1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp trong kỳ 20102014

30 803 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 238,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thực trạng tình hình xuất nhập khẩu tại việt nam giai đoạn 20102014 và đưa ra các hướng biện pháp giải quyết cho vấn đề xuất nhập khẩu tại Việt Nam hiện nay để qua đó có được hướng đi đúng đắn. Trước tiên, phải hiểu xuất khẩu, nhập khẩu là gì

Trang 1

Lời mở đầu

Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu những sự lựa chọn mà các

cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa ra khi trong thực tế họ không thể có mọi thứ như mong muốn.

Tuy khoa học kinh tế ra đời muộn hơn các môn khoa học khác, nhưng sự hấp dẫn của nó đã thu hút nhiều nhà khoa học Họ đã cùng nhau nghiên cứu, thế hệ nối tiếp thế hệ, thậm chí có người giành trọn cả cuộc đời cho các lí thuyết và mô hình kinh tế Và kết quả là ngày nay, loài người có kho tang đồ

sộ các kiến thức kinh tế học được kết tinh lại Theo truyền thống, kinh tế học

được chia thành hai nhánh chính: Kinh tế học vi mô và Kinh tế học vĩ mô Đối

với sinh viên thuộc

khối kinh tế, đây là các môn học cơ sở, cung cấp khung lí thuyết cho các môn

định hướng ngành và kinh tế ngành.

Khóa học về kinh tế học nói chung và kinh tế học vĩ mô nói riêng sẽ giúp bạn

hiểu những chính sách, công cụ , tình hình nền kinh tế trong nước cũng như toàn thế giới Và một trong số những nội dung mà chúng ta nghiên cứu về nền kinh tế của một đất nước đó chính là hoạt động xuất – nhập khẩu hàng hóa,dịch vụ tại Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung để từ đó hiểu thêm được về tình hình xuất nhập khẩu tại nước nhà , thấy rõ được những cơ hội thách thức mà nhà nước và doanh nghiệp gặp phải.

1

Trang 2

II.NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1: Nền kinh tế Việt Nam với chỉ tiêu xuất nhập khẩu.

1.1 Giới thiệu môn học, vị trí môn học trong chương trình học.

Các vấn đề kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái

mà chúng ta có thể nhận được Chúng ta muốn một thế giới an toàn và hòa bình Chúng ta muốn có không khí trong lành và nguồn nước sạch Chúng ta muốn sống lâu và khỏe Chúng ta muốn có các trường đại học, cao đẳng và phổ thông chất lượng cao Chúng ta muốn sống trong các căn hộ rộng rãi và đầy đủ tiện nghi Chúng ta muốn có thời gian để thưởng thức âm nhạc, điện ảnh, chơi thể thao, đọc truyện, đi du lịch, giao lưu với bạn bè, …

Việc quản lí nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính

khan hiếm Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức sử dụng các nguồn

lực khan hiếm nhằm thỏa mãn các nhu cầu không có giới hạn của chúng ta một cách tốt nhất có thể.Chi phí cơ hội của việc thực hiện một hành động là phương án thay thế tốt nhất, hay có giá trị nhất, mà bạn phải từ bỏ để thực hiện hành động đó.

Kinh tế học vĩ mô là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về cách

ứng xử nói chung của mọi thành phần kinh tế, cùng với kết quả cộng hưởng của các quyết định cá nhân trong nền kinh tế đó Loại hình này tương phản

với kinh tế học vi mô chỉ nghiên cứu về cách ứng xử kinh tế của cá nhân người

tiêu dùng, nhà máy, hoặc một loại hình công nghiệp nào đó.Những vấn đề then

chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứu bao gồm mức sản xuất, thất

nghiệp, mức giá chung và cán cân thương mại của một nền kinh tế Phân tích

kinh tế học vĩ mô hướng vào giải đáp các câu hỏi như: Điều gì quyết định giá trị

Trang 3

hiện tại của các biến số này? Điều gì quy định những thay đổi của các biến số này trong ngắn hạn và dài hạn? Thực chất chúng ta khảo sát mỗi biến số này

trong những khoảng thời gian khác nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài hạn Mỗi khoảng thời gian đòi hỏi chúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm

ra các nhân tố quyết định các biến kinh tế vĩ mô này.

Một trong những thước đo quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia là tổng sản phẩm trong nước (GDP) GDP đo lường tổng sản lượng và tổng thu nhập của một quốc gia Phần lớn các nước trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Các nhà kinh tế vĩ mô tìm cách giải thích sự tăng

trưởng này Nguồn gốc của tăng trưởng nhanh hơn các nước khác? Liệu chính sách của chính phủ có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế dài hạn của một nền kinh tế hay không?

