Các thành viên trong các diễn đàn quốc tế và khu vực không ngừng gia tăng,song hành với số lượng các cam kết được ký kết và triển khai trên phạm vi thế giới.Trong số các nội dung được đà
Trang 1KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
SO SÁNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM VÀ QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH THUẬN LỢI HÓA
THƯƠNG MẠI CỦA WTO
Họ và tên sinh viên : Hoàng Thị Thúy Hường
Trang 2CỦA WTO 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về thuận lợi hóa thương mại 4
1.2 Nguyên tắc và ý nghĩa của thuận lợi hóa thương mại 7
1.2.1 Nguyên tắc của thuận lợi hóa thương mại 7
1.2.2 Ý nghĩa của thuận lợi hóa thương mại 8
1.3 Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO 9
1.3.1 Giới thiệu về Tổ chức Thương mại thế giới 9
1.3.2 Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO 10
1.3.2.1 Quá trình đàm phán 10
1.3.2.2 Nội dung cơ bản của TFA 12
1.3.2.3 Lộ trình thực hiện TFA 13
1.3.2.4 Ý nghĩa của TFA 15
1.3.2.4.1 Đối với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO 15
1.3.2.4.2 Đối với các quốc gia 16
CHƯƠNG 2: SO SÁNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM VỀ THUẬN LỢI HÓA THƯƠNG MẠI VÀ TFA CỦA WTO 18
2.1 Giới thiệu về pháp luật Hải quan Việt Nam 18
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam 18
2.1.2 Thuận lợi hóa thương mại trong pháp luật Hải quan Việt Nam 19
2.1.2.1 Mục tiêu của Chính phủ và Hải quan Việt Nam 19
2.1.2.2 Các văn bản pháp luật chính về thuận lợi hóa thương mại 21
2.2 So sánh TFA của WTO và pháp luật Hải quan Việt Nam về thuận lợi hóa thương mại 22
2.2.1 Về minh bạch và các khiếu kiện 22
Trang 32.2.1.1.1 Công bố thông tin 23
2.2.1.1.2 Thông tin sẵn có qua mạng Internet 23
2.2.1.1.3 Điểm giải đáp 24
2.2.1.1.4 Thông báo 25
2.2.1.2 Cơ hội góp ý, thông tin trước và tham vấn 26
2.2.1.3 Xác định trước 27
2.2.1.4 Khiếu nại hoặc khiếu kiện 29
2.2.1.5 Các biện pháp khác để tăng cường công bằng, không phân biệt đối xử và minh bạch 31
2.2.1.5.1 Thông báo để tăng cường kiểm soát hoặc kiểm tra 31
2.2.1.5.2 Tạm giữ 32
2.2.1.5.3 Thủ tục kiểm định 33
2.2.2 Về thủ tục và phí nhập khẩu/xuất khẩu/quá cảnh 35
2.2.2.1 Quy định chung về phí và lệ phí 35
2.2.2.1.1 Quy định chung về phí, lệ phí liên quan đến xuất nhập khẩu 35
2.2.2.1.2 Quy định cụ thể về phí, lệ phí liên quan đến xuất nhập khẩu 36
2.2.2.1.3 Quy định về các khoản phạt vi phạm 37
2.2.2.2 Giải phóng và thông quan hàng hóa 39
2.2.2.2.1 Xử lý trước khi hàng đến 39
2.2.2.2.2 Thanh toán điện tử 40
2.2.2.2.3 Tách việc giải phóng hàng khỏi quyết định cuối cùng về thuế, phí, lệ phí 40
2.2.2.2.4 Quản lý rủi ro 41
2.2.2.2.5 Kiểm tra sau thông quan 43
2.2.2.2.6 Thiết lập và công bố thời gian giải phóng trung bình 44
Trang 42.2.2.2.8 Giải phóng và thông quan đối với các lô hàng chuyển phát
nhanh 46
2.2.2.2.9 Giải phóng và thông quan đối với hàng hóa dễ hư hỏng 47
2.2.2.3 Phối hợp giữa các cơ quan quản lý tại biên giới 48
2.2.2.4 Chuyển hàng hóa dưới sự giám sát hải quan đối với nhập khẩu 49
2.2.2.5 Các thủ tục liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh 50
2.2.2.5.1 Các yêu cầu về thủ tục và chứng từ 50
2.2.2.5.2 Chấp nhận bản sao chứng từ 51
2.2.2.5.3 Sử dụng chuẩn mực quốc tế 52
2.2.2.5.4 Cơ chế một cửa 53
2.2.2.5.5 Kiểm tra trước khi giao hàng lên tàu 55
2.2.2.5.6 Sử dụng đại lý hải quan 55
2.2.2.5.7 Các thủ tục quản lý biên giới và yêu cầu chứng từ thống nhất.56 2.2.2.5.8 Thủ tục đối với hàng bị từ chối 56
2.2.2.5.9 Tạm quản hàng hóa, gia công hàng hóa trong nước và nước ngoài 57
2.2.3 Về quá cảnh 58
2.2.4 Về hợp tác hải quan 60
2.2.5 Đánh giá sự tương thích giữa pháp luật Hải quan Việt Nam và TFA 62
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM NHẰM THỰC THI ĐỒNG BỘ HIỆP ĐỊNH THUẬN LỢI HÓA THƯƠNG MẠI 64
3.1 Tình hình thực thi Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của Việt Nam 64
3.1.1 Lộ trình thực hiện TFA của Việt Nam 64
3.1.2 Tình hình thực hiện thuận lợi hóa thương mại tại Việt Nam 66
3.1.3 Các vấn đề đặt ra đối với Việt Nam về thuận lợi hóa thương mại 68
Trang 53.2.1 Về công tác ban hành pháp luật 69
3.2.1.1 Sửa đổi, bổ sung và ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật 69 3.2.1.2 Cải thiện quy trình ban hành pháp luật 70
3.2.1.3 Tăng cường rà soát các văn bản hiện hành 72
3.2.2 Về công tác thực thi pháp luật Hải quan 73
3.2.2.1 Tuyên truyền, phổ biến pháp luật Hải quan 73
3.2.2.2 Kiện toàn bộ máy tổ chức và phát triển nguồn nhân lực 74
3.2.2.3 Hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ triển khai thi hành Luật 75
3.2.2.4 Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực Hải quan 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 89
Trang 6Chữ viết tắt Tên tiếng Anh Tên Tiếng Việt
AmCham American Chamber of
Commerce Phòng Thương mại Hoa KỳAPEC Asia – Pacific Economic Cooperation Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình DươngASEAN Association of Southeast Asian Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam ÁASW ASEAN Single Window Cơ chế một cửa ASEAN
BGTVT Bộ Giao thông Vận tải
BKHCNMT Bộ Khoa học công nghệ và môi
trườngBNNPTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
GATT General Agreement on Tariffs
NSW National Single Window Cơ chế một cửa quốc gia
NT National Treatment Chế độ đãi ngộ quốc gia
OECD Organisation for Economic Co-operation and Development Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tếSMEs Small and medium – sized
enterprises Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
TFA Trade Facilitation Agreement Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại
Trang 7Trung tâm tạo thuận lợi và thương mại điện tử của Liên hiệp quốc
UNCTAD United Nations Conference on
Trade and Development
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
UNECE United Nations Economic
Commission for Europe
Ủy ban Kinh tế Châu Âu thuộc Liên Hiệp Quốc
UNESCAP
United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific
Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Liên Hiệp quốc
USAID United States Agency for International Development Cơ quan Phát triển Quốc tế HoaKỳVBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WCO World Customs Organization Tổ chức Hải quan Thế giớiWTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Quốc tế
Trang 8Bảng 1.1: Hệ thống chỉ số thuận lợi hóa của OECD 6
Bảng 1.2: Lợi ích của thuận lợi hóa thương mại 8
Bảng 3.1: Kết quả phân nhóm A của Việt Nam 65
Phụ lục 1: Quy trình thương mại quốc tế 89
Phụ lục 2: Nội dung Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO 90
Phụ lục 3: Mức độ tương thích giữa pháp luật Hải quan Việt Nam và quy định của TFA 91
Trang 91 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hội nhập quốc tế đang là xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốcgia Các thành viên trong các diễn đàn quốc tế và khu vực không ngừng gia tăng,song hành với số lượng các cam kết được ký kết và triển khai trên phạm vi thế giới.Trong số các nội dung được đàm phán thành công gần đây nhất, thuận lợi hóathương mại đang trở thành chủ đề nóng thu hút sự quan tâm của dư luận, các nhàhoạch định chính sách trong nước và quốc tế
Kể từ khi được thành lập năm 1995 với 113 nước tham gia, đến nay Tổ chứcThương mại Thế giới WTO đã kết nạp 160 quốc gia thành viên; trong đó, Việt Namchính thức gia nhập từ tháng 1/2007 Trong suốt quá trình hoạt động, WTO đã cónhiều nỗ lực trong việc hiện thực hóa các hiệp định, cam kết quốc tế đạt được trongnội bộ khối
Sau gần mười năm nỗ lực đàm phán, ngày 25 tháng 11 năm 2014, WTO đãđạt được đồng thuận giữa các thành viên về việc chính thức thông qua Hiệp địnhThuận lợi hóa Thương mại (TFA) Nội dung chính của Hiệp định bao gồm các camkết liên quan đến các biện pháp kỹ thuật về thuận lợi hóa và các điều khoản về ưuđãi đặc biệt dành riêng cho các nước đang và kém phát triển TFA được xây dựngvới mục tiêu tạo ra động lực thôi thúc các nước thành viên tham gia vào tiến trìnhthuận lợi hóa thương mại, giảm bớt các thủ tục hành chính tại cửa khẩu, thúc đẩyquá trình di chuyển, giải phóng và thông qua hàng hóa
Hải quan Việt Nam là lực lượng tiên phong trong tiến trình đổi mới và hiệnđại hóa, là nhân tố tích cực thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập khu vực và toàncầu hóa Pháp luật Hải quan Việt Nam là nền tảng pháp lý vững chắc để cán bộ,công chức Hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ, đảm bảo an ninh kinh tế, góp phần vàocông cuộc tạo thuận lợi hóa thương mại
Là một quốc gia đang phát triển tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập sâurộng với thế giới, Việt Nam cần phải chuẩn bị các điều kiện cần và đủ nhằm đápứng các quy định về minh bạch hóa, các điều khoản về phí, thủ tục, quá cảnh và hợptác hải quan theo tiêu chuẩn WTO Vì vậy, rà soát và đối chiếu các văn bản phápluật Hải quan Việt Nam hiện hành với nội dung của Hiệp định Thuận lợi hóa
Trang 10thiết Do đó, người viết quyết định lựa chọn đề tài “So sánh pháp luật hải quan ViệtNam và quy định của Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO” để nghiêncứu trong thời gian thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Bài khóa luận được tiến hành với mục tiêu đề xuất một số giải pháp nhằmthực thi đồng bộ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO đối với pháp luậtHải quan Việt Nam trong thời gian tới Để đạt được mục tiêu này, người viết đãtriển khai và thực hiện bốn nhiệm vụ chính:
Một là, nghiên cứu Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO
Hai là, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật chính trong hệ thống phápluật Hải quan của Việt Nam
Ba là, so sánh các cam kết trong Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại và cácvăn bản pháp luật Hải quan Việt Nam tương ứng
Bốn là, đề xuất giải pháp cho pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiệnHiệp định Thuận lợi hóa thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài khóa luận tập trung vào hai đối tượng nghiên cứu:
- Các văn bản quy phạm pháp luật chính về Hải quan của nước Cộng hòa Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam, mà chủ yếu là Luật Hải quan được Quốc hội thông quanăm 2014 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2015
