Giá dầu giảm mạnh có ảnhhưởng lớn đến kinh tế của một loạt các quốc gia như Nga, Ả RậpSaudi, Venezuela, làm lung lay vai trò của OPEC trên thị trườngdầu thô thế giới, đồng thời củng cố v
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH
QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
SỰ BIẾN ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU THẾ GIỚI NĂM 2014
VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Phạm Quang Huy
Mã sinh viên: 1111110066 Lớp: Anh 6 - Khối 2 KT Khóa: 50
Người hướng dẫn khoa học: ThS Trần Hồng Ngân
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẦU THÔ & GIÁ DẦU THẾ GIỚI
NĂM 2014 4
1.1 Tổng quan về dầu thô 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Tầm quan trọng của dầu thô trên thế giới 6
1.1.3 Đặc điểm của thị trường dầu thô 10
1.1.4 Các yếu tố có ảnh hưởng đến giá dầu thế giới 13
1.2 Giá dầu thế giới năm 2014 16
1.2.1 Biến động thị trường dầu thô thế giới trong năm 2014 16 1.2.2 Nguyên nhân 20
1.2.3 Ảnh hưởng của giá dầu đối với thế giới 26
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 28
2.1 Tác động vi mô 28
2.1.1 Ngành dầu khí 28
2.1.2 Ngành vận tải 34
2.1.3 Ngành điện 36
2.1.4 Đối với các ngành nghề khác 37
2.1.5 Đối với người tiêu dùng 38
Trang 32.2.1 Mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát lạm phát 40
2.2.2 Nguồn thu và cán cân ngân sách 41
2.2.3 Lợi ích của các thành phần kinh tế 41
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÁC ĐỘNG XẤU CỦA
GIÁ DẦU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 43
3.1 Dự báo giá dầu thế giới năm 2015 Cơ hội và thách thức .43 3.1.1 Diễn biến giá dầu thế giới trong những tháng vừa qua 44 3.1.2 Kết quả của cuộc chiến giá dầu 45
3.1.3 Dự báo giá dầu thế giới năm 2015 48
3.1.4 Cơ hội và thách thức với nền kinh tế Việt Nam 51
3.2 Các giải pháp cho nền kinh tế Việt Nam 52
3.2.1 Điều tiết linh hoạt giá xăng dầu trong nước 52
3.2.2 Thả nổi thị trường xăng dầu nội địa 54
3.2.3 Đảm bảo nguồn thu ngân sách 55
3.2.4 Nâng cao hiệu quả và sản lượng khai thác dầu thô .57 3.2.5 Đảm bảo tự chủ về năng lượng 58
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4A Hình
2013
Trang 5điều chỉnh.
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thế giới đang bị lệ thuộc vào dầu thô Các nhiênliệu được sử dụng phổ biến nhất như xăng, dầu diesel, dầu mazut,xăng máy bay… đều có nguồn gốc từ cracking và reforming dầu
mỏ Chính vì vậy, dầu thô là một tác nhân có ảnh hưởng tới tớikinh tế, địa – chính trị và an ninh năng lượng của các quốc gia trênthế giới Dầu thô là tài nguyên quý giá, là vũ khí chiến lược nhưngcũng là thảm họa với các quốc gia sở hữu nó Lịch sử đã chứngminh dầu thô và tài chính là 2 ngành duy nhất có thể gây ra khủnghoảng kinh tế thế giới
Trong thời gian qua, thị trường dầu thô thế giới diễn biến vôcùng phức tạp và khó lường, chịu ảnh hưởng bởi các quyết địnhmang tính chính trị của OPEC và Mỹ Giá dầu giảm mạnh có ảnhhưởng lớn đến kinh tế của một loạt các quốc gia như Nga, Ả RậpSaudi, Venezuela, làm lung lay vai trò của OPEC trên thị trườngdầu thô thế giới, đồng thời củng cố vị trí siêu cường số một của
Mỹ Cán cân quyền lực hoàn toàn có thể bị thay đổi vì dầu thô
Việt Nam là một quốc gia xuất khẩu dầu thô nhưng đồng thờicũng nhập khẩu dầu thô phục vụ 70% nhu cầu nội địa Vì vậy, giádầu thấp có tác động 2 chiều đến nền kinh tế Việt Nam Năm
2015, giá dầu thế giới tiếp tục duy trì giá thấp như năm 2014.Chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân về diễn biến giá dầutrong thời gian qua để đưa ra những dự báo giá dầu chính xác,trên cơ sở đó đưa ra những quyết sách kinh tế phù hợp
Trong phạm vi khóa luận tốt nghiệp của trường NgoạiThương, đã có một vài tác giả nghiên cứu về thị trường dầu thô thế
Trang 8giới Ví dụ như bài “Biến động dầu thô thế giới và ảnh hưởng đếnnền kinh tế Việt Nam năm 2008” của tác giả Trương Trần Giang,
SV K43, Đại học Ngoại Thương Trong khoảng thời gian sau đó, thịtrường dầu thô đã trải qua những biến động rất khó lường, xuấthiện thêm các nhân tố mới chi phối thị trường dầu thô như sự trỗidậy mạnh mẽ của nguồn dầu thô phi truyền thống Giá dầu giảmsốc vào giai đoạn khủng hoảng 2008 – điều mà vẫn chưa đượcphản ánh trong bài viết của tác giả Giang và vào năm 2014 Tácđộng của giá dầu đến nền kinh tế Việt Nam hiện nay rất khác sovới các giai đoạn trước Điều đó đặt ra một vấn đề hoàn toàn mớicần phải mô tả, phân tích Vì vậy, tác giả đã nghiên cứu và trình
bày bài khóa luận này với nhan đề: “Sự biến động của giá dầu thế
giới năm 2014 và những tác động đối với nền kinh tế Việt Nam”.
Dù vậy, vẫn có một số ít điểm tương đồng trong giải pháp dài hạn
mà 2 tác giả cùng đưa ra
Mô tả và phân tích diễn biến của giá dầu thế giới trong thờigian qua, chỉ ra những nguyên nhân và tác động của giá dầu đếnnền kinh tế thế giới và đặc biệt là nền kinh tế Việt Nam Từ đó, đề
ra những giải pháp nhằm khắc phục những ảnh hưởng xấu của giádầu đến nền kinh tế trong nước
Giá dầu chủ yếu được mô tả và nghiên cứu trong giai đoạn từđầu năm 2014 đến nay Nhờ đó, chúng ta có thể hiểu được bảnchất hiện tượng, dự báo diễn biến giá dầu trong thời gian tới vàđưa ra lời giải cho bài toán giá dầu
Trang 9Để phục vụ mục đích nghiên cứu, trong bài viết tác giả đã sửdụng phối hợp phương pháp phân tích định tính; phân tích, so sánh
số liệu và đồ thị; phân tích theo chuỗi thời gian
Nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương:
năm 2014
tế Việt Nam
của giá dầu đối với nền kinh tế Việt Nam
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và những góp
ý của ThS Trần Hồng Ngân, hiện là giảng viên khoa Kinh tế vàKinh doanh Quốc tế trường Đại học Ngoại Thương
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DẦU THÔ & GIÁ DẦU THẾ GIỚI NĂM 2014
1.1 Tổng quan về dầu thô
1.1.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏOPEC và cơ quan năng lượng Mỹ EIA, dầu thô là một hỗn hợp cáchydrocarbon tồn tại ở pha lỏng trong các vỉa dầu ngầm tự nhiên vàvẫn là chất lỏng ở áp suất khí quyển sau khi đi qua các thiết bịphân tách bề mặt Tùy vào đặc tính của dầu thô, nó cũng có thểbao gồm:
a Một lượng nhỏ các hydrocarbon tồn tại ở pha khí trong cácvỉa dầu ngầm tự nhiên nhưng là chất lỏng ở áp suất khí quyển saukhi bị thu hồi từ khí giếng dầu trong các thiết bị phân tách, sau đóđược hòa lẫn với dòng dầu thô
Bao gồm cả khí ngưng tụ (condensate) được thu hồi dướidạng chất lỏng từ các giếng khí đốt tự nhiên trong các thiết bịphân tách và sau đó được trộn vào dòng dầu thô;
b Một lượng nhỏ phi hydrocarbon tồn tại cùng với dầu, chẳnghạn như lưu huỳnh và các kim loại khác nhau;
c Khí nhỏ giọt và hydrocarbon lỏng được sản xuất từ cát hắc
ín, dầu cát, gilsonite, và đá phiến dầu
Dầu thô không bao gồm chất lỏng được sản xuất tại các nhàmáy chế biến khí tự nhiên
Hiểu một cách đơn giản theo định nghĩa trong SGK Hóa họclớp 11 ban nâng cao, dầu thô là hỗn hợp chất lỏng màu nâu, sánh,nhẹ hơn nước, có mùi xăng được khai thác từ dưới lòng đất chưaqua tinh lọc hóa dầu
Trang 11Dầu thô được tinh chế để sản xuất một loạt các sản phẩmdầu khí, bao gồm cả dầu sưởi ấm; xăng, dầu diesel và nhiên liệumáy bay phản lực; chất bôi trơn; nhựa đường; ethane, propane,butane; phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các chất dẻo
(plastic)… và nhiều loại nhiên liệu thành phẩm, các sản phẩm hóadầu khác
Hình 1.1 Trữ lượng dầu thô được chứng minh của thế giớinăm 2013
Nguồn: EIA (n.d.)
