
nhiên liệu Chất tải nhiệt được đốt nóng từ nguồn
năng lượng phân hạch, sau đó đi qua các lỗ sàng
của giếng lò và theo đường ống dẫn ra khỏi lò
phản ứng Sơ đồ lò phản ứng VVER-1000, phiên
bản V-320 được nêu trong hình 1
Hình 1 Lò phản ứng VVER-1000, phiên bản
V-320; 1-Khối đỉnh; 2-Khối ống bảo vệ; 3-Giếng
lò; 4-Vách ngăn; 5-Vùng hoạt (tâm lò); 6-Vỏ lò
(thùng lò phản ứng chịu áp lực)
Tai nạn tại các nhà máy ĐHN Three Miles
Island năm 1978 và Chernobyl năm 1986 đã chỉ
ra sự cần thiết phải tính đến những khả năng xảy
ra sự cố ngoài thiết kế cơ bản (Beyond Design
Basis Accidents - BDBAs) trong quá trình thiết
kế và vận hành Các văn bản pháp quy mới đã
được ban hành với các yêu cầu mới về đảm bảo
an toàn nhằm ngăn chặn khả năng xảy ra các sự
cố ngoài thiết kế và giảm thiểu hậu quả nếu sự cố
xảy ra
Nhằm đáp ứng các yêu cầu mới về an toàn, các chuyên gia Viện thiết kế của St Peterburg, Viện thiết kế thực nghiệm Gidropress và Công ty Phần Lan Imatran International Ltd (hiện nay là Công ty Forturn Engineering) bắt tay nghiên cứu thiết kế NM ĐHN với nguyên mẫu là lò VVER-
1000, phiên bản V-320 Kết quả là cho ra đời bản thiết kế lò lò VVER-1000, phiên bản V-428 [2] Bản thiết kế này kế tục và phát huy những thành quả đạt được trong quá trình cải tiến độ an toàn, phù hợp với trình độ phát triển của ngành năng lượng hạt nhân hiện đại NM ĐHN dùng
lò VVER-1000, phiên bản V-428 (hay còn gọi là AES-91) là một thiết kế mới được cải tiến dựa trên kinh nghiệm thiết kế, xây dựng và vận hành một loạt các tổ lò VVER-1000/V-320, có tiếp thu các công nghệ từ lò áp lực PWR của Tây Âu, tuân theo các yêu cầu quốc tế hiện tại trong lĩnh vực an toàn bức xạ và hạt nhân Nhà máy cũng sử dụng
hệ thống I&C kỹ thuật số tích hợp của Siemens, Đức Tổ máy số 1&2 của NM ĐHN Điền Loan, Trung Quốc được xây dựng theo phiên bản thiết
kế này, được khởi công vào năm 2000 và đưa vào vận hành từ năm 2007 [1,2,3]
Theo Gidropress, những cải thiện về độ tin cậy, an toàn và các đặc tính kinh tế của AES-
91 được thực hiện theo các yêu cầu của khách hàng trên cơ sở:
- Mở rộng phổ thiết kế, có so sánh với các tổ máy được sử dụng để tham chiếu (thiết kế V-320) và trong thiết kế có xem xét đến các tai nạn vượt quá sự cố thiết kế cơ bản;
- Lắp đặt bẫy corium để giảm thiểu hậu quả khi có sự cố nóng chảy vùng hoạt;
- Áp dụng các hệ thống điều khiển I&C
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 7mới, tiên tiến;
- Nâng cao khả năng kháng chấn;
- Sử dụng boong-ke nhà lò 2 lớp …
Vào năm 1988, một dự án thiết kế lò
VVER-1000 mới, phiên bản V-392 (hay còn gọi
là AES-92) được triển khai thực hiện, nhằm nâng
cao độ an toàn, đáp ứng các yêu cầu mới của các
văn bản pháp quy LB Nga và các yêu cầu tiêu
chuẩn quốc tế Các cải tiến trong thiết kế mới này
tập trung vào nghiên cứu sử dụng các hệ thống
an toàn chủ động và thụ động, đặt bẫy corium, sử
dụng boong-ke nhà lò 2 lớp Với các giải pháp
kỹ thuật trình độ cao của thiết kế và những đặc
tính an toàn đặc biệt, AES-92 đã đảm bảo thỏa
mãn yêu cầu của Các tổ chức vận hành điện lực
châu Âu (EUR)
Các phương án thiết kế chính của lò
VVER-1000, phiên bản V-392 được áp dụng
đối với các phiên bản V-412, V-446 và V-466B
Phiên bản V-412 đang được triển khai xây dựng
tổ máy số 1&2 của NM ĐHN Kudankulam, Ấn
Độ [1,4,5], phiên bản V-446 được sử dụng tại NM
ĐHN Busher của Iran [2] và phiên bản V-466B
[2,6] đã được Chính phủ Bungari lựa chọn xây
dựng tại NM ĐHN Belene (dự án này đã bị dừng,
không thực hiện) Các thiết kế AES-92 dùng lò
VVER-1000, phiên bản V-392, V-412, V-446 và
V-466B thuộc thế hệ lò thứ III [1] và đã được
Liên minh châu Âu cấp chứng chỉ chính thức vào
- Sử dụng boong-ke nhà lò 2 lớp để giam giữ các sản phẩm khi sự cố: lớp bên trong – dự ứng lực, lớp bên ngoài - nguyên khối, được thiết
kế để đảm bảo an toàn trong các trường hợp xảy
ra sự cố bên trong và ngoài nhà máy
2.3 Lò phản ứng loại VVER-1200
Trên cơ sở phân tích, đánh giá và đúc kết kinh nghiệm thiết kế, xây dựng, vận hành của các các NM ĐHN dùng lò VVER-1000 phiên bản V-320, V-428 và V-392, Viện thiết kế OKB Gidropress đã rút ra những kết luận về khả năng chuyển đổi về chất mức độ an toàn bằng cách nghiên cứu và áp dụng công nghệ an toàn thụ động, từ đó đã đưa ra một thiết kế mới, thuộc thế
hệ III+, đó là AES-2006 [9] Các cải tiến của thiết
kế AES-2006 sử dụng lò phản ứng VVER-1200 là:
- Tối ưu cấu trúc của các hệ thống và kết hợp 2 nguyên tắc đảm bảo an toàn thụ động và chủ động;
- Tối ưu các thông số vận hành;
- Tăng áp suất thứ cấp của bình sinh hơi;
- Cải tiến các loại vật liệu sử dụng để chế tạo các thiết bị chính, cho phép thời gian vận hành của các thiết bị lên đến 60 năm;