- Hệ thống văn bản pháp lý của Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại củaWTO ban hành ngày 14/7/2014
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Bài luận nghiên cứu nội dung của Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại củaWTO và khía cạnh tạo thuận lợi thương mại của pháp luật Hải quan Việt Nam.Trong đó, người viết chỉ tập trung vào các văn bản pháp luật vẫn còn hiệu lực tạithời điểm nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 11mô tả Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, người viết có dùng thêm các công cụphổ biến như so sánh, liệt kê, tổng hợp, phân tích và tham khảo nguồn tài liệu thứcấp để làm rõ nội dung nghiên cứu
5 Kết cấu khóa luận
Nội dung bài nghiên cứu gồm ba phần:
- Chương 1: Giới thiệu về Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO
- Chương 2: So sánh pháp luật Hải quan Việt Nam về thuận lợi hóa thươngmại và TFA của WTO
- Chương 3: Đề xuất đối với pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực thiđồng bộ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại
Tuy đã nỗ lực hết sức để hoàn thiện đề tài nghiên cứu, nhưng người viết chắcchắn không tránh khỏi một số thiếu sót trong nội dung bài khóa luận, do hạn chế vềkiến thức, kinh nghiệm và tài liệu Người viết rất hi vọng quý thầy cô và các độc giảlượng thứ, đóng góp ý kiến để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, người viết đã nhận được sự động viên,chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Cô giáo, TS Phan Thị Thu Hiền, giảng viên khoaKinh tế và Kinh doanh quốc tế Người viết xin được gửi đến Cô lời cảm ơn chânthành và sâu sắc nhất Ngoài ra, người viết cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy
Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã truyền đạt những kiến thức quý báu suốtbốn năm học để người viết có thể hoàn thành bài khóa luận này
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH THUẬN LỢI HÓA
THƯƠNG MẠI CỦA WTOI.1 Những vấn đề cơ bản về thuận lợi hóa thương mại
Cho đến thời điểm hiện nay, thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất
về thuận lợi hóa thương mại Trong một tài liệu đăng trên website chính thức củaWTO, thuận lợi hóa thương mại (trade facilitation) được hiểu là “việc đơn giản hóa,hài hòa hóa các thủ tục thương mại quốc tế” Trong đó, thủ tục thương mại quốc tếbao gồm những hoạt động, thông lệ và các thủ tục liên quan đến việc thu thập, lưuchuyển và xử lý số liệu cũng như các thông tin khác liên quan đến việc lưu chuyểnhàng hóa trong thương mại quốc tế(Grainger, 2008)
Có thể thấy, đối tượng của thuận lợi hóa thương mại là các thủ tục thươngmại quốc tế – đây cũng là đối tượng chính của các đàm phán thương mại trongWTO cũng như nhiều hiệp định thương mại cấp vùng Mục đích chính của thuận lợihóa thương mại là đẩy nhanh quá trình lưu chuyển hàng hóa trong thương mại quốc
tế, đơn giản hóa thủ tục hải quan, tạo sự mình bạch thông tin, cắt giảm thủ tục, hạnchế quan liêu, mang lại hiệu quả kinh tế
Nói chung, thuận lợi hóa thương mại được hiểu là việc đơn giản hóa các thủtục quản lý, kiểm soát hàng hóa vận chuyển qua biên giới quốc gia nhằm giảm bớtgánh nặng và các chi phí liên quan, đảm bảo cho các hoạt động giao dịch diễn rahiệu quả, minh bạch, thống nhất Thuận lợi hóa thương mại liên quan đến toàn bộquy trình giao dịch quốc tế từ người xuất khẩu đến người nhập khẩu, bao gồm bagiai đoạn: mua hàng, vận chuyển và thanh toán (Phụ lục 1) Theo đó, thuận lợi hóa
có thể được tiến hành trên nhiều lĩnh vực như quản lý nhà nước, vận tải, công nghệthông tin, xây dựng hệ thống thanh toán
Xét tổng thể, thuận lợi hóa thương mại phải được tiến hành theo ba cấp độ:quốc tế, khu vực và quốc gia Tại cấp độ quốc tế và khu vực, cần phát triển các tiêuchuẩn và ký kết các hiệp định chung Sau đó, việc thực thi các biện pháp thuận lợihóa theo các tiêu chuẩn và hiệp định đã ký kết sẽ diễn ra trên phạm vi quốc gia.Nhiều biện pháp thuận lợi hóa thương mại yêu cầu các nước phải tiến hành quátrình cải cách, hiện đại hóa, xây dựng các chương trình quản lý chuyên nghiệp, nângcao năng lực chuyên môn
Trang 13Một số biện pháp thuận lợi hóa thương mại bao gồm:
- Thiết lập Cơ quan Thuận lợi hóa Thương mại Quốc gia, nhằm đạt đượcmức độ đối thoại và hợp tác cần thiết
- Công bố các luật lệ, thủ tục, quy trình liên quan đến xuất/nhập khẩu theocách dễ tiếp cận trong khoảng thời gian hợp lý
- Giảm thiểu, đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóa dữ liệu, chứng từ do Hải quan
và các cơ quan khác yêu cầu
- Hài hòa hóa luật lệ của các cơ quan quản lý biên giới
- Cho phép doanh nghiệp được quyền khiếu kiện khi không đồng ý vớiquyết định của cơ quan quản lý biên giới Thời hạn khiếu kiện phải quyđịnh hợp lý
- Thiết lập các “điểm giải đáp thương mại”, tích hợp mọi thông tin liênquan đến thương mại
- Điều chỉnh giờ hoạt động của các cửa khẩu dựa theo nhu cầu thương mại,linh hoạt trong làm việc ngoài giờ
- Tăng cường phối hợp giữa Hải quan và các cơ quan quản lý khác, nhằmđạt mục tiêu “một cửa”
- Áp dụng cơ chế công nghệ thông tin và truyền thông (InformationCommunication Technology – ICT)
Để đánh giá mức độ thuận lợi hóa thương mại ở một quốc gia, OECD đã xâydựng hệ thống chỉ số thuận lợi hóa (Trade facilitation indicators – TFIs) Thông qua
hệ thống này, các chính phủ các nước đang và kém phát triển có thể đánh giá mức
độ ưu tiên cho các biện pháp thuận lợi hóa và xem xét nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật trongnước Các chỉ số cụ thể được thể hiện ở Bảng 1.1 dưới đây
Ngày nay, thuận lợi hóa thương mại đã và đang thu hút nhiều sự chú ý và trởthành mối quan tâm của nhiều tổ chức Các tổ chức này bao gồm: Tổ chức Thươngmại Thế giới (WTO), Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO), Tổ chức Liên Hiệp quốc
về Tạo thuận lợi thương mại và thương mại điện tử (UN/CEFACT), Tổ chức Hàngkhông Dân dụng Quốc tế (ICAO), Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA),
Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Phòng Thương mại Quốc tế (ICC)… Ngoài ra,Ngân hàng Thế giới (WB), Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
Trang 14(UNCTAD), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), cũng như các tổ chứccấp khu vực như Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực châu Á – Thái Bình Dương củaLiên Hiệp quốc (UNESCAP) và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái BìnhDương (APEC) đều có những đóng góp quan trọng vào tiến trình thuận lợi hóathương mại.
Bảng 1.1: Hệ thống chỉ số thuận lợi hóa của OECD ST
1 Xác định trước
Cho phép xác định phân loại, xuất xứ, phương pháp định giá đối với một số hàng hóa trước khi hàng đến; các quy định và thủ tục áp dụng cho xác định trước
2 Thủ tục khiếu nại Khả năng khiếu nại, phương thức khiếu nại quyết định hành chính của cơ quan biên giới.
3 Hợp tác – Đối ngoại Hợp tác với các nước láng giềng và nước thứ
ba
4 Hợp tác – Đối nội Hợp tác giữa các cơ quan biên giới của một nước; phân chia quyền kiểm soát giữa các đơn
vị hải quan
5 Phí và lệ phí Quy định liên quan đến phí và lệ phí áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
6 Thủ tục – Tự động hóa Trao đổi thông tin dưới dạng điện tử; thủ tục hải quan điện tử; sử dụng hệ thống quản lý rủi
DNƯT
9 Quản lý và Công bằng Cấu trúc và chức năng của Hải quan; trách
nhiệm giải trình; chính sách đạo đức
10 Tính sẵn có của thông tin Công bố thông tin thương mại trên mạng Internet và các điểm giải đáp.
11 Sự tham gia của cộng đồng
doanh nghiệp Tham vấn với doanh nghiệp.
Nguồn: Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), 2014
Trang 15I.2 Nguyên tắc và ý nghĩa của thuận lợi hóa thương mại
I.1.1 Nguyên tắc của thuận lợi hóa thương mại
Ngay từ năm 1974, UN/CEFACT đã đưa ra tuyên bố về bốn nguyên tắc củaviệc thuận lợi hóa thương mại trong Khuyến nghị số 4 Theo đó, các chương trìnhthuận lợi hóa thương mại nên hướng tới sự đơn giản hóa, hài hòa hóa, tiêu chuẩnhóa và minh bạch hóa các thủ tục thương mại, để quá trình giao dịch trở nên dễdàng hơn, nhanh chóng và kinh tế hơn so với trước đó (Grainger, 2008)
Đơn giản hóa được hiểu là quá trình loại bỏ tất cả các yếu tố không cần thiết
và trùng lặp trong các quy trình, thủ tục quản lý Mục đích của việc đơn giản hóachính là giảm bớt mức độ phức tạp trong thương mại và các thủ tục hải quan Đốitượng của đơn giản hóa không chỉ là các chứng từ cần thiết để thực hiện thông quanhàng hóa, mà còn bao gồm cả các thủ tục tại các cơ quan quản lý biên giới
Hài hòa hóa là việc tạo ra sự liên kết giữa pháp luật quốc gia với các côngước quốc tế, các tiêu chuẩn và thông lệ trên thế giới Thực hiện hài hóa hóa sẽ tạo ratính đồng nhất, liên tục và khả năng tương thích giữa các quốc gia tham gia vàogiao dịch thương mại, giúp thu hẹp sự khác biệt trong pháp luật và chính sách cácnước Tại cấp độ quốc gia, hài hòa hóa sẽ nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các cơquan quản lý Ở nhiều nước, một số thủ tục không thuộc phạm vi hải quan được đặtdưới sự bảo trợ của Hải quan, như việc thu thập số liệu thương mại, thu thuế giá trịgia tăng, áp dụng các biện pháp kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm…
Tiêu chuẩn hóa là quá trình phát triển và áp dụng rộng rãi các thông lệ và thủtục, các chứng từ và dạng thông tin đã nhận được sự đồng thuận quốc tế Lợi ích lớnnhất của tiêu chuẩn hóa chính là cắt giảm chi phí giao dịch Các chi phí này thườngphát sinh do định dạng dữ liệu và giao thức trao đổi thông tin trong hệ thống máytính không phù hợp Do đó, tiêu chuẩn hóa hướng tới thỏa thuận các hiệp định quốc
tế về định dạng dữ liệu, mức độ mã hóa thông tin cần thiết để kiểm soát thương mại.Ngoài ra, tiêu chuẩn hóa cũng chú trọng đến việc thiết lập các mẫu chứng từ giấy.Tiêu chuẩn hóa đảm bảo tạo ra sự thống nhất trong cách quy định đối với mọi quốcgia, ngôn ngữ, thể chế; giảm thiểu sai sót khi làm thủ tục và cho phép phát triển cácphần mềm quản lý được áp dụng rộng rãi
Trang 16Minh bạch hóa là việc công bố rộng rãi, công khai các thông tin về chínhsách, luật lệ, khiến các thông tin này trở nên rõ ràng, cụ thể và dễ tiếp cận đối vớicác bên liên quan Theo đó, thông tin về các luật lệ, thủ tục phải được cập nhật liêntục trên các trang thông tin điện tử hoặc phát hành tài liệu giấy Ngoài ra, các điểmgiải đáp phải cung cấp thông tin khi có yêu cầu từ các tổ chức, cá nhân có liên quan.