Dầu thô phân bố không đồng đều trên trái đất (hình 1.1) Cácquốc gia có trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới là Venezuela và ẢRập Saudi (trên 200 tỷ thùng), theo sau là Canada, Iran, Iraq vàKuwait Nga có trữ lượng được chứng minh là 80 tỷ thùng, Mỹ là33,4 tỷ thùng Nguồn dầu thô phi truyền thống (như dầu cát, dầu
đá phiến, dầu siêu nặng) có trữ lượng vượt xa nguồn dầu truyềnthống, nhưng khai thác phức tạp và tốn kém hơn nhiều Phần lớncác quốc gia thành viên OPEC đều nằm trong top những nước cótrữ lượng dầu lớn nhất thế giới, chiếm 81% của thế giới theo công
bố của chính nhóm này Việt Nam có trữ lượng được chứng minh là4,4 tỷ thùng, chiếm 0,3% của thế giới
Trang 12Ngày nay, dầu mỏ được khai thác từ rất nhiều mỏ khác nhau,chúng phân bố ở những nơi rất khác nhau về đặc điểm địa lý tựnhiên, bởi vậy mỗi loại dầu thô ở mỗi mỏ đều có sự khác biệt nhấtđịnh Để phân loại chất lượng của dầu, người ta thường dùng cácchỉ tiêu thương mại là tỷ trọng API và hàm lượng lưu huỳnh Dựavào tỷ trọng API và độ nhớt tương đối để phân ra “dầu nhẹ”,
“trung bình”, “dầu nặng”; hoặc dựa vào hàm lượng lưu huỳnh cótrong dầu ít hay nhiều mà phân ra “dầu ngọt”, “dầu chua”(Nguyễn Mạnh Thường, 2015) Dầu mỏ của Việt Nam thuộc loạidầu ngọt, nhẹ Giá dầu của Việt Nam cũng vì thế mà có giá trị giaodịch cao trên thị trường
1.1.2 Tầm quan trọng của dầu thô trên thế giới
Dầu không chỉ là một loại nhiên liệu Sức mạnh của loại nhiênliệu này thậm chí còn lớn hơn cả thị trường dầu mỏ trị giá hàngnghìn tỷ USD Đối với mỗi quốc gia, dầu không chỉ là vũ khí, là tàisản chiến lược mà còn là thảm họa Thị trường dầu thô đặc biệt ởchỗ, nó phản ánh rất nhiều điều về kinh tế và chính trị toàn cầu
1.1.2.1 Kinh tế
Nhu cầu về năng lượng là nhu cầu tối thiếu trong quá trìnhphát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Nhiên liệu hóa thạchvẫn là nguồn nhiên liệu phổ biến nhất và có giới hạn, trong khi nhucầu của quốc gia là rất lớn, đường cầu về dầu trở nên ít co dãn vớigiá Theo một số ước tính, trữ lượng dầu thô toàn thế giới chỉ đủcung cấp cho thế giới trong khoảng 50 năm nữa Tuy nhu cầu sửdụng năng lượng thế giới không tăng nhiều, nhưng tỷ trọng nhiênliệu hóa thạch vẫn ở mức cao, khoảng 80% Chỉ cần một sự khanhiếm nhỏ về dầu cũng gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh nănglượng của các quốc gia, ảnh hưởng đến các chỉ số đo sức khỏe của
Trang 13kinh tế như: tốc độ tăng trưởng giảm, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệpgia tăng, thậm chí dẫn đến một cuộc khủng hoảng kinh tế toàncầu Hậu quả của nó chồng chất và có tính chất đổ vỡ dây chuyền
do toàn cầu hóa và quá trình “phẳng hóa” giữa các quốc gia
Nhìn vào lịch sử, khủng hoảng khan hiếm dầu năm 1973 và
1979 – 1980 được coi là 2 cuộc khủng hoảng năng lượng lớn nhấtgây ra suy thoái kinh tế toàn cầu Do OPEC kiềm chế nguồn cungtrong thập kỷ 70 và các cuộc chiến ở Trung Đông, giá dầu tăng lênmức 35 USD/thùng vào năm 1981, gấp hơn 10 lần so với đầunhững năm 70 Giá nhiên liệu tăng đột biến làm giá cả hàng hóatăng mạnh, hậu quả là lạm phát tăng cao trong khi cầu tiêu dùngthấp Nền sản xuất suy yếu, các doanh nghiệp đóng cửa hàng loạt,
tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Cầu tiêu dùng tiếp tục bị thu hẹp, tạo ravòng xoáy suy thoái Nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn suythoái, tiêu biểu là đại gia Mỹ Lý thuyết Keynes không còn pháthuy tác dụng Năm 1980, lạm phát của Mỹ đã tăng lên mức đỉnh13,5%, Cục dữ trữ liên bang FED phải tăng lãi suất làm chậm tăngtrưởng cung tiền Cuộc khủng hoảng Iran (1981 – 1982) tiếp tụclàm kinh tế Mỹ trì trệ Iran cáo buộc Mỹ ủng hộ chế độ cũ, quyếtđịnh giảm xuất khẩu dầu thô, đồng thời tăng giá bán cho Mỹ Tỷ lệthất nghiệp tăng lên mức 7,8% và là 10,8% vào năm 1982 (Saga,2014) Hậu quả của suy thoái tồi tệ đến nỗi các ngành công nghiệp
xe hơi, nhà đất, và sản xuất thép của Hoa Kỳ đều liên tục sụt giảmtrong 10 năm sau, cho tới tận khi cuộc khủng hoảng giá dầu tiếptheo kết thúc
Các nước nắm giữ trữ lượng dầu thô lớn như Venezuela(24,7%), Ả Rập Saudi (22%), Iran (13,1%), Iraq (12%) có tiềmnăng rất lớn trong việc triển khai nền kinh tế dầu mỏ Xuất khẩudầu mỏ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP quốc gia Dầu thô làyếu tố quan trọng nhất trong hoạt động kinh tế của quốc gia, khi
Trang 14mà nó có thể chiếm khoảng 60 – 70% GDP Điều đó đồng nghĩa,khi giá dầu giảm nghiêm trọng, nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến cácquốc gia phụ thuộc nền kinh tế dầu mỏ, gây thâm hụt ngân sáchquốc gia và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Trong cuộc khủnghoảng sụt giá dầu năm 2014, Nga và Venezuela là 2 nước chịu ảnhhưởng vô cùng nặng nề Kinh tế Nga có thể bước vào suy thoái vàonăm nay trong khi Venezuela có thể vỡ nợ OPEC cũng chịu thâmhụt ngân sách rất lớn do biến động giá dầu trong thời gian qua
1.1.2.2 Chính trị
Dầu thô là cái cớ thường thấy của những cuộc chiến, nhữngxung đột chính trị và bất ổn kéo dài diễn ra trong suốt bốn thập kỷqua, chủ yếu ở Trung Đông – nơi được mệnh danh là “rốn dầu củathế giới” Không chỉ là xung đột giữa các quốc gia nội Trung Đông
mà còn có bàn tay can thiệp của các thế lực bên ngoài
Các cuộc chiến ở Trung Đông tiêu biểu là chiến tranh vùngvịnh 1990, chiến tranh tại Afghanistan và cuộc xâm lược Iraq năm
2003, với sự tham gia của liên quân do Mỹ cầm đầu Mỹ và phươngTây cũng nhúng tay vào một loạt các bất ổn chính trị ở Trung Đông
ví dụ như Mùa xuân Ả Rập, nổi bật với vụ lật đổ MuammarGaddafi ở Lybia năm 2011 và biểu tình, bạo loạn ở Ai Cập Mỹ đãtiến hành hàng loạt hoạt động bí mật mang tính chất phá hoại,nhằm thay đổi các chế độ chống đối thông qua bạo loạn, bắt cóc,giam giữ vô thời hạn và ám sát những người đứng đầu các tổ chứckhủng bố
Trong chiến dịch bão táp sa mạc năm 1990, người Mỹ muốnkhống chế khu vực dầu mỏ ở vùng Vịnh (vốn chiếm hơn 30% sảnlượng dầu mỏ của thế giới) Từ đó gây áp lực lên Nhật Bản và Tây
Âu – những nước phụ thuộc lớn vào nguồn dầu mỏ vùng Vịnh, buộcnhững đối thủ kinh tế này nằm dưới trướng của Mỹ Thông qua việc