- Cải tiến chu trình nhiên liệu với chu trình thay đảo lên đến 24 tháng;
- Độ cháy cực đại trong bó nhiên liệu là
70 MW*ngày/kgU;
Trang 8Việc sử dụng hài hòa các hệ thống an toàn
chủ động và thụ động, thực hiện độc lập các chức
năng an toàn là đặc điểm khác biệt quan trọng của
thiết kế AES-2006 Có 2 thiết kế khác biệt của
Tại Liêng bang Nga, AES-2006 đang được
xây dựng và sắp đưa vào vận hành ở NM ĐHN
Novovoronezh II và Leningrad II Cộng hòa
Be-larusia đã chọn và đang xây dựng lò VVER-1200
loại AES-2006 và Cộng hòa Séc cũng đang xem
xét hồ sơ dự thầu loại AES-2006
Hình 2 Tổ hợp thiết bị hệ thống vòng sơ cấp lò
phản ứng VVER-1200, phiên bản V-491
2.4 Lò phản ứng loại VVER-TOI
Hiện tại, Tập đoàn nguyên tử RosAtom
đang chỉ đạo triển khai thực hiện dự án
VVER-TOI (typical optimized informative-advanced
project) nhằm đưa ra một thiết kế VVER tiêu
chuẩn thế hệ III+ với việc tăng cường sử dụng
công nghệ thông tin [11]
VVER-TOI là nhà máy điện hạt nhân với
2 tổ lò VVER-1200/V-510 loại nước áp lực, đáp
ứng được những quy định về an toàn bức xạ và hạt nhân cũng như những vấn đề liên quan đến môi trường của LB Nga, châu Âu và quốc tế
Dự án VVER-TOI được thực hiện dựa trên kinh nghiệm xây dựng và vận hành các nhà máy VVER ở trong và ngoài nước Nga Những giải pháp được sử dụng trong thiết kế giúp tối ưu
và tối thiểu hóa những sai hỏng phát sinh trong một tổ lò
Dự án VVER-TOI sử dụng mô hình đảm bảo an toàn dựa trên 2 kênh an toàn chủ động,
và 4 kênh an toàn thụ động Việc kết hợp các hệ thống an toàn chủ động và thụ động giúp dự án VVER-TOI đảm bảo rằng vùng hoạt sẽ không bị phá hủy tối thiểu trong vòng 72 giờ tính từ khi
sự cố ngoài thiết kế khởi phát, trong tình huống nghiêm trọng nhất
Các giải pháp kỹ thuật đảm bảo rằng lò phản ứng sẽ được đưa tới trạng thái an toàn khi xảy ra bất cứ một sự kiện khởi phát nào (do tự nhiên hoặc con người) làm mất toàn bộ nguồn điện cung cấp cho các thiết bị Điều này tăng đáng kể tính cạnh tranh của dự án ở cả thị trường trong nước và quốc tế
Hình 3 Tổ hợp thiết bị hệ thống vòng sơ cấp lò phản ứng VVER-1200, phiên bản VVER-TOI
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 93 Một số dự án nhà máy điện hạt nhân
loại AES-91, AES-92 và AES-2006
Dự án dự án nhà máy điện hạt nhân loại
AES-91 tại Trung Quốc
Năm 1992, LB Nga và CHDCND Trung
Hoa ký hiệp định liên chính phủ về hợp tác xây
dựng NMĐHN tại Trung quốc Năm 1997, hai
bên ký hợp đồng tổng thể về xây dựng NMĐHN
Điền Loan – một trong những công trình hợp tác
kinh tế lớn nhất giữa hai bên [2] Nhiệm vụ thiết
kế, cung cấp thiết bị và vật tư, đưa nhà máy vào
vận hành, đào tạo cán bộ cho phía Trung Quốc
được giao cho Công ty cổ phần AtomStroyExport
Nhà máy điện hạt nhân Điền Loan giai
đoạn 1 được xây dựng tại thành phố
Lianyun-gang, thuộc tỉnh Giang Tô Đây là nhà máy loại
AES-91 với hai lò phản ứng VVER-1000/V428
Tổ máy đầu tiên hòa vào lưới điện vào năm 2006
và đưa vào vận hành thương mại vào năm 2007
Tổ máy thứ hai được nối lưới điện vào tháng
5/2007 Tuổi thọ của nhà máy này theo thiết kế
là 40 năm
Nhà máy điện hạt nhân Điền Loan giai
đoạn 2 đã được Trung Quốc ký kết sơ bộ với
Công ty Atomstroyexport của Nga vào tháng
10/2006 Giai đoạn 2 xây dựng thêm hai tổ máy 3
và 4 sử dụng công nghệ AES-91 Hợp đồng EPC
xây dựng đã được ký kết trong tháng 10/2011 và
mẻ bê tông đầu tiên cho tổ máy số 3 đã được đổ
vào tháng 12/2012 Dự kiến 2 tổ máy này sẽ hoạt
động thương mại lần lượt vào năm 2018 và 2019
Dự án dự án nhà máy điện hạt nhân loại
AES-92 tại Ấn Độ
Nhà máy ĐHN Kudankulam được xây
dựng theo hiệp định liên chính phủ về hợp tác xây
dựng NM ĐHN tại Ấn Độ Đây là nhà máy loại
AES-92 với hai lò phản ứng VVER-1000/V412 Năm 2002, Công ty AtomStroyExport đã ký một loạt hợp đồng với Tập đoàn Năng lượng nguyên
tử Ấn Độ về lập hồ sơ thi công, lắp ráp, chạy thử, hiệu chỉnh; sản xuất và cung cấp thiết bị, vật tư cho tổ hợp lò phản ứng, tổ hợp tuốc bin – máy phát và các công trình phụ trợ khác Ngoài ra, hai bên còn ký các hợp đồng đào tạo cán bộ cho Ấn
Độ, cử chuyên gia Nga sang Ấn Độ tham gia xây dựng và hỗ trợ kỹ thuật [2]
Tổ máy số 1 đã vận hành vào ngày 13/7/2013 Dự kiến tổ máy số 2 sẽ vận hành sau
đã được ký kết giữa Iran và Bộ năng lượng Nga (Russian Ministry for Atomic Energy), với nhà thầu chính là Công ty Atomstroyexport Công việc xây dựng đã bị chậm một vài năm do lý do
kỹ thuật và tình hình tài chính, cũng như do sức
ép về mặt chính trị của phương Tây Chính phủ Iran đã đồng ý bồi thường việc tăng giá và lạm phát sau khi nhà máy được xây dựng xong Do
đó, việc xây dựng nhà máy đã được khôi phục lại vào năm 2007 Ngày 3/9/2011, nhà máy đã chính thức phát điện vào hệ thống lưới điện quốc gia của Iran Đây là nhà máy loại AES-92 với dùng