I.1.1 Ý nghĩa của thuận lợi hóa thương mại
Lợi ích của quá trình tiến hành thuận lợi hóa thương mại có thể được đánhgiá thông qua các chi phí giao dịch, gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Chíphí chuẩn bị giấy tờ thông quan, chi phí vận chuyển hàng hóa, chi phí tài chính được gọi là chi phí trực tiếp, trong khi chi phí gián tiếp bao gồm các chi phí cơ hộicủa khoảng thời gian vận chuyển hàng hóa từ người bán đến người mua, có tính đếncác trở ngại có thể phát sinh trong toàn bộ chu trình
Tiến hành thuận lợi hóa thương mại không những làm giảm chi phí giao dịchthương mại, mà còn có tác dụng giảm bớt rủi ro tiềm ẩn trong các giao dịch quốc tế.Theo Ủy ban Kinh tế châu Âu (ECE), khi tham gia vào tiến trình thuận lợi hóathương mại, chính phủ và doanh nghiệp đều được hưởng lợi, như được liệt kê tạiBảng 1.2 dưới đây
Bảng 1.2: Lợi ích của thuận lợi hóa thương mại Lợi ích của Chính phủ Lợi ích của doanh nghiệp
- Tăng hiệu quả kiểm soát
- Tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực và
khai thác tài nguyên
- Tăng lợi nhuận
- Cải thiện quan hệ mua bán
- Tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế
- Thu hút đầu tư nước ngoài
- Giảm chi phí, tiết kiệm thời gian
- Hàng hóa thông quan nhanh hơn do
có sự thống nhất về chính sách
- Đơn giản hóa quá trình trao đổi thương mại trong nước và quốc tế
- Tăng năng lực cạnh tranh
Nguồn: Economic Commission for Europe (ECE), 2002
Trong trung và dài hạn, thuận lợi hóa thương mại có thể đem đến bốn lợi ích
cơ bản: (i) tăng cường năng lực cạnh tranh trong thương mại, (ii) gia tăng sức thuhút đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, (iii) khuyến khích các doanh nghiệpvừa và nhỏ tham gia vào giao dịch quốc tế, (iv) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quốc tế
Trang 17(ADB & ESCAP 2013) Việc cắt giảm tệ quan liêu, loại bỏ các rào cản kỹ thuật, cảithiện cơ sở hạ tầng và thủ tục hải quan còn làm tăng năng suất lao động và thu nhậpquốc dân Theo Hufbauer và các cộng sự (2013), khi thực hiện thuận lợi hóa thươngmại, GDP thế giới sẽ tăng thêm xấp xỉ 960 tỷ USD Trong đó, phần tăng thêm tạicác nước đang phát triển chiếm 55% (520 tỷ USD), các nước phát triển được hưởng45% (440 tỷ USD).
I.3 Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO
I.3.1 Giới thiệu về Tổ chức Thương mại thế giới
Tên đầy đủ của WTO là Tổ chức Thương mại Thế giới (World TradeOrganization) WTO kế thừa sứ mệnh và phát triển các quy định của Hiệp địnhchung về Thương mại và Thuế quan GATT 1947; sự thành lập WTO là kết quả trựctiếp của Vòng đàm phán Uruguay WTO chính thức ra đời và đi vào hoạt động từngày 1/1/1995; kể từ đó đến tháng 6/2014 đã kết nạp 160 thành viên, bao gồm cácquốc gia và vùng lãnh thổ tự trị
WTO hoạt động theo bốn nhiệm vụ nòng cốt sau Thứ nhất, thúc đẩy việcthực hiện các Hiệp định và cam kết đã đạt được trong khuôn khổ WTO, có tính đếncác cam kết trong tương lai nếu có Thứ hai, tạo các diễn đàn để các thành viên tiếptục đàm phán, ký kết những Hiệp định, cam kết mới về tự do hóa và tạo điều kiệnthuận lợi cho thương mại Thứ ba, thương lượng, giải quyết các bất đồng và tranhchấp thương mại phát sinh giữa các thành viên WTO trong quá trình hoạt độngthương mại, kinh doanh quốc tế Thứ tư, rà soát định kỳ nội dung các chính sáchthương mại của các quốc gia thành viên
Một nội dung nữa cần chú ý khi nghiên cứu về WTO là năm nguyên tắc hoạtđộng cơ bản của tổ chức này Theo đó, các chính sách, hiệp định đều phải tuân thủđúng các điều sau: Một là, hoạt động thương mại phải được tiến hành một cáchcông bằng, không phân biệt đối xử thông qua chế độ tối huệ quốc (MFN) và chế độđãi ngộ quốc gia (NT) Tuy nhiên, WTO cho phép một số trường hợp ngoại lệ đượcmiễn trừ áp dụng quy định về MFN, điển hình là các hiệp định thương mại tự dotrong khối Hai là, phát triển theo hướng tự do hơn cho thương mại, kinh doanhquốc tế theo hướng giảm thiểu và từng bước loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuếquan Các nước thành viên vẫn được áp dụng hạn ngạch nhập khẩu khi gặp khó
Trang 18khăn về cán cân thanh toán, trình độ phát triển kinh tế thấp hoặc lý do đặc biệt vềmôi trường, an ninh quốc gia… Ba là, tiến hành thương mại quốc tế trên cơ sở ổnđịnh, minh bạch, công khai nhờ yêu cầu các cam kết quốc tế phải có tính ràng buộc,chính sách và pháp luật quốc gia phải được công bố rộng rãi trên phạm vi toàn quốchoặc thông báo cho WTO Bốn là, chủ trương tăng cường cạnh tranh lành mạnh,công bằng, đưa giá cả và chất lượng trở thành hai yếu tố chính quyết định việc muabán hàng hóa, hạn chế các biện pháp bảo hộ thương mại Năm là, giành sự ưu đãiđặc biệt cho các quốc gia đang và kém phát triển, khuyến khích các nước này pháttriển và cải cách nền kinh tế
Có thể nói, chương trình thuận lợi hóa thương mại đáp ứng một trong cácnhiệm vụ cơ bản của WTO, phù hợp với các nguyên tắc làm việc của tổ chức này đãđược đề ra trước đó
I.3.2 Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại của WTO
I.3.2.1 Quá trình đàm phán
Ý tưởng về thuận lợi hóa thương mại đã được các thành viên WTO bắt đầuthảo luận tại Hội nghị Bộ trưởng Singapore năm 1996 Theo đó, Hội đồng Thươngmại Hàng hóa được chỉ thị “thực hiện các công việc thăm dò và phân tích… về đơngiản hóa các thủ tục thương mại để đánh giá phạm vi quy định của WTO trong lĩnhvực này” Tuy nhiên, nhiều nước đang và kém phát triển vẫn chưa sẵn sàng Họ chorằng chưa đủ khả năng thực hiện thêm một hiệp ước quốc tế nữa sau vòng Uruguay,
và chỉ ủng hộ thiết lập các quy định không ràng buộc Các cuộc thảo luận diễn rasau đó chủ yếu tập trung vào xác định phạm vi của thuật ngữ “thuận lợi hóa thươngmại”, từ đó phân định rõ ràng vai trò của WTO so với các tổ chức liên chính phủkhác như WCO, WB hay Liên hợp quốc (Neufeld 2014)
Sau cùng, phạm vi thuận lợi hóa thương mại trong WTO được thu hẹp lạitrong Điều V, VIII và X của GATT nhờ những nỗ lực của Nhóm Colorado tại Hộinghị Seattle năm 1999 Tuy vậy, việc đưa Thuận lợi hóa thương mại trở thành luật
có tính chất ràng buộc vẫn chưa đi đến thành công (Neufeld 2014) Sau thất bạinhanh chóng tại Hội nghị Seattle, nhóm Colorado liên tục vấp phải sự phản đối củaNhóm nòng cốt – liên minh các nước đang phát triển không ủng hộ việc thực hiện
Trang 19hiệp định mới Việc đàm phán liên tục lâm vào bế tắc và nhiều lần bị trì hoãn, tốnnhiều thời gian và công sức thương lượng của các bên tham gia
Vào tháng 11/2001, tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ tư tại Doha, các Bộtrưởng nhất trí rằng đàm phán về thuận lợi hóa thương mại sẽ diễn ra sau Hội nghị
Bộ trưởng lần thứ năm tại Cancun tháng 9/2003 Nhiệm vụ này đã được gia hạn saukhi Đại Hội đồng quyết định theo đồng thuận tuyệt đối, sẽ tiến hành đàm phán trên
cơ sở các thể thức đã thỏa thuận của các thành viên WTO (Neufeld 2014)
Qua nhiều vòng thỏa thuận, Nhóm Colorado và Nhóm nòng cốt cuối cùng đãđạt được tiếng nói chung thông qua việc đưa thuận lợi hóa thương mại trở thànhmột nội dung thỏa thuận trong “Gói tháng Bảy” Ngày 15 tháng 11 năm 2004, kếhoạch đàm phán đã được thông qua ngay từ cuộc họp đầu tiên của Ủy ban đàmphán, kể từ đó các cuộc họp bàn chính thức diễn ra thường xuyên nhằm xây dựngcác điều khoản cụ thể của hiệp định Bên cạnh đó, các thành viên WTO có quyềngửi các văn bản đề nghị, nhằm làm rõ và phát triển Điều V (Tự do quá cảnh), ĐiềuVIII (Phí và các thủ tục xuất nhập khẩu) và Điều X (Công bố và minh bạch hóathông tin) của GATT
Tại hội nghị Bộ trưởng lần thứ 9 diễn ra tại Bali, Indonesia, sơ thảo hiệp định
đã đạt được sự đồng thuận của các bên tham gia đàm phán Trong đó, Nghị định thư
về thực thi TFA sẽ được thông qua không muộn hơn ngày 31/7/2014, và hạn chót
để thực hiện TFA đầy đủ là ngày 31/7/2015
Tuy nhiên, tại phiên họp Đại Hội đồng WTO tháng 7/2014, TFA không thểđược thông qua do vấp phải sự phản đối của Ấn Độ Nguyên nhân xuất phát từ mộtđiều khoản trong Gói thỏa thuận Bali về nông nghiệp được thông qua cùng lúc vớiTFA có thể ảnh hưởng đến việc trợ cấp nông nghiệp của chính phủ Ấn Độ Bêncạnh đó, việc chấp thuận Hiệp định sẽ khiến Ấn Độ phải chấp nhận sự giám sátquốc tế đối với các sản phẩm thuộc diện dự trữ lương thực quốc gia, gây khó khănkhi nước này muốn bổ sung các loại hạt khác vào danh mục này (Thái Sơn 2014).Quan điểm của Ấn Độ vấp phải sự phản đối công khai của hầu hết thành viên WTO,trong đó có Mĩ và Nhật Bản
Trước nguy cơ đình trệ Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại sau hơn mườinăm đàm phán, Mĩ và Ấn Độ đã có cuộc thảo luận để phá vỡ thế bế tắc Trong
Trang 20tuyên bố ngày 13/11/2014, Mĩ xác nhận hai bên đã đi đến thỏa thuận, theo đó cácchương trình an ninh lương thực của Ấn Độ sẽ không bị phạt theo những quy địnhcủa WTO “cho đến khi một giải pháp lâu dài về vấn đề này được nhất trí và thôngqua” (Thông tấn xã Việt Nam, 2014) Quyết định này đã được Đại Hội đồng WTOthông qua trong cuộc họp ngày 25/11/2014, cùng với toàn bộ gói Bali, bao gồmHiệp định Thuận lợi hóa Thương mại khi tất cả các thành viên bỏ phiếu thuận
Ngày 27/11/2014, WTO thông qua Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Thànhlập WTO Nhờ vậy, TFA trở thành hiệp định chính thức thuộc Phụ lục 1A GATT
1994, trong Hệ thống các Hiệp định bắt buộc của WTO Ngay sau đó, Hong Kongtrở thành quốc gia đầu tiên trong số 160 thành viên WTO phê chuẩn Nghị định thư
Ba thành viên tiếp theo chính thức phê chuẩn là Singapore (8/1/2015), Hoa Kỳ(23/1/2015) và Mauritius (5/3/2015)
Như vậy, trải qua gần một thập kỷ kể từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khiđược thông qua theo nguyên tắc đồng thuận, Hiệp định Thuận lợi hóa thương mại
đã chuyển sang giai đoạn thứ hai – chờ đợi các nước thành viên chấp nhận tham gia.Sau khi được hai phần ba số quốc gia thông qua, Hiệp định sẽ chính thức có hiệulực và mang tính ràng buộc với các nước đã ký kết
I.3.2.2 Nội dung cơ bản của TFA
TFA gồm ba phần chính (Phụ lục 2) Phần một của TFA gồm 12 điều khoảnliên quan đến các biện pháp kỹ thuật, như việc thúc đẩy quá trình di chuyển, giảiphóng, thông quan hàng hóa, kể cả hàng hóa quá cảnh Quy định về hợp tác hảiquan cũng được đặt trong phần này