Trang 15khuất phục Iraq, Mỹ có thể khẳng định vai trò siêu cường duy nhấttrên thế giới đồng thời có cơ hội thử nghiệm những loại vũ khí hiệnđại “Chiến tranh vùng Vịnh đã làm thay đổi trật tự ở Trung Đông,đồng thời tác động chung đến cục diện thế giới” (Đại Dương,2015)
Chiến tranh Afghanistan sau vụ 11/9, cuộc xâm lược Iraqnăm 2003 cũng do Mỹ cầm đầu thậm chí còn để lại những hậu quảnặng nề hơn, để lại một Afghanistan và một Iraq đầy bất ổn trongkhu vực, kéo theo sự trỗi dậy mạnh mẽ hơn trước của chủ nghĩakhủng bố như tổ chức Al-Queda và mới đây nhất là sự bành trướngcủa IS ở biên giới Iraq và Syria Cái cớ của Bush trong chiến tranhIraq là để giải giáp vũ khí hạt nhân, thứ mà sau đó đã không đượctìm thấy
An ninh năng lượng luôn là một trong những ưu tiên hàngđầu của các cường quốc trên thế giới Sau khủng hoảng dầu mỏlần thứ nhất vào năm 1973, các quốc gia trên thế giới đã nhậnthức được tầm quan trọng của an ninh năng lượng Dầu thô luôn làtrọng tâm trong chiến lược của Mỹ ở Trung Đông, nhằm đảo bảonguồn cung năng lượng cho quốc gia Các cuộc chiến dầu mỏ của
Mỹ và liên quân ở Trung Đông đã ngốn hàng trăm tỉ đô-la của Mỹ.Con gấu Nga từ sau sự sụp đổ của Liên Bang, đã sử dụng dầu mỏnhư một vũ khí về chính trị và kinh tế, lợi dụng sự phụ thuộc vàonguồn cung về dầu thô và khí đốt của châu Âu Nhiều tờ báo lớncòn suy đoán rằng cuộc khủng hoảng giá dầu lần này do Mỹ và ẢRập Saudi đang muốn “đì” Nga, Iran, Venezuela là các nước chốngđối Mỹ
Năm 2014 là một năm có nhiều biến động về giá dầu, ảnhhưởng không nhỏ đến cục diện chính trị và kinh tế của các quốcgia trên thế giới Tác giả sẽ trình bày trong phần 1.2.3 của bài viết
Trang 161.1.2.3 Môi trường
Ngành khai thác dầu thô luôn khiến thế giới phải đặt một dấuhỏi lớn về vấn đề ô nhiễm môi trường Hàng chục ngàn giếng dầutrên thế giới cháy cả ngày lẫn đêm mỗi ngày Kỹ thuật khai thácdầu từ đá phiến kết hợp khoan ngang và phá vỡ thủy lực tuy làmột cuộc cách mạng trong công nghệ khai thác dầu của nước Mỹnhưng cũng dấy lên hàng loạt sự phản đối từ phía người dân địaphương và các tổ chức môi trường trên nước nước Mỹ Trong kỹthuật khai thác dầu nói chung, người ta phải bơm hỗn hợp nước vàcác chất hóa học để tạo áp lực đẩy dầu lên, các chất thải của quátrình đó gây ảnh hưởng tới môi trường xung quanh, làm ô nhiễmnguồn nước
Dầu thô là nhiên liệu chính của thế giới, nhưng dù dưới bất kỳcách thức nào, quá trình sử dụng năng lượng luôn tuân theo côngthức đốt cháy các hydrocarbon sinh nhiệt/năng lượng cơ bản:
C X H Y + S + O 2 = CO 2 + H 2 O + SO 2 + nhiệt/năng lượng
biến đổi khí hậu và nóng lên toàn cầu Vì thế, chúng còn được gọi
núi lửa, nó tạo ra hiệu ứng nhà kính, làm ấm và ổn định khí hậudẫn đến sự sống Hoạt động núi lửa ngày nay giải phóng khoảng
do các hoạt động của con người tạo ra Các hiện tượng thời tiếtkhắc nghiệt, trái quy luật thông thường xảy ra càng thường xuyên
Tháng 6/2014 được ghi nhận có nhiệt độ nóng nhất trong lịch sử
134 năm qua, cao hơn 0,07 độ Celsius so với trung bình tháng 6của thế kỷ trước Năm 2014 rất có thể là năm nóng nhất từng được
Trang 17ghi nhận (Fritz, A., 2014) Việt Nam cũng nằm trong danh sách 4quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do hiện tượng nước biểndâng trong một vài thập niên tới.
Thế giới cũng đang đẩy mạnh sử dụng các nguồn năng lượngthay thế như năng lượng gió, mặt trời… thay cho các nguồn nănglượng hóa thạch sẽ cạn kiệt trong tương lai, không chỉ để đảm bảo
an ninh năng lượng mà còn vì các mục tiêu phát triển bển vững
1.1.3 Đặc điểm của thị trường dầu thô
Dầu thô là nguồn tài nguyên năng lượng hữu hạn và quý giá
Sự thiếu hụt hay việc sở hữu nguồn năng lượng hóa thạch này gắnliền với địa thế kinh tế – chính trị của các quốc gia Tuy nhiên, dầuthô lại phân bố không đồng đều giữa các châu lục và các quốc giatrên thế giới, có tới 49% dự trữ dầu thô nằm ở Trung Đông Châu
Mỹ Latin là 20%, Bắc Mỹ là 13%, châu Á và châu Phi tương đươngnhau ở mức 7 và 8%, cá biệt nhất là châu Âu chỉ sở hữu 1% lượng
dự trữ dầu thô toàn thế giới
Do phân bố không đồng đều, các quốc gia có trữ lượng lớn(như OPEC) lại có nhu cầu thấp trong khi các quốc gia có trữ lượngnhỏ (như châu Âu với chỉ 1%) lại có nhu cầu về năng lượng rất lớn.Điều này dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế dầu mỏ và thịtrường dầu thô thế giới Với lợi thế so sánh, các quốc gia có trữlượng dầu thô lớn xuất khẩu dầu sang các thị trường ở nước ngoàinhư châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ… và thu được nguồn ngoại tệkhổng lồ từ dầu mỏ
Ngày nay, ngành công nghiệp dầu mỏ đã phân chia dầu thôtheo khu vực mà nó được khai thác, mỗi khu vực có những nhómdầu có giá trị tương tự nhau Các loại dầu này được giao dịch vàtrở thành chuẩn benchmark để tham chiếu giá cho các hợp đồngmua bán dầu thô trên toàn thế giới Có thể kể đến:
Trang 18Dầu Brent – thực ra là hỗn hợp dầu từ các vùng khác nhau ởbiển Bắc: Brent, Forties, Oseberg and Ekofisk Dầu thô từ vùng nàynhẹ và ngọt, khiến chúng trở nên lý tưởng để tinh chế dầu diesel,xăng Brent hỗn hợp được vận chuyển bằng đường biển nên dễdàng đến được những nơi xa Gần 2/3 tổng số hợp đồng dầu thôtrên thị trường thế giới tham khảo theo Brent hỗn hợp, khiến nó trởthành dầu benchmark được sử dụng nhiều nhất (hình 1.2)
West Texas Intermediate WTI – là dầu được trích xuất từ các
mỏ dầu của Mỹ và được vận chuyển qua hệ thống ống dầu tớiCushing, Oklahoma Nguồn dầu thô trên đất liền là một trongnhững điểm yếu của dầu thô West Texas – khá là tốn kém để vậnchuyển ra ngoài nước Mỹ Bản chất dầu WTI nhẹ và ngọt hơnBrent, phù hợp để tinh chế xăng WTI vẫn là dầu benchmark chủyếu cho dầu thô tiêu thụ tại thị trường Mỹ
Dubai/Oman – Dầu Trung Đông dùng để tham khảo cho dầuthô có phẩm chất hơi kém hơn so với WTI và Brent Nó là 1 rổ sảnphẩm bao gồm dầu thô đến từ Dubai, Oman, Abu Dhabi Nó sánh
và chứa nhiều lưu huỳnh, nên nằm trong nhóm “chua”.Dubai/Oman là dầu Benchmark chính cho dầu ở vịnh Ba Tư, vậnchuyển đến thị trường châu Á
Tapis, là nhóm dầu được khai thác từ Malaysia, sử dụng làmchuẩn cho loại dầu nhẹ ở Viễn Đông Minas, được khai thác từIndonesia, được dùng làm tham chiếu cho loại dầu nặng ở ViễnĐông
Hình 1.2 Các loại dầu benchmark phổ biến và phạm vi ápdụng
Trang 19Nguồn: ICE (n.d.).
