Công ty mong muốn được cấp chứng chỉ rừng, giúp công ty quản lý rừng theo hướng tiên tiến, bền vững lâu dài, tuy nhiên các hoạt động sản xuất công ty chưa được đánh giá theo các tiêu chu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN HỒNG TUYÊN
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG, CHUỖI HÀNH TRÌNH SẢN PHẨM VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI CÔNG TY LÂM NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN HỒNG TUYÊN
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ RỪNG, CHUỖI HÀNH TRÌNH SẢN PHẨM VÀ LẬP KẾ HOẠCH QUẢN LÝ RỪNG
TIẾN TỚI CHỨNG CHỈ RỪNG TẠI CÔNG TY
LÂM NGHIỆP VĨNH HẢO - TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HOC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Nhâm
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Hồng Tuyên
Học viên cao học khóa 17 chuyên ngành: Lâm Nghiệp Niên khóa 2009 - 2011 Tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Đến nay tôi đã hòa thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan
- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện
- Số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng ai công bố trong các nghiên cứu khác
- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./
Thái nguyên, ngày 16 tháng 9 năm 2011
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hồng Tuyên
Trang 4Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn, song do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn đƣợc hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Hồng Tuyên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các sơ đồ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững 3
1.1.2 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC 6
1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) 14
1.2 Tại Việt Nam 14
1.2.1 Vấn đề QLRBV 14
1.2.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV 17
1.3 Thảo luận 21
Chương 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Mục tiêu 23
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 23
2.1.2 Mục Tiêu cụ thể 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam 23
2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Việt Nam 23 2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho Công ty 23
2.2.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty 23
2.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm: 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu 24
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 25
2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam 25 2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo 9 yêu cầu của Việt Nam 28
Trang 62.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 28
Chương 3: KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ RỪNG CỦA CÔNG TY 30
3.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích đất đai 30
3.1.2 Địa hình 30
3.1.3 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn 31
3.1.3.1 Khí hậu 31
3.1.3.2 Thủy văn 31
3.1.4 Đặc điểm về đất 31
3.1.5 Rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác 32
3.1.5.2 Tài nguyên đa dạng sinh học và các khu rừng có giá trị bảo tồn cao 33
3.1.5.3 Các loại tài nguyên thiên nhiên khác và tiềm năng khai thác dịch vụ môi trường 33
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 35
3.2.1 Đặc điểm kinh tế 35
3.2.1.1 Định hướng phát triển kinh tế 35
3.2.1.2 Cơ cấu ngành nghề chính của các xã trong vùng Công ty hoạt động 35 3.2.1.3 Tình hình chế biến và thị trường lâm sản 35
3.2.2 Đặc điểm xã hội, dân trí 36
3.2.2.1 Cơ cấu dân số, dân tộc, lao động 36
3.2.2.2 Văn hoá, giáo dục, y tế: 36
3.2.3 Kết cấu hạ tầng, mạng lưới đường sá, bến bãi: 36
3.2.4 Đánh giá chung về những khó khăn và thuận lợi của Công ty 37
3.3 Đánh giá tình hình quản lý rừng trong 5 năm qua 39
3.3.1 Sử dụng đất, hạ tầng, vốn 39
3.3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh 5 năm (2006 - 2010) 40
3.3.3 Về tác động xã hội 40
3.3.4 Về tác động môi trường 41
3.3.5 Bảo tồn đa dạng sinh học 42
3.3.6 Về kỹ thuật và công nghệ áp dụng 42
3.3.7 Hiện trạng về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị của Công ty 42
Trang 73.3.8 Quản lý rừng và tổ chức quản lý 43
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
4.1 Đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số quản lý rừng bền vững (FSC) 45
4.1.1 Đánh giá theo tài liệu quản lý 45
4.1.2 Khảo sát hiện trường 45
4.1.3 Ý kiến tham vấn 46
4.1.4 Tổng hợp đánh giá bằng điểm và kết quả xây dựng bằng đánh giá hiện tại và triển vọng bảng đánh giá sau 1 tháng 46
4.1.4.1 Tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá: là 10 tiêu chuẩn của FSC, 10 tiêu chuẩn này được cụ thể hoá bằng các tiêu chí, các chỉ số và các bằng chứng chứng minh 46
4.1.4.2 Kết quả đánh giá bằng điểm của các tiêu chuẩn 46
4.1.5 Đề xuất bảng sai phạm các lỗi không tuân thủ, phương hướng giải pháp và thời gian khắc phục 48
4.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 49
4.2.1 Đánh giá theo tài liệu quản lý 49
4.2.2 Khảo sát hiện trường 49
4.2.3 Ý kiến tham vấn 49
4.2.4 Tổng hợp đánh giá bằng điểm và kết quả xây dựng bằng đánh giá hiện tại và triển vọng bảng đánh giá sau 1 tháng 49
4.2.4.1 Yêu cầu được sử dụng để đánh giá: là yêu cầu của CoC, 09 yêu cầu này được cụ thể hoá bằng các chỉ số và nguồn kiểm chứng 49
4.2.4.2 Kết quả đánh giá bằng điểm của các yêu cầu 49
4.2.5 Tổng hợp các khiếm khuyết trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và giải pháp khắc phục 51
4.3 Lập kế hoạch quản lý rừng trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh (2011 - 2018) 51
4.3.1 Những căn cứ lập KHQLR 51
4.3.2 Mục tiêu 51
4.3.2.1 Mục tiêu chung 51
4.3.2.2 Mục tiêu cụ thể 52
4.3.3 Bố trí sử dụng đất đai 53
4.3.3.1 Phân chia đất đai theo mục đích sử dụng và chức năng 53
Trang 84.3.3.2 Bố trí quy hoạch sử dụng đất theo mục đích, chức năng sử dụng 54
4.3.4 Tổ chức bộ máy quản lý 55
4.3.4.1 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty 55
4.3.4.2 Lực lượng lao động 55
4.3.5 Kế hoạch sản xuất - kinh doanh trung hạn chu kỳ (2011 - 2018) cung cấp nguyên liệu giấy 56
4.3.5.1 Kế hoạch khai thác rừng 56
4.3.5.2 Kế hoạch vận chuyển, tiêu thụ, chế biến 60
4.3.5.3 Kế hoạch trồng rừng 60
4.3.5.4 Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường 67
4.3.5.5 Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội 68
4.3.5.6 Kế hoạch bảo tồn Đa dang sinh học và nuôi dưỡng RTN 68
4.3.5.7 Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng 69
4.3.5.8 Kế hoạch nhân lực và đào tạo: 70
4.3.5.9 Kế hoạch giám sát, đánh giá 72
4.3.5.10 Phân tích hiệu quả 76
Chương 5: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 78
5.1 Kết luận 78
5.1.1 Kết quả đánh giá quản lý rừng bền vững 78
5.1.2 Kết quả đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC 79
5.1.3 Xây dựng kế hoạch quản lý rừng cho công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo giai đoạn 2011 - 2018 80