Nội dung của phần I có thể chia thành bốn nhóm lớn Trong đó, nền tảng của
ba nhóm đầu chính là một số quy định của Hiệp định chung về Thương mại và Thuếquan GATT 1994 Nhóm thứ nhất – gồm năm điều đầu tiên – được phát triển từĐiều X GATT về minh bạch trong công bố và quản lý các quy tắc thương mại Cácđiều khoản từ 6 đến 10 thuộc nhóm thứ hai, làm rõ vấn đề phí và những thủ tục liênquan đến xuất nhập khẩu đã được quy định trong Điều VIII của GATT Điều V vềquyền tự do quá cảnh là cơ sở cho Điều 11 của TFA – tức nhóm ba Tuy nhiên,TFA không làm giảm các nghĩa vụ quy định trong GATT; Điều V, VIII và X củaGATT vẫn có hiệu lực cùng với quy định của TFA Trong trường hợp có mâu thuẫn
Trang 21giữa hai hiệp định này, các điều khoản của TFA sẽ được áp dụng Nhóm cuối cùngbao gồm Điều 12, với nội dung hợp tác hải quan trong tiến trình tạo thuận lợi hóathương mại
Phần hai của Hiệp định chứa 10 điều khoản đặc biệt và khác biệt dành riêngcho các nước đang và kém phát triển Các thành viên WTO thuộc diện này phải dựatrên đặc điểm riêng của quốc gia mình để tự quyết định thời hạn thực hiện các điềukhoản thông qua việc xếp chúng vào nhóm A, B hay C Trong đó, nhóm A đượcđịnh nghĩa là các quy định mà thành viên đang phát triển phải thực hiện ngay khiHiệp định có hiệu lực Các quốc gia kém phát triển được quyền thực hiện trongvòng một năm sau khi Hiệp định có hiệu lực Nhóm B dành cho các nước đang hoặckém phát triển, gồm các những điều khoản phải thi hành sau thời hạn quá độ sau khiHiệp định có hiệu lực Nhóm C chứa các điều khoản mà thành viên đang hoặc kémphát triển phải thực hiện sau một khoảng thời gian quá độ sau khi Hiệp định có hiệulực, đi kèm yêu cầu được hỗ trợ về xây dựng năng lực
Phần ba của Hiệp định gồm điều khoản liên quan đến thỏa thuận thể chế vàđiều khoản cuối cùng, như thiết lập Ủy ban tạo thuận lợi thương mại tại WTO, yêucầu các thành viên duy trì một ủy ban quốc gia hoặc chỉ định cơ chế hiện có để tạothuận lợi cho hợp tác nội địa và thực hiện Hiệp định
Có thể nói, nội dung chủ yếu của TFA bao gồm các quy định có tính thực tếcao, liên quan đến việc cải thiện hiệu quả công tác hải quan và tuân thủ pháp luậthải quan thông qua các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật và các sáng kiến nâng cao nănglực hải quan, chủ yếu hướng tới đối tượng là các quốc gia đang và kém phát triển.Cấu trúc của Hiệp định được chia thành ba phần rất rõ ràng, hợp lý, thuận tiện choviệc tra cứu và sử dụng
I.3.2.3 Lộ trình thực hiện TFA
Theo Quyết định Bộ trưởng Bali (WTO, 2013), lộ trình được vạch sẵn choTFA bao gồm các giai đoạn: (i) Đồng thuận về lời văn của TFA, (ii) Thành lập Ủyban lâm thời nhằm rà soát pháp lý TFA, áp dụng Nghị định thư sửa đổi, mở Nghịđịnh thư để được chấp nhận, (iii) Các nước đang phát triển nộp các biện pháp Nhóm
A, (iv) Tổ chức thực hiện
Trang 22Đến thời điểm này, WTO đã hoàn tất việc đưa TFA thành một phần của Phụlục A1 (Các Hiệp định thương mại đa phương về hàng hóa) thuộc Hiệp định WTO.Sau khi xây dựng nội dung Hiệp định và nhận được sự đồng thuận của các thànhviên, Hiệp định mới phải được đưa vào Hiệp định WTO thông qua việc: (1) sửa đổiPhụ lục 1,2 hoặc 3 hoặc (2) tham chiếu trực tiếp đến Điều II của Hiệp định thànhlập WTO
Tuy nhiên, bước xác thực lời văn và chấp thuận vẫn chưa xảy ra sau gầnmười năm kể từ khi bắt đầu đàm phán Việc xác thực sẽ được thực hiện khi cácnước thành viên tiến hành rà soát hệ thống pháp lý nội bộ và thông qua Nghị địnhthư sửa đổi Chấp thuận diễn ra khi các quốc gia phê chuẩn và tiến hành truyềnthông về việc chấp nhận trong nước cho WTO TFA chỉ có hiệu lực sau khi đượchai phần ba thành viên WTO chấp thuận
Trong lộ trình này, các nước đang và kém phát triển nhận được sự đối xử ưuđãi so với các nước phát triển, như một phần không thể thiếu của WTO Theo đó,các quốc gia này được thực hiện cam kết trong thời gian lâu hơn với mức nghĩa vụnhẹ hơn Đồng thời, các nước này cũng nhận được sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật và tàichính từ WTO, các tổ chức quốc tế và thành viên thuộc nhóm nước phát triển
Đối với các nước đang phát triển, lộ trình thực hiện Hiệp định Thuận lợi hóaThương mại bao gồm các giai đoạn sau: Trước khi thông qua Nghị định thư, cácnước này phải thông báo cam kết Nhóm A đến WTO Trước khi TFA có hiệu lực(tức trước khi hai phần ba số thành viên chấp thuận tham gia), phải thực hiện cáccam kết Nhóm A, thông qua việc triển khai nội dung cam kết và có cơ chế rà soát,báo cáo kết quả thực hiện với Ủy ban Tạo thuận lợi thương mại Sau khi hoàn tất,phải thông báo cam kết Nhóm B và C, chỉ rõ thời gian sẽ thực hiện các cam kết này.Cũng trong thời gian này, phải thông báo cho Ủy ban Tạo thuận lợi thương mại về
kế hoạch thực hiện các cam kết Nhóm C Trong vòng một năm kể từ khi TFA cóhiệu lực, thông báo thời gian bắt buộc phải thực hiện các cam kết Nhóm B Nếu gặpkhó khăn hoặc chưa sẵn sàng, thành viên có thể yêu cầu gia hạn thời gian thôngbáo Bên cạnh đó, các nước đang phát triển phải thông báo cho Ủy ban Tạo thuậnlợi thương mại về việc thực hiện các kế hoạch đã nêu ở giai đoạn trước Tiếp đó,trong vòng hai năm rưỡi kể từ khi TFA chính thức có hiệu lực, phải thông báo thời
Trang 23gian bắt buộc để thực hiện các cam kết Nhóm C và cung cấp các thông tin cần thiếtcho Ủy ban về tiến trình cung cấp hỗ trợ.
Đối với các nước kém phát triển, quá trình thực hiện Hiệp định Thuận lợi hóaThương mại gần như kéo dài gấp đôi so với thời gian cần thiết cho các quốc giađang phát triển Trước khi thông qua Nghị định Thư, các nước kém phát triển phảicam kết sẽ tham gia TFA với WTO Trong vòng một năm kể từ khi TFA có hiệulực, phải thông báo cam kết Nhóm A, B và C cho WTO, trong đó có thể chỉ rõ thờigian sẽ thực hiện các biện pháp Nhóm B Trong vòng một năm kể từ khi có TFA cóhiệu lực, phải thông báo xác nhận lại các cam kết thuộc Nhóm B và thời gian xácđịnh thực hiện, cùng với đó là việc thông báo về các cam kết Nhóm C Trong vòngbốn năm rưỡi kể từ thời gian chính thức có hiệu lực của TFA, phải thông báo cácthỏa thuận nhận hỗ trợ kỹ thuật và thời hạn xác định nhận được các hỗ trợ đó Trongvòng năm năm rưỡi kể từ khi TFA có hiệu lực, phải thông báo tiến trình nhận hỗ trợ
và công bố thời gian bắt buộc phải thực hiện các cam kết Nhóm C
I.1.1.1 Ý nghĩa của TFA
I.1.1.1.1 Đối với Tổ chức Thương mại Thế giới WTO
Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại ra đời là sự kiện có ý nghĩa lớn đối vớiWTO Việc TFA được thông qua đã khẳng định vị thế quan trọng của WTO trongquá trình kết nối các nền kinh tế trên thế giới Có thể nói, với số thành viên đôngđảo (160/196 quốc gia trên thế giới), WTO chịu trách nhiệm điều chỉnh thương mạitoàn cầu, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của thương mạiquốc tế Cùng với sự chính thức hóa TFA, WTO đã nâng cao uy tín, duy trì niềm tinđối với các thành viên vào vai trò của mình, đặc biệt là sau nhiều năm trì trệ, bế tắccủa Vòng Doha TFA chính là bằng chứng của WTO về khả năng thực hiện hệthống thương mại đa phương toàn cầu, trong bối cảnh các thỏa thuận mậu dịch tự
do song phương và đa phương gia tăng mạnh mẽ
Hiệp định Thuận lợi hóa Thương mại được ký kết đánh dấu kết quả, sự nỗlực không ngừng của các thành viên, Ban Thư ký cũng như Nhóm Colorado trongviệc cải thiện tình hình kinh tế thế giới, thương mại quốc tế và toàn cầu hóa Lầnđầu tiên kể từ khi thành lập WTO, một hiệp định đa phương được thông qua dưới sựđồng thuận của tất cả thành viên Thành công này có được nhờ quá trình nỗ lực
Trang 24không mệt mỏi của nhiều tổ chức và cá nhân, mà trực tiếp nhất là Ủy ban Đàm phán
và Nhóm Colorado Bên cạnh đó, Hiệp định được xây dựng dựa trên sự đóng góptích cực của các nước thành viên, thông qua hàng trăm bản đề xuất được Ban Thư
ký tổng hợp lại, tạo thành cơ sở làm việc của Nhóm Đàm phán
Bên cạnh đó, TFA được dự đoán sẽ đóng góp lớn vào tăng trưởng thươngmại quốc tế, thúc đẩy các nước đang và kém phát triển tham gia tích cực hơn vàotiến trình thương mại Theo tính toán của WTO, áp dụng và thực thi TFA sẽ cắtgiảm cho các quốc gia thành viên một tỷ lệ không nhỏ trong chi phí thương mại,góp phần tiết kiệm nguồn lực, giảm bớt lãng phí Trong đó, nếu áp dụng đầy đủ tất
cả các điều khoản của TFA, các nước thu nhập thấp sẽ tiết kiệm được 14,1% tổngchi phí, trong khi nhóm nước thu nhập trung bình thấp và nhóm nước thu nhậptrung bình cao sẽ cắt giảm được lần lượt 15,1% và 12,9% Thêm vào đó, doanh thu
từ hoạt động xuất khẩu nhờ triển khai TFA ước tính sẽ tăng thêm khoảng 33 tỷ đến
100 tỷ USD mỗi năm, GDP thế giới được bổ sung thêm 67 tỷ (OECD, 2014)
I.1.1.1.2 Đối với các quốc gia
Đối với các quốc gia, TFA tạo ra cơ hội hợp tác và nhận hỗ trợ từ cộng đồngquốc tế trong tiến trình phát triển kinh tế và thương mại Thông qua TFA, các quốcgia đang và kém phát triển có cơ hội khai thác tối đa ưu đãi từ các điều khoản đối
xử đặc biệt và khác biệt, trong đó có việc yêu cầu sự trợ giúp xây dựng năng lực từcác tổ chức quốc tế hoặc các thành viên phát triển hơn Ngoài WTO, các tổ chứcquốc tế tham gia vào tiến trình thực hiện TFA bao gồm: Tổ chức Hợp tác và Pháttriển Kinh tế (OECD), Hội nghị Liên Hiệp quốc về Thương mại và Phát triển(UNCTAD), Ngân hàng Thế giới (WB), Ủy ban Kinh tế Châu Âu thuộc Liên Hiệpquốc (UNECE), Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)… Bên cạnh đó, các thành viênđang và kém phát triển còn được cung cấp hỗ trợ từ nhiều quốc gia đóng vai trò tàitrợ, như Mĩ, Australia, Canada, Nhật Bản và các thành viên Liên minh Châu Âu…
Đối với những nước đang và kém phát triển, TFA còn tạo ra cơ hội thâmnhập và phát triển thương mại với các nền kinh tế phát triển Tại các nước quốc gianày, phần lớn các thủ tục, quy trình thương mại đều rất phức tạp, tiêu tốn nhiều thờigian, tiền bạc của các thành phần kinh tế Do đó, quá trình hiện đại hóa các thủ tụchải quan tại biên giới và cải thiện hạ tầng kỹ thuật sẽ làm tăng kim ngạch xuất khẩu
Trang 25của các nước đang và kém phát triển ra nước ngoài, góp phần tăng độ mở của nềnkinh tế (OECD, 2005).