lò phản ứng VVER-1000/V446 [2]
Dự án dự án nhà máy điện hạt nhân loại AES-92 tại Bungaria
Trang 10Ngày 31/10/2006, Công ty điện lực
Bun-garia chính thức thông báo Công ty
AtomStroy-Export đã thắng thầu xây dựng NM ĐHN Belene
Đây là nhà máy loại AES-92 với dùng lò phản
ứng VVER-1000/V466B [2] Thiết kế của nhà
máy này đã tăng tuổi thọ thiết bị chính lên tới 60
năm; tăng cường khả năng chịu lực va đập của
lớp boongke nhà lò, kể cả máy bay hành khách
lớn rơi trúng lò phản ứng NM ĐHN Belene có
sự kết hợp độc đáo giữa hệ thống an toàn chủ
động và thụ động Tuy nhiên, ngày 11/6/2010,
Chính phủ Bulgaria tuyên bố sẽ đóng băng việc
kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân Belene
vô thời hạn vì không đảm bảo được tài chính đầu
tư vào dự án
Dự án dự án nhà máy điện hạt nhân loại
AES-2006 tại Belarusia
Belarus có dự định xây dựng dựng nhà
máy điện hạt nhân từ những năm 1980, tuy nhiên
sau sự cố Chernobyl, mọi kế hoạch bị dừng lại
Năm 2006, Chính phủ Belarus phê duyệt kế hoạch
xây dựng nhà máy điện hạt nhân 2000 MWe với
công nghệ lò nước áp lực Sau đó, Belarus đã mời
các công ty nước ngoài vào đấu thầu và tháng
8/2008 họ đã nhận được chào hàng của các công
ty lớn trên thế giới là công ty Atom StroyExport
của Nga, Westinghouse-Toshiba của Hoa Kỳ và
Nhật Bản, cũng như AREVA của Pháp Đối với
Hoa Kỳ, mọi hợp tác về xây dựng nhà máy cần
Hiệp định Liên Chính phủ (Hiệp định 123), đây
là trở ngại lớn cho Belarus vì quan hệ chính trị và
thương mại giữa 2 nước không tiến triển nhiều
năm qua Với tổ máy của AREVA (EPR1600),
do công suất quá lớn không thể phù hợp với hệ
thống điện của Belarus Do đó, hợp tác với Nga
có các điều kiện thuận lợi hơn cả
Năm 2009, Belarus thông báo sẽ xây
dựng nhà 2 tổ máy điện hạt nhân Ostrovets với công ty ASE của Nga là nhà thầu chính cùng các nhà thầu phụ Nga và Belarus Hiệp định cấp vốn vay cho dự án được ký kết tháng 8/2009 Hiệp định Liên Chính phủ về xây dựng nhà máy được ký kết tháng 3/2011, ASE sẽ xây 2 tổ máy VVER với thiết kế AES-2006 sử dụng lò VVER-1200/V-491 (Viện Thiết kế năng lượng nguyên tử
St Peterburg là đơn vị thiết kế), công suất mỗi tổ máy 1200 MWe Tổ máy thứ nhất khởi công năm
2013, vận hành năm 2019, tổ máy thứ 2 khởi công năm 2014, vận hành năm 2020 Tổng mức đầu
tư cả cơ sở hạ tầng dự toán khoảng 9.4 tỷ USD
Dự án dự án nhà máy điện hạt nhân loại AES-2006 tại Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ đang có kế hoạch xây dựng 4
tổ máy VVER thiết kế AES-2006, công suất 1200 MWe tại Akkuyu với công ty AtomStroyExport - ASE (Nga) Giá thành xây dựng ban đầu khoảng 18,7 tỷ USD Sau quá trình đàm phán, Nga tuyên
bố hỗ trợ tài chính toàn bộ nhà máy và tổng mức đầu tư tăng lên đến 22 tỷ USD Tuy nhiên vào giữa năm 2012, Rosatom đã nói rằng tổng mức đầu tư có thể tăng lên tới 25 tỷ USD
Tháng 12/2011, đơn vị quản lý dự án đã nộp đơn xin giấy phép xây dựng và xác định Công ty AtomStroyExport làm tổng thầu xây dựng Giấy phép xây dựng nhà máy dự kiến sẽ được cấp vào giữa năm 2014 Như vậy việc xây dựng nhà máy có thể bắt đầu vào năm 2015 hoặc tháng 1/2016 Tổ máy số 1 dự kiến vận hành vào năm 2021 Đây sẽ là nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của nước này
TS Lê Văn Hồng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 11Tài liệu tham khảo
1 Sergei B Ryzhov, Victor A Mokhov,
Mikhail P Nikitenko, George G Bessalov,
Al-exander K Podshibyakin, Dmitry A Anufriev,
Janos Gado, Ulrich Rohde, VVER-Type
Reac-tors of Russian Design, Volume 4: ReacReac-tors of
Generations III and IV, Handbook of Nuclear
En-gineering, © Springer Science+Business Media
LLC 2010
2 AtomStroyExport –ASE - RosAtom
3 http://en.wikipedia.org/wiki/Tianwan_
Nuclear_Power_Plant
4 S.K Agrawal, Ashok Chauhan, Alok
Mishra, The VVERs at KudanKulam, Nuclear
Engineering and Design 236 (2006) 812–835
5
http://en.wikipedia.org/wiki/Kudanku-lam_Nuclear_Power_Plant
6 AES-92 for Belene: The Mystery
Reac-tor, Antonia Wenisch, Austrian Institute of
Ecol-ogy, Vienna, wenisch@ecology.at, Vienna,
Feb-ruary 2007
7 Yury Ermakov, RosEnergoAtom,
Ol-ivier Rousselot, EDF, EUR volume 3 AES 92
subset, EUR seminar 2007, Nice, May 15 2007
8 Nuclear Power Technology
Considera-tion Project Science and Engineering Document,
RISK ENGINEERING LTD, Reference Number
REL-885-A2-0, December, 2012
9 The AES-2006 reactor plant – a
strate-gic choice, Experimental and Design
Organiza-tion Gdropress
10 Design AES-2006: Concept solutions
by the example of Liningrad NPP-2,
14 http://www.world-nuclear.org/info/Country-ProfilesPower/
Trang 12Phần I Đại cương về MTLT
Sức mạnh của máy tính lượng tử ở đâu?