OPEC – Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ được mệnh danh
là “đế chế dầu mỏ”, kiểm soát thị trường dầu thô thế giới NhómOPEC gồm 12 nước thành viên, nổi bật là các nước Iran, Iraq,Lybia, Ả Rập Saudi, Venezuela, Ả Rập Saudi đang giữ vai trò “raquyết định” trong khối Các nước Mỹ, Nga, Canada, Canada,Yemen, Syria… là các quốc gia nằm ngoài OPEC cũng có sảnlượng/lượng xuất khẩu lớn
Do cách phân chia trên, mọi hoạt động giao dịch trên thịtrường dầu thô thế giới đều được quy về giá trị của dầu mỏ của nơi
mà nó được xuất xứ Nhu cầu năng lượng là rất lớn và liên tục, do
đó thị trường dầu thô cũng có tính chất liên tục, giao dịch với sốlượng lớn Giao dịch dầu thô dựa trên cơ sở các hợp đồng giaongay, tương lai và tùy chọn trong đó hợp đồng tương lai được sửdụng phổ biến nhất, giúp cho giá dầu thô ổn định hơn Giá trungbình mỗi thùng dao động trong khoảng trên dưới 100 USD/ thùng.Đặc biệt chỉ trong một năm trở lại đây giá dầu có xu hướng giảm,mạnh nhất là kể từ quý III/2014, giá dầu có lúc đã xuống dưới mức
50 USD cho một thùng Thị trường dầu thô là một thị trường rấtđặc biệt, khác biệt so với những hàng hóa, dựa trên tính thiết yếu,quan trọng và chiến lược của dầu đối với thế giới Thị trường dầuthô phản ánh những bất ổn về kinh tế, chính trị thế giới
Cung và cầu là 2 đại lượng ảnh hưởng trực tiếp đến giá dầu.Cung tăng thì giá giảm và ngược lại Còn cầu tăng thì giá tăng Cácquốc gia sản xuất dầu thô lớn nhất thế giới là Ả Rập Saudi, Mỹ,Nga, Venezuela và hầu hết các quốc gia thuộc OPEC khác Mỹ,Trung Quốc và Nhật Bản là những quốc gia tiêu thụ dầu thô lớnnhất thế giới Trung Quốc phải nhập khẩu lượng lớn dầu thô đểphục vụ mức tăng trưởng nóng như hiện nay, trong khi Nhật Bản là
Trang 20quốc gia có nguồn tài nguyên nghèo nàn, nhập khẩu dầu thô chosản xuất và tiêu dùng là đương nhiên
Kể từ đầu năm 2014, thị trường dầu thô thế giới luôn trongtình trạng thặng dư cung Đây là nguyên nhân trực tiếp khiến dầuthô mất giá trong thời gian qua Theo ước tính của OPEC thì thịtrường thế giới năm 2014 dư thừa 1,06 triệu thùng mỗi ngày (bảng1.1, trang 25)
Năm 2012, Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) đã chọndầu Brent Biển Bắc giao dịch trên sàn ICE làm tiêu chuẩn dự báogiá dầu thay vì dầu thô Mỹ WTI giao dịch trên sàn Nymex EIA chorằng, giá dầu thô WTI không còn phản ánh đúng mức giá mà cácnhà máy lọc dầu Mỹ phải chi trả cho nguyên liệu đầu vào DầuBrent hiện nay đang gặp phải vấn đề về sụt giảm nguồn cung
Trong bài viết này, tác giả sẽ ưu tiên sử dụng giá dầu BrentBiển Bắc đại diện cho giá dầu toàn cầu, theo xu hướng chung củathế giới Biến động giá dầu thế giới được nhắc tới trong bài viếtnày chính là biến động của giá dầu tham khảo Brent biển Bắc, chủyếu là giá dầu thô giao ngay được giao dịch trên sàn ICE, London
1.1.4 Các yếu tố có ảnh hưởng đến giá dầu thế giới
Hình 1.3 Giá dầu thô thế giới 1861 – 2013 và các sựkiện lớn
Trang 21Nguồn: BP (2014)
1.1.4.1 Các căng thẳng về địa – chính trị
Các căng thẳng về địa – chính trị có ảnh hưởng không nhỏđến giá dầu Bất ổn về chính trị gây ảnh hưởng đến sản lượng, làmgiảm cung dầu Sự thiếu hụt nguồn cung làm giá dầu giảm, ảnhhưởng xấu tới lợi nhuận của các nhà sản xuất và cung cấp dầu Giádầu tăng mạnh vào những thời điểm xảy ra chiến tranh như YomKippur, cách mạng Iran hay Iraq xâm lược Kuwait (hình 1.3)
Khi chiến tranh vùng vịnh nổ ra năm 1990, giá dầu WTI vàBrent đã tăng gấp đôi vào đầu năm 1990 và giảm xấp xỉ 30% vàocuối năm này Trong cuộc xâm lược Iraq của Mỹ năm 2003, giá dầuBrent tăng 7% và giảm 12% sau khi chiến tranh kết thúc
Các căng thẳng về chính trị dẫn đến sự gián đoạn về nguồncung dầu, làm tăng giá dầu thế giới Trong chiến tranh vùng Vịnh,cung giảm xấp xỉ 7% và là 3% đối với chiến tranh ở Iraq Tuy nhiêncăng thẳng ở Trung Đông năm 2013 cũng không ảnh hưởng nhiềuđến giá dầu do sản lượng của Mỹ tăng mạnh Mặc dù ảnh hưởngnhưng nếu nguồn cung dầu thế giới dồi dào, các căng thẳng nàycũng không ảnh hưởng nhiều tới giá dầu Các căng thẳng địa –chính trị năm 2014 không có ảnh hưởng đáng kể đến thị trườngdầu thô thế giới
1.1.4.2 Tăng trưởng kinh tế thế giới
Tăng trưởng kinh tế cũng là một nhân tố có tác động tới giádầu thế giới Khác với nhân tố địa – chính trị, nó tác động vào cầuthị trường dầu Khi tăng trưởng chậm lại, cầu tiêu dùng của mặthàng dầu thô giảm Vì thế mà giá dầu cũng giảm
Đại khủng hoảng những năm 30 được gọi là mẹ của tất cảcác cuộc khoảng hoảng tài chính, còn biết đến với tên “Khủng
Trang 22hoảng thừa” Nó kéo dài trong gần 10 năm, kéo theo cầu tiêu dùnggiảm, sản xuất trì trệ, nhu cầu về dầu suy yếu Một số cuộc khủnghoảng kinh tế có thể kể đến như khủng hoảng tài chính châu Ánăm 1997, suy thoái kinh tế năm 2000 và gần đây nhất là khủnghoảng tài chính toàn cầu năm 2008 – được coi là một trong nhữngcuộc khủng hoảng tài chính lớn nhất kể từ khủng hoảng 1930
Yếu tố thường thấy trong khủng hoảng kinh tế là tăng trưởngkinh tế giảm Cầu giảm, ảnh hưởng xấu đến giá Trong khủnghoảng kinh tế 2008 giá dầu giảm từ đỉnh 147 USD/thùng/ngày vàođầu tháng 7/2008 xuống 32 USD/thùng/ngày vào cuối tháng12/2008
Hiện nay, kinh tế châu Âu vẫn phủ bóng đen từ khủng hoảngkinh tế 2008 Nợ vẫn ở mức cao trong khi thất nghiệp không giảm
Cả Châu Âu lẫn Nhật Bản, nước tiêu thụ dầu thứ 3 thế giới, vẫnđang trong suy thoái Tăng trưởng kinh tế Nga rất mong manh Họ
là nhà tiêu thụ dầu thứ 4 thế giới Nga rất có thể sẽ bước vào suythoái trong năm 2015 Trong khi đó, tăng trưởng của Trung Quốc –quốc gia tiêu dùng dầu thô số 1 thế giới đã bớt nóng Đây là mộttrong những yếu tố làm giá dầu thế giới giảm trong năm qua
1.1.4.3 Sự lũng đoạn thị trường của liên minh cartel OPEC
OPEC (Organisation of petrolium exporting countries) – Tổchức các nước xuất khẩu dầu mỏ được thành lập vào năm 1960xuất phát từ ý tưởng của Bộ trưởng năng lượng Venezuela và ẢRập Saudi, với 5 thành viên sáng lập là Iran, Iraq, Kuwait, Ả RậpSaudi và Venezuela Trải qua thời gian với sự ra đi và tham gia củanhiều thành viên, OPEC hiện tại có 12 thành viên gồm chủ yếu cácquốc gia Trung Đông, hoạt động chịu ảnh hưởng của “anh cả” ẢRập Saudi Về bản chất, OPEC là một liên minh cartel gồm phần
Trang 23lớn là các quốc gia Ả Rập, các thành viên thực hiện một chính sáchdầu chung để điều chỉnh giá dầu có lợi cho mình và cạnh tranh thịphần OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên
để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầugiả tạo nhằm thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổnđịnh OPEC hiện đang nắm giữ 40% thị phần dầu thô thế giới,chiếm 81% trữ lượng dầu thô thế giới
Khi OPEC ra đời năm 1960, Mỹ là nước chi phối nhiều nhấttrên thị trường dầu mỏ với sự tồn tại của liên minh dầu thô “7 chịem” – 7 công ty dầu thô phương Tây lớn nhất chi phối thị trườnglúc bấy giờ Tuy nhiên, OPEC dần lấn át vai trò của Mỹ và thực sựthống trị trên thị trường sau khi nước Mỹ ban hành lệnh cấm xuấtkhẩu dầu thô nội địa năm 1971
Nhiều ý kiến cho rằng OPEC đang suy giảm vị thế của mình
do nguồn cung dư thừa từ các nguồn dầu thô không truyền thống.Tuy nhiên, OPEC vẫn luôn có ảnh hưởng rất lớn, có khả năng lũngđoạn thị trường Nhìn vào lịch sử, chúng ta có thể thấy được vai tròcủa OPEC trong việc nắm giữ giá dầu thế giới Ví dụ vào năm 1973,OPEC ngưng sản xuất dầu nhằm trừng phạt Mỹ và phương Tâytrong cuộc chiến Yom Kippur Kết quả là giá dầu danh nghĩa tăng
từ 3,5 USD/thùng lên 12 USD (WTRG, n.d.) Vai trò của OPEC đượcthể hiện xuyên suốt dòng thời gian giá dầu thế giới từ sau năm
1970 đến ngày nay Tất nhiên, không phải OPEC lúc nào cũng kiểmsoát tốt giá dầu Trong năm 1982 – 1985, OPEC đã thất bại trongviệc giảm sản lượng vì các quốc gia thành viên liên tục vi phạmhạn ngạch của mình Sau khi Ả Rập Saudi từ bỏ vai trò “swingproducer” của mình và nâng sản lượng từ 2 triệu lên 5 triệu thùng/ngày, giá dầu giảm xuống còn 10 USD một thùng vào giữa năm
1986 (WTRG, n.d.)
Trang 24Mặc dù thị phần OPEC đã suy giảm còn khoảng 40% thịtrường dầu thô thế giới (trước đây là 50%) nhưng với đường cầutương đối ít co dãn đối với thị trường thì sức ảnh hưởng của nó vẫncòn rất lớn Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng thời kỳ huyhoảng của OPEC đã chấm dứt do nguồn cung thế giới trở nên quádồi dào
1.1.4.4 Các tác nhân khác
Dự trữ dầu thô của các quốc gia xuất khẩu, nhập khẩu dầuthô lớn có tác động tới tâm lý thị trường và giá dầu thế giới Theoquy luật thị trường, khi dự trữ dầu thô tăng thì giá giảm và ngượclại Trong thực tế, Báo cáo dự trữ dầu thô hàng tuần của Mỹ do EIAcung cấp có tác động nhẹ tới giá dầu thế giới Tất nhiên, giá dầuchỉ biến động nhẹ trên thị trường giao ngay và giao sau Nó chủyếu tác động tới tâm lý thị trường
Đầu cơ cũng là một hiện tượng phổ biến trên mọi thị trườnghàng hóa và dầu thô không phải ngoại lệ Khi các nhà đầu tư có kỳvọng giá tăng trong tương lai, họ sẽ đầu tư mua dầu ở hiện tại đểkiếm lời từ chênh lệch giá Nhiều khi, đầu cơ mua vào với số lượnglớn kèm với những thông tin sai lệch gây nhiễu làm biến dạng thịtrường, tạo ra cầu ảo đầy giá dầu lên cao Trong trường hợp đó,đầu cơ có hại cho thị trường Thị trường dầu thô hiện nay đang ởtrạng thái “contango” nghĩa là giá dầu thô giao ngay thấp hơn giádầu thô kỳ hạn, nó rất hiếm khi xảy ra Điều này cho phép các nhàđầu cơ mua dầu tích trữ với giá rẻ sau đó bán ra ở mức giá caohơn Nó cũng phần nào giải thích cho nhu cầu dầu thô gia tăngtrong hiện tại
Sức mạnh của đồng USD cũng có ảnh hưởng lên giá dầu, vì
nó là mẫu số của giá dầu Thông thường, khi tỷ giá đô-la Mỹ tăngthì giá dầu giảm vì số tiền quy đổi từ đồng nội tệ ra USD sẽ ít hơn
Trang 25Năm 2014 – 2015 là giai đoạn đồng USD mạnh càng làm cho giádầu giảm sâu hơn.
1.2 Giá dầu thế giới năm 2014
1.2.1 Biến động thị trường dầu thô thế giới trong năm 2014
Năm 2014 là một năm có nhiều biến động nổi bật với cácxung đột vũ trang, bất ổn trên thế giới Bắt đầu năm 2014 là cuộcbiểu tình, lật đổ chính quyền thân Nga ở Ukraine dẫn đến sự thànhlập của cộng hòa Donetsk và Lugansk tự xưng, bán đạo Krym sátnhập vào Nga, kéo theo nội chiến ở miền đông Ukraine Nga bịphương Tây đưa các biện pháp trừng phạt về kinh tế
Ở biển Đông, vào 1/5/2014 Trung Quốc đưa trái pháp dànkhoan HD981 vào sâu thềm lục địa của Việt Nam, cách đảo TriTôn, quần đảo Hoàng Sa 18 hải lý, gây ảnh hưởng tới an toàn và tự
do hàng hải ở biển Đông (Anh Ngọc, 2014)
Năm 2014 là năm của chủ nghĩa khủng bố Tổ chức nhà nướchồi giáo tự xưng IS, thực chất là phiến quân hồi giáo dòng Sunny ởIraq mở rộng phạm vi hoạt động, chiếm đánh các thành phố ở biêngiới Syria Và Iraq, chiếm lấy Mosul – thành phố lớn thứ 2 Iraq làm
cơ quan đầu não IS đang muốn mở rộng ảnh hưởng của mình ratoàn Trung Đông, đe dọa trừng phạt Mỹ và phương Tây
Trang 26Thông thường, các căng thẳng này gây ảnh hưởng tới lượngcung dầu của các quốc gia có liên quan như Nga, Syria và Iraq làmcho dầu có xu hướng tăng giá Tuy nhiên, giá dầu thế giới lại đitheo một quỹ đạo ngược lại, giá dầu không những không tăng màcòn giảm mạnh vào 6 tháng cuối năm 2014 Những bất ổn nàykhông gây ảnh hưởng đáng kể tới nguồn cung dầu thế giới
Đồ thị 1.1 Giá dầu thô Brent trung bình tháng tính đếntháng 3/2015 (USD/thùng)
Giá năng lượng (nói chung), theo như các tính toán của ngânhàng thế giới, giảm 23% trong quý IV/2014, đợt giảm lớn nhất kể
từ quý IV/2008, khi suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu Giá dầugiảm 26% trong quý IV, trong khi than và gas tự nhiên giảm nhẹ7% và 1%
Thị trường dầu thô đang ở bước ngoặt lịch sử Sau khi daođộng trong biên độ nhỏ xung quanh 105 USD/thùng giữa năm
2011 và 2013, một trong những giai đoạn 3 năm ổn định nhấttrong thời gian qua, giá bắt đầu “ngụp sâu” vào nửa cuối năm
2014 Quyết định của OPEC, bỏ qua mục tiêu giữ giá, đã dẫn đếnmột cuộc khủng hoảng tụt giá dầu Giá dầu thô trung bình là 74,6USD/thùng vào quý IV/2014, giảm từ 100,4 USD/thùng vào quý
Trang 27trước Giá dầu tiếp tục giảm mạnh vào đầu năm 2015, trung bìnhdưới 50 USD/thùng (đồ thị 1.1)
Nguồn: World Bank (2015)
Trong ba năm rưỡi gần đây, sự mở rộng nhanh chóng củanguồn dầu thô phi truyền thống tại Bắc Mỹ đã bù đắp cho nhữnggián đoạn về nguồn cung của Trung Đông, hầu như là một đổi một(đồ thị 1.2) Chính nó đã giữ cho thị trường dầu thô thế giới được
ổn định và giá dầu trong khoảng từ 100 USD – 110 USD/thùng Tuynhiên, vào 6 tháng cuối năm 2014, một số loại dầu từng bị dừngsản xuất đã được bán ra trở lại, trong khi Hoa Kỳ tiếp tục duy trìtốc độ tăng trưởng sản lượng là 1 triệu thùng/ngày qua mỗi năm
Theo quy luật thị trường, Ả Rập Saudi – “anh cả” của liênminh OPEC sẽ cắt giảm sản lượng của OPEC nhằm ổn định giá dầu.Tuy nhiên, tại cuộc họp ngày 27 tháng 11/2014, OPEC đã quyếtđịnh giữ nguyên hạn ngạch hiện tại, với mục đích bảo vệ thị phầnthay vì lợi nhuận Quyết định chiến lược của OPEC đã gây ra sựđiều chỉnh giá do cung lớn nhất kể từ năm 1986
Đồ thị 1.2 Thay đổi trong cung dầu của một
số quốc gia kể từ quý IV/2010 (triệu thùng/ngày).