Thông qua TFA, môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện, đẩymạnh thu hút vốn đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài thường tìm kiếmnhững quốc gia có thủ tục hải quan nhanh chóng, minh bạch, ổn định và mức phí, lệphí rẻ Theo Hội nghị Bàn tròn Châu Âu của các nhà công nghiệp (OECD, 2005),hơn một phần năm số doanh nghiệp được khảo sát không đầu tư vào các nước đangphát triển có cơ chế hải quan kém thuận lợi Bốn phần năm trong số này sẵn sàngđầu tư mới hoặc gia tăng số vốn cho những quốc gia thực hiện các biện pháp tạothuận lợi hóa thương mại Có thể nói, việc giảm thiểu thời gian thông quan hànghóa, cắt giảm chi phí làm thủ tục hải quan và hoàn thiện hệ thống vận tải chính lànhân tố tăng mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư tại các nước đang và kém pháttriển
Thực hiện các biện pháp tạo thuận lợi hóa thương mại trong TFA có thể nângcao vị thế trên trường quốc tế của các nước đang và kém phát triển Ngoài việc cắtgiảm chi phí thương mại, TFA còn giúp tăng hiệu quả giao dịch, tạo ra hơn 1,25nghìn tỷ USD mỗi năm, đóng góp thêm 18 triệu việc làm ở các nước đang phát triển(Nguyễn Huế, 2014) Ngoài ra, TFA góp phần gia tăng ngân sách nhà nước thôngqua việc giảm thiểu buôn lậu, tham nhũng trong lĩnh vực hải quan Nhờ áp dụngđiều khoản của Hiệp định, chất lượng công tác phòng chống buôn lậu và gian lậnthương mại gia tăng, hạn chế các vụ khai báo sai giá trị, hàng giả hàng nhái, thamnhũng, trốn thuế… góp phần thu đúng, thu đủ thuế xuất nhập khẩu cho ngân sáchnhà nước
Như vậy, chương 1 của bài khóa luận đã làm rõ một số thuật ngữ cơ bản, cácvấn đề liên quan đến thuận lợi hóa thương mại và giới thiệu chung về Hiệp địnhThuận lợi hóa Thương mại của WTO Trong phần tiếp theo, người viết sẽ đưa ramột cái nhìn tổng quát về pháp luật Hải quan Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ so sánhgiữa pháp luật Việt Nam về thuận lợi hóa thương mại và các cam kết được quy địnhtrong phạm vi phần I TFA
Trang 26CHƯƠNG 2: SO SÁNH PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM
VỀ THUẬN LỢI HÓA THƯƠNG MẠI VÀ TFA CỦA WTOI.4 Giới thiệu về pháp luật Hải quan Việt Nam
I.4.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam
Hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam gắn liền với sự ra đời và phát triểncủa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam nói chung và Hải quan Việt Namnói riêng Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh, Bộtrưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 27 – SL ngày 10/9/1945,thành lập Sở thuế quan và thuế gián thu – tiền thân của ngành Hải quan sau này.Thời kỳ đầu, Hải quan Việt Nam phải tạm thời sử dụng những quy định về thuếquan của thực dân Pháp để thực hiện các nghiệp vụ về thuế Nhiệm vụ của Sở thờigian này chỉ tập trung vào việc thu các loại thuế, bổ sung cho ngân sách nhà nước
và đấu tranh bảo vệ chủ quyền về thuế quan và ngoại thương Các Sắc lệnh số 27(27/SL) và Sắc lệnh số 28 (28/SL) là cơ sở pháp lý ban đầu cho hoạt động của SởThuế quan và Thuế gián thu trong những ngày đầu thành lập
Ngày 27/2/1960, Chính phủ ban hành Điều lệ Hải quan thông qua Nghị định03/CP do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Sự ra đời của Điều lệ Hải quan đánh dấumột bước phát triển quan trọng đối với Hải quan Việt Nam Lần đầu tiên, Hải quanViệt Nam tự xây dựng khuôn khổ pháp lý độc lập, không còn lệ thuộc vào hệ thốngquy định hải quan của chế độ thực dân cũ Điều lệ Hải quan còn tạo ra chuyển biếnmới, chuyển từ hoạt động phân tán sang hoạt động chính quy, có sự chỉ đạo thốngnhất Đồng thời, phạm vi nhiệm vụ hải quan được mở rộng, công tác giám sát chốngbuôn lậu được đặt lên hàng đầu
Pháp lệnh Hải quan được Hội đồng Nhà nước thông qua ngày 20/2/1990, cóhiệu lực từ ngày 1/5/1990 cho thấy sự vận động của ngành Hải quan khi đất nướcbước vào thời kỳ hội nhập Pháp lệnh gồm 51 điều, chia thành 8 chương, thể hiệnquan điểm đổi mới của Đảng, kế thừa kinh nghiệm hoạt động, xây dựng Hải quanViệt Nam gần nửa thế kỷ trước đó Pháp lệnh trở thành VBQPPL có giá trị pháp lýcao nhất trong việc điều chỉnh các hoạt động thuộc lĩnh vực Hải quan từ năm 1990
Trang 27Nhằm đáp ứng nhu cầu đất nước trong thời kỳ mới, toàn ngành Hải quan tậptrung xây dựng một văn bản luật thống nhất, thay thế cho Pháp lệnh Hải quan đã cũ
và không còn phù hợp Ngày 29/6/2001, Quốc hội đã ban hành Luật Hải quan Sự rađời của Luật Hải quan đã củng cố cơ cấu tổ chức Hải quan theo hướng tập trung,thống nhất, hoạt động có thực quyền, phù hợp với bối cảnh mới Thông qua LuậtHải quan, nhu cầu minh bạch hóa, công khai hóa các văn bản trong hệ thống phápluật hải quan được thỏa mãn, góp phần điều chỉnh mối quan hệ pháp luật ngày càngphong phú, chuyên sâu trong lĩnh vực Hải quan
Luật Hải quan đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để cải thiện tính phù hợpvới từng thời kỳ Ngày 14/6/2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hảiquan được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 Sau 8 năm thựchiện, mới đây nhất Luật Hải quan đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/ 2014, cóhiệu lực từ ngày 1/1/2015 Hiện nay, Luật Hải quan 2014 được coi là văn bản phápluật nòng cốt, làm nền tảng cho khuôn khổ pháp lý của Hải quan Việt Nam
I.4.2 Thuận lợi hóa thương mại trong pháp luật Hải quan Việt Nam
I.4.2.1 Mục tiêu của Chính phủ và Hải quan Việt Nam
Chiến lược phát triển của Chính phủ đặt ra cho Hải quan Việt Nam đến năm
2020 quán triệt bốn quan điểm lớn Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng vàquản lý của Nhà nước Thứ hai, tạo thuận lợi thương mại, tăng cường quản lý nhànước về pháp luật hải quan Thứ ba, hiện đại hóa hải quan tại các vùng, miền trọngđiểm Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, lấy ngành Hảiquan làm nòng cốt
Thông qua nhiệm vụ về thuận lợi hóa thương mại, Chính phủ đã xây dựng bamục tiêu tổng quát cho quá trình phát triển của Hải quan Việt Nam thống nhất vớinhiệm vụ này Một là, phát triển Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sáchđầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế Hai
là, ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãiphương thức quản lý rủi ro đạt trình độ các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam
Á Ba là, xây dựng lực lượng Hải quan có trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, hoạt độnghiệu quả, góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp
Trang 28Chính phủ đã đề ra các mục tiêu về thuận lợi hóa thương mại trong hai năm
2015 – 2016 Theo đó, phải tập trung cải thiện và đẩy mạnh cải cách thủ tục hảiquan, rút ngắn quy trình xử lý, giảm số lượng và đơn giản hóa nội dung hồ sơ, giảmthời gian và chi phí thực hiện thủ tục hải quan Ngoài ra, phải đảm bảo công khai,minh bạch, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý nhà nước trong công tác kiểmdịch, kiểm tra tiêu chuẩn; thiết lập cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa Hải quan vàcác đơn vị kiểm tra chuyên ngành
Chỉ tiêu cụ thể về thuận lợi hóa thương mại trong lĩnh vực hải quan được đưa
ra trong Nghị quyết 19/NQ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/3/2015 Cụ thể, cơquan Hải quan phải tiếp tục phấn đấu giảm mạnh thời gian thông quan hàng hóaxuất nhập khẩu ngang bằng với các nước ASEAN – 6 (gồm Brunei, Indonesia,Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Đến năm 2016, thời gian thông quanhàng hóa phải ngang bằng với bốn nước dẫn đầu trong khối ASEAN Ngoài ra, Hảiquan Việt Nam phấn đấu đưa thời gian hàng hóa xuất nhập khẩu giao lưu qua biêngiới đạt mức tối đa 13 ngày đối với hàng hóa nhập khẩu, 14 ngày đối với hàng nhậpkhẩu Tiếp đến, cơ chế Hải quan một cửa phải được cơ bản hoàn thành và vận hànhhiệu quả giữa Bộ Tài chính với các Bộ ngành liên quan (Chính phủ, 2015)
Tổng cục Hải quan đã định lượng cụ thể các công việc cần làm để đẩy nhanhtiến trình thuận lợi hóa thương mại tại Quyết định 436/QĐ-TCHQ ngày 5/3/2015.Trong đó, đảm bảo 90-95% số thu nộp thuế, lệ phí được thực hiện theo phương thứcđiện tử, tỷ lệ các giấy phép thực hiện trong cơ chế một cửa quốc gia đạt 50% Tỷ lệkiểm tra chi tiết hồ sơ đạt tối đa 15% tổng số tờ khai, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóadưới 10% tổng số tờ khai, tỷ lệ các lô hàng được xác định kiểm tra thực tế trên cơ
sở quản lý rủi ro đạt 60% Ngoài ra, thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa qua máy soicontainer đạt mức 3-5 phút, kiểm tra thủ công kết hợp máy soi container trong thờigian từ 30-60 phút (Tổng cục Hải quan, 2015)
Trong số các mục tiêu cụ thể được Chính phủ đặt ra, Hải quan Việt Nam đặcbiệt chú trọng đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý hiện hành Ngành Hải quanđặt mục tiêu xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, đồng bộ,tuân thủ chủ trương cải cách thủ tục hành chính và các chuẩn mực quốc tế Bêncạnh đó, hướng tới xây dựng hệ thống pháp luật hải quan hiện đại, đầy đủ các quy
Trang 29định về thủ tục hải quan, chế độ quản lý hải quan và các cơ chế tạo thuận lợi thươngmại… Quyền hạn của cơ quan Hải quan phải được quy định tương xứng với tráchnhiệm thực thi pháp luật hải quan và các luật khác có liên quan.
I.4.2.2 Các văn bản pháp luật chính về thuận lợi hóa thương mại
Hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam về thuận lợi hóa thương mại rất rộng
và phức tạp, bao gồm nhiều đạo luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư…Như đã nói ở trên, Luật Hải quan năm 2014 là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất,điều chỉnh hầu hết hoạt động của Hải quan Việt Nam Bên cạnh đó, các thông tư,nghị định, và văn bản dưới luật khác đóng vai trò bổ trợ cho Luật Hải quan, gópphần quy định cụ thể một số nội dung trong Luật Hải quan
Luật Hải quan 2014 quy định nhiều điều luật liên quan trực tiếp đến nghiệp
vụ hải quan, gồm 8 chương, 104 điều Nội dung của Luật được bao hàm trong banhóm vấn đề: (i) Cải cách thủ tục hải quan, hiện đại hóa quản lý hải quan, nội luậthóa các cam kết quốc tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và tạo thuận lợi cho hoạt độngxuất nhập khẩu; (ii) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý hải quan,tăng cường công tác bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh kinh tế nhằm phòng chốngbuôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, gian lận thương mại; (iii)Sửa đổi, bổ sung những quy định trong Luật hiện hành để đảm bảo tính thống nhấtcủa pháp luật hải quan, phù hợp với văn bản pháp luật có liên quan và thực tế hoạtđộng xuất nhập khẩu
Nghị định 08/2015/NĐ-CP ban hành ngày 21/1/2015 đã thay đổi cơ bản một
số thủ tục hải quan Cụ thể, Nghị định đã đưa ra nhiều quy định mới về thủ tục hảiquan đối với hàng hóa xuất khẩu không nhằm mục đích thương mại, hàng quá cảnh,chuyển khẩu, chuyển cửa khẩu và hàng gửi kho ngoại quan Ngoài ra, Nghị địnhcòn rút ngắn thời gian tham vấn trị giá tính thuế, góp phần thúc đẩy nhanh thời gianthông quan
Thông tư 38/2015/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 25/3/2015 là mộtvăn bản pháp luật mới tạo nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp Theo đó, Thông tư đãđưa ra quy định về giảm hồ sơ hải quan, đơn giản hóa thủ tục thông qua việc thựchiện thủ tục hải quan điện tử Bộ Tài chính còn quy định về ứng dụng công nghệthông tin trong công tác giám sát hải quan, như sử dụng mã vạch, tờ khai điện tử…
Trang 30Ngoài ra, thuận lợi hóa thương mại còn được đề cập đến trong nhiều văn bảnluật khác như: Luật Quản lý thuế 2006, sửa đổi năm 2012; Pháp lệnh Phí, lệ phí2001; Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012; Luật Tuyên truyền phổ biến pháp luật2013; Luật khiếu nại; Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa; Luật ký kết, gia nhập vàthực hiện Điều ước quốc tế 2006… Bên cạnh đó, còn nhiều thông tư, nghị định củaChính phủ và các Bộ ban ngành như Nghị định 16/2013/NĐ-CP về rà soát, hệ thốnghóa VBQPPL; Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan vềthủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan… Các VBQPPL có quyđịnh về tạo thuận lợi hóa thương mại này sẽ được xem xét kỹ hơn ở phần sau.
Một cách tổng quan, tất cả các văn bản pháp luật này đều đáp ứng nguyên tắcthống nhất, tạo cơ sở pháp lý cho toàn bộ hoạt động của ngành Pháp luật Hải quanViệt Nam bước đầu phát triển theo hướng bốn trụ cột của thuận lợi hóa thương mại,
đó là đơn giản hóa, hài hòa hóa, tiêu chuẩn hóa và minh bạch hóa Ngoài ra, phápluật Hải quan còn thỏa mãn nhiều điều luật trong bốn nhóm nội dung của TFA làminh bạch, phí và thủ tục, quá cảnh, hợp tác hải quan
Trong phần tiếp theo, bài khóa luận sẽ đối chiếu các điều khoản của TFA vớicác nội dung sẵn có trong pháp luật Hải quan Việt Nam hiện hành Các quy địnhcủa TFA và pháp luật của Hải quan Việt Nam được so sánh theo bốn nhóm vấn đề:(i) Minh bạch và các khiếu kiện, (ii) Phí và thủ tục, (iii) Quá cảnh, (iv) Hợp tác hảiquan Sau khi hoàn tất quá trình đối chiếu, người viết sẽ đưa ra đánh giá về mức độtương thích giữa pháp luật Hải quan Việt Nam và các cam kết trong Hiệp địnhThuận lợi hóa Thương mại
I.5 So sánh TFA của WTO và pháp luật Hải quan Việt Nam về thuận lợi hóa thương mại
I.5.1 Về minh bạch và các khiếu kiện
I.5.1.1 Công bố và tính sẵn có của thông tin
Điều 1 TFA quy định về công bố và tính sẵn có của thông tin trong Hiệpđịnh Thuận lợi hóa Thương mại được chia thành bốn mục nhỏ Đó là Công bốthông tin (Khoản 1), Thông tin sẵn có qua mạng Internet (Khoản 2), Điểm giải đáp(Khoản 3) và Thông báo (Khoản 4) Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ có các điềuluật thỏa mãn ba khoản đầu tiên, khoản thứ tư hiện vẫn chưa có văn bản cụ thể
Trang 31I.5.1.1.1 Công bố thông tin
Khoản 1.1 TFA quy định: Mỗi thành viên phải công bố 11 loại thông tin
“một cách không phân biệt đối xử và dễ tiếp cận” 11 nhóm thông tin được liệt kêtại Khoản 1.1 TFA này đều là các thông tin nằm trong các VBQPPL Do đó, bắtbuộc phải đăng công khai theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL 2008 và cácvăn bản hướng dẫn, ở ba hình thức: Công báo (Điều 78), trang tin điện tử của cơquan ban hành và phương tiện thông tin đại chúng (Điều 84) Các hình thức này đềucho phép tiếp cận không hạn chế về đối tượng, thời gian, địa điểm Do đó, yêu cầukhông phân biệt đối xử và dễ tiếp cận theo quy định của TFA đã được pháp luậtViệt Nam đáp ứng
Cụ thể hơn, pháp luật Việt Nam còn quy định việc triển khai chi tiết các hoạtđộng công khai VBQPPL Hướng dẫn thi hành được đưa ra trong các văn bản nhưNghị định 24/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định số100/2010/NĐ-CP về công báo Ngoài ra, một số Luật khác cũng có các điều khoảnliên quan tới công bố các VBQPPL, điển hình như Luật Tuyên truyền, phổ biếnpháp luật 2012, Nghị định 63/2010/NĐ-CP về Kiểm soát thủ tục hành chính vàNghị định 66/2008/NĐ-CP về Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp
I.5.1.1.2 Thông tin sẵn có qua mạng Internet
Khoản 2 Điều 1 TFA có quy định về các thông tin cần phải cung cấp quamạng Internet Các thông tin này gồm: “bản hướng dẫn” về thủ tục hải quan; tờkhai, chứng từ cần thiết; thông tin liên hệ của điểm giải đáp “Bản hướng dẫn” đượchiểu là bản giải thích ngắn gọn, theo ngôn ngữ dễ hiểu và thực tiễn hơn so với cáchquy định trong văn bản pháp luật Khi có điều kiện, cần cung cấp bản hướng dẫnbằng một trong các ngôn ngữ chính thức của WTO
Pháp luật Việt Nam mới chỉ đáp ứng một phần các yêu cầu trong Khoản 2Điều 1 TFA Theo Điều 84 Luật Ban hành VBQPPL 2008, cơ quan ban hành phảiđăng tải văn bản trên trang thông tin điện tử chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày công
bố hoặc ký ban hành Ngoài ra, Nghị định 63/2010/NĐ-CP về Kiểm soát thủ tụchành chính yêu cầu phải công khai các thủ tục hành chính trên cơ sở dữ liệu quốcgia (Điều 17)
Trang 32Chi tiết hơn, Điều 28 Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định ba nội dungbắt buộc phải có trên trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước Thứ nhất, phải
có hệ thống VBQPPL chuyên ngành và văn bản pháp luật có liên quan Thứ hai,phải có quy trình, thủ tục hành chính được thực hiện, tên của người chịu tráchnhiệm trong từng khâu Thứ ba, danh mục địa chỉ thư điện tử của các cá nhân và tổchức có thẩm quyền phải được cung cấp Việc đăng tải dữ liệu pháp luật trên cáctrang thông tin điện tử được quy định cụ thể trong Điều 13 Luật Tuyên truyền, phổbiến pháp luật 2012
Đối chiếu với Khoản 2 Điều 1 TFA, một số nội dung vẫn chưa được phápluật Việt Nam đáp ứng Hiện chưa có quy định nào về việc đăng tải “bản hướngdẫn” và tờ khai, chứng từ trên các trang mạng Trên thực tế, trang thông tin của một
số Cục Hải quan địa phương như Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh có đăng tải
“bản hướng dẫn” này Tuy nhiên, việc thực hiện tùy thuộc vào khả năng của từngđơn vị do nội dung này chưa nằm trong các thông tin bắt buộc phải có trên trangđiện tử
Yêu cầu về thông tin liên hệ của các điểm giải đáp và cung cấp thêm cácVBQPPL bằng tiếng nước ngoài quy định trong Điều 2.1(c) và Điều 2.2 TFA chưađược pháp luật Việt Nam đáp ứng Hiện tại, Việt Nam không có quy định phải côngkhai trên mạng thông tin liên hệ của các điểm giải đáp, cũng như không bắt buộcphải đăng tải phiên bản tiếng nước ngoài của các văn bản luật Trong thực tiễn, việcthực hiện các điều khoản này của TFA có được tiến hành trên phạm vi rất nhỏ Ví
dụ, trang tin điện tử của Hải quan Việt Nam và vài địa phương có xây dựng mụcHỏi – Đáp, Tư vấn pháp lý với chức năng tương tự như điểm giải đáp Các trangnày cũng đăng bản dịch tiếng Anh, tiếng Trung… của một số VBQPPL
I.5.1.1.3 Điểm giải đáp
Khoản 3 Điều 1 TFA quy định, mỗi thành viên phải thiết lập và duy trì cácđầu mối giải đáp trong phạm vi quốc gia, các liên minh hải quan hoặc thỏa thuậnkhu vực Việc giải đáp và cung cấp chứng từ, tờ khai phải được thực hiện trong thờihạn hợp lý; nên miễn phí hoặc thu phí không quá chi phí dịch vụ bỏ ra
Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa có VBQPPL quy định cụ thể việc thiếtlập, duy trì các đầu mối giải đáp pháp luật Tại thời điểm hiện tại, chỉ có một số văn
Trang 33bản pháp luật có đề cập đến điểm giải đáp Điều 19.2 Luật Hải quan quy định nghĩa
vụ của công chức hải quan là “hướng dẫn người khai hải quan, tổ chức, cá nhân khi
có yêu cầu” Điều 10 Nghị định 66/2008/NĐ-CP có quy định hình thức và thời hạngiải đáp cho doanh nghiệp đối với các cơ quan có thẩm quyền Quy chế 1915/QĐ-TCHQ ngày 17/10/2007 của Tổng cục Hải quan có các quy định cụ thể về công tác
hỗ trợ thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế Tuy nhiên, văn bản nàykhông phải là VBQPPL, chỉ mang tính chất điều hành, có hiệu lực nội bộ
Có thể nói, nội dung điểm giải đáp có được thể hiện trong hệ thống pháp luậtViệt Nam, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của TFA Đối tượng yêu cầu giải đápchỉ giới hạn ở doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân làm thủ tục hải quan, chưa tính đếnđối tượng yêu cầu giải đáp là các chính phủ Phạm vi giải đáp gồm tất cả các lĩnhvực liên quan tới doanh nghiệp, không chuyên sâu vào các nội dung trong Khoản1.1 TFA Hình thức giải đáp mới chỉ được nhắc đến một cách chung chung, chưaquy định cụ thể Thực tế, Hải quan Việt Nam và các cơ quan chuyên môn có thựchiện tư vấn miễn phí trên trang thông tin điện tử và các buổi hội thảo Tuy nhiên,hoạt động của các đầu mối giải đáp này không dựa trên các văn bản pháp luật chínhthức, mà chủ yếu tuân theo tài liệu quản lý nội bộ
I.5.1.1.4 Thông báo
Theo Khoản 4 Điều 1 TFA, thành viên có nghĩa vụ thông báo cho Ủy banTạo thuận lợi thương mại Nội dung thông báo bao gồm các thông tin sau: địa điểmcông bố 11 loại thông tin quy định tại Khoản 1, đường dẫn các trang mạng thông tin
và chi tiết về các điểm giải đáp
Pháp luật Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu của TFA về thông báo.Hiện nay, chưa có quy định nào về một đầu mối tập hợp, thông báo về tất cả các địađiểm công bố thông tin và danh sách các trang thông tin điện tử Ngoài ra, quy định
về đầu mối giải đáp chuyên sâu, tổng hợp các nội dung yêu cầu cũng chưa được xâydựng Một số văn bản có quy định chức năng cung cấp thông tin, giải đáp thắc mắccủa các đơn vị như Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế, Công báo, các trangthông tin điện tử của nhiều Bộ, ngành… Tuy nhiên, các đơn vị này không cung cấpthông tin chuyên sâu, hoặc chỉ cho các thông tin mình có, chưa thể cung cấp thôngtin về các địa chỉ khác Nói cách khác, Việt Nam chưa có cơ quan, tổ chức nào chịu
Trang 34trách nhiệm tập hợp thông tin về địa điểm (Điều 1.4 (a)), đường dẫn (Điều 1.4 (b)),nên chưa thể triển khai chức năng thông báo như quy định của TFA cho Ủy ban vềTạo thuận lợi thương mại Việc thiếu đầu mối giải đáp tập trung các yêu cầu của đốitượng quan tâm cũng cản trở Việt Nam lập danh sách các đầu mối giải đáp nhưĐiều 1.4 (c).
I.5.1.2 Cơ hội góp ý, thông tin trước và tham vấn
Xét riêng quy định về cơ hội góp ý và thông tin trước thời hạn hiệu lực,Khoản 2.1 TFA yêu cầu các thành viên phải “cung cấp cơ hội và thời gian hợp lý”cho các bên tham gia ý kiến với luật mới ban hành hoặc sửa đổi Ngoài ra, phảicông bố công khai các văn bản này sớm nhất có thể trước khi quy định có hiệu lực.TFA cũng liệt kê một số trường hợp không nằm trong phạm vi áp dụng của hai yêucầu đó
Việt Nam đã đáp ứng đầy đủ quy định của TFA thông qua hai văn bản chính.Đầu tiên, theo Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL 2008, “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,
tổ chức thành viên, tổ chức khác, cá nhân có quyền tham gia góp ý kiến về dự thảoVBQPPL” Trong quá trình xây dựng, phải tạo điều kiện để các đối tượng “tham giagóp ý kiến”, phải “tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp củavăn bản” Ý kiến tham gia về dự thảo phải được “nghiên cứu, tiếp thu trong quátrình chỉnh lý dự thảo” Điều 78 Luật này quy định thêm: thời điểm có hiệu lực củaVBQPPL không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành VBQPPLphải được đăng Công báo, trái lại sẽ không có hiệu lực thi hành
Ngoài ra, việc lấy ý kiến các đối tượng chịu tác động từ các VBQPPL đượctrình bày cụ thể tại các điều luật khác trong phạm vi Luật Ban hành VBQPPL 2008.Theo đó, dự thảo phải được công khai lấy ý kiến trên trang web hoặc qua hình thứckhác (Điều 35); thời hạn lấy ý kiến phải từ 60 ngày trở lên (Điều 35, 58, 62)
Nghị định 24/2009/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành VBQPPL đưa ra nhiềuquy định riêng với từng loại văn bản khác nhau Đối với các dự thảo VBQPPL liênquan tới quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, Điều 27 Nghị định này bắt buộc lấy ýkiến doanh nghiệp thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trongvòng 20 ngày làm việc
Trang 35Như vậy, Việt Nam đã đáp ứng đủ yêu cầu của TFA Các văn bản trong quátrình dự thảo đều phải lấy ý kiến của đối tượng tác động trong vòng 60 ngày Ngoài
ra, các văn bản phải được đăng Công báo, thời điểm đăng muộn nhất khoảng 17ngày sau khi ký Đặc biệt, pháp luật Việt Nam không quy định lấy ý kiến đối vớiquy trình soạn thảo, ban hành rút gọn Vì đây là trường hợp được loại trừ khỏi phạm
vi áp dụng theo Khoản 1.3 Điều 2 TFA, nên vẫn được coi là phù hợp với quy địnhTFA
Xét tiếp quy định về tham vấn, Khoản 2 Điều 2 TFA yêu cầu các thành viênphải “tổ chức tham vấn định kỳ giữa các cơ quan quản lý biên giới với doanhnghiệp hoặc các bên có liên quan” Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có quy địnhtrực tiếp về tham vấn định kỳ giữa hải quan cửa khẩu, doanh nghiệp và các đốitượng liên quan Các văn bản chỉ đề cập tới các cơ chế, hình thức trao đổi, cung cấpthông tin thường xuyên và theo vụ việc giữa nhà nước và các bên liên quan, nhưLuật Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật 2013 và các văn bản hướng dẫn.Một số văn bản nội bộ của ngành Hải quan cũng quy định về vấn đề này, ví dụ nhưQuyết định 1915/2007/QĐ-TCHQ về tuyên truyền, hỗ trợ, cung cấp thông tin chongười khai hải quan, người nộp thuế; Quyết định 78/2007/QĐ-BTC hướng dẫn giảiđáp vướng mắc về chính sách thuế, quản lý thuế và giải quyết thủ tục hành chínhthuế theo cơ chế một cửa
I.5.1.3 Xác định trước
Quy định về xác định trước được đưa ra trong nội dung Điều 3 TFA Theo
đó, các thành viên phải cho phép xác định trước khi được yêu cầu và đưa ra thôngbáo, căn cứ từ chối nếu có Các trường hợp từ chối được quy định tại Khoản 2 Điều
3 Ngoài ra, Điều 3 TFA còn nêu rõ cách quy định hiệu lực của xác định trước, cáchthức thu hồi, sửa đổi, vô hiệu, rà soát xác định trước và định nghĩa, phạm vi xácđịnh trước
Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định liên quan đến xác định trước như nộidung của Điều 4 TFA Theo Khoản 26 Điều 4 Luật Hải quan 2014, xác định trướcđược định nghĩa là “việc cơ quan Hải quan xác định mã số, xuất xứ, trị giá hải quancủa hàng hóa trước khi làm thủ tục hải quan” Người khai hải quan có quyền “yêucầu cơ quan Hải quan xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan” và có nghĩa
Trang 36vụ “cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin” cho việc xác định trước (Điều 18 LuậtHải quan 2014) Trong đó, người khai hải quan theo Khoản 3 Điều 18 Luật này baogồm đại lý làm thủ tục hải quan, người điều khiển phương tiện vận tải và ngườiđược chủ hàng, chủ phương tiện ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan Pháp luật Hảiquan Việt Nam không đưa ra hạn chế nào đối với người nước ngoài làm thủ tục hảiquan Điều này phù hợp với yêu cầu của Điều 3 TFA.
Như vậy, định nghĩa về xác định trước trong Luật Hải quan 2014 chưa làm rõđược nội dung của Khoản 9.a Điều 3 TFA Mục tiêu của xác định trước trong TFA
là “chỉ ra cách xử lý của Hải quan”, trong khi điều này chưa được đề cập ở cáchhiểu của Luật Hải quan về xác định trước Phạm vi của khái niệm người khai hảiquan – tức người có quyền nộp đơn xin xác định trước theo TFA – của Luật Hảiquan cũng hẹp hơn so với quy định của TFA, mặc dù được liệt kê dài hơn Khoản 9(c) Điều 3 TFA đưa ra danh sách mở: “người nộp đơn là nhà xuất khẩu, nhập khẩuhoặc bất kỳ người nào với lý do chính đáng hoặc đại diện của họ” Ngược lại, phápluật Việt Nam lại đưa ra danh sách đóng
Về phạm vi xác định trước, Luật Hải quan 2014 giới hạn trong ba tiêu chí:
mã số hàng hóa, xuất xứ hàng hóa và trị giá hải quan Phạm vi xác định trước theoLuật Hải quan đã thỏa mãn hai vấn đề bắt buộc theo Điểm a Khoản 9 Điều 3 TFA(phân loại thuế quan hàng hóa và xuất xứ hàng hóa) Không những thế, một vấn đềkhác được khuyến khích trong Điểm b Khoản này cũng được đáp ứng (trị giá hảiquan)
Thời hạn và hiệu lực văn bản xác định trước được nêu rõ trong Nghị định08/2015/NĐ-CP, quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tụchải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan Theo đó, thời hạn xác định trước là
30 ngày đối với trường hợp thông thường và 60 ngày đối với trường hợp cần xácminh, làm rõ (Điều 24) Văn bản thông báo kết quả xác định trước có giá trị hiệulực không quá ba năm kể từ ngày ban hành (Điều 24) Ngoài ra, Điều này còn quyđịnh thêm về các trường hợp sửa đổi, bổ sung, thay thế, chấm dứt hiệu lực của xácđịnh trước
Để được chấp nhận xác định trước, người đề nghị phải thỏa mãn hai điềukiện Thứ nhất, có yêu cầu gửi đến cơ quan Hải quan và cung cấp đầy đủ thông tin
Trang 37liên quan Thứ hai, hàng hóa cần xác định trước phải là hàng hóa lần đầu xuất nhậpkhẩu, hoặc có thay đổi lớn so với trị giá hải quan mà người khai đang thực hiện,hoặc hàng hóa có tính chất đơn chiếc, không có hàng hóa giống hệt, tương tự để sosánh (Điều 24 Nghị định 08/2015/NĐ-CP) Nghị định này cũng đưa ra quy định vềtính ràng buộc của việc xác định trước Theo đó, văn bản thông báo kết quả xácđịnh trước là cơ sở để khai hải quan khi làm thủ tục hải quan
Về khiếu nại và giải quyết khiếu nại, các quy định của Luật Hải quan vàNghị định 08/2015/NĐ-CP hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của TFA về rà soát lại(Khoản 7 Điều 3 TFA) Điều 28 Luật Hải quan cho phép người khai hải quan cóquyền yêu cầu xem xét lại kết quả xác định trước Thời hạn giải quyết khiếu nại của
cơ quan Hải quan đối với hàng hóa thông thường là 10 ngày làm việc và 30 ngàyđối với trường hợp phức tạp (Điều 24 Nghị định 08/2015/NĐ-CP)
Một số nội dung trong yêu cầu của Điều 3 TFA chưa được pháp luật ViệtNam làm rõ Ví dụ điển hình là các trường hợp có thể từ chối quyền xác định trước.Nghị định 08/2015/NĐ-CP mới đưa việc từ chối xác định trước vào một trong sốcác trách nhiệm của Tổng cục Hải quan, chưa liệt kê cụ thể các trường hợp nào bị từchối Đối với nội dung này, Khoản 2 Điều 3 TFA chỉ đưa ra một quy định khôngmang tính bắt buộc cho các thành viên thông qua việc sử dụng cụm từ “có thể” Tuynhiên, cần thiết phải bổ sung các trường hợp bị từ chối xác định trước, không nênnêu chung chung như luật hiện nay
Mặt khác, việc công bố thông tin về xác định trước trong trường hợp thôngtin này hữu ích cho các đối tượng khác như Khoản 8 Điều 3 TFA chưa được quyđịnh trong các VBQPPL của Việt Nam Cũng như từ chối xác định trước, công bốthông tin tuy không phải là nội dung bắt buộc theo TFA, nhưng đây là điều cần thiếttrong thực tế, rất nên có trong pháp luật Việt Nam
I.5.1.4 Khiếu nại hoặc khiếu kiện
TFA đã có quy định liên quan đến công tác khiếu nại, khiếu kiện tại Điều 4
Cụ thể, TFA nêu rõ người khởi kiện có quyền khởi kiện tư pháp (Khoản 1), khuyếnkhích khiếu nại hành chính được thực hiện trước khiếu nại tư pháp (Khoản 2).Khiếu nại, khiếu kiện phải được tiến hành theo cách thức không phân biệt đối xử(Khoản 3) Ngoài ra, người khởi kiện có quyền khiếu nại hành chính nhiều lần, theo
Trang 38các cấp, khi người chịu tác động của quyết định hành chính không đồng ý với quyếtđịnh giải quyết khiếu nại hoặc khi quá thời hạn quy định (Khoản 4) Người chịu tácđộng của quyết định hành chính phải được cung cấp lý do của quyết định đó, để tiếnhành khiếu nại, khiếu kiện khi cần thiết (Khoản 5) Thủ tục khiếu nại được áp dụngcho mọi cơ quan, bao gồm cả cơ quan Hải quan và các cơ quan biên giới khác(Khoản 6).
Trình tự khiếu nại được quy định tại Điều 7 Luật Khiếu nại 2011 Ngườikhiếu nại phải khiếu nại lần đầu đến “người đã ra quyết định hành chính hoặc cơquan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án”.Nếu không đồng ý với cách giải quyết lần đầu hoặc không được giải quyết, ngườikhiếu nại có quyền “khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu”, hoặc khởi kiện tại Tòa án Ngườikhiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án nếu không đồng ý vớiquyết định lần thứ hai, hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giảiquyết Trình tự khiếu nại và giải quyết khiếu nại còn được cụ thể hóa trong Nghịđịnh 75/2012/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, và Thông tư07/2013/TT-TTCP về quy trình giải quyết khiếu nại hành chính
Về thời hiệu khiếu nại, Điều 9 Luật Khiếu nại 2011 có quy định: “thời hiệukhiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết đượcquyết định hành chính, hành vi hành chính” Các trường hợp bất khả kháng không
bị tính vào thời hiệu Các thời hạn cho từng bước khiếu nại được quy định trong cácđiều khoản cụ thể của Luật này
Ngoài Luật Khiếu nại 2011 và hai văn bản kể trên, một số văn bản khác cũng
có quy định về khiếu nại Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu – hải quan, Luật hải quan
2014 và Luật quản lý thuế 2006 là các văn bản có nội dung dẫn chiếu tới quy địnhcủa Luật Khiếu nại Bên cạnh đó, trong Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, vấn đềkhiếu nại được nhắc đến trong nhiều điều khoản Dự thảo Luật ban hành quyết địnhhành chính có quy định: quyết định hành chính phải nêu rõ căn cứ pháp lý – thựctiễn của việc ban hành quyết định (Điều 17)
Từ đó, có thể thấy pháp luật Việt Nam hiện hành đã phù hợp với các yêu cầucủa Điều 4 TFA Pháp luật Việt Nam thậm chí còn đi xa hơn quy định của TFA, cho
Trang 39phép khiếu kiện tư pháp ngay ở lần đầu tiên Tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa có quyđịnh nêu rõ lý do của quyết định hành chính cho người chịu tác động của quyết địnhhành chính để làm cơ sở khiếu nại, khiếu kiện khi cần thiết như Khoản 5 Điều 4TFA.
Một số điểm khác trong quy định về khiếu nại của pháp luật Việt Nam chưathực sự bám sát yêu cầu của TFA Theo Khoản 4 Điều 4 TFA, người khởi kiện cóquyền khiếu nại tiếp nếu quyết định hành chính bị “trì hoãn một cách vô lý”, dù vẫnđảm bảo thời hạn quy định Theo quy định của pháp luật Việt Nam, không trườnghợp nào có thể bị trì hoãn ngoài các thời hạn cho phép trong luật, có tính đến thờigian gia hạn Ngoài ra, pháp luật Việt Nam chỉ mới quy định thời hiệu khiếu nại,chưa có điều khoản nào về thời hạn khiếu nại hành chính Để đảm bảo tính ổn địnhcủa các quan hệ xã hội và quan hệ hành chính, cần thiết phải có quy định về thờihạn khiếu nại
I.5.1.5 Các biện pháp khác để tăng cường công bằng, không phân biệt đối xử
và minh bạch
I.5.1.5.1 Thông báo để tăng cường kiểm soát hoặc kiểm tra
Khoản 1 Điều 5 TFA đưa ra quy định về tăng cường kiểm soát, kiểm tra đốivới thực phẩm, đồ uống, thức ăn chăn nuôi Theo đó, mỗi thành viên phải ban hànhthông báo, hướng dẫn dựa trên rủi ro và chấm dứt, thu hồi thông báo khi cần thiết.Việc chấm dứt, thu hồi thông báo phải được tiến hành một cách không phân biệt đối
xử và dễ tiếp cận
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ có quy định tăng cường kiểm soát đối vớihàng hóa có nguồn gốc thực vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu tại Thông tư13/2011/TT-BNNPTNT Điều 14 Thông tư này quy định hai phương thức kiểm tra:kiểm tra thông thường và kiểm tra chặt Tần suất kiểm tra chặt được quyết định dựatrên mức độ vi phạm của chủ hàng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cònquy định thêm điều kiện dừng kiểm tra chặt để chuyển sang kiểm tra thông thường(khi hai lô hàng liên tiếp có kết quả đạt yêu cầu) Ngoài ra, Thông tư quy định nghĩa
vụ thông báo về phương thức kiểm tra chặt của Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâmsản và Thủy sản (Điều 27) và Cục Bảo vệ thực vật (Điều 28) đối với các lô hàng viphạm nghiêm trọng các quy định về an toàn thực phẩm
Trang 40Như vậy, các quy định tăng cường kiểm soát đối với hàng hóa có nguồn gốcthực vật dùng làm thực phẩm nhập khẩu đã đáp ứng các yêu cầu tại Khoản 1 Điều 5TFA Theo đó, việc tăng cường kiểm soát dựa trên đánh giá nguy cơ rủi ro, căn cứdừng việc tăng cường kiểm soát được quy định rõ Tuy nhiên, pháp luật Việt Namchỉ quy định về điều kiện rút lại biện pháp kiểm tra tăng cường và gán nghĩa vụthông báo việc rút lại đó cho các cơ quan chức năng Thủ tục công bố, thông báo rútlại cụ thể chưa được quy định chi tiết trong các văn bản luật.
Đối với các loại hàng hóa khác, hiện chưa có quy định tăng cường kiểm tra,kiểm soát Luật An toàn thực phẩm 2010 không có quy định nào về tăng cườngkiểm soát tại biên giới đối với các loại thực phẩm, đồ uống trong phạm vi Khoản 1Điều 5 TFA Thông tư 25/2010/TT-BNNPTNT hướng dẫn Luật An toàn thực phẩmđối với sản phẩm có nguồn gốc động vật nhập khẩu cũng không quy định về thủ tụckiểm tra chặt Trường hợp tương tự cũng xảy ra đối với Pháp lệnh Thú y 2014,Quyết định 15/2006/QĐ-BNN về quy trình, thủ tục kiểm dịch động vật, sản phẩmđộng vật, kiểm tra vệ sinh thú y và Nghị định 08/2010/NĐ-CP về quản lý thức ănchăn nuôi Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật 2013 bắt buộc tạm thời cấm xuất,nhập khẩu thực vật có nguy cơ cao, cho đến khi nguy cơ được khắc phục Tuynhiên, chưa có nghị định hướng dẫn giải thích rõ về các “nguy cơ” và quy định chitiết trình tự thủ tục cho hoạt động này
Thông qua việc xem xét các văn bản pháp luật trên, có thể thấy Việt Namkhông có quy định tăng cường kiểm tra, kiểm soát đối với các sản phẩm thực phẩm
có nguồn gốc động vật, đồ uống và thức ăn chăn nuôi Về mặt pháp lý, điều nàyđược hiểu là Việt Nam không áp dụng kiểm soát tăng cường đối với các mặt hàngnày Do đó, Khoản 1 Điều 5 TFA vẫn được pháp luật Việt Nam thỏa mãn Trongthực tế, việc tăng cường kiểm soát là cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro, đặc biệt đốivới các thực phẩm có nguồn gốc động vật được nhập khẩu từ vùng đang có dịch Vìvậy, tuy đã thỏa mãn yêu cầu của TFA, Việt Nam nên bổ sung quy định tăng cườngkiểm soát các mặt hàng này
I.5.1.5.2 Tạm giữ
Khoản 2 Điều 5 TFA quy định: “Thành viên phải nhanh chóng thông tin chongười chuyên chở hoặc nhà nhập khẩu trong trường hợp hàng hóa nhập khẩu bị giữ