Bước cơ bản trong tính toán lượng tử là
phép toán unita U trên trạng thái chồng chất
L-qubit gồm L L-qubit (quantum bit-bit lượng tử)
Phép toán U được thực hiện song song đối với tất
cả 2L biên độ phức Trong máy tính cổ điển một
phép toán như vậy đòi hỏi 2L bước tính cơ bản
cho mỗi biên độ
Chính tính chất song song lượng tử này
trong các máy tính lượng tử dẫn đến một gia tốc rất lớn nhiều bậc cho quá trình tính toán Đây là
ưu thế tuyệt đối của máy tính lượng tử so với máy tính cổ điển thông dụng hiện nay
Một đặc tính của các trạng thái lượng
tử, khác biệt với các trạng thái cổ điển là hiện tượng liên đới lượng tử (entanglement), theo đó
sự tương tác giữa các qubit làm phát sinh một
sự chồng chất liên kết (giao thoa) các trạng thái lượng tử Sự chồng chất này không thể đưa về tích của các qubit riêng lẻ Ví dụ khi kết hợp 2
GIỚI THIỆU MÁY TÍNH LƯỢNG TỬ TÔ-PÔ
(PHẦN I và II)
Máy tính lượng tử tô-pô (MTLTTP) sẽ là một sản phẩm kỳ diệu của khoa học lượng tử, toán học và công nghệ của thế kỷ 21 MTLTTP sử dụng việc tết (braid) những quỹ đạo tô-pô của các hạt anyon Chế tạo ra được MTLTTP sẽ làm thay đổi bộ mặt của khoa học, công nghệ hiện tại, tạo cơ sở cho nhiều lĩnh vực ranh giới tiền tiêu của nhận thức con người như lý thuyết mật mã, trí tuệ nhân tạo,… MTLTTP sẽ làm được những gì mà máy tính (MT) thông thường hiện nay không làm được MTLTTP liên quan đến nhiều lĩnh vực: toán học, vật lý lượng tử, vật lý chất rắn.
Trang 13qubit, ta không có một tích trực tiếp:
mà có những dạng như sau :
Các trạng thái
gọi là các trạng thái Bell, hoặc trạng thái EPR
hoặc cặp EPR, đặt theo chữ cái đầu tiên của tên
các tác giả Einstein, Podolsky & Rosen là những
người đầu tiên phát hiện ra các tính chất kỳ lạ của
những trạng thái đó
Nhiều tác giả còn dùng ký hiệu sau:
biểu diễn hàm sóng của hai hạt ,nếu xét đặc
trưng lượng tử là hình chiếu Sz của spin chẳng
hạn xuống trục z: thì m là hình chiếu của hạt thứ
nhất, còn n là hình chiếu của hạt thứ hai Khi m
& n = 0 ta có µ z = 1/2, spin hướng lên trên, khi m
& n = 1 ta có µ z = -1/2, spin hướng xuống dưới)
Ngoài cũng có một dạng ký hiệu nữa
được viết là α(1) (2)β , ở đây α(1) chỉ rằng hạt
1 nằm ở trạng thái α ứng với µz = ½, còn hạt hai
nằm ở trạng thái β ứng với µz = -1 /2
Mã hoá
Một tin mã hóa có nghĩa là một tin mà chỉ
riêng người gửi và người nhận biết được mà thôi
.Ví dụ một tin M có thể mã hóa qua E nhờ thuật
toán sau:
E = Ms mod c
Nếu c là tích của hai số nguyên tố p & q
thì người ta có thể chứng minh rằng M có thể bẻ khoá được theo thuật toán
M = Et mod c Trong đó t là một hàm số đơn giản của p & q Chỉ cần giữ bí mật p & q, các đại lượng khác có thể cho biết công khai Nếu c đủ lớn bẻ khoá bằng cách tìm p & q là một việc không làm nổi đối với máy tính cổ điển hiện dùng
Như vậy nếu dùng khóa công cộng (public key) tức dạng E = Ms mod c thì Alice không cần bảo cho Bob mã nào cả Còn Bob thì hiểu rằng muốn
bẻ khóa phải tìm cho được p & q, cho nên trước cả lúc truyền mật tin cho nhau Alice và Bob không cần báo cho nhau mã nào cả Alice truyền E = M
s mod c, một khóa công cộng là đủ, mọi người đều biết nhưng chỉ một mình Bob có đủ khả năng tìm ra p & q Lẽ dĩ nhiên nếu ai có đủ khả năng
và cổng CNOT tác động trên qubit-kép (hệ 2 bit)
Trang 14
DIGITBit lấy 2 trị số 0 và 1, điều này liên quan đến khái niệm digit
Một chữ số có thể viết nhiều cách ,tuỳ theo ta dùng cơ số nào
Ví dụ trong cơ số 10:
327 = 3.102 + 2.101 + 7.100 = 32710Còn trong cơ số 2 ta có :
327 = 1.28 + 0.27 + 1.26 + 0.25 + 0.24 + 0.23 + 1.22+ 1.21 1.20 = 1010001112
Ta cũng có thể dùng cơ số 16, vậy ta phải có 16 chữ số khác nhau để làm cơ số Người ta thường dùng:
0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, A, B, C, D, E, F
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 15A đóng vai trò của số 10, B đóng vai trò của số
11, C-12, D-13, E-14 và F-15
Trong cơ số 16 ví dụ ta có:
4616 = 2.161 + 14.160 = 2E16 (nhớ E đóng vai trò
của 14)
Bây giờ ta có thể định nghĩa digit = là
một con số nhỏ hơn số cơ số và nằm ở một vị trí
nhất định trong triển khai theo luỹ thừa của cơ số
(positional notation) Trong ví dụ cuối cùng 2 là
một digit, E là một digit, chú ý 2&E đều nhỏ hơn
cơ số 16 và nằm ở vị trí luỹ thừa bậc một và bậc
không của 16
Phần II Những cơ sở vật lý của MTLT
1/ Hiệu ứng Hall lượng tử phân số
Việc tìm ra Hiệu ứng Hall lượng tử phân
số (FQHE - Fractional Quantum Hall Effect) đã
đem lại giải Nobel 1998 cho các nhà vật lý: Robert
B.Laughlin, Horst L Stormer và Daniel C Tsui
Hiệu ứng này liên quan đến nhiều
elec-tron tương tác với nhau để tạo ra những hạt mới
có điện tích khác điện tích của electron Một điều
lạ là các số lượng tử ta cứ nghĩ rằng phải là số
nguyên hay bán nguyên thì ở đây ta gặp những
phân số như 2/5, 4/9, 11/7 thậm chí 5/23 Hơn
nữa các bit từ trường có thể kết dính với electron
tạo nên những hạt khác nữa Những hạt đa hợp
(composite particles) này có các tính chất hoàn
toàn khác các electron
Những hạt này có thể kết thành cặp như
các cặp electron trong siêu dẫn
Tất cả hiện tượng kỳ lạ đó xảy ra trong
một hệ 2-chiều tại nhiệt độ rất thấp và hiện diện
một từ trường Electron bị giam giữ trong một
chất rắn nằm ở giao diện của hai bán dẫn
netoresistance) R và trở Hall R H (Hall resistance)
Hình 1 Sơ đồ hình học của phép đo từ trở (mag-R H như hàm của dòng I và từ trường B V là hiệu thế dọc và V H là thế Hall Mật độ electron/cm 2
được ghi là n còn điện tích là e Những chấm đen biểu diễn electron bị ép về một phía của thanh (bar) theo lực Lorentz từ phía từ trường.