Trang 28Vì giá dầu giảm, sự khác biệt về giá giữa dầu West TexasIntermediate (WTI, giá dầu nội địa Mỹ) và Brent (thị trường thếgiới) đã gần như bị xóa bỏ từ 30% vào cuối năm 2011 còn 5% vàotháng 12 năm 2014 Khoảng cách lớn giữa 2 giá dầu xảy ra vàonăm 2011 và 2012 là do sản lượng dầu WTI tăng nhanh, đườngống dẫn dầu được xây dựng để vận chuyển các sản phẩm tinh chếtới vịnh Mexico Trong khi sự thu hẹp gần đây làm cho thị trườngdầu tương lai rơi vào trạng thái “contango” (đường cong dốc lênphía trên), khuyến khích mua dự trữ
Sản lượng đầu ra của các nước phi OPEC vẫn rất mạnh vì họ
đã đóng góp thêm 0,7 triệu thùng/ngày vào nguồn cung thế giới(trung bình của Brent, WTI và Dubai) trong năm 2012 và 1,3 triệuthùng/ngày năm 2013 Sản lượng tiếp tục tăng vào năm 2014, tới56,6 triệu thùng/ngày, tăng 2 triệu thùng/ngày trong năm này, vìsản xuất mở rộng ở Mỹ, Canada và Nga Mỹ cung cấp khoảng 3,5triệu thùng/ngày cho thị trường thế giới bắt đầu từ đầu năm 2011,nhờ phần lớn vào sự tăng trưởng sản lượng dầu đá phiến
Giá dầu giảm mạnh có thể làm suy giảm đầu tư và sản xuất
Số lượng dàn khoan dầu của Hoa Kỳ đã giảm 50% kể từ tháng10/2014, tuy nhiên sản lượng các tháng cuối năm 2014 vẫn khôngngừng gia tăng, khoảng 9 triệu thùng/ngày
Sản lượng tăng ở Iraq và Ả Rập Saudi đã bù trừ cho thiếu hụtsản lượng tại Libya và Nigeria trong năm 2014, làm cho sản lượngđầu ra của OPEC vẫn được duy trì là 30,3 triệu thùng/ngày vào quýcuối cùng của năm Tháng 12 là tháng thứ tám liên tiếp mà cungcủa OPEC vượt quá sản lượng đầu ra mục tiêu Cầu tiêu thụ dầuthế giới tăng 0,6 triệu thùng trong quý IV/2014, tất cả sự tăngtrưởng đến từ các nước phi OECD (0,9 triệu thùng/ngày so với -0,3triệu thùng/ngày của các nước OECD, đồ thị 1.3, trang sau)
Trang 29Nguồn:WorldBank (2015)
Ngược lại với 6 tháng cuối năm 2013, cầu của các nước OECDtrong suốt 4 quý năm 2014 giảm liên tục (đồ thị 1.3) Các nước phiOECD đã đóng góp tích cực cho nhu cầu dầu thô thế giới, mặc dùsức tiêu thụ của họ cũng giảm dần trong suốt năm 2014
Cung “thừa thãi” và cầu yếu dẫn đến kết quả là dự trữ dầuthô tăng Dữ trữ của OECD đã hồi phục ở mức khoảng 2.700 triệuthùng vào cuối tháng 12 năm 2014 và bây giờ vượt mức trung bìnhcủa 5 năm Dữ trữ tăng gần như liên tục trong năm 2014 kể từmức dự trữ thấp trong 9 năm trước đó Đối với OPEC, sản lượng dữtrữ của họ dễ dàng tăng trở lại mức 3,7 triệu thùng/ngày vào quýIV/2014
1.2.2 Nguyên nhân
Kể từ giữ tháng 6 năm 2014, giá dầu giảm liên tục từ mức tối
đa 115,19 USD/thùng và chạm đáy ở giá 45,13 USD/thùng vàotháng 1 vừa qua Đây là mức giảm kỷ lục, giảm liên tục 61% trong
Đồ thị 1.3 Tăng trưởng nhu cầu dầu thô thế giới (triệu thùng/ngày).
Trang 30vòng 7 tháng kể từ cuối năm 2008 Chênh lệch cung cầu thế giớitrung bình năm là 1,06 triệu thùng, đảo chiều so với năm 2013.
1.2.2.1 Nguồn cung dồi dào, bùng nổ sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ
Trong 3 năm vừa qua, giá dầu cao đã tạo ra sức hấp dẫntrong lĩnh vực khai thác và sản xuất dầu thô ở những nơi vốn đượccho là quá đắt đỏ để thăm dò như Bắc Cực và Đông Phi Cùng với
đó, các đột phá về kỹ thuật thăm dò và khai thác dầu cũng tạođiều kiện cho sự khai thác các nguồn dầu thô không truyền thống
ở những vùng trước đây có chi phí khai thác cao, nguy hiểm hoặcquá xa các thị trường sẵn có
Đồ thị 1.4 Sản lượng dầu thô Hoa Kỳ đến tháng1/2015 (nghìn thùng)
Nguồn: EIA (2015b)
Cụ thể, sản lượng dầu thô thế giới đang gia tăng, đặc biệt làtại Bắc Mỹ Do sự phục hưng của ngành khai thác dầu từ đá phiếnnhờ vào kỹ thuật khoan ngang (horizontal drilling) và phá vỡ thủylực (hydraulic fracturing), sản lượng dầu thô Mỹ tăng liên tục kể từ
Ja 20
May-2007
Se20 Ja 20
p-May-2008
Se20 Ja 20
p-May-2009
Se20 Ja 20
p-May-2010
Se20 Ja 20
p-May-2011
Se20 Ja 20
p-May-2012
Se20 Ja 20
p-May-2013
Se20 Ja 20
p-May-2014
Se20 Ja 20
p-0 50000 100000 150000 200000 250000 300000 350000
Tổng sản lượng dầu thô
Mỹ Texas và Bắc Dakota – 2 bang sản xuất dầu đá phiến lớn nhất nước Khác
Trang 31năm 2009, đặc biệt là từ năm 2013 trở đi Sản lượng dầu thô khaithác ở bang Texas và Bắc Dakota – 2 bang sản xuất dầu đá phiếnlớn nhất tăng gấp 3 lần trong vòng 4 năm, đóng góp khoảng 50%tổng sản lượng của Hoa Kỳ (đồ thị 1.4) Sản lượng dầu thô hàngtháng của Mỹ hiện nay đã tăng gần gấp đôi so với năm 2007, nhờ
có sự bùng nổ của nền sản xuất dầu đá phiến Mỹ Sản lượng dầuthô Mỹ trong tháng 2, 2015 là 258.662 nghìn thùng, tương đương
9238 nghìn thùng/ngày
Từđầunăm2014,sảnlượngdầu thô
đã vượtmức 8triệuthùng/ngày, tăng liên tục trong cả năm, đạt đỉnh 9320 nghìnthùng/ngày vào tháng 12 (đồ thị 1.5, trang sau) Sản lượng trungbình năm đạt mức 8680 nghìn thùng/ngày, tăng 16,3% so với năm
2013, 73,6% so với năm 2008 EIA tuyên bố Mỹ đã vượt Nga trởthành nhà sản xuất dầu và khí đốt lớn nhất thế giới, Ả Rập Saudichỉ đứng thứ 3
Nguồn: EIA (2015a, 2015c)
Đồ thị 1.5 Tương quan giữa sản lượng dầu thô Mỹ và giá
101.6197.09
87.43 79.44 62.34 47.76
Sản lượng dầu thô Mỹ Giá dầu Brent
Trang 32Kể từ năm 2009, dầu thô Mỹ lần đầu tiên có cung vượt cầusau nhiều năm Theo số liệu của Cục Thống kê Mỹ (USCB) và CụcThông tin Năng lượng Mỹ (EIA), xuất khẩu dầu thô của Mỹ đã tăng34% lên mức trung bình 502.000 thùng/ngày trong tháng 11/2014,mức cao kỷ lục kể từ năm 1920 Kỷ lục cũ là 455.000 thùng/ngàyđược xác lập vào tháng 3/1957
Trong khi đó, tại cuộc họp hội nghị OPEC vào tháng 6/2014,các Bộ trưởng đã thống nhất giữ nguyên sản lượng dầu thô trần là
30 triệu thùng/ngày cho đến hết năm nhằm xoa dịu những quanngại gần đây về nguồn cung và giá dầu, mặc cho những bất ổnchính trị ở Lybia và Iraq
Bất chấp giá dầu giảm, các quốc gia ngoài OPEC như Iran,Lybia… tăng sản lượng dầu lên 4 triệu thùng/ngày nhằm đáp ứngchi phí chiến tranh Nga vẫn giữ vững sản lượng của mình, khoảngtrên 10 triệu thùng/ngày Nguồn cung dư thừa làm giá dầu giảmsâu mặc cho các bất ổn chính trị ở Trung Đông
1.2.2.2 Nhu cầu yếu ớt do kinh tế thế giới ảm đạm
Trái với mức cung dầu dồi dào, nhu cầu về dầu thấp hơn dựkiến do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu Theo báo cáoMonthy Oil Market Research tháng 5 của OPEC, nhu cầu dầu thôthế giới năm 2014 ước tính là 9,32 triệu thùng/ngày (tăng 0,95triệu thùng/ngày so với năm 2013) và sẽ đạt mức tăng hàng nămchậm nhất kể từ lần giảm năm 2009
Suy thoái kinh tế vẫn phủ bóng đen lên kinh tế Nhật vàEurozone Nhu cầu của châu Âu đang ở ngưỡng thấp nhất kể từnhững năm đầu thập niên 90 Từ năm 2008 đến 2013, lượng dầutiêu thụ ở thị trường châu Âu đã giảm 11% Tăng trưởng toàn khu
Trang 33vực Eurozone năm 2014 chỉ khoảng 0,2% Ở Nhật, do dân số giànhanh, lượng dầu tiêu thụ tại Nhật Bản đã giảm 15% từ năm 2005đến 2013 Ngoài ra thì Nhật Bản đang tái khởi động một số nhàmáy điện hạt nhân, do đó kỳ vọng sẽ cắt giảm nhu cầu về dầutrong tương lai.
GDP của Trung Quốc trong năm 2014 chỉ đạt mức 7,5% –mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua Theo báo cáo thường niên
về dầu khí Trung Quốc của ICIS, nhu cầu về dầu của Trung Quốcchỉ tăng 1,1% – mức thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tiếptục đà giảm, trong quý I/2015 tăng trưởng của Trung Quốc chỉ đạt7% Trong các tháng cuối năm 2014, Trung Quốc vẫn chỉ tiêu thụkhoảng 10 triệu thùng dầu mỗi ngày Theo dự báo của IMF, tăngtrưởng của Trung Quốc tiếp tục giảm trong năm 2015 (Phúc Minh,2015) Tăng trưởng trong quý I/2015 vừa qua của Trung Quốc chỉ
là 7%, thấp nhất trong 6 năm trở lại đây, gợi ý rằng nhu cầu tiêuthụ sẽ không tăng Trung Quốc cũng đặt ra mục tiêu tốc độ tănglượng năng lượng tiêu thụ là 4,3%/năm trong 5 năm tới, thấp hơnmức 6,6% của giai đoạn 5 năm trước (ICIS, n.d.)
Mặc dù nhu cầu thấp nhưng nguyên nhân chủ yếu nằm ởcung dầu thô Chiến lược của OPEC và Mỹ không giảm sản lượngkhai thác, cũng như sự phục hồi sản lượng nhanh chóng của cácquốc gia bất ổn chính trị như Iraq khiến cung dầu thô thế giới rơivào trạng thái mà các nhà kinh tế học gọi là “inelastic” – cứngnhắc Vì vậy, dù nhu cầu dầu thô tăng nhẹ trong quý I năm nay thìgiá dầu vẫn không phục hồi đáng kể Cung, cầu dầu thô vẫn chênhnhau 1,06 triệu thùng/ngày theo số liệu của OPEC (bảng 1.1) Giádầu hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào sản lượng dầu thô của Mỹ
1.2.2.3 Chiến thuật của Ả Rập Saudi và OPEC
Trang 34Thị phần của OPEC giảm dần trong những năm gần đây docác nước phi OPEC như Mỹ, Canada, Nga tăng sản lượng, nổi bật làcách mạng dầu đá phiến Mỹ Riêng với Ả Rập Saudi, do nhu cầunội địa Mỹ giảm, quốc gia này mất 50% khách hàng Mỹ và 50% vớiTrung Quốc kể từ đỉnh cao gần nhất do nhu cầu năng lượng củaTrung Quốc giảm
Sản lượng dầu thô tăng nhanh của Mỹ đang ăn vào “miếngbánh” thị phần của OPEC Điều này có lợi cho các nhà sản xuấtdầu thô Mỹ nhưng lại ảnh hưởng xấu tới các nước OPEC như Ả RậpSaudi vốn đang cắt giảm sản lượng Họ quyết định đánh đổi lợinhuận trong ngắn hạn để chiếm lại miếng bánh thị phần đã mất.Bằng cách chấp nhận giá dầu thấp hơn và giữ vững thị phần, ngườiSaudi kỳ vọng sẽ làm giảm hoặc ngừng việc khai thác nguồn dầuthô không truyền thống của Mỹ và Canada, gây tổn hại cho các đốithủ (Iran, Iraq), cản trở khả năng của Nga viện trợ cho chế độAssad ở Syria
Theo Antoine Halff, phụ trách bộ phận dầu thô và thị trườngtại Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA),” OPEC không còn hànhđộng như một “swing producer” như trong thập niên trước là giảmsản lượng khi thặng dư cung, mà đang để cho giá dầu giảm đểđánh giá xem nền sản xuất dầu thô Mỹ có thể chịu được giá dầuthấp hơn không” (Zhdannikov, D., Sheppard, D., 2014) Cho đếnthời điểm hiện tại, sản lượng dầu thô của Mỹ vẫn đứng vững 9,2triệu thùng/ngày
Với tiếng nói mang tính quyết định ở OPEC, Ả Rập Saudi đã
ép các quốc gia thành viên OPEC trong cuộc họp hội nghị bộtrưởng hồi cuối năm ngoái, nhằm giữ vững sản lượng dầu thô trần
là 30 triệu thùng/ngày, mặc cho sự phản đối của một số quốc giathành viên như Venuezuela Nội bộ OPEC bắt đầu có sự chia rẽ.Sản lượng dầu thô của OPEC vẫn ở mức 30 triệu thùng/ngày kể từ
Trang 35năm 2013, khi giá dầu là 108,56 USD/thùng và khi giá xuống 62USD/thùng vào thời điểm cuối năm 2014 (Bảng 1.1, trang sau)
Bảng 1.1: Cán cân dầu thô thế giới tính đến hết năm 2014(triệu thùng/ngày)
a Nhu cầu dầu thô thế giới 90,37 90,23 90,22 91,99 92,82 91,32
Cung phi OPEC 54,31 55,77 56,07 56,36 57,71 56,48
OPEC NGL và phi truyền thống 5,65 5,75 5,87 5,84 5,86 5,83
b Tổng cung dầu thô không kể OPEC 59,96 61,52 61,95 62,19 63,58 62,31
Chênh lệch (a - b) 30,41 28,71 28,28 29,79 29,24 29,01
Sản lượng dầu thô OPEC 30,23 29,88 29,81 30,32 30,29 30,07
Nguồn: OPEC (2015)
Mục đích của Ả Rập Saudi và OPEC đã quá rõ ràng khi cácnước này muốn dùng sức ép về giá để chiếm lĩnh thị phần vốnđang ngày càng sụt giảm của mình Quốc gia vùng Vịnh này đãtuyên bố họ sẵn sàng nhìn giá dầu tiếp tục rơi để bảo vệ thị phầncủa mình Thị phần toàn cầu của khối OPEC hiện nay chỉ cònkhoảng 40%, giảm xuống từ mức 1/2 của cách đây 20 năm, do sựxuất hiện của công nghệ khai thác dầu đá phiến tại Mỹ, các nguồncung mới từ Nga và Nam Phi tạo nên sự thừa thãi Cuộc chiến khốcliệt giữa các nhà tư bản sản xuất dầu thô Mỹ (shalemen) và cácông hoàng Ả Rập (sheiks) khiến cho thị trường dầu thô từ chỗ đang
Trang 36ám chỉ rằng Mỹ và châu Âu đang chơi xỏ Nga Tuy nhiên, bản thân
Mỹ và Ả Rập Saudi cũng phải chịu sức ép rất lớn từ giá dầu thấp.Rất có thể đây chỉ đơn giản là một thuyết âm mưu được đưa ra đểgiải thích cho những diễn biến bất thường hiện nay của giá dầuchứ không có một căn cứ xác đáng
1.2.2.5 Đồng USD tăng giá
Ngoài các yếu tố chính thì việc đồng Đô-la giữ giá trong thờigian qua cũng góp phần làm giá dầu giảm vì nó là mẫu số của giádầu Đồng Đô-la mạnh cũng đồng nghĩa là các giá trị của dầu thôthấp hơn, vì quy đổi tiền nội tệ sang USD ít hơn Đồng Đô-la tiếptục tăng giá trong năm 2015 Nó và giá dầu là những yếu tố cóảnh hưởng đến kinh tế thế giới năm 2015 theo báo cáo WorldEconomic Outlook tháng 4 của IMF
1.2.3 Ảnh hưởng của giá dầu đối với thế giới
1.2.3.1 Ảnh hưởng về kinh tế
Giá dầu giảm thê thảm có ảnh hưởng không nhỏ đến cácnước xuất khẩu và sản xuất dầu thô lớn trên thế giới Đối với cácquốc gia có nền kinh tế quốc dân phụ thuộc nhiều vào dầu thô nhưNga, Venezuela hay các quốc gia Trung Đông thì ảnh hưởng củaviệc giá dầu lao dốc đến 50% giá trị là rất lớn, làm thâm hụt ngânsách quốc gia Nguồn thu từ dầu thô của Nga bốc hơi 50% vì giádầu giảm còn 60 USD/thùng trong khi giá cơ sở để xây dựng ngân
Trang 37sách của Nga là 110 USD/thùng Nga bắt đầu bước vào suy thoáivào cuối năm 2014, ngân sách thâm hụt, đồng rúp mất giá trongnăm 2014 Các quốc gia OPEC khác như Ả Rập Saudi, Kuwait, Iraq,Lybia… cũng phải chịu thiệt hại thâm hụt ngân sách rất lớn Ngànhsản xuất dầu đá phiến Mỹ đứng trước nguy cơ phải đóng cửa dogiá dầu thấp hơn giá hòa vốn, gần 1000 mỏ dầu phải ngừng hoạtđộng so với cùng kỳ năm ngoái
Trong khi đó các quốc gia nhập khẩu dầu thô và nhiên liệulại được hưởng lợi từ giá dầu thấp Nhật và Trung Quốc là các nướcđược lợi nhiều nhất từ vụ này Trung Quốc hiện nhập khẩu trungbình 10,3 triệu thùng mỗi tháng, đối với Nhật là 4,53 triệu thùngchỉ đứng sau Mỹ, theo số liệu của EIA
Giá dầu thấp thực sự là một cú hích đối với nền kinh tế thếgiới Hàng nghìn tỷ USD chuyển từ các nhà sản xuất dầu sangngười tiêu dùng, số tiền này được chuyển sang tiêu dùng và đầu
tư Giá hàng hóa giảm, tỷ lệ phát được cải thiện Các chính phủ cóthể sử dụng công cụ tiền tệ nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Theobáo cáo World Economic Outlook tháng 4 của IMF thì biến động tỷgiá và các bất ổn địa chính trị là rủi ro của tăng trưởng kinh tế thếgiới, nhưng giá dầu thấp lại thúc đẩy tăng trưởng Lịch sử cho thấydầu mỏ và tài chính là hai ngành duy nhất có khả năng đẩy thếgiới vào suy thoái
1.2.3.2 Ảnh hưởng về chính trị
Dầu thô năm 2014 – 2015 đang rớt giá nghiêm trọng Người
ta không còn nhắc đến một thế giới “khát dầu” mà là “ngập trongdầu” Thế giới đang phải chứng kiến cuộc cạnh tranh quyết liệt vềsản lượng giữa OPEC – kẻ thống trị thị trường và Mỹ – kẻ tháchthức mới nổi Vai trò của OPEC về kinh tế, chính trị mong manhhơn bao giờ hết Fracking – kỹ thuật khai thác dầu từ đá phiến thực
Trang 38sự là một cuộc đột phá về năng lượng của người Mỹ nhưng cũng làmột bước ngặt đối với cục diện chính trị thế giới Nếu người Mỹ tựchủ được về năng lượng trong tương lai nhờ fracking thì Mỹ sẽcủng cố được ngôi vương của mình, các chiến lược của Mỹ ở TrungĐông cũng thay đổi Trong khi đó, giá dầu thấp tạo sức ép lên Nga– đối trọng của Mỹ, khiến kinh tế Nga suy thoái Vũ khí dầu củaNga bị vô hiệu hóa Trước áp lực thâm hụt ngân sách, Iran sẽ sớmphải ký một thỏa thuận hạt nhân với Mỹ và châu Âu để dỡ bỏ lệnhcấm xuất khẩu dầu thô Venezuela, kẻ chống đối số 1 ở sân saucủa Mỹ cũng đang khốn đốn vì giá dầu Về khía cạnh chính trị, thìngười Mỹ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự kiện này “một mũi têntrúng nhiều đích” Rất có thể đây lại là một âm mưu nham hiểmkhác của Mỹ
Trang 39CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA GIÁ DẦU THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
2.1 Tác động vi mô
Theo dữ liệu của BP năm 2013, Việt Nam có trữ lượng dầuthô được chứng minh khoảng 4,4 tỷ thùng – tương đương 0,3% trữlượng dầu thô của thế giới, đứng thứ 2 Đông Á chỉ sau Trung Quốcvới 12 tỷ thùng (hình 1.1, trang 5) Việt Nam có tỷ lệ trữ lượng dầutrên sản lượng R/P (Reserves-to-Production) cao nhất trong số cácnước ASEAN và trong Châu Á Thái Bình Dương Tuy nhiên, trữlượng khí tự nhiên chứng minh của Việt Nam đạt chỉ 0.6 nghìn tỷmét khối, đứng sau Indonesia và Malaysia Các bể dầu của ViệtNam chủ yếu nằm ở phía nam Việt Nam với trầm tích, địa hìnhphức tạp (hình 2.1)
Hình 2.1 Các bể dầu khí Việt Nam
Trang 40
Nguồn: VPBS (2014)
Việt Nam có 7 loại dầu thô được sản xuất từ các mỏ dầu khácnhau: Bạch Hổ, Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, BungaKekwa/CáiNước và Sư Tử Đen Chúng đều có chất lượng tốt, cao hơn so vớitiêu chuẩn Brent trên thị trường thế giới Dầu thô của Việt Namchủ yếu là loại ngọt nhẹ, với mật độ 380 đến 402 tỷ trọng API vàhàm lượng lưu huỳnh thấp (0,03-0,09%), bán được với giá cao trênthị trường toàn cầu Tuy nhiên, dầu thô Việt sản xuất gần đây bịgiảm giá trị do chứa hàm lượng thủy ngân cao Khí đốt tự nhiên tạiViệt Nam hiện đang được khai thác từ 20 mỏ trong ba bể trầm tích
Ngành khai thác dầu khí của Việt Nam có tiềm năng đáng kể
Kể từ năm 1987 – lần đầu tiên Việt Nam bán dầu thô ra thị trườngquốc tế, ngành dầu khí đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽcho đến nay, đóng góp không nhỏ cho GDP (khoảng 30% GDP);đóng góp cho ngân sách quốc gia 98,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12%theo số liệu của tổng cục thống kê năm 2014 Vì thế mà nhữngbiến động về giá dầu trên thế giới trong năm vừa qua đã làm dấylên những lo ngại về ngành dầu khí nội địa, ảnh hưởng đến nguồnthu ngân sách
2.1.1.1 Hoạt động xuất nhập khẩu dầu thô và xăng dầu thành
phẩm
Năm 2014 là một năm có nhiều biến động về giá dầu, từ sự
ổn định của giá dầu trong 6 tháng đầu năm và lao dốc liên tụctrong 6 tháng cuối năm Trước tình hình đó, giá dầu xuất khẩu củaViệt Nam cũng sụt giảm theo đà giảm của giá dầu thế giới Do cóchất lượng tương đương Brent nên giá dầu thô Việt Nam xuất khẩucũng khá tương đồng với giá dầu FOB Brent (đồ thị 2.1)