Mặc dù tăng trưởng kinh tế là một hiện tượng phổ biến trong dài hạn, nhưng

sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm Trên thực tế, GDP có thể giảm trong một số thời kì Những biến động ngắn hạn của GDP được gọi là

chu kì kinh doanh Hiểu biết về chu kì kinh doanh là một mục tiêu chính của

kinh tế học vĩ mô Tại sao các chu kì kinh doanh lại xuất hiện? Các lực lượng kinh tế nào gây ra sự suy giảm tạm thời trong mức sản xuất, các lực lượng nào làm cho nền kinh tế phục hồi? Phải chăng các chu kì kinh doanh gây ra bởi các sự kiện không dự tính được hay chúng bắt nguồn từ các lực lượng nội tại

có thể dự tính trước được? Liệu chính sách của chính phủ có thể sử dụng để

làm dịu bớt hay triệt tiêu những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế hay không? Đây là những vấn đề lớn đã được đưa ra và ít nhất cũng đã được giải đáp một phần bởi kinh tế học vĩ mô hiện đại.

Tỷ lệ thất nghiệp, một thước đo cơ bản về cơ hội tìm việc làm và hiện trạng của

thị trường lao động, cho chũng ta một thước đo khác về hoạt động của nền kinh tế Sự biến động ngắn hạn của tỉ lệ thất nghiệp liên quan đến những dao

3

Trang 4

động theo chu kì kinh doanh Những thời kì sản lượng giảm thường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại Một mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản đối với mọi quốc gia là đảm bảo trạng tahí đầy đủ việc làm, sao cho mọi lao động sẵn sàng

và có khả năng làm việc tại mức tiền lương hiện hành đều có việc làm.

Biến số then chốt thứ ba mà cá nhà kinh tế vĩ mô đề cập đến là lạm phát Lạm

phát là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới trong những thập kỉ gần đây Vấn đề đặt ra là điều gì quyết định tỉ lệ lạm phát dài hạn và những dao động ngắn hạn của lạm phát trong một nền kinh tế? Sự thay đổi tỉ lệ lạm phát có liên quan như thé nào đến chu kì kinh doanh? Lạm phát có tác động đến nền kinh tế như thế nào và phải chăng ngân hàng trung ương nên theo đuổi mục tiêu lạm phát bằng không?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, tất cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa, giảm và tiến tới dỡ

bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế qua, làm cho việc trao đổi hàng hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn, lao động và kĩ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề được kinh tế học vĩ mô hiện đại quan tâm

nghiên cứu là cán cân thương mại Tầm quan trọng của cán cân thương mại là

gì điều gì quyết định sự biến động của nó trong ngắn hạn và dài hạn? Để hiểu cán cân thương mại vấn đề then chốt cần nhận thức là mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn quốc tế Nhìn chung, khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn từ thế giới bên ngoài so với xuất khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi ra đó bằng cách vay tiền

từ thế giới bên ngoài, hoặc phải giảm lượng tài sản quốc tế hiện nắm giữ Ngược lại, khi xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu, thì nước đó sẽ tích tụ thêm tài sản của thế giới bên ngoài Như vậy, nghiên cứu về mất cân bằng thương mại

Trang 5

liên quan chặt chẽ với việc xem xét tại sao các công dân một nước lại đi vay hoặc cho vay các công dân nước khác vay tiền.

Cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác, kinh tế học nói chung và kinh tế học

vĩ mô nói riêng có những cách nói và tư duy riêng Điều cần thiết là phải học được các thuật ngữ của kinh tế học bởi vì nắm dược các thuật ngữ này sẽ giúp cho bạn trao đổi với những người khác về các vấn đề kinh tế một cách chính xác Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rát lớn vào nhận thức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó Tiếp cận nghiên cứu với một tư duy mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn chưa từng biết trước đó.

1.2 Giới thiệu về xuất nhập khẩu, nêu rõ vai trò và tấm quan trọng của XNK

Hoạt động xuất- nhập khẩu của Việt Nam có bước phát triển trong những năm trở lại đây, nhất là từ sau khi gia nhập WTO Độ mở cửa một nền kinh tế thường được tính bằng tỉ trọng của tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu

so với GDP Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục hải quan cho thấy tổng giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa Việt Nam tính đến hết tháng 9/2014 là hơn 217,48 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kì năm 2013

Thương mại quốc tế có ảnh hưởng quan trọng đến thu nhập quốc dân Xuất khẩu mở rộng thị trường cho các nhà sản xuất trong nước, trong khi nhập khẩu lại thu hẹp thị trường cho hàng hóa của các nhà sản xuất trong nước Do

đó, xuất khẩu và nhập khẩu ảnh hưởng đến đường tổng chi tiêu theo những cách khác nhau.

1.2.1 Nhập khẩu

Ttrong lý luận thương mại quốc tế, là việc quốc gia này mua hàng hóa và dịch

vụ từ quốc gia khác Nói cách khác, đây chính là việc nhà sản xuất nước ngoài cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người cư trú trong nước Tuy nhiên, theo cách thức biên soạn cán cân thanh toán quốc tế của IMF, chỉ có việc mua các

5

Trang 6

hàng hóa hữu hình mới được coi là nhập khẩu và đưa vào mục cán cân thương mại Còn việc mua dịch vụ được tính vào mục cán cân phi thương mại.

Đơn vị tính khi thống kê về nhập khẩu thường là đơn vị tiền tệ (Dollar, triệu Dollar hay tỷ Dollar) và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định Đôi khi, nếu chỉ xét tới một mặt hàng cụ thể, đơn vị tính có thể là đơn vị số lượng hoặc trọng lượng (cái, tấn, v.v )

Nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước, vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu của hàng đối với hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu càng cao Tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn; do đó, nhu cầu nhập khẩu giảm đi.

Mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu của một quốc gia được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân.

Vai trò của nhập khẩu

Nhập khẩu là một hoạt động quan trọng của thương mại quốc tế Nhập khẩu tác động một cách trực tiếp và quyết định đến sản xuất và đời sống trong nước.

Nhập khẩu để bổ sung các hàng hóa mà trong nước không sản xuất được, hoặc sản xuất không đáp ứng nhu cầu Nhập khẩu còn để thay thế, nghĩa là nhập khẩu về những hàng hóa mà sản xuất trong nước sẽ không có lợi bằng nhập khẩu Hai mặt nhập khẩu bổ sung và nhập khẩu thay thế nếu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển cân đối nền kinh tế quốc dân, trong

đó cân đối trực tiếp ba yếu tố của sản xuất: Công cụ lao dộng, đối tượng lao động và lao động Với cách tác động đó, ngoại thương được coi như một phương pháp sản xuất gián tiếp.

Trang 7

Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, vai trò quan trọng của nhập khẩu được thể hiện ở khía các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ

cấu, kinh tế theo hướng công nghiệp hóa đất nước Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi nền kinh tế một cách cơ bản từ lao động thủ công sang lao động bằng cơ khí ngày càng hiện đại hơn

Thứ hai, Nhập khẩu giúp bổ sung kịp thời những mặt cân đối của nền kinh tế

đảm bảo phát triển kinh tế cân đối và ổn định Một nền kinh tế muốn phát triển tốt cần đảm bảo sự cân đối theo những tỉ lệ nhất định như: Cân đối giữa khu vực 1 và khu vực 2; giữa tích lũy và tiêu dùng; giữa hàng hóa và lượng tiền trong lưu thông; giữa xuất khẩu với nhập khẩu và cán cân thanh toán quốc tế.

Thứ ba, Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân.

Nhập khẩu có vai trò làm thỏa mãn nhu cầu trực tiếp của nhân dân về hàng tiêu dùng, mà trong nứoc không sản xuất được hoặc sản xuất không đủ như thuốc chữa bệnh, đồ điện gia dụng, lương thực, thực phẩm,…Đảm bảo đầu vào cho sản xuất, khôi phục lại những ngành nghề cũ, mở ra những ngành nghề mới tạo nhiều việc làm ổn định cho người lao động, từ đó tăng khả năng thanh toán.

Mặt khác nhập khẩu còn trực tiếp góp phần xây dựng những ngành ngềh sản xuất hàng tiêu dùng, làm cho cả số lượng lẫn chủng loại hàng hóa tiêu dùng tăng, khả năng lựa chọn của người dân sẽ được loại hàng hóa tiêu dùng tăng, khả năng lựa chọn của người dấn sẽ được mở rộng, đời sống ngày càng tăng

Thứ tư, Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu Sự tác động

này thể hiện ở chỗ nhập khẩu tạo đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu, điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang và kém phát triển, vì khả năng sản xuất của các quốc gia này còn có hạn Tạo môi trường thuận lợi cho việc

7

Trang 8

mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa của một quốc gia ra nước ngoài, thong qua quan hệ nhập khẩu cũng như các hình thức thanh toán đòi hỏi kết hợp nhập khẩu với xuất khẩu.

1.2.2 Xuất khẩu

Trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.

Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại việt nam 2005, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật

Các nhân tố tác động, khi các nhân tố liên quan đến chi phí sản xuất hàng xuất khẩu ở trong nước không thay đổi, giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của nước ngoài và vào tỷ giá hối đoái Thu nhập của nước ngoài tăng (cũng có nghĩa là khi tăng trưởng kinh tế của nước ngoài tăng tốc), thì giá trị xuất khẩu có cơ hội tăng lên Tỷ giá hối đoái tăng (tức là tiền tệ trong nước mất giá so với ngoại tệ), thì giá trị xuất khẩu cũng có thể tăng nhờ giá hàng tính bằng ngoại tệ trở nên thấp đi.

Xuất khẩu với tăng trưởng kinh tế, Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại nhu) Mức độ phụ thuộc của một nền kinh

tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân Đối với những nền kinh tế mà cầu nội địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Chính vì thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảo tăng

Trang 9

trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta đã gia tăng nhanh chóng trong những năm qua Theo số liệu của Bộ Công Thương, tổng kim ngạch xuất khẩu của hàng hóa cả nước năm 2014 ước đạt 150 tỷ USD, vượt 3,16% so với kế hoạch ( kế hoạc năm là 145,4 tỷ USD) và tăng 13,6% so với năm 2013 (tương ứng 18 tỷ USD) Năm 2012 tổng kim ngạch xuất khẩu của VN đạt 114,57 tỷ USD , tăng 18,2% so với năm 2011.

Sự tăng tốc của xuất khẩu của Việt Nam do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan trọng là do mở rộng thị trường xuất khẩu Vậy từ thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua và hiện nay có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý.

Thứ nhất, số nước và vùng lãnh thổ nhập khẩu hàng hoá từ nước ta đã tăng

nhanh trong hơn mười năm qua.

Thứ hai: bên cạnh việc mở rộng thị trường, theo phương châm đa dạng hoá,

đa phương hoá, việc xác định các thị trường trọng điểm là hết sức cần thiết để giảm chi phí vận chuyển, tiếp thị quảng cáo

Thứ ba, trong các thị trường trên có một số thị trường truyền thống, thị

trường tiềm năng, thị trường mới, thì kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam còn thấp như Indonesia, Mông Cổ, các nước Trung Nam Á, (kể cả Ấn Độ), các nước xã hội chủ nghĩa cũ, các nước Mỹ La tinh, các nước châu Phi, các nước Châu Đại Dương (trừ Australia là thị trường lớn).

Thứ tư, trong hơn 200 nước và vùng lãnh thổ có quan hệ buôn bán với Việt

Nam, thì: Việt Nam đã có vị thế xuất siêu đối với 159 nước và vùng lãnh thổ, trong đó xuất siêu lớn là Mỹ, Australia, Anh, Philippines, Đức, Bỉ,

9

Trang 10

Việt Nam còn ở vị thế nhập siêu đối với 47 nước và vùng lãnh thổ, trong đó nhiều nhất là Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông, Thụy Sĩ, Ấn Độ, Kuwait,

Theo đó, thì nhập siêu của Việt Nam chủ yếu là ở các thị trường gần, chưa phải là nơi có công nghệ nguồn; còn xuất siêu của Việt Nam lại chủ yếu là ở các thị trường xa, thị trường có công nghệ nguồn.

Vai trò của xuất khẩu

Xuất khẩu đã được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh

tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nước và cho nhu cầu nhập khẩu phục

vụ cho sự phát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thương mại Nhà nước đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích khu vực tư nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm và tăng ngoại tệ cho đát nước.

Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: Xuất khẩu hàng hoá; đầu tư nước ngoài; vay nợ, viện trợ; thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu sức lao động…

Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ… tuy quan trọng, nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kì sau này Nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.

Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên Nhưng mọi cơ hội đầu tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư

và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu - nguồn vốn chủ yếu để trả nợ trở thành hiện thực.

Trang 11

Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Cơ cấu sản xuất và tiêu dung trên thế giới đã và đang thay đổi

vô cùng mạnh mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta.

Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt

quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh té còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dung nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp.

Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ

chức sản xuất Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở:

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác cơ hội phát triển thuận lợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bong, sợi hay thuốc nhuộm, công nghiệp tạo mẫu… Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.

- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định.

11

Trang 12

- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.

- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kĩ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.

- Thông qua xuất khẩu, hang hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường.

- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị trường.

Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dânTác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt Trước hết sản xuất, chế biến và dịch vụ hang xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thu hút hang triệu lao động vào làm việc và

có thu nhập không thấp.

Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho

cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngành nghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiều hơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân được cải thiện.

Trang 13

Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn ccá haọt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan

hệ này phát triển Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế… Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề để cho mở rộng xuất khẩu.

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước.

Tài khoản vãng lai (còn gọi là cán cân vãng lai) trong cán cân thanh toán của

một quốc gia ghi chép những giao dịch về hàng hóa và dịch vụ giữa người cư trú trong nước với người cư trú ngoài nước Những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú trong nước cho người cư trú ngoài nước được ghi vào bên "nợ" (theo truyền thống kế toán sẽ được ghi bằng mực đỏ) Còn những giao dịch dẫn tới sự thanh toán của người cư trú ngoài nước cho người cư trú trong nước được ghi vào bên "có" (ghi bằng mực đen) Thặng dư tài khoản vãng lai xảy ra khi bên có lớn hơn bên nợ.

Theo quy tắc mới về biên soạn báo cáo cán cân thanh toán quốc gia do IMF soạn năm 1993, tài khoản vãng lai bao gồm:

1 Cán cân thương mại hàng hóa bao gồm: Xuất khẩu và nhập khẩu

2 Cán cân thương mại phi hàng hóa

- Cán cân dịch vụ bao gồm: Vận tải, du lịch và các dịch vụ khác

- Cán cân thu nhập bao gồm: Kiều hối và thu nhập từ đầu tư

3 Các chuyển khoản

13

Trang 14

Tất cả các khoản thanh toán của các bộ phận nhà nước hay tư nhân đều được gộp chung vào trong tính toán này.

Đối với phần lớn các quốc gia thì cán cân thương mại là thành phần quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai Tuy nhiên, đối với một số quốc gia có phần tài sản hay tiêu sản ở nước ngoài lớn thì thu nhập ròng từ các khoản cho vay hay đầu tư có thể chiếm tỷ lệ lớn.

Vì cán cân thương mại là thành phần chính của tài khoản vãng lai, và xuất khẩu ròng thì bằng chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước, nên tài khoản vãng lai còn được thể hiện bằng chênh lệch này.

Chương 2: Tình hình nền kinh tế , thực trạng, các biện pháp điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu tại Việt Nam từ 2010-2014.

2.1

Tình hình xuất nhập khẩu ở Việt Nam.

Cuối năm 2007 WTO nhận được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam , kể từ đâyViệt Nam chính thức trở thành thành viên đầy đủ của WTO Và cũng từ đây những cơ hội, thách thức của kinh tế Việt Nam nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung bắt đầu có một bước tiến mới, đánh dấu sự phát triển và thay đổi rõ rệt từ đó

Thương mại quốc tế được xem như động lực của tăng trưởng và phát triển,

hỗ trợ cho quá trình phân bổ các nguồn lực, nâng cao sản lượng và năng suất lao động dẫn đến việc tăng phúc lợi chung Tạo điều kiện cho các quốc gia thể hiện lợi thế của mình và trở trở thành công cụ quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu phát triển của quốc gia

Trong giai đoạn từ 2010-2014 nền kinh tế xuất nhập khẩu của Việt Nam có nhiều khởi sắc và tiến triển rõ rệt và phát triển hơn Và điều đó được thể hiện qua những thống kê với con số cụ thể qua từng năm vào từng thời điểm, bên

Trang 15

cạnh những điếm sáng, điêm mạnh thì về tình hình XNK ở Việt Nam vẫn còn gặp phải một số điểm bất ổn cần sửa chữa và khắc phục.

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu

hàng hóa giai đoạn 2010-2014

Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, đơn vị : tỉ USD

Theo biểu đồ thống kê có thể thấy, từ năm 2010 đến năm 2014 thì kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đều tăng lên so với các năm trước đó Cụ thể: năm 2010 xuất khẩu của VN đạt 74 tỉ USD thì sang năm

2011 con số đó đã là 93 tỉ USD cao hơn 19 tỉ USD đến năm 2014 con số đó đã chạm mốc 150 tỉ USD so với cùng kì Tương tự, đối với nhập khẩu, cũng tăng lên theo các năm Từ 82 tỉ USD trong năm 2010, nhập khẩu cũng tăng lên 109

tỉ USD năm 2011, đến năm 2012con số đó tiếp tục tăng Tuy nhiên không tăng mạnh so với các năm liền kề nó khi chỉ hơn năm 2011 có111 tỉ USD trong khi năm 2013 đạt mức 125 tỉ USD và tới năm 2014 thì đạt ngưỡng 155 USD Như

15

Ngày đăng: 13/05/2016, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w