Hiệu ứng Hall (xem hình 1) được tìm ra bởi Edwin Hall (Đại học Johns Hopkins, Balti-more) Khi áp đặt một từ trường B thì xuất hiện một thế VH khác không Thế VH thẳng góc với thế
V Hall tìm thấy thế VH tỷ lệ với I và tỷ lệ với từ trường B Và ta có:
VH/I = RH= B/ne Đó là trở Hall Hiệu ứng đó được gọi là hiệu ứng Hall
Hiệu ứng lượng tử Hall nguyên (IQHE,
I = integer)
Trang 16Nếu thực hiện thí nghiệm Hall ở nhiệt độ
rất thấp (4K) và áp đặt một từ trường rất mạnh
(10T) vào một hệ electron 2-chiều chúng ta sẽ
phát hiện một sự phụ thuộc nhảy từng bước
của RH với từ trường và RH tại các đoạn bình
nguyên (plateau = đoạn nằm ngang) RH = h/ie2
trong đó i là số nguyên còn h là hằng số Planck
Đây là hiệu ứng lượng tử Hall nguyên (IQHE),
Khi electron bị giam giữ trong một không
gian 2 chiều ở nhiệt độ rất thấp và hiện diện từ
trường mạnh thì động năng của chúng trở thành
gián đoạn vì những mức lượng tử Landau
Hiệu ứng lượng tử Hall phân số (FQHE,
F = Fractional)
IQHE có thể hiểu được trên cơ sở chuyển động lượng tử của các electron trong không gian 2-chiều lúc có mặt từ trường Tương tác tĩnh điện (tương tác Coulomb) không đóng vai trò gì ở đây
vì ở đây ta có hiệu ứng các hạt đơn độc
Còn FQHE không thể hiểu được nếu chỉ xét các electron đơn độc trong từ trường
Hiện tượng FQHE có nguyên nhân ở tương tác giữa các electron Đây là hiệu ứng liên
hệ nhiều hạt Siêu chảy và siêu dẫn là những hiện tượng tương tự Và để hiểu FQHE cần những ý tưởng mới
Phần sau đây trình bày sự hình thành các hạt phức hơp (composite) giữa electron và từ trường
Từ electron đến lượng tử thông lượng (flux quanta)
Trong mô hình cổ điển 2D (2 chiều) các electron hành xử như những hòn billiard trên mặt bàn Trong thuyết lượng tử các electron không còn được phân biệt với nhau nữa Và từ trường
sẽ tạo nên những vòng quay lượng tử (quantized vortice) trong cái biển điện tích Một vòng quay cho một lượng tử thông lượng Φ =0 h e/ của từ trường
Hình 3 Các vòng tròn biểu diễn những vòng
netic flux quanta) Chú ý Φ0 = diện tích vòng quay × cho B như vậy mỗi vòng quay mang một
quay, mũi tên biểu diễn lượng tử từ thông (mag-lượng tử từ thông.
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 17Bức tranh electron và các vòng quay sẽ
giúp hiểu mối tương quan (correlation) giữa các
electron khi có mặt từ trường Tại tâm mỗi vòng
là electron
Khi từ trường mạnh lên sẽ có nhiều vòng
quay hơn electron Và năng lượng Coulomb sẽ
giảm bằng cách đặt nhiều vòng quay vào một
electron
Hình 4 Quá trình hút giữa electron và vòng quay
tại mức Landau phân số với ν = 1/3 (1 electron
với 3 lượng tử từ thông)
Đặt 3 vòng quay trên một electron làm
giảm sức đẩy Coulomb Sự kết hợp này tạo nên
các hạt phức hợp (composite)
Trên hình 4 ta thấy một electron hút 3
lượng tử từ thông và ta nói rằng thừa số lấp đầy
(filling factor) ν = 1/3 (1 electron với 3 lượng tử
từ thông)
Mỗi trị số của từ trường ứng với một thừa
số lấp đầy (filling factor ν = tỷ số giữa số
elec-tron và số lượng tử từ thông ), ν = p/q trong đó p
và q là 2 số nguyên không có thừa số chung Số q
thường là số lẻ trừ trong các thừa số lấp đầy như 5/2 Trong các trạng thái với ν =1/q giả hạt mang điện tích bằng e/q
Hạt composite
Electron + lượng tử từ thông được xem như là một thực thể mới gọi là hạt phức hợp (com-posite particle – CP) Từ trường được kết nhập vào trong CP Và dưới quan điểm CP ta không còn phải chú ý đến từ trường nữa Ta thấy sự kết hợp với lượng tử từ thông có thể biến một boson thành fermion và ngược lại Một liên tưởng là cặp Cooper trong siêu dẫn Một electron kết với một
số chẵn lượng tử từ thông trở thành một fermion composite FC Một electron kết với một số lẻ lượng tử từ thông sẽ thành một boson composite
BC
Những điều vừa nói chỉ có trong không gian 2-chiều: ở đây ta thấy một mối liên hệ sâu sắc giữa không gian và thống kê các hạt
Trong trường hợp FQHE các hạt không còn là những electron mà là những giả hạt mới lạ mang điện tích phân số
Hình 5 Nhiều phân số đã xuất hiện trong R H
Khối lượng CP không liên quan đến khối
Trang 18lượng của electron mà liên quan đến từ trường
đây là hệ quả của hiệu ứng hệ nhiều hạt
Hình 6 FQHE tại ν = 5/2 (mẫu số là số chẵn)
Người ta còn phát hiện trạng thái ν = 5/2
Đây là những trạng thái FQHE đặc biệt vì mẫu số
của thừa số lấp đầy lại là số chẵn Những trạng
thái này xuất hiện trong những hạt gọi là cặp
fer-mion phức hợp (composite ferfer-mion pairs)
Hệ electron 2-chiều trong từ trường mạnh
đã dẫn đến một vật lý hệ nhiều hạt hoàn toàn mới
Bị giam giữ trong không gian 2-chiều với sự có
mặt của từ trường, electron đã trình duyệt nhiều
tính chất quan trọng: xuất hiện nhiều trạng thái
electron với các số lượng tử phân số, sự kết dính
với từ thông, xuất hiện nhiều loại hạt tuân theo
hoặc thống kê Boson hoặc thống kê Fermi, khối
lượng có nguồn gốc thuần túy từ tương tác
elec-tron-electron Các electron đã tạo nên những hạt
mang điện tích phân số mà không phải do có sự
tách rời electron thành nhiều phần nhỏ hơn
2/ Hiệu ứng AHARONOV-BOHM (viết
tắt là AB)
Hiệu ứng Aharonov-Bohm là một hiện
tượng lượng tử trong đó một hạt mang điện bị
tác động bởi trường điện từ (E,B) mặc dầu chỉ
chuyển động trong một vùng không gian trong đó
cả hai trường E và B đều bằng không
Theo hiệu ứng AB một hạt mang điện tích
q khi chuyển động theo lộ trình P trong một vùng với từ trường B = 0 song A ≠ 0 (B= = ∇×0 A)
sẽ thu được một dịch pha:
Hình 7 Thí nghiệm hai khe để quan sát hiệu ứng Aharonov-Bohm Hai quỹ đạo sẽ chênh lệch pha
với nhau
Hai quỹ đạo có hai mút đầu và cuối như nhau chỉ tương đương nhau về mặt tô-pô nếu trong vùng mà hai quỹ đạo đó quét từ trường B =
0 song A ≠0 (xem hình 8)
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
Trang 19
Hình 8 Hai quỹ đạo sẽ không tương đương tô-pô
với nhau nếu trong vùng mà chúng giới hạn có
A ≠ 0
Hiệu ứng AB là hệ quả của điều kiện buộc
rằng vật lý lượng tử phải bất biến đối với điều
kiện chuẩn (gauge) cho thế điện từ, trong đó thế
vector từ (magnetic vector potential) A là một
thành phần
Trong hiệu ứng Aharonov-Bohm (AB)
quan trọng là thế điện từ (electromagnetic
poten-tial) (tức ( , )Φ A ) chứ không phải điện trường E
hay từ trường B
Hiệu ứng AB chứng tỏ rằng chính các
thế điện từ chứ không phải là từ trường hay điện
trường là những đại lượng cơ bản trong Cơ học
lượng tử
Hiệu ứng AB chứng tỏ rằng các trường E
và B không chứa đầy đủ các thông tin về trường
điện từ mà ta phải sử dụng thế 4-chiều
Trong phần III các bạn đọc sẽ thấy khi tết
(braid) quỹ đạo của hai anyon thì chúng thu được
một pha tô-pô tương tự như pha thu được trong
Tài liệu tham khảo
[1] Michael A Nielsen & Isaac L.Chuang Quantum computation and quantum information, Cambridge
[2] K.A.Valiev,A.A.Kokin ,Priroda, No
12, 2002
[3] Alastair I M Rae Quantum mechanics [4] I.V Bargatin ,B.A Grishanin, V.N Zadkov, Uspekhi Fizicheskikh Nauk, 7/2001
[5] Nobel Lecture: The fractional tum Hall effect, Horst L Stormer
quan-Department of Physics and quan-Department
of Applied Physics, Columbia University, New York, New York 10023 and Bell Labs, Lucent Technologies, Murray Hill, New Jersey 07974 [S0034-6861(99)00704-7]
[6] Aharonov-Bohm effect, Adrian Kaminski , 8th of June, 2005
Trang 20THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
1 ỨNG DỤNG ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ
TRONG CÔNG NGHIỆP
Ứng dụng các đồng vị phóng xạ trong
công nghiệp rất rộng lớn Ứng dụng điển hình là
sử dụng kỹ thuật nguồn kín để tạo ra các hệ thống
đo và tự động hóa trong các dây chuyền sản xuất
Nhiều kiểu loại đo bề dày dựa trên thực tế là tia
gamma bị suy yếu khi chúng đi xuyên qua vật
liệu Bằng cách đo số lượng tia gamma, người ta
có thể xác định được bề dày Qúa trình này được
ứng dụng trong những ngành công nghiệp thông
thường như là:
1 Ngành công nghiệp ô tô: Kiểm tra chất
lượng thép, xác định bề dày thích hợp của thiếc
và nhôm
2 Ngành công nghiệp hàng không: Kiểm tra những lỗ hổng trong động cơ phản lực
3 Ngành xây dựng: Xác định mật độ của mặt đường và bề mặt bên dưới
4 Công nghiệp dầu khí: Kiểm tra vết nứt
nẻ của các mối hàn đường ống, đo độ phóng xạ trong các giếng khoan dầu khí
5 Ngành công nghiệp khai thác dầu khí
và khoáng sản: Vẽ đường đồng mức các giếng khoan thử nghiệm và các lỗ khoan
Kỹ thuật hạt nhân và đồng vị phóng xạ ngày càng được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp có hiệu quả, trong vài trường hợp kỹ thuật này cung cấp những thông tin mà những kỹ thuật khác không thể làm được Phân tích liên tục và phản hồi kết quả nhanh của kỹ thuật hạt nhân cho thấy tiện ích của kỹ thuật này cũng như cung cấp số liệu tin cậy và liên tục, giảm chi phí.
CẶP NHẬT ỨNG DỤNG ĐỒNG VỊ PHÓNG
XẠ TRONG CÔNG NGHIỆP
Trang 216 Ngành công nghiệp cáp: Kiểm tra nứt
gãy cáp giây trượt tuyết
7 Đo mức phối liệu, độ ẩm, mật độ của
các dây chuyền sản xuất điện than, giấy, hóa chất,
đồ uống, xi măng
Kỹ thuật này cho phép thực hiện đo lường,
kiểm tra, thử nghiệm không làm ảnh hưởng đến
hệ thống công nghệ, đo trong điều kiện sản xuất
thực tế (nhiệt độ, áp suất, độc hại…)
2 CẶP NHẬT MỘT SỐ KỸ THUẬT
1/ Các kỹ thuật Neutron cho phân tích
Neutron từ một lò phản ứng nghiên cứu
có thể tương tác với các nguyên tử trong một mẫu
vật tạo ra phát xạ tia gamma, những tia này-khi
phân tích để xác định năng lượng đặc trưng và
cường độ-sẽ xác định ra chủng loại và số lượng
các nguyên tố hiện hữu Hai kỹ thuật neutron
chính đang được sử dụng hiện nay là Thermal
Neutron Capture (TNC) và Neutron Inelastic
Scattering (NIS) TNC xuất hiện ngay tức thì sau
khi một neutron năng lượng thấp bị một hạt nhân
hấp thụ, NIS diễn ra ngay khi một neutron nhanh
va chạm với một hạt nhân
Hầu hết các máy phân tích thương mại sử
dụng nguồn neutron californium-252 cùng với
thiết bị detector sodium iodide và chủ yếu nhạy
cảm với những phản ứng TNC Những máy phân
tích khác sử dụng nguồn Am-Be-241 và thiết
bị detector bismuth germanate, thiết bị này có
cấu hình của cả hai kỹ thuật TNC và NIS Phản
ứng NIS đặc biệt hữu hiệu đối với các nguyên
tố như là C, O, Al & Si, các nguyên tố này có
một tiết diện ngang thu tóm neutron năng lượng
thấp Thiết bị như vậy được sử dụng cho một loạt
phân tích trong các ngành công nghiệp xi măng,
khoáng sản và than
Một ứng dụng đặc biệt của NIS là ở nơi một đầu thăm dò có mang một nguồn neutron được hạ xuống trong một lỗ khoan-tại đây bức
xạ bị phát tán khi đầu dò chạm đến nền đất xung quang Vì hydrogen (là thành phần chủ yếu của nước) cho đến thời điểm này là nguyên tử tán xạ tốt nhất, số lượng neutron tán trở lại một detector gắn trong đầu dò là một hàm số của mật độ nước trong đất
Để đo mật độ đất và hàm lượng nước, một thiết bị di động với americium-241-beryllium tạo
ra tia gamma và neutron-tia này và neutron xuyên qua một mẫu đất để tới một detector (Các neutron phát sinh ra từ các hạt alpha tương tác với Be-9) Ứng dụng kỹ thuật này một cách tinh vi hơn đang được thực hiện tại các lỗ khoan thăm dò
2/ Các kỹ thuật tia Gamma & X trong phân tích
Sự lan truyền hay tán xạ tia gamma có thể được sử dụng để xác định trực tuyến hàm lượng tro trên băng truyền Sự tương tác tia gamma phụ thuộc vào số lượng nguyên tử, và tro có số lượng nguyên tử lớn hơn là than Phổ năng lượng của tia gamma-những tia này đã phát tán không đàn hồi
từ than-có thể đo được (Compton Profile sis) để xác định ra hàm lượng tro
Analy-Tia X từ một nguyên tố phóng xạ có thể tạo ra tia X phát huỳnh quang từ những vật liệu không phóng xạ khác Năng lượng từ những tia X huỳnh quang phát ra có thể xác định sự hiện diện các nguyên tố trong vật liệu, và cường độ năng lượng có thể chỉ ra số lượng của mỗi nguyên tố
Kỹ thuật này được sử dụng để xác định mức độ tập trung nguyên tố trong quy trình làm giàu khoáng sản Đầu dò có chứa đồng vị phóng
xạ và một detector được gắn trực tiếp vào trong
Trang 22THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HẠT NHÂN
dòng huyền phù Tín hiệu từ đầu dò được xử lý
sẽ cho biết độ tập trung của các nguyên tố đang
được giám sát, và có thể đo được độ đậm đặc của
huyền phù Các nguyên tố được phát hiện theo
cách này là sắt, nickel, đồng, kẽm, thiếc và chì
Nhiễm xạ tia X (XRD) là một kỹ thuật
khác được áp dụng để phân tích trực tuyến nhưng
không dùng các đồng vị phóng xạ
3/ Chụp ảnh phóng xạ Gamma
Chụp ảnh phóng xạ gamma giống như
máy chiếu kiểm tra hành lý bằng tia X ở sân bay
Lẽ ra cần máy cồng kềnh để tạo ra tia X, kỹ thuật
này tạo ra tia X bằng một viên vật liệu phóng xạ
nhỏ bé đựng trong một viên nang titanium kín
Viên nang được đặt vào một phía của đồ vật
được chiếu kiểm tra, phim được đặt ở phía bên
kia Tia gamma, giống như tia X, đi xuyên qua
đồ vật và tạo ra một hình ảnh trên phim Giống
như tia X cho thấy chỗ gãy xương, tia gamma cho
thấy những lỗ hổng, thiếm khuyết trong vật kim
loại đúc hay môi hàn Kỹ thuật cho phép các cấu
phần quan trọng được kiểm tra các khuyết lỗi bên
trong mà không làm hư hỏng cấu phần
Nguồn gamma dễ dàng vận chuyển hơn
là thiết bị tia X, như vậy ứng dụng tia gamma
chắc chắn thuận lợi nhiều nhất là ở những vùng
xa xôi hẻo lánh Trong khi nguồn tia X phát ra
một băng bức xạ rộng, nguồn gamma chỉ phát
ra vài bước sóng riêng rẽ Nguồn gamma cũng
có thể là nguồn năng lượng cao hơn nhiều so với
các nguồn khác ngoại trừ thiết bị tia X đắt tiền
nhất, và vì vậy kỹ thuật này có một lợi thế cho
chụp ảnh phóng xạ Tại những chỗ có vết hàn của
đường ống dẫn khí hoặc dầu, người ta đặt một
phim đặc biệt trên mối hàn ở phía ngoài đường
ống Một máy gọi là “máy bánh xích thu thập
thông tin ống” đem một nguồn phóng xạ kín vào bên trong đường ống tới chỗ có mối hàn Tại đó, nguồn phóng xạ được cho phơi chiếu từ xa và tạo ra một ảnh phóng xạ của mối hàn trên phim Phim này sau đó được tráng rửa và kiểm tra xem
có những lỗ thủng trong mối hàn không
Tia X có thể được sử dụng khi nguồn điện
có ở đó và vật thể cần được kiểm tra bằng nguồn tia X có thể đưa được tới nguồn tia X và chụp ảnh phóng xạ Đồng vị phóng xạ có lợi thế lớn là có thể đem đến tận nơi cần kiểm tra và không cần có nguồn điện Tuy nhiên, không đơn giản chỉ có thể ngắt nguồn gamma, mà phải giữ kín nguồn trong lúc sử dụng và khi không sử dụng
Thử nghiệm không phá hủy là một mở rộng ứng dụng của chụp ảnh phóng xạ gamma
để kiểm tra sản phẩm và vật liệu Ví dụ, bium-169 kiểm tra thép dày tới 15 mm và hợp kim nhẹ tới 45 mm, trong khi iridium-192 được
ytter-sử dụng đối với thép dày từ 12 đến 60 mm và hợp kim nhẹ tới 190 mm
4/ Đo lường
Cường độ của bức xạ từ một đồng vị bị giảm đi khi qua vật thể đặt giữa nguồn phóng xạ
và một detector Detector được sử dụng để đo sự suy giảm này Nguyên lý này có thể được dùng
để đánh giá sự hiện diện hoặc thiếu vắng, hoặc ngay cả để đo số lượng hoặc mật độ của vật liệu đặt giữa nguồn và detector Tính ưu việt của việc
sử dụng nguyên lý này để tiến hành việc xác định hoặc đo lường là không có sự tiếp xúc với vật thể cần đo
Nhiều ngành công nghiệp chế biến sử dụng phương pháp đo cố định bằng tia gamma
để giám sát và kiểm tra dòng các chất chảy trong đường ống, tháp chưng cất, v.v…
Trang 23Chiều cao của than trong một phễu có
thể được xác định bằng cách đặt những nguồn
gamma năng lượng cao tại các độ cao khác nhau
dọc theo một bên, hướng các chùm tia ngang qua
phễu nạp than Các detector được đặt đối diện với
nguồn sẽ ghi nhận sự dán đoạn của chùm tia và
như vậy xác định mức than trong phễu Sử dụng
các đồng vị phóng xạ để đo đồng mức như vậy rất
phổ biến trong công nghiệp
Các máy sản xuất phim plastic sử dụng
đồng vị để đo bề dày của phim plastic bằng hạt
beta Phim chạy với tốc độ cao giữa một nguồn
phóng xạ và một detector Cường độ tín hiệu
de-tector được sử dụng để kiểm tra bề dày của phim
plastic
Trong sản xuất giấy, phương pháp đo beta
được sử dụng để giám sát bề dày của giấy ở tốc
độ tới 400 m/s
Khi cường độ bức xạ từ một đồng vị
phóng xạ bị giảm đi khi chùm tia đi qua vật thể
nằm trong chùm tia, vài bức xạ phát tán trở lại
nguồn bức xạ Lượng bức xạ phát tán này liên
quan đến số lượng vật thể nằm trong chùm tia,
thực tại này được sử dụng để đo các đặc trưng của
vật thể, cụ thể là để đo bề dày phủ lên bề mặt của
vật thể
3 ĐỒNG VỊ PHÓNG XẠ CÔNG
NGHIỆP
Cho tới nay các nhà khoa học xác định
được khoảng 1.800 đồng vị phóng xạ, trong đó
có tới 200 đồng vị đang được sử dụng, hầu hết là
đồng vị nhân tạo, sử dụng thường xuyên nhất là
nguồn đồng vị: phát hạt alpha Po-210, Pu-239 và
Am-241; phát hạt beta Kr-85, Sr-90, Pm-147 và
Tl-240; phát gamma Co-60, Cs-137, Tm-170 và
Am-241; phát neutron Ra-Be, Po-Be và Am-Be
Sau đây là một số đồng vị phóng xạ được ứng dụng trong công nghiệp:
Các đồng vị xuất hiện tự nhiên:
Carbon-14: Là một công cụ nghiên cứu
quan trọng Được sử dụng để xác định tuổi đời của gỗ và các vật liệu chứa carbon khác (tới 20.000 năm) và nước ngầm (tới 50.000 năm) Trong nghiên cứu dược phẩm, được sử dụng là chất đánh dấu để đảm bảo là dược phẩm được chuyển hóa không tạo ra sản phẩm phụ gây nguy hại Cũng được sử dụng trong nghiên cứu vi sinh, nông nghiệp, kiểm soát môi trường
Chlorine-36: Được sử dụng để đáng giá
các nguồn chloride và tuổi đời của nước (tới 2 triệu năm)
Lead-210: Được sử dụng để xác định
thời gian hình thành lớp cát và đất tới 80 năm Tritium (H-3): Được sử dụng để xác định nước ngầm “non trẻ” (tới 30 năm)
Đồng vị phóng xạ nhân tạo:
Americium-241: Được sử dụng để xác
định tán xạ trở lại, trong nhiều detector khói, để
đo mức độ chì độc hại trong các mẫu sơn khô, xác định chiều cao nạp liệu và hàm lượng tro, xác định bề dày lá thép các và giấy, và giúp tìm ra nơi nào có dầu mỏ
Cadmium-109: Được sử dụng để phân
tích hợp kim kim loại trong kiểm tra hàng tồn kho và phân loại kim loại phế
Caesium-137: Được sử dụng cho kỹ
thuật đánh dấu phóng xạ để nhận dạng sói mòn đất và dịch chuyển đất, xác định mật độ và mức
độ chiều cao nạp liệu Cũng để khử trùng gamma
có cường độ thấp Để điều trị u biếu ung thư, xác định liều thuốc chuẩn cho dược chất phóng xạ, để