5.2 Tồn tại 81
5.3 Kiến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Diện tích đất quản lý phân theo địa giới hành chính xã 30
Bảng3.2 Tổng hợp diện tích rừng trồng trên đất Công ty quản lý 32
Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh từ 2006 - 2010 40
Bảng 3.4 Trang thiết bị khai thác vận chuyển 43
Bảng 4.1 Những lỗi không tuân thủ được nhận dạng và các hoạt động khắc phục 48
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất 53
Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất sau khi đã loại trừ 54
Bảng 4.4 Kế hoạch khai thác 1 chu kỳ 57
Bảng 4.5 Kế hoạch khai thác năm 2011 59
Bảng 4.6 Kế hoạch trồng rừng cho một chu kỳ 8 năm 61
Bảng 4.7 Kế hoạch trồng rừng năm 2011 62
Bảng 4.8 Kế hoạch chăm sóc rừng cho 1 chu kỳ 63
Bảng 4.9 Chi phí chăm sóc rừng cho 1 chu kỳ 63
Bảng 4.10 Chi phí tạo cây con cho 1 chu kỳ 64
Bảng 4.11 Kế hoạch cấp phát dụng cụ phòng cháy, chữa cháytrong giai đoạn 2011 - 2018 66
Bảng 4.12 kê thuốc phòng trừ sâu bệnh hại 67
Bảng 4.13 Kế hoạch xây dựng các công trình dịch vụ, phúc lợi 70
Bảng 4.14 Phương án sử dụng lao động từ năm 2011 đến 2018 71
Bảng 4.15 Hiệu quả kinh tế 76
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢN ĐỒ
Sơ đồ 1: Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Vĩnh Hảo 25
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức Công ty LN Vĩnh Hảo 55
Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng 34
Bản đồ quản lý tài nguyên rừng 58
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng vừa là một hiện tượng tự nhiên, vừa là một hiện tượng lịch sử, tài nguyên có thể tái tạo, đóng vai trò vô cùng quan trọng với đời sống con người Khi tác động con người đang làm diện tích rừng bị giảm đi đáng kể, thì việc phát triển bền vững (PTBV) nguồn tài nguyên này có ý nghĩa rất lớn Ý nghĩa thể hiện ở sự duy trì kéo dài năng lực sản xuất của rừng đáp ứng các nhu cầu của xã hội loài người Phát triển, lợi dụng rừng chính là một phạm trù trong PTBV
Quản lý rừng bền vững (QLRBV) là một bộ phận không thể tách rời của PTBV, trở thành cao trào, đặc biệt đối với các nước nhiệt đới trong đó có Việt Nam, thì tầm quan trọng của QLRBV càng được cảm nhận rõ rét Đây là vấn đề nhận thức của quốc gia về giải pháp bảo vệ rừng của mình, mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích
từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu lâm sản của mình vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao QLRBV là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất trong bảo vệ và phát triển rừng
Khi đơn vị quản lý rừng được cấp chứng nhận QLRBV thì chứng chỉ rừng (FM-FSC) chính là sự xác nhận bằng văn bản về việc đơn vị đã đã được sản xuất trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không gây ảnh hưởng xấu đến các chức năng sinh thái của rừng, môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học Có thể nói chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hóa mà trong nhiều trường hợp nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi trường nói chung
Quá trình sản xuất từ khâu khai thác đến sản phẩm và tiêu thụ cần phải trải qua nhiều bước, bao gồm khai thác, chế biến, phân phối và tiêu thụ, được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC) Kiểm chứng từng bước trong quá trình này sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được với khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ bán thực sự có nguồn gốc từ các khu rừng được cấp chứng chỉ Việc đạt chứng chỉ CoC là yêu cầu bắt buộc với việc dãn nhãn và bán sản phẩm
từ gỗ FSC, đặc biệt khi đơn vị bán gỗ sang các thị trường Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
Trang 13Trong QLRBV thì việc lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu, điều này được chỉ rõ trong bộ tiêu chuẩn Quốc gia QLRBV của Việt Nam KHQLR bao gồm nhiều nội dung nhưng vấn đề quản lý khai thác giữ vai trò quan trọng nhất Trong bộ tiêu chuẩn Việt Nam về QLRBV (gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và khoảng 160 chỉ số) có nhiều tiêu chuẩn và tiêu chí liên quan đến lập kế hoạch quản lý rừng, trong đó tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng kế hoạch quản lý
Nhiều nước trên thế giới đã khá thành công trong việc cấp chứng chỉ rừng, chứng chỉ CoC, góp phần đáng kể trong QLRBV Ở Việt Nam khái niêm QLRBV, chứng chỉ rừng, chứng chỉ CoC còn rất mới mẻ và còn ít kinh nghiệm Tính tới thời điểm hiện nay phần lớn các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa được cấp chứng chỉ rừng vì hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị này vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định để được FSC cấp chứng chỉ rừng và chứng chỉ CoC Bên cạnh đó các đơn vị chưa nhận dược một hướng dẫn cụ thể về việc tiến hành đánh giá các tiêu chuẩn QLRBV và tiêu chuẩn CoC Do đó để các đơn vị kinh doanh đảm bảo sản xuất bền vững, cạnh tranh hội nhập được với thế giới thì đòi hỏi các đơn vị cần nhận thức được vấn đề này
Công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc tỉnh Hà Giang Công ty mong muốn được cấp chứng chỉ rừng, giúp công ty quản lý rừng theo hướng tiên tiến, bền vững lâu dài, tuy nhiên các hoạt động sản xuất công ty chưa được đánh giá theo các tiêu chuẩn quốc gia QLRBV và chuỗi hành trình sản phẩm Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý
luận và thực tiễn tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại Công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo, tỉnh Hà Giang”
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển
về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai
xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Thuật ngữ "PTBV" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của
nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Con người càng nhân thức rừng cần được quản lý tốt để cung cấp ổn định và lâu dài các lợi ích cho con người Vấn đề được quan tâm là phải quản lý như thế nào
để các lợi ích trên các mặt kinh tế, môi trường, xã hội được đảm bảo bền vững, với một loạt các công ước, chương trình lớn quy mô toàn cầu được ra đời cùng hướng tới vấn đề này Cuối thế kỷ XX, những người sử dụng và kinh doanh gỗ chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được quản lý bền vững, từ đó một loạt tổ chức hoạt động về QLRBV ra đời Cộng đồng quốc tê tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTO); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Các định nghĩa QLRBV được đưa ra như sau:
Tổ chức Quốc tế về Gỗ Nhiệt đới Tổ chức (ITTO) cho rằng: “QLRBV là quá
trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu
Trang 15quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”
Theo tiến trình Hensinki, QLRBV là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái , kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác
Các đinh nghĩa trên tựu trung lại có các vấn đề chính là: quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường
Trong số này, FSC là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cả cho rừng tự nhiên và rừng trồng, cả cho rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Chứng chỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu đều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước công nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBV trong hội nhập quốc tế Hiện nay có 23 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng
Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệt cho áp dụng Trong QLRBV, các nguyên lý được đặt ra là:
Nguyên lý thứ nhất: Sự bình đẳng giữa các thế hệ trong sử dụng tài nguyên rừng Nguyên lý thứ hai: Trong QLRBV, ở đâu có những nguy cơ suy thoái nguồn tài nguyên rừng và chưa có đủ cơ sở khoa học thì chưa nên sử dụng biện pháp phòng ngừa về suy thoái môi trường
Trang 16Nguyên lý thứ ba: Sự bình đẳng và công bằng trong sử dụng tài nguyên ở cùng thế hệ
Nguyên lý thứ tư: Tính hiện quả sử dụng tài nguyên rừng, nhất là về mặt kinh tế và sinh thái
Để xác nhận QLRBV của chủ rừng cần được xác nhận bằng văn bản rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ QLRBV đã được sản xuất trên cơ sở rừng được tái tạo lâu dài, không gây ảnh hưởng xấu đến các chức năng sinh thái của rừng, môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học Đó
có các Chương trình chứng chỉ quốc gia như Hội đồng chứng chỉ gỗ (MTCC) ở
Malaysia, Viện dán nhãn sinh thái Lambaga (LEI) ở Indonesia
PEFC đưa ra cơ chế đảm bảo với những người thu mua sản phẩm gỗ và giấy rằng họ đang xúc tiến công tác QLRBV PEFC là chương trình quy mô toàn cầu về đánh giá và công nhận lẫn nhau của các tổ chức chứng chỉ rừng quốc gia đã được phát triển trong quá trình có các bên tham gia
Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS), sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới phức tạp MTCS sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí cho chứng chỉ quản lý rừng bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí MTCS có 10 thành viên, chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích rừng được chứng nhận là 4.8 triệu ha
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ quan cấp chứng chỉ ở Indonesia
Trang 17Ở Châu Mỹ: Đến thời điểm tháng 12 năm 2005, diện tích rừng được FSC cấp
chứng chỉ là 29.252.921 ha với 332 chứng chỉ, trong số này Canada dẫn đầu với 15.231.115 ha và 26 giấy chứng chỉ, tiếp theo là Mỹ với 5.671.251 ha và 97 chứng chỉ và Braxin với 3.455.582 ha và 60 chứng chỉ Các diện tích được cấp chứng chỉ cũng chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Về chứng chỉ CoC, hiện Châu Mỹ có 941 giấy chứng nhận trong đó Mỹ dẫn đầu với 475 giấy, tiếp sau đó là Chi Lê và Braxin
Ở Nam Mỹ: Có tổng số hơn 7 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, trong
đó Bolivia, Braixin là 2 quốc gia có diện tích rừng được cấp CCR lớn nhất, chủ yếu
là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Hiện nay Braxin, Bolivia, Costa Rica, Uruguay, Guatêmala là các quốc gia xuất khẩu một khối lượng lớn nhất thế giới gỗ có chứng chỉ FSC, mà Việt Nam là một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất
Ở Châu Á – Thái Bình Dương: Hiện có 2.577.151 ha rừng với 63 giấy chứng
chỉ FSC, trong số đó Úc, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản Australia và New Zealand là những quốc gia dẫn đầu về diện tích và số chứng chỉ được cấp Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia cũng đã xây dựng các quy trình CCR quốc gia, đồng thời họ cũng đã có một số khu rừng tự nhiên được FSC cấp chứng chỉ Ngoài ra các nước khác như Papua Niu- Ghi nê, Quần đảo Solomon cũng đã có nhiều khu rừng được cấp chứng chỉ, mà hiện cung cấp khá nhiều gỗ có CCR FSC cho các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam Các nước khác như Thái Lan cũng có một vài diện tích rừng nhỏ được FSC cấp chứng chỉ gần đây Như vậy, rõ ràng CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm, diện tích được chứng chỉ mới chỉ chiếm diện tích rất nhỏ đã được chứng chỉ của thế giới, chủ yếu là chứng chỉ FSC Nguyên nhân là các nước trong các khu vực này phần lớn là kém phát triển, quản lý rừng còn ở trình độ thấp, các chủ rừng không có đủ nguồn lực cải thiện quản lý rừng để đạt tiêu chuẩn CCR, và chi phí cho CCR cũng là một yếu tố hạn chế
1.1.2 Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm FSC/CoC
Chứng chỉ rừng (CCR) có 2 phần là chứng chỉ quản lý rừng và chứng chỉ
chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau về CCR,
nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định, và cấp giấy chứng chỉ có thời hạn
Trang 18Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Nói cách khác , chứng chỉ rừng
là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững
Một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là thâm nhập thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ, vì vậy chứng chỉ rừng thường gắn với chứng chỉ chuỗi hành trình (CoC)- xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ Chủ rừng được chứng chỉ theo quy trình nào thì được cấp giấy chứng chỉ và các sản phẩm làm ra được mang nhãn mác của quy trình đó Hiện nay trên thế giới có 2 quy trình CCR quốc tế lớn là Hội đồng quản trị rừng (FSC) và Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC), chiếm trên 60% diện tích rừng được chứng chỉ của thế giới
Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của người dân Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân
cư sống trong rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền vững Như vậy, có thể nói quản lý rừng bền vững là mục tiêu, còn chứng chỉ rừng chỉ là một trong những công cụ hay biện pháp chủ yếu
để đạt mục tiêu đó Chứng chỉ rừng là cần thiết vì:
Cộng đồng quốc tế, chính phủ, các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi trường, xã hội v.v đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ đã được quản lý bền vững
Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững
Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc biệt là gỗ, được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững
Trang 19Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận QLRBV của chủ rừng, cũng như chứng chỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản xuất công nghiệp Có thể ví thực hiện QLRBV như một quá trình “học”, còn chứng chỉ rừng như một kỳ thi, chủ rừng được cấp chứng chỉ tức là đã “thi đỗ” bằng QLRBV
Mục tiêu của chứng chỉ rừng trước hết là thúc đẩy QLRBV, ngăn chặn tình trạng giảm diện tích và suy thoái rừng đang diễn ra ngày một gay gắt, đặc biệt là rừng nhiệt đới ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, tổng diện tích cũng như tỷ lệ rừng nhiệt đới được chứng chỉ cho đến nay còn rất nhỏ bé nên không gian tác động của CCR đối với rừng nhiệt đới con rất hạn chế, khiến một số tác giả cho là đã thất bại Mặc dù vậy CCR có tác động đáng kể đến chất lượng quản lý rừng, thương mại
gỗ của thế giới, và cách thức quản lý nhà nước về lâm nghiệp
Trước hết CCR tác động trực tiếp đến QLR Muốn được cấp chứng chỉ rừng thì phải đạt tiêu chuẩn QLRBV Do có sự khác nhau rất lớn giữa các quốc gia và các vùng về trình độ quản lý rừng nên mức độ tác động của CCR cũng rất khác nhau: ở khu vực ôn đới, gồm phần lớn các nước đã phát triển, quản lý rừng hầu như
đã đạt trình độ bền vững nên tác động của CCR thường không đáng kể, việc thực hiện CCR diễn ra nhanh chóng, trái lại ở khu vực nhiệt đới gồm phần lớn là các nước đang phát triển, trình độ quản lý rừng còn thấp, muốn đạt CCR thì phải trải qua quá trình cải thiện quản lý rừng và giải quyết nhiều vấn đề kinh tế xã hội bức xúc, do đó CCR thực sự đã có những tác động đáng kể Nói chung bộ tiêu chuẩn của tất cả các quy trình CCR đều yêu cầu một trình độ quản lý rừng cao hơn nhiều
so với trình độ của rất nhiều nước đang phát triển nhiệt đới, và những tác động của CCR như trình bày dưới đây chủ yếu liên quan đến khu vực này của thế giới CCR tác động đến quản lý rừng về các mặt:
* Cải tiến kế hoach quản lý: Để thực hiện tiêu chuẩn QLRBV thì chủ rừng phải xây dựng một kế hoạch quản lý toàn diện trên cơ sở những khảo sát đánh giá
về hiện trạng kinh tế xã hội và môi trường và những số liệu chính xác về điều tra rừng Kế hoạch phải bao gồm đầy đủ các nội dung như mục tiêu quản lý, mô tả tài nguyên, hệ quản lý lâm sinh, định mức khai thác, phương pháp đánh giá sinh trưởng
Trang 20và động thái của rừng, xác định và bảo vệ các hệ sinh thái đặc biệt và các khu rừng
có giá trị bảo tồn cao, kỹ thuật khai thác giảm thiểu tác động, giám sát đánh giá, đào tạo huấn luyện nhân viên (chi tiết về kế hoạch quản lý xin xem Tiêu chuẩn 7 của Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam) Khi thực hiện tiêu chuẩn QLRBV để được chứng chỉ thì việc xây dựng kế hoạch quản lý là việc đầu tiên chủ rừng phải làm và tài liệu đầu tiên tổ chức chứng chỉ cần kiểm tra chính là bản kế hoạch quản lý rừng
* Ứng dụng khoa học kỹ thuật: Tiêu chuẩn QLRBV yêu cầu chủ rừng phải luôn quan tâm cải tiến hoặc áp dụng công nghệ tiên tiến hiệu quả cao trong mọi hoat động quản lý rừng như điều tra quy hoạch rừng, những hoạt động lâm sinh, khai thác chế biến v.v Chỉ có thể trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao chủ rừng mới có thể đạt hiệu quả cao và bền vững trong sản xuất kinh doanh rừng, một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất của CCR
* Bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học: Ở Việt Nam nhiệm vụ bảo tồn rừng và đa dạng sinh học không được đạt ra đối với rừng sản xuất, nhưng tiêu chuẩn QLRBV của tất cả các quy trình CCR đều có yêu cầu về bảo tồn rừng và đa dang sinh học đối với quản lý rừng sản xuất, kể cả rừng trồng Bộ tiêu chuẩn FSC có tới 7 tiêu chí (thuộc các Tiêu chuẩn 6 và 9) nói về yêu cầu bảo tồn các hệ sinh thái đặc biệt và đa dạng sinh học Chứng chỉ rừng ở các nước Châu Âu đã có tác dụng đáng
kể đến việc phục hồi rừng thứ sinh trở lại gần giống hơn với rừng tự nhiên có đa dạng sinh học cao hơn
* Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội: Có các báo cáo là CCR đã có tác dụng khuyến khích sử dụng lao động tại chỗ, giải quyết việc làm cho người địa phương Nhiều người được trở thành công nhân lâm nghiệp hoặc làm hợp đồng cho các chủ rừng, nhờ vậy có thêm thu nhập, đời sống được cải thiện Tuy nhiên mức độ của tác động này thường chỉ thấy rõ ở các nước nghèo vùng nhiệt đới, còn ở các nước đã phát triển khu vực ôn đới thì không đáng kể Trong nhiều trường hợp CCR
ở khu vực nhiệt đới cũng có tác động đến các quyền của công nhân lâm nghiệp: các chủ rừng được chứng chỉ đạt mức cao hơn về chăm sóc sức khoẻ, an toàn lao động
so với quy định của nhà nước
Trang 21* Tăng cường giám sát đánh giá và thông tin tư liệu: Giám sát đánh giá là một nội dung hết sức quan trọng của QLRBV Ở những nơi công tác giám sát đánh giá còn yếu thì CCR đã có tác dụng rõ rệt là đưa công việc GSĐG trở thành nhiệm
vụ thường xuyên của quản lý rừng Bộ tiêu chuẩn FSC giành toàn bộ Tiêu chuẩn 8
để quy định về GSĐG Cùng với việc tăng cường GSĐG, chủ rừng còn phải lập hệ thống thông tin tư liệu phục vụ cho công tác quản lý hàng ngày cũng như cho quá trình CCR, một yêu cầu bắt buộc của tất cả các quy trình CCR
* Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ công nhân viên: Việc thực hiện tiêu chuẩn QLRBV đòi hỏi chủ rừng phải có đội ngũ cán bộ công nhân viên được đào tạo tấp huấn về nhiều mặt như trình độ quản lý, xây dựng kế hoạch, bảo tồn, giám sát đánh giá, thông tin tư liệu, phân tích thị trường v.v Các bộ tiêu chuẩn CCR đều có yêu cầu về đào tạo tập huấn cán bộ tương xứng với nhiệm vụ được giao
Với bất kỳ một chương trình cấp chứng chỉ rừng nào việc xem xét mối liên
hệ của một sản phẩm gỗ từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được chế biến thành sản phẩm cuối cùng và được đem tiêu thụ tại thị trường là một việc rất cần thiết vì nó cung cấp các cơ sở cho việc dán nhãn sản phẩm Khái niệm này được gọi
là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody) - CoC Chuỗi hành trình sản
phẩm được dùng chính thức để tăng cường hiệu lực luật lâm nghiệp, bảo đảm rằng tất cả quyền lực chính phủ và thuế đã được áp dụng và để chứng tỏ rằng các sản phẩm được dán nhãn có nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ
Chuỗi hành trình sản phẩm cũng đã trở thành yêu cầu một số thi trường Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép như một phần của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng, sáng kiến hành chính và thương mại (FLEGT) Theo
hệ thống này nhập khẩu gỗ vào EU phải chứng minh nguồn gốc hợp pháp (xác định bởi các nước xuất khẩu trên cơ sở luật pháp hiện hành) Do vậy, dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho và chế biến cần được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU
Trang 22Phần lớn các nước nhiệt đới dùng hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy
tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phầm gỗ, nhưng gần đây các hệ thống thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây chuyền cung cấp
Giá trị của chứng chỉ quản lý rừng không lớn nếu không được tiếp tục bằng
chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) Trong phần này sẽ xem quá trình hình
thành một sản phẩm rừng bắt đầu từ nguyên liệu khai thác từ một khu rừng được cấp chứng chỉ đến khi được đem tiêu thụ tại thị trường Đây là bộ phận rất quan trọng của bất kỳ một chương trình cấp chứng chỉ rừng nào vì nó cung cấp các cơ sở
cho việc dán nhãn sản phẩm
Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) là một hệ thống xác minh và theo dõi toàn bộ quá trình từ nguyên liệu gỗ có chứng chỉ QLR đến sản phẩm cuối cùng là hàng hoá tiêu dùng bán trên thị trường Nhờ áp dụng CoC người ta có thể truy tìm nguồn gốc ban đầu của sản phẩm Quá trình theo dõi này trong thực tế khá phức tạp
vì trong công nghiệp chế biến gỗ, nguyên liệu phải đi qua rất nhiều công đoạn khác nhau như vận chuyển, buôn bán, chế biến v.v., và trải qua nhiều chủ sở hữu khác nhau từ khi cây gỗ đựợc khai thác từ rừng Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) kết hợp việc cấp giấy chứng nhận được dùng để cung cấp thông tin về hành trình của gỗ
từ rừng, qua lưu kho và vận chuyển tới người sử dụng cuối cùng và để chứng thực
Trang 23rằng nguyên liệu gỗ thô có nguồn gốc tài nguyên hợp pháp, quản lý bền vững hoặc nếu không thì nguồn gốc có thể chấp nhận được Chuỗi hành trình sản phẩm được coi là công
cụ chủ yếu đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu
Theo quy định của đánh giá CoC thì việc kiểm soát nguồn gốc gỗ phải thông suốt liên kết nhau thành một chuỗi thành các công đoạn cơ bản: từ rừng, đến vận chuyển gỗ về nhà máy, cưa xẻ, sấy, lắp ráp, lưu kho và phân phối Hệ thống CoC sẽ
hỗ trợ đơn vị kinh doanh lâm nghiệp:
- Bảo đảm về các sản phẩm gỗ bán ra và nguồn gốc của gỗ
- Cải thiện các hệ thống tài liệu nội bộ của đơn vị và giúp đơn vị chuẩn bị để đạt được chứng chỉ ISO hoặc chứng nhận khác
- Nếu là Công ty chế biến gỗ, hệ thống CoC có thể giúp cải thiện hiệu quả sản xuất của nhà máy và giúp cho việc sử dụng số vốn đầu tư vào gỗ nguyên liệu hiệu quả hơn
- Đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về hệ thống CoC
- Hệ thống CoC đã hoặc sẽ là yêu cầu bắt buộc đối với các sản phẩm gỗ xuất khẩu sang Châu Âu, Anh và các quốc gia khác
- Hệ thống CoC là yêu cầu cần thiết đối với việc dán nhãn và bán sản phẩm làm từ gỗ được chứng chỉ
Các tiêu chuẩn FSC áp dụng chứng nhận FSC-CoC hiện đang áp dụng:
+ Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-004 (Ver 02) - Tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm đối với các Công ty cung cấp và chế biến sản phẩm có chứng nhận FSC
+ Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-005 (Ver 02) - Tiêu chuẩn FSC dành cho các Công ty đánh giá nguồn gỗ có kiểm soát FSC
+ Tiêu chuẩn: FSC-STD-30-010 (Ver 02) - Tiêu chuẩn gỗ có kiểm soát FSC dành cho các tổ chức quản lý rừng
+ Tiêu chuẩn: FSC-STD-40-201(Ver 02) - Các yêu cầu dán nhãn FSC trên sản phẩm
Một hệ thống CoC của FSC có 5 yêu cầu, hiện nay trên thị trường có một số hình thức CoC, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu mà doanh nghiệp sở hữu (mua vào và xuất ra) Hình thức CoC được lựa chọn sẽ quyết định việc xây dựng và thực hiện hệ thống CoC cho doanh nghiệp đó Quy trình FSC có hai hình thức CoC chính là:
Trang 24- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có chứng chỉ FSC
- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu chưa có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ FSC
Tuy nhiên, cho dù đơn vị sản xuất 100% gỗ có nguồn gốc FSC và sản xuất riêng gỗ không có chứng chỉ FSC thì việc xác nhận và truy tìm nguồn gốc (identification and traceability) vẫn phải bắt buộc được thực hiện
Ở Brazil hệ thống kiểm tra của Chính phủ sử dụng để thầm tra tính hợp pháp
và nguồn gốc gỗ, sản phẩm gỗ dựa 2 văn bản chính thức và bắt buộc
Ở Cameroon việc kiểm tra trước khi khai thác, triển vọng khai thác và thể
tích khai thác được cấp phép cung cấp nền tảng thành lập hệ thống chuỗi hành trình của Chính phủ Trong rừng, công ty khai thác hoàn thành Bản đăng ký khai thác DF10 nêu tên công ty, đơn vị quản lý rừng và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như loại cây, đường kính (ngọn, gốc, trung bình), chiều dài, thể tích và giá trị
Các dữ liệu đặc tính gỗ tròn nêu trong DF10 được sơn tại một đầu mút của
gỗ để dễ dàng nhận biết đặc tính vật lý của gỗ khi tới nhà máy đầu tiên hoặc cảng xuất khẩu và hoá đơn vận chuyển gỗ được dùng để kiểm tra sự chuyển giao gỗ từ khu rừng tới địa điểm vận chuyển gỗ
Các hoá đơn vận chuyển gỗ có nêu tên công ty, đơn vị quản lý rừng, nơi đến,
sổ đăng ký xe tải và dữ liệu về gỗ riêng lẻ như: nhóm gỗ (quy định theo DF10), loại cây, đường kính (chóp, đáy) chiều dài và thể tích
Ở Malaysia: Tất cả các rừng bảo tồn ở Peninsular Malaysia và một vài khu
rừng trồng ở Sabah và Sarawak đã được cấp chứng chỉ, chủ yếu bởi Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia Với các khu vực được chứng chỉ, rất dễ theo dõi gỗ tròn tới tận gốc đốn, ở các rừng khác, gỗ tròn có thể được theo dõi tới vùng được chứng chỉ, tại đó gỗ đã được khai thác
Hiện nay, ITTO hiện đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp Các công ty gỗ nên được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát
Trang 25Mặc dù thị phần sản phẩm FSC liên tục tăng trưởng, nhưng nguồn nguyên liệu có chứng chỉ cung cấp vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu Tạo điều kiện cho các nhà sản xuất cung cấp các sản phẩm có gắn nhãn FSC, FSC đã giới thiệu loại nhãn
“FSC Mixed Sources”, cho phép doanh nghiệp sản xuất được pha trộn nguyên liệu
được chứng chỉ FSC với nguyên liệu không có chứng chỉ Phần nguyên liệu không
có chứng chỉ phải thực hiện đúng theo các tiêu chuẩn kiểm soát được gọi là FSC Controlled Wood, phải tránh năm nguồn gốc sau:
- Gỗ khai thác trái phép
- Gỗ khai thác vi phạm các quyền truyền thống
- Gỗ khai thác trong rừng được chứng nhận có giá trị bảo tồn cao (đặc biệt có giá trị cần bảo vệ) và đang bị đe dọa
- Gỗ khai thác từ rừng tự nhiên chuyển đổi
- Gỗ khai thác từ những cây biến đổi gen
1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR)
Lập KHQLR là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp và được thực hiện bao gồm 10 nhiệm vụ như: Lập bản đồ chức năng rừng dựa trên các kết quả khảo sát chuyên đề và ảnh vệ tinh
1.2 Tại Việt Nam
1.2.1 Vấn đề QLRBV
Quan niệm QLRBV ở Việt Nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20 Từ đó đến nay, vấn đề QLRBV luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam
Việt Nam được xem là nước có diện tích rừng tự nhiên tương đối lớn trong vùng Đông Nam Á Năm 1943, diện tích rừng khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43% Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tổng diện tích rừng của cả nước hiện nay là 13.258.843 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 10.339.305 ha, rừng trồng chiếm 2.919.538 ha, độ che phủ 39,1% Tuy diện tích rừng có tăng lên trong những
Trang 26năm gần đây do thực hiện các chương trình trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên nhưng chất lượng rừng vẫn tiếp tục bị suy giảm, do việc khai thác rừng tự nhiên không đúng quy trình, khai thác bất hợp pháp
Từ năm 1993, nhờ nỗ lực to lớn của Nhà nước và nhân dân thông qua các Chương trình lớn như: 327, 661 trên 2 triệu ha rừng đã được phục hồi Song đó mới
là con số về số lượng, nếu rừng không được quản lý bền vững thì việc mất rừng sẽ song song diễn ra với quá trình phục hồi rừng, và chất lượng rừng cũng như các chức năng phòng hộ môi trường, xoá đói giảm nghèo cũng không thể phát huy được Chính vì vậy, quá trình QLRBV đang là 1 phong trào rộng lớn quy mô toàn cầu, và là chủ đề chính trong hợp tác lâm nghiệp của ASEAN Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (LNQG) giai đoạn 2006-2020 đang được xây dựng và sẽ được thực hiện từ đầu năm 2006, trong 3 Chương trình phát triển ưu tiên của chiến lược LNQG (2006-2020) thì Chương trình QLRBV là Chương trình thứ nhất Để QLRBV trước hết cần tạo ra các điều kiện cần và đủ về rừng, về pháp luật, và về xã hội, thị trường, trước hết cần xác định được một lâm phận ổn định không chỉ trên quy hoạch, trên bản đồ, mà phải cả trên thực địa của cả nước và từng khu rừng
Mục tiêu chính của QLRBV là nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả quản
lý của chủ rừng đối với từng khu rừng cụ thể, sử dụng tối đa các lợi ích kinh tế, lợi ích môi trường và lợi ích xã hội của rừng, nhưng ổn định và bền vững lâu dài Quốc
tế và từng quốc gia có các bộ tiêu chuẩn chủ để chủ rừng so sánh, phấn đấu cho đạt tiêu chuẩn QLRBV, khi đó sẽ được cấp chứng chỉ rừng và cho lâm sản khai thác từ các khu rừng này Các sản phẩm có chứng chỉ QLRBV được mọi thị trường thế giới tiêu thụ ưu tiên với giá cao Vì vậy trong chiến lược LNQG 2006-2020, Chương trình QLRBV là Chương trình được phân kỳ thành giai đoạn 2006-2010, 2011-2020
và xác định từng bước đi cho tới kết quả đạt chứng chỉ cho các đơn vị quản lý rừng sản xuất theo một lộ trình xác định trong từng kế hoạch 5 năm Đây là Chương trình rất cơ bản để đưa quản lý lâm nghiệp Việt Nam vào ổn định, hiệu quả, đem lại không chỉ lợi ích kinh tế rõ rệt cho chủ rừng mà còn đảm bảo ổn định diện tích, chất lượng rừng cùng các lợi ích môi trường, xã hội cho cộng đồng và quốc gia trong quá tình hội nhập quốc tế
Trang 27Tất cả các quy trình CCR quốc tế đều là phi chính phủ, độc lập với chính phủ Điều này gây cảm giác có vẻ như CCR làm giảm quyền lực của nhà nước trong việc kiểm soát ngành lâm nghiệp thông qua các chính sách và định chế truyền thống Việc thực hiện tiêu chuẩn QLRBV của các quy trình chứng chỉ rừng lại có những nội dung vượt ra ngoài khuôn khổ chính sách của chính phủ, do vậy thời gian đầu các cơ quan nhà nước tỏ ra không chấp nhận CCR, coi CCR là rào cản thương mại, còn các chủ rừng nhà nước cũng không thấy hấp dẫn lắm với CCR, nhất là ở những nơi chưa có áp lực của thị trường gỗ Tuy nhiên, có một điểm thống nhất rất quan trọng giữa quản lý nhà nước và CCR là đều có mục tiêu khuyến khích quản lý rừng bền vững Nhiều cán bộ nhà nước sau đó đã tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc gia QLRBV do các tổ chức phi chính phủ khởi xướng nên đã hiểu nội dung của QLRBV và biết rằng mục đích của CCR không có gì khác hơn là một công cụ rất hiệu quả thúc đẩy QLRBV quy mô quốc gia và quốc tế Kết quả là một
số cơ quan nhà nước bắt đầu điều chỉnh chính sách lâm nghiệp để hài hoà tiêu chuẩn nhà nước với tiêu chuẩn CCR quốc tế để tạo điều kiện cho các chủ rừng thực hiện tiêu chuẩn quốc tế Chính phủ cũng bắt đầu thấy rằng rừng đã được cấp chứng chỉ được quản lý tốt hơn nhiều so với rừng không được chứng chỉ, nhất là ở những nước có trình độ quản lý rừng đang còn ở trình độ thấp Ở Việt Nam, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã giao cho Chương trình hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) biên soạn tài liệu Cẩm Nang Ngành Lâm Nghiệp, trong đó có chương Chứng Chỉ Rừng đã trình bày chi tiết những vấn đề của CCR, đặc biệt là chứng chỉ FSC
Quá trình xây dựng tiêu chuẩn QLRBV và đánh giá CCR luôn yêu cầu có sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan khác nhau, tạo ra những diễn đàn để các bên liên quan thảo luận trao đổi thống nhất ý kiến, tức là làm cho tiếng nói của các tổ chức môi trường và xã hội có trọng lượng hơn Sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan trong CCR còn có tác dụng tăng cường tính minh bạch, công khai trong quản lý bảo vệ rừng, góp phần đấu tranh chống tiêu cực trong ngành lâm nghiệp, nhất là ở những nước mà tệ nạn tàn phá rừng còn phổ biến
Trang 28Năm 1998, Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng 3 tổ chức quốc tế đồng tổ chức phát động 1 phong trào QLRBV và chứng chỉ rừng rộng rãi trong cả nước Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên để thực hiện chương trình hành động mà hội thảo đề xuất, đồng thời xây dựng tổ chức và năng lực làm việc để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành việc của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và Chứng chỉ rừng tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản
lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)
1.2.2 Các chính sách chính liên quan QLRBV
Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 8,4 triệu ha rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ
Các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
+ Luật Đất đai, năm 2003 đã quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các
nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11)
+ Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004: Điều 9 đã quy định các hoạt
động để đảm bảo QLRBV: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản
lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những
Trang 29quy định liên quan tới QLRBV thuộc các lĩnh vực, như: Điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Bảo vệ thiên nhiên; Bảo vệ đa dạng sinh học; Bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; Bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm
dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; Phát triển năng lượng sạch
+ Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính
phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và
phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát
triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp ” Đây là
một mục tiêu đầy tham vọng và để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập
được những định hướng mới trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua
các chương trình đào tạo, hợp tác và nghiên cứu
Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các cuộc khảo sát và có các hội thảo để từng tỉnh tự đánh giá hiện trạng quản lý rừng của các huyện và các lâm trường theo
các tiêu chí của bộ tiêu chuẩn QLRBV nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn
quốc gia đang dự thảo đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị Trong tình hình đó, Tổng công ty Giấy Việt Nam cũng đang trong quá trình hoàn thiện các hoạt động quản lý rừng theo tiêu chuẩn của FSC để tiến tới được cấp chứng chỉ rừng Đối với việc cấp chứng chỉ CoC, Tổng công ty cũng hoàn thiện các yêu cầu đối với chủ rừng để được cấp chứng chỉ sao cho các yêu cầu phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Bao gồm 9 yêu cầu lớn mà chủ rừng cần thực hiện:
1) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC
- Gỗ có FSC sau khi khai thác phải để riêng rẽ với gỗ không có chứng chỉ tại bãi gom, bãi giao tại cửa rừng;
- Cần có các biển báo ghi rõ tên gỗ, khối lượng gỗ có FSC;
- Phải có một người chịu trách nhiệm theo dõi hồ sơ của toàn bộ lô gỗ này cho đến khi được giao cho người mua
2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng
- Công ty phải có quy định cụ thể về việc ghi chép khối lượng các loại gỗ có FSC và không có FSC
Trang 30- Sau khi khai thác, vận chuyển ra bãi gom phải ghi chép đầy đủ vào thẻ kho, chứng từ kế toán (gồm đại diện đội khai thác, thủ kho, v.v)
- Lưu ý: luôn ghi tình trạng môi trường của gỗ trên các tài liệu theo dõi 3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC
- Phải có quy định rõ chặt chẽ rằng chỉ có gỗ khai thác từ khu vực rừng nằm trong phạm vi của CCR FSC thì mới được bán là gỗ có FSC; tình trạng môi trường của số gỗ này sẽ được ghi trên các hóa đơn, chứng từ bán hàng;
- Có mã số chứng chỉ FSC, loại nguyên liệu, khối lượng, số lượng gỗ, số xe vận chuyển trên hóa đơn bán hàng và các chứng từ bán hàng liên quan;
- Các hóa đơn, chứng từ này phải được lưu trữ ở phòng kế toán của công ty 4) Các thông tin trên hóa đơn
- Tên người bán;
- Tên, địa chỉ của người mua;
- Ngày viết hóa đơn;
- Mô tả sản phẩm bán;
- Số lượng, khối lượng sản phẩm bán ra;
- Số chứng nhận FSC/FM-CoC của bên bán;
- Thông tin trên các tài liệu vận chuyển và hóa đơn bán hàng phải khớp với nhau 5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC
- Tùy theo tình hình giao nhận gỗ cụ thể cua công ty mà cử nhân viên chịu trách nhiệm cho phù hợp;
- PGĐ kinh doanh, phòng kinh doanh, thủ kho, phòng kế toán, v.v
6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC
- Hợp đồng giao/bán gỗ giữa 2 bên mua và bán;
- Hợp đồng vận chuyển với đơn vị vận tải ( nếu có);
- Hóa đơn bán hàng ( phải ghi rõ khối lượng, loại gỗ, số xe vận chuyển);
- Biên bản giao gỗ tại bãi của người mua;
- Các lưu trữ về giao gỗ FSC phải để riêng rẽ;
- Gỗ FSC tại bãi của bên mua phải để riêng rẽ với các loại gỗ không có FSC
Trang 317) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR
- Chuẩn bị các chứng từ cho kiểm tra hàng năm của cơ quan đánh giá: tất cả các giấy tờ về khai thác gỗ FSC, vận chuyển ra bài gom, bãi giao, tóm tăt giao gỗ hàng tháng, hóa đơn bán hàng, vận chuyển, v.v cho từng khách hàng:
- Các báo cáo riêng rẽ về khai thác gỗ FSC và không FSC và giao cho khách hàng;
- Các báo cáo riêng rẽ về gỗ FSC và không FSC của TCT Giấy chuyển về nhà máy chế biến;
- Báo cáo tương tự cuối mỗi năm, gồm cả nguồn mà TCT mua của các nguồn khác;
- Các báo cáo này phải được lưu trữ tại phòng kế toán của các đơn vị có khai thác và bán gỗ FSC cho TCT/và tại nhà máy chế biến
8) Các tài liệu cần lưu trữ
- Thẻ kho gỗ tròn, phiếu nhập gỗ, xuất gỗ bao gồm các thông tin: số chứng nhận CCR, CoC, tên gỗ, loại gỗ, số xe nhập gỗ, xuất gỗ, ngày vận chuyển, hóa đơn giao gỗ với chữ ký của lái xe hoặc người mua;
- Giấy tờ vận chuyển kèm theo bảng kê gỗ tròn có xác nhận của kiểm lâm địa bàn hoặc UBND xã/huyện xác nhận loại gỗ, khu vực khai thác, m3 vận chuyển;
- Hóa đơn bán hàng VAT
9) Tập huấn
- Phải lưu tài liệu về các khóa tập huấn ( nội dung tập huấn, danh sách học
viên tham gia, thời gian tập huấn.)
- Nhân viên phụ trách về FSC, CoC phải được tập huấn;
- Có kế hoạch tập huấn hàng năm;
- Các tài liệu về tập huấn phải lưu 5 năm
Tính đến ngày 14/5/2010, số doanh nghiệp Việt Nam được cấp chứng chỉ rừng theo các mức độ khác nhau tăng dần, cả nước đã có 205 doanh nghiệp, đã chứng tỏ rằng các doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của chứng chỉ rừng và đang chủ động thích ứng với những đạo luật mới về xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ và EU
Trang 32Trong bộ tiêu chuẩn Quốc gia QLRBV của Việt Nam (do Hội Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam xây dựng trên cơ sở bộ tiêu chuẩn của Hội đồng Chứng chỉ rừng FSC) quốc tế thì việc lập KHQLR, đó là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV KHQLR bao gồm nhiều nội dung nhưng vấn đề quản lý khai thác giữ vai trò quan trọng nhất Trong bộ tiêu chuẩn Việt Nam về QLRBV có nhiều tiêu chuẩn
và tiêu chí liên quan đến lập kế hoạch quản lý rừng, trong đó tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng kế hoạch quản lý rừng và kế hoạch phải thể hiện được những nội dung chính sau:
+ Những mục tiêu của kế hoạch quản lý rừng
+ Mô tả những tài nguyên được quản lý, những hạn chế về môi trường, hiện trạng sở hữu và sử dụng đất, điều kiện kinh tế xã hội và tình hình vùng xung quanh
+ Mô tả hệ thống quản lý lâm sinh và/hoặc những hệ thống khác trên cơ sở sinh thái của khu rừng và thu thập thông tin thông qua điều tra tài nguyên
+ Cơ sở của việc định mức khai thác rừng hàng năm và việc chọn loài + Các nội dung quan sát về sinh trưởng và động thái của rừng
+ Sự an toàn môi trường trên cơ sở những đánh giá về môi trường
+ Những kế hoạch bảo vệ các loài quý hiếm đang có nguy cơ
+ Những bản đồ mô tả tài nguyên rừng kể cả rừng bảo vệ, những hoạt động trong kế hoạch, và sở hữu đất
+ Mô tả và biện luận về kỹ thuật khai thác và những thiết bị sử dụng
1.3 Thảo luận
Trên thế giới, QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước công nghiệp tiên tiến và hàng loạt quốc gia đang phát triển có rừng tự nguyện tham gia Trong khi phần lớn diện tích rừng được cấp ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ thì CCR ở khu vực Nam Mỹ, Châu Á - Thái Bình Dương và Châu Phi tiến rất chậm Trình độ quản lý rừng thấp, nguồn lực cải thiện quản lý, thêm đó là chi phí cho CCR khá cao là một trong những hạn chế để các chủ rừng ở các lục địa này tiến tới cấp chứng chỉ
Trang 33Ở Việt Nam, khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương Tính phức tạp không chỉ thể hiện trên khía cạnh chính sách, công nghệ mà còn về sinh thái, kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhận thức về CCR Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng nên sự tham gia của họ còn rất hạn chế Nguồn vốn cho các hoạt động còn thiếu, thiếu cả cơ chế đảm bảo tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý rừng Chi phí để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao, cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ Tuy vậy CCR tỏ
ra rất thích hợp và lợi ích cho các chủ rừng trồng gỗ nguyên liệu xuất khẩu
Nhưng cần nhìn vào lợi ích trong tương lai, QLRBV là xu thế tất yếu đối với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp Kinh nghiệm của Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn cho thấy có việc được chứng nhận FSC , khi có chứng nhận FSC thì việc kinh doanh của họ đã có thêm nhiều thuận lợi , đặc biệt là được khách hàng chú ý nhiều hơn Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trở thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng
Đánh giá quản lý rừng phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang
có Mục tiêu của CTLN Vĩnh Hảo là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Công ty chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá nào
của các chuyên gia Đề tài “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới CCR rừng tại Công ty lâm nghiệp Vĩnh Hảo, tỉnh
Hà Giang” nhằm hỗ trợ Công ty tự đánh giá công tác quản lý rừng của mình để
thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
Trang 34Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Lập được kế hoạch quản lý rừng bền vững trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
- Đánh giá QLR theo 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí của FSC Việt Nam
- Xác định được các khiếm khuyết trong quản lý rừng của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Việt Nam
- Đánh giá chuỗi sản phẩm theo 9 yêu, các chỉ số và nguồn kiểm chứng của Việt Nam
- Xác định được các khiếm khuyết trong chuỗi sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết
2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch quản lý rừng cho Công ty
2.2.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
+ Kết quả quản lý rừng của Công ty
+ Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản
Trang 352.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm:
1) Căn cứ lập kế hoạch quản lý rừng
- Chức năng, nhiệm vụ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang giao cho Công ty
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Bắc Quang
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty
2) Xác định mục tiêu quản lý rừng
- Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
- Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường
- Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội
- Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kế hoạch nguồn nhân lực và đào tạo
- Kế hoạch đánh giá, giám sát
- Kế hoạch huy động nguồn vốn
5) Hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu
- QLRBV là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mục tiêu chính , CCR là kết quả của QLRBV
- Đánh giá quản lý rừng căn cư vào tiêu chuẩn QLBVR nhưng có vận dụngvào điều kiện thực tế
- Công ty tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giácủa chuyên gia
Trang 36- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận CCR
- Lập KHQLR có tham gia (cán bộ tư vấn và chủ rừng cùng thực hiện)
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam (tiêu chuẩn 9C)
1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC
2) Tiêu chuẩn 2- Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;
3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại
4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân
5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng
6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;
7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;
8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;
9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao
10) Tiêu chuẩn 10- Rừng trồng
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường; và tham vấn các cơ quan hữu quan
Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Vĩnh Hảo tổng hợp như sau:
Sơ đồ 1: Quy trình đánh giá quản lý rừng tại CTLN Vĩnh Hảo
Tiến hành trong phòng
Tiến hành ngoài hiện trường
Tiến hành tham vấn
- Đánh giá:
+ Quản lý rừng (10 tiêu chuẩn) + Chuỗi hành trình sản phẩm (9 yêu cầu)
Báo cáo đánh giá
TÀI
LIỆU
KẾ
THỪA
Trang 37Cho điểm các tiêu chuẩn
Xác định kết quả sơ bộ cho mỗi tiêu chuẩn (chấm điểm, cung cấp bằng chứng Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa)
5 Rất kém (Thực thi yếu kém, không có triển vọng,
không có thông tin)
< 4,1
- Cho điểm đánh giá trong phòng: đối với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước
- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không
- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên
hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm
rõ những mối liên hệ
Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm
Trang 38Mẫu phiếu 1:
PHIẾU ĐÁNH GIÁ TIÊU CHUẨN , TIÊU CHÍ VÀ CHỈ SỐ
QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG TẠI CTLN VĨNH HẢO
Họ tên người đánh giá: Ngày tháng năm 2011
TP HT TV TB
Xác định các lỗi không tuân thủ
- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn <5,6 các tiêu chí ít được thực hiện
Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện
Mẫu phiếu 2
KẾT QUẢ TỔNG HỢP KHIẾM KHUYẾT VÀ KHUYẾN NGHỊ
KHẮC PHỤC
Họ tên người tổng hợp: Ngày tháng năm
Yêu cầu hoạt
động khắc phục
01/10
Liên quan đến tiêu chuẩn : Tiêu chí và chỉ số
Lỗi không tuân
thủ
X Yêu cầu hoạt động khắc phục :
Thời gian khắc phục :
Bằng chứng hoàn thành
khắc phục lỗi CAR:
Trang 392.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo 9 yêu cầu của Việt Nam
- Phạm vi đánh giá: Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) từ khâu
khai thác về nơi tiêu thụ (nhà máy giấy Bãi Bằng)
- Tiêu chuẩn đánh giá: Yêu cầu Việt Nam về đánh giá CoC đối với chủ rừng 1) Các quy định về duy trì riêng rẽ gỗ tròn có chứng chỉ FSC
2) Quy định về ghi chép, theo dõi khối lượng gỗ có FSC và bán hàng
3) Quy định về viết hóa đơn xuất gỗ FSC
4) Các thông tin trên hóa đơn
5) Nhân viên phụ trách quản lý và bán gỗ FSC
6) Biểu mẫu sử dụng theo dõi và bán gỗ FSC
7) Các quy định về duy trì chứng từ liên quan đến CCR
8) Các tài liệu cần lưu trữ
TP HT TV TB
2.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng
a Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty
1) Kế thừa tài liệu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Công ty
- Về kế hoạch: văn bản kế hoạch hiện có; kế hoạch quản lý, kinh doanh hàng năm; kế hoạch khai thác vận chuyển; mở mang đường vận chuyển
Bãi gỗ nhà máy giấy Bãi Bằng của Tổng công ty giấy Bãi gỗ của Công
ty Vĩnh Hảo
Trang 40- Về đất đai tài nguyên: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và đất rừng; Diện tích rừng trồng hàng năm, trữ lượng rừng, đánh giá đa dạng sinh học và rừng có giá trị bảo tồn cao
- Các chính sách, quy định của Nhà nước và địa phương liên quan đến quản
lý rừng đã ban hành
2) Tổng hợp, phân tích, đánh giá thông tin cơ bản của Công ty
- Tổng hợp, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Tổng hợp phân tích hiện trạng tài nguyên rừng
- Tổng hợp phân tích các mặt được và chưa được của tình hình quản lý
b Lập kế hoạch theo phương pháp tham gia
- Bt: Giá trị thu nhập tại thời điểm t (t = 0,1,2,3…n) bao gồm toàn bộ những
gì mà DA thu được (doanh thu bán hàng, lệ phí thu hồi, gia trị thanh lý tài sản )
- Ct: Giá trị chi phí tại thời điểm t (bao gồm những gì mà DA bỏ ra như: chi đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa, chi trả thuế…)
- r: Lãi suất thanh toán tính theo số thập phân
- t: Thời gian ( t = 0,1,2,3 )
- n: Số năm hoạt động trong chu kỳ của dự án (8 năm)
- IRR: tỷ lệ thu hồi nội bộ là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có
kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu Khi NPV = 0 thì i = IRR
- BCR: tỷ lệ thu nhập so với chi phí là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên đơn vị chi phí sản xuất