1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full

138 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 2,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của Khoa sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Thầy giáo hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Nhâm

THÁI NGUYÊN - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi thông tin và số liệu trong được sử dụng trong luận văn được thu thập công khai chính xác và có nguồn gốc rõ ràng Các số liệu này chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu khoa học hoặc bảo vệ cho học vị nào

Tác giả

Trần Thanh Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Khoa sau Đại học, Trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên và Thầy giáo hướng dẫn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý

rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý tiến tới chứng chỉ rừng tại Công ty lâm nghiệp Ngòi sảo, Bắc Quang, Hà Giang”

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Nhâm, cùng sự giúp đỡ của tập thể cán bộ, nhân viên Công ty Lâm nghiệp Ngòi sảo, huyện bắc Quang, tỉnh Hà Giang

Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy giáo PGS.TS

Vũ Nhâm đã hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tập thể lãnh đạo và cán bộ Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Do kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và thảo luận

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng… năm 2011

Tác giả

Trần Thanh Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bỡa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Những cụm từ viết tắt vii

Danh mục cỏc bảng ix

Danh mục cỏc hỡnh x

ĐẶT VẤN đề 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIấN CỨU 3

1.1 Trờn thế giới 3

1.1.1 Phỏt triển bền vững và quản lý rừng bền vững 3

1.1.1.1 Phỏt triển bền vững 3

1.1.1.2 Quản lý rừng bền vững 4

1.1.2 Chứng chỉ rừng và chuỗi hành trỡnh sản phẩm 7

1.1.2.1 Tổ chức cấp chứng chỉ và chứng chỉ rừng 7

1.1.2.2 Chuỗi hành trỡnh sản phẩm 11

1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 15

1.2 Ở việt nam 15

1.2.1 Phỏt triển bền vững và phương thức QLRBV ở Việt Nam 15

1.2.2 Tổ cụng tỏc quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng 17

1.2.3 Thực trạng cụng tỏc lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam 21

1.3 Thảo luận 24

Chương 2 MỤC TIấU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU 25

2.1 Mục tiờu 25

2.1.1 Mục tiờu tổng quỏt 25

2.1.2 Mục tiờu cụ thể 25

2.2 Nội dung nghiờn cứu 25

2.2.1 Đỏnh giỏ quản lý rừng 25

2.2.2 Đánh giá quản lý chuụ̃i hành trình sản phõ̉m theo hướng dõ̃n của Viợ̀t Nam 25

2.2.3 Đánh giá điờ̀u kiợ̀n cơ bản và lập kế hoạch QLR cho Cụng ty 25

2.2.3.1 Đánh giá cỏc điều kiện cơ bản của Cụng ty: bao gồm 25

2.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng 25

Trang 5

2.2.4 Đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 26

2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu 26

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 26

2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng 26

2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC 29

2.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 29

2.3.3 Chỉnh lý, tổng hợp tài liệu 32

Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA CÔNG TY LÂM NGHIỆP NGÒI SẢO 34

3.1 Điều kiện tự nhiên 34

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích đất đai 34

3.1.2 Địa hình 34

3.1.3 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 34

3.1.4 Đất đai - Thổ nhưỡng 35

3.1.5 Rừng và Tài nguyên thiên nhiên khác 35

3.1.5.1 Tài nguyên rừng 35

3.1.5.2 Tài nguyên Đa dạng sinh học và các khu rừng có giá trị bảo tồn cao 37

3.1.5.3 Các loại tài nguyên thiên nhiên khác và tiềm năng khai thác dịch vụ, môi trường 37

3.2 Điều kiện kinh tế-xã hội 38

3.2.1 Về kinh tế 38

3.2.2 Đặc điểm xã hội, dân trí 39

3.2.2.1 Cơ cấu dân số, dân tộc và lao động 39

3.2.2.2 Dân trí, văn hoá, giáo dục và y tế 39

3.2.3 Kết cấu hạ tầng, mạng lưới đường xá, bến bãi, cơ sở công nghiệp, chế biến 39

3.2.4 Đánh giá chung 40

3.3 Tình hình quản lý và sản xuất kinh doanh lâm nghiệp 40

3.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 40

3.3.2 Đánh giá tình hình quản lý rừng trong 5 năm qua 42

3.3.2.1 Công tác quản lý rừng và tổ chức quản lý 42

3.3.2.2 Về kỹ thuật và công nghệ áp dụng 43

3.3.2.3 Về sử dụng đất, hạ tầng, vốn, trang thiết bị khai thác, vận chuyển, chế biến 43

3.3.2.4 Về kết quả sản xuất kinh doanh 44

Trang 6

3.3.2.5 Về tác động xã hội 45

3.3.2.6 Về tác động môi trường 45

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47

4.1 Đánh giá quản lý rừng bền vững 47

4.1.1 Kết quả đánh giá quản lý rừng bền vững 47

4.1.2 Tổng hợp các lỗi không tuân thủ và giải pháp khắc phục 52

4.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 56

4.2.1 Kết quả đánh giá 56

4.2.2 Tổng hợp các khiếm khuyết trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và giải pháp khắc phục 58

4.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 58

4.3.1 Những căn cứ lập KHQLR 59

4.3.2 Mục tiêu 59

4.3.2.1 Mục tiêu tổng quát 59

4.3.2.2 Mục tiêu cụ thể 59

4.3.3 Bố trí sử dụng đất đai 60

4.3.3.1 Phân chia đất đai theo mục đích sử dụng 60

4.3.3.2 Chu chuyển sử dụng đất 61

4.3.3.3 Phân chia đất lâm nghiệp theo chức năng 61

4.3.4 Kế hoạch sản xuất kinh doanh 62

4.3.4.1 Kế hoạch sản xuất kinh doanh rừng trồng Keo cung cấp nguyên liệu giấy 62

4.3.4.2 Kế hoạch khoanh nuôi bảo vệ rừng khép tán 74

4.3.4.3 Kế hoạch bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học 75

4.3.4.4 Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng 77

4.3.4.5 Kế hoạch nhân lực và đào tạo 78

4.3.4.6 Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường 79

4.3.4.7 Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội 80

4.3.5 Kế hoạch giám sát 81

4.3.5.1 Giám sát các khu vực loại trừ 81

4.3.5.2.Giám sát năng suất, sản lượng rừng 81

4.3.5.3 Giám sát thực hiện kế hoạch sản xuất, quyền lợi và nghĩa vụ cán bộ công nhân viên 83

4.3.5.4 Kế hoạch giám sát tác động môi trường 83

Trang 7

4.3.5.5 Kế hoạch giám sát tác động xã hội 86

4.3.6 Kế hoạch đánh giá 86

4.3.6.1 Đánh giá hàng năm 86

4.3.6.2 Đánh giá giữa chu kỳ 87

4.3.6.3 Đánh giá cuối chu kỳ 87

4.3.7 Ước tính vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư 87

4.3.7.1 Vốn đầu tư 87

4.3.7.2 Hiệu quả đầu tư 89

Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 91

5.1 Kết luận 91

5.1.1 Đánh giá quản lý rừng và xác định lỗi khiếm khuyết 91

5.1.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC: 91

5.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng 92

5.2 Tồn tại 93

5.3 Kiến nghị 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ BIỂU

Trang 8

cứu lâm nghiệp quốc tế

- C&I: Criteria & Indicators - Tiêu chí và chỉ số

- CoC Chain of Custody: Chuỗi hành trình sản phẩm

lương nông của Liên Hợp Quốc

- FSC P&C: FSC Principles & Criteria - Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng của Hội

đồng quản trị rừng quốc tế

mại toàn cầu

về tiêu chuẩn hoá

đới quốc tế

quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng

Trang 9

- LEI: Lembaga Ecolabel Indonesia - Viện nhãn sinh thái Indonexia

Mã Lai

quản lý rừng bền vững và CCR

- NN&PTNN: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn

- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng

- P&C&I VN: Vietnam Principles & Criteria & Indicators - Bô tiêu chuẩn

FSC Việt Nam

Bắc Mỹ SFR Sản phẩm rừng

QUALIFOR Nam Phi

Công ước Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển

triển của Liên Hợp Quốc

trường của Liên Hợp Quốc

học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Biểu 3.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tại công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 36

Biểu 3.2 Tổng hợp diện tích rừng trồng theo tuổi, loài 37

Biểu 3.3 Số liệu sản xuất kinh doanh trong 05 năm (từ 2006-2010) 44

Biểu 4.1 Tổng hợp các lỗi không tuân thủ và giải pháp khắc phục 52

Biểu 4.2 Hiện trạng quy hoạch đất của Công ty Lâm nghiệp Ngòi sảo 60

Biểu 4.3 Phân chia chức năng rừng và quy hoạch biện pháp sử dụng 62

Biểu 4.4 Điều chỉnh diện tích khai thác rừng trồng Keo, Bồ đềgiai đoạn 2011 - 2018 65

Biểu 4.5 Kế hoạch khai thác một chu kỳ kinh doanh rừng trồng 67

Biểu 4.6 Kế hoạch khai thác rừng trồng Keo, Bồ đề năm 2011 67

Biểu 4.7 Tổng hợp chi phí khai thác giai đoạn 2011 -2018 69

Biểu 4.8 Kế hoạch trồng rừng giai đoạn 2011 - 2018 71

Biểu 4.9 Kế hoạch trồng rừng Keo tai tượng năm 2011 72

Biểu 4.10 Kế hoạch chăm sóc trong 1 luân kỳ trồng rừng 73

Biểu 4.11 Chi phí chăm sóc rừng cho 1 chu kỳ 73

Biểu 4.12 Kế hoạch sản xuất cây giống và vốn đầu tư giai đoan 2011-2018 74

Biểu 4.13 Kế hoạch khoanh nuôi, bảo vệ rừng giai đoạn 2011 - 2018 75

Biểu 4.14 Kế hoạch duy tu bảo dưỡng đường hàng năm 77

Biểu 4.15 Tổng hợp vốn đầu tư giai đoan 2011-2018 87

Biểu 4.16: Tổng hợp chỉ tiêu kinh tế đánh giá hiệu quả kinh doanh 1ha rừng 89

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢN ĐỒ

Hình 1.1 Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) 13

Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 27

Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo 41

Hình 4.1 Chuỗi hành trình sản phẩm chính của Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 56

Hình 4.2 Sơ đồ lập kế hoạch khai thác Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 63

Hình 4.3 Biểu đồ hiện trạng rừng trồng Keo, Bồ đề 64

Hình 4.4 Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng, giai đoạn 2011-2018 66

Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo 36

Bản đồ quy hoạch đất trồng rừng giai đoạn 2011-2018 72

Trang 12

ĐẶT VẤN đề

Rừng là tài nguyờn vụ cựng phong phỳ và vụ cựng quý giỏ đối với con người

và xó hội Tỏc dụng của rừng là rất đa dạng đối với nền kinh tế quốc dõn Rừng khụng chỉ cú giỏ trị to lớn về mặt kinh tế mà cũn cú ý nghĩa về mặt mụi trường và xó hội, rừng vừa là đối tượng lao động, vừa giữ vai trũ là một tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành lõm nghiệp Nhưng hiện nay, do những tỏc động của con người như khai thỏc lõm sản (hợp phỏp và bất hợp phỏp), chuyển đổi đất lõm nghiệp sang cụng nghiệp, xõy dựng,

đụ thị húa,… nờn diện tớch rừng tự nhiờn đó và đang bị giảm đi đỏng kể Theo ước tớnh của FAO, hàng năm diện tớch rừng tự nhiờn trờn toàn cầu mất đi khoảng 9 triệu ha song đến năm 2001 diện tớch rừng chỉ cũn khoảng 11,3 triệu ha và diện tớch đất khụng cú rừng khoảng 8 triệu ha Mụi trường sống của nhiều loài động vật, thực vật rừng cũng

khụng biến mất hoặc bị thoỏi húa nghiờm trọng

Thực tế cho thấy nếu chỉ cú cỏc biện phỏp truyền thống như tăng cường luật phỏp, tham gia cỏc cụng ước thỡ khụng thể bảo vệ được diện tớch rừng tự nhiờn hiện cũn của nhõn loại, nhất là rừng nhiệt đới tập trung chủ yếu ở cỏc nước đang phỏt triển Một trong những biện phỏp quan trọng hiện nay, được cả cộng đồng quốc

tế cũng như từng quốc gia đặc biệt quan tõm, kết hợp với cỏc giải phỏp truyền thống nờu trờn là cần phải thiết lập quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

Năm 1992 Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (International Tropical Timber Organisation - TTTO) đó đưa ra quan điểm: “Quản lý rừng bền vững là quỏ trỡnh quản lý cỏc khu rừng cố định nhằm đạt một hoặc nhiều hơn cỏc mục tiờu quản lý đó được đề ra một cỏch rừ ràng như đảm bảo sản xuất liờn tục những sản phẩm và dịch

vụ của rừng mà khụng làm giảm đỏng kể những giỏ trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và khụng gõy ra những tỏc động khụng mong muốn đối với mụi trường

và xó hội” [3] Trong đú theo tiến trỡnh Helsinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cỏch thức và mức độ phự hợp để duy trỡ tớnh đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tỏi sinh, sức sống của rừng và duy trỡ tiềm năng của rừng trong hiện tại và tương lai, cỏc chức năng sinh thỏi, kinh tế, xó hội của chỳng ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, khụng gõy ra những tỏc hại đối với hệ sinh thỏi khỏc”

Như vậy, cú thể khỏi quỏt rằng quản lý rừng bền vững phải đạt được sự bền vững trờn cả ba phương diện: Kinh tế, Mụi trường và Xó hội

Chứng chỉ rừng (Forest Certification) chớnh là sự xỏc nhận bằng văn bản - xỏc nhận rằng một đơn vị quản lý rừng được cấp chứng chỉ đó được sản xuất trờn cơ

sở rừng được tỏi tạo lõu dài, khụng làm ảnh hưởng đến cỏc chức năng sinh thỏi của

Trang 13

rừng và môi trường xung quanh và không làm suy giảm tính đa dạng sinh học Có thể nói chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hóa mà trong nhiều trường hợp nó còn làm thay đổi thái độ của doanh nghiệp với rừng nói riêng và môi trường nói chung

Quá trình sản xuất từ khai thác, chế biến và sản xuất sơ cấp, thứ cấp, phân

phối và tiêu thụ được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC)

Kiểm chứng từng bước trong quá trình này sẽ giúp cho đơn vị chứng minh được với khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ bán thực sự có nguồn gốc

từ các khu rừng được cấp chứng chỉ

Trong Quản lý rừng bền vững (QLRBV) việc lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu, điều này được chỉ rõ trong bộ tiêu chuẩn Quốc gia QLRBV của Việt Nam Đây là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng đồng thời các hoạt động xây dựng, phát triển, sử dụng rừng đều tuân theo kế hoạch quản lý rừng được lập Trong bộ tiêu

chuẩn Việt Nam về QLRBV (gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí) có nhiều tiêu chuẩn và

tiêu chí liên quan đến lập kế hoạch quản lý rừng, trong đó tiêu chuẩn 7 yêu cầu chủ rừng phải xây dựng kế hoạch quản lý

Ở Việt Nam khái niệm QLRBV, chứng chỉ rừng, chứng chỉ CoC còn rất mới

mẻ và ít kinh nghiệm Tính tới tháng 5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu

gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV cho Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn Còn lại phần lớn các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp vẫn chưa được cấp chứng chỉ rừng vì hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị này vẫn chưa đạt được các tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định để được FSC cấp chứng chỉ rừng và chứng chỉ CoC Do đó để các đơn vị kinh doanh đảm bảo sản xuất bền vững, cạnh tranh hội nhập được với thế giới thì đòi hỏi các đơn vị cần nhận thức được vấn đề này

Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo là đơn vị hoạt động sản xuất trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc tỉnh Hà Giang Công ty mong muốn được cấp chứng chỉ rừng, giúp công ty quản lý rừng theo hướng tiên tiến, bền vững lâu dài, tuy nhiên các hoạt động sản xuất công ty chưa được đánh giá theo các tiêu chuẩn QLRBV và chuỗi hành trình sản phẩm Để góp phần giải quyết những tồn tại trên cả về mặt lý luận và

thực tiễn tác giả tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành

trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo, tỉnh Hà Giang”

Trang 14

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 TRÊN THẾ GIỚI

1.1.1 Phát triển bền vững và quản lý rừng bền vững

1.1.1.1 Phát triển bền vững: Tiền đề và nội dung khái niệm

Sau đại chiến thế giới II, chủ nghĩa tư bản tự do phát triển mạnh ở các quốc gia phương Tây, với chiến lược khai thác nhanh nguồn tài nguyên không được tái tạo, nhằm có được khoản lợi nhuận khổng lồ trong một thời gian ngắn nhất, sự gia tăng dân số, đặc biệt tại các nước thuộc thế giới thứ III đã tiêu thụ nguồn năng lượng lớn chưa kịp tái tạo Đây là hai trong số các sự kiện tạo nên động thái mới trên thế giới đương đại: "Khủng hoảng môi trường tự nhiên, đói nghèo, và gia tăng khác biệt xã hội" Thực tế này đòi hỏi phải có một sự điều chỉnh hành vi của con người

Những ý tưởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài người nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ý này mới phát triển, chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội Tiên phong cho các trào lưu này phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ Uỷ ban bảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915, nhằm khuyến khích con người tôn trọng những chu kỳ tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích

từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn cho những thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trường Thuỷ Sĩ đã đề cập đến việc cần phải bảo vệ thiên nhiên Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II (UNDP, UNESCO, WHO, FAO, và ICSU) Các tổ chức này đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững Năm 1951, UNESCO đã xuất bản một tài liệu đáng lưu ý với tiêu đề "Thực trạng bảo vệ môi trường thiên nhiên trên thế giới vào những năm 50" Tài liệu này được cập nhật vào năm 1954 và được coi là một trong số những tài liệu quan trọng của "Hội nghị về môi trường con người" (1972) do Liên hiệp quốc tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) và cũng được xem như là "tiền thân" của báo cáo Brunđtland

Đến đầu thập niên 80, thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng với sự trợ giúp của UNESCO và FAO với nội dung rất

Trang 15

đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế

mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học" Tuy nhiên, khái niệm này chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của

1987 Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu

cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo

tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người,

nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtlanđ với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại Kể từ khi khái niệm này xuất hiện,

nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại (các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, đảng phái chính trị, các nhà tư tưởng, các phong trào

xã hội, và đặc biệt là giới khoa học với việc làm dấy lên các tranh luận về khái niệm này mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ) Khái niệm phát triển bền vững trở thành khái niệm chìa khoá giúp các quốc gia xây dựng quan điểm, định hướng, giải pháp tháo

gỡ bế tắc trong các vấn đề phát triển Đây cũng được xem là giai đoạn mở đường cho "Hội thảo về phát triển và môi trường của Liên hiệp quốc và Diễn đàn toàn cầu hoá được tổ chức tại Rio de Janeiro (1992) và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tại Johannesburg (2002)

1.1.1.2 Quản lý rừng bền vững

Các sản phẩm rừng, đặc biệt là gỗ tiêu thụ trên thị trường có thể được sản xuất

ra một cách an toàn đối với môi trường như không làm mất rừng hay suy giảm chất lượng rừng, hoặc ngược lại, một cách không an toàn tức là tác động xấu đến môi

trường Khái niệm thương mại và phát triển bền vững được hình thành trên cơ sở

cho rằng có thể sử dụng các biện pháp thương mại để kiểm soát một cách có hiệu quả các tác hại về môi trường: phát triển một hệ thống thị trường chỉ chấp nhận tiêu thụ các sản phẩm có chứng chỉ an toàn môi trường Cuối những năm 1980 nhiều tổ

Trang 16

chức phi chính phủ vận động tẩy chay gỗ rừng nhiệt đới để giảm nhu cầu trên thị trường thế giới Sau đó chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Hoa Kỳ cũng có lệnh cấm sử dụng gỗ rừng nhiệt đới trong những công trình xây dựng bằng vốn ngân sách Đến 1990 Quốc hội Australia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từ những nước không thực hiện QLRBV Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại và sử dụng gỗ rừng nhiệt đới cũng thường xuyên được thảo luận ở Hội đồng gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) trong suốt những năm 1988-1992 Nhiều thị trường rộng lớn Châu

Âu và Bắc Mỹ bắt đầu thực hiện chính sách chỉ cho phép gỗ có chứng chỉ được tham gia Đến đầu những năm 2000 Nhóm G8 (các nước giàu nhất) tuyên bố các chính phủ thành viên cam kết tìm biện pháp đáp ứng những nhu cầu về gỗ và nguyên liệu giấy của mình chỉ từ những nguồn hợp pháp và bền vững Những cam kết này sau đó đã trở thành chính sách của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và Liên minh Châu Âu (EU) Gần đây EU đã đề ra Kế hoạch hành động thi hành Luật lâm nghiệp, Quản trị và Thương mại, trong đó công cụ thương mại được coi là chìa khoá để thực hiện cam kết của các nước thành viên Trên thị trường nảy sinh vấn đề: người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản phẩm mà họ mua phải có nguồn gốc

từ rừng đã được quản lý bền vững, người sản xuất muốn chứng minh rừng của mình

đã được quản lý bền vững

Theo tài liệu Tài nguyên rừng toàn cầu của Liên Hợp Quốc năm 2010, hiện nay diện tích rừng của toàn thế giới có khoảng hơn 4 tỷ ha, trung bình 0,6 ha/người Các nước có diện tích rừng lớn nhất là Liên bang Nga, Braxin, Canada, Mỹ và Trung Quốc Có 10 nước và vùng lãnh thổ không có rừng, 54 quốc gia có diện tích rừng chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 10% tổng diện lãnh thổ Trong 10 năm gần đây, tỷ lệ mất rừng là khoảng 13 triệu ha mỗi năm, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị thoái hóa nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái[1] Nguyên nhân chủ yếu do con người khai thác lâm sản quá mức và do chuyển đổi mục đích

sử dụng đất từ đất rừng sang đất sản xuất nông nghiệp nên diện tích rừng tự nhiên

đã bị suy giảm nghiêm trọng Mặt khác “Con người luôn luôn mong muốn sử dụng

tối đa tiềm năng của rừng để phục vụ cho mình, lại muốn việc sử dụng tối đa đó ổn định lâu dài” Do đó, vấn đề mà toàn thế giới và từng quốc gia đều có sự quan tâm

đặc biệt hiện nay là làm thế nào để quản lý rừng cho tốt để đảm bảo bền vững việc cung cấp tối ưu 3 mặt: Kinh tế - Môi trường và Xã hội mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người là không thể thay thế

Trước tình hình chặt phá và khai thác rừng bừa bãi, năm 1992 lần đầu tiên

Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO) mới đề ra những tiêu chí cơ bản cho việc quản lý bền vững cho rừng nhiệt đới và kêu gọi các tổ chức quốc tế tham gia

Trang 17

Hưởng ứng mạnh mẽ các vấn đề quản lý rừng bền vững ngay sau đó các hiệp hội

về rừng đã ra đời:

- Hội tiêu chuẩn Canada (CSA) Năm 1993

- Hội đồng quản trị rừng (FSC) Năm 1994

- Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) năm 1994

- Tổ chức nhãn sinh thái Indonesia (LEI) năm 1998

- Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia (MTCC) năm 1998

- Chứng chỉ rừng Chi lê (CertforChile) năm 1999

- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC) năm 1999

Từ đó, phương thức QLRBV đã trở thành cao trào, được hầu hết các nước nông nghiệp tiên tiến và hàng loạt các quốc gia đang phát triển có rừng cần QLBV,

tự nguyện tham gia, mặc dù không ai bắt buộc Đây là vấn đề nhận thức của các quốc gia nhằm làm sao bảo vệ được rừng mà vẫn sử dụng tối đa các lợi ích từ rừng, nhận thức của chủ rừng về quyền xuất khẩu vào mọi thị trường thế giới và quyền bán lâm sản với giá cao Vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người hiện tại được đánh giá và được thiết kế trong rất nhiều chương trình, hiệp ước, công ước quốc tế (CITES-1973, RAMSA-1998, UNCED-1992, CBD-1994, UNFCCC-1994, UNCCD-1995) Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu

rừng đã được QLBV, từ đó một loạt tổ chức QLBV (gọi tắt là quá trình hay

process) đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất tiêu

chuẩn QLRBV với nhiều những tiêu chí như sau:

- MONTREAL cho rừng tự nhiên ôn đới, gồm 7 tiêu chí;

- ITTO cho rừng tự nhiên, gồm 7 tiêu chí;

- PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki) gồm 6 tiêu chí;

- AFRICAL TIMBER ORGANIZATION INITIATIVE cho rừng khô châu Phi;

- CIFOR cho rừng tự nhiên nói chung, gồm 8 tiêu chí;

- FSC cho mọi kiểu rừng toàn thế giới, gồm 10 nguyên tắc;

Trong số này, Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council - FSC)

là tổ chức uy tín nhất và có phạm vi rộng nhất toàn thế giới được thành lập năm

1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Đặc biệt, FSC có đối tượng áp dụng cả cho rừng tự nhiên và rừng trồng, rừng ôn đới, nhiệt đới và mọi đối tượng khác Chứng chỉ QLRBV của FSC được các thị trường khắt khe trên thế giới như Bắc Mỹ, Tây Âu đều chấp nhận thông thương với giá bán cao, do đó tuy các tiêu chí QLRBV của

Trang 18

FSC cao, tỷ mỉ nhưng vẫn được nhiều nước từ nước đang phát triển đến nước công nghiệp tiên tiến hưởng ứng tự nguyện tham gia và đang trở thành cao trào QLRBV trong hội nhập quốc tế Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Hiện đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệt cho áp dụng Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được

cấp chứng chỉ QLRBV cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) với diện tích 57.264.882 ha

Tại khu vực Đông Nam Á, xuất phát từ xu hướng mất rừng và bị thị trường thế giới từ chối nếu gỗ không có chứng chỉ QLRBV của một tổ chức độc lập quốc tế

Do vậy để bảo vệ và phát triển diện tích rừng nên hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN đã phát triển mạnh mẽ, thể hiện trong giai đoạn từ 1995-2000 ASEAN

đã hoàn thành dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV chung vào năm 2000 tại thành phố

Hồ Chí Minh và được phê duyệt tại Hội nghị Bộ trưởng Nông - Lâm nghiệp Phnom-penk 2001 Song, do bộ tiêu chuẩn QLRBV của ASEAN soạn thảo theo 7 tiêu chí của ITTO, nên gặp khó khăn khi xin cấp chứng chỉ của tổ chức FSC Tuy vậy, các nước có nền lâm nghiệp mạnh trong ASEAN như: Indonesia (Kim ngạch xuất khẩu gỗ 5-5,5 tỷ USD/năm), Malaysia (4,7-5 tỷ USD/năm), sau đó đến Philippines, Thailand cũng đã được cấp chứng chỉ QLRBV của FSC trong các năm

từ 2002-2005, tuy rằng diện tích được cấp còn hạn chế Tại Indonesia, một tổ chức phi chính phủ (NGO) là "Viện sinh thái Lambaga" (viết tắt là LEI) ra đời để hướng dẫn và hỗ trợ kỹ thuật cho các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV đến khi đạt chứng chỉ gỗ quốc tế Malaysia thành lập tổ chức NGO có tên "Hội đồng chứng chỉ

gỗ quốc gia" (NTCC) nay đổi tên là "Hội đồng chứng chỉ gỗ Malaysia" (MTCC) để đảm nhiệm chức năng hỗ trợ Chứng chỉ rừng (CCR) Malaysia đang thử nghiệm đi

theo 2 bước (chứng chỉ quốc gia và chứng chỉ quốc tế) Chứng chỉ quốc gia không

có giá trị trên thị trường thế giới, nhưng là một mức đánh giá năng lực quản lý của chủ rừng đã đạt mức xấp xỉ để xin thẩm định quốc tế Năm 2005 đoàn tham quan học tập của Cục Lâm nghiệp và các tỉnh có rừng tổ chức tham quan tại Malaysia đã rất ấn tượng cách làm này LEI và MTCC là tổ chức NGO nhưng do chính phủ tài trợ và có sự đóng góp của các chủ rừng nên hoạt động rất mạnh và hiệu quả cao nhất trong các nước thuộc khối ASEAN

1.1.2 Chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (FSC/CoC)

1.1.2.1 Tổ chức cấp chứng chỉ và chứng chỉ rừng(FSC)

Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định Theo ISO (1991) chứng chỉ là sự cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu

Trang 19

nhất định Chứng chỉ rừng có đối tượng chứng chỉ là chất lượng quản lý rừng Hiện

có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao hàm hai nội dung cơ bản là:

a) Đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ tiêu chuẩn quy định b) Cấp giấy chứng chỉ có thời hạn

Nói cách khác, chứng chỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý rừng bền vững

Tổ chức cấp chứng chỉ rừng là một tổ chức có đủ tư cách pháp nhân, có năng lực chuyên môn và trình độ nghiệp vụ về quản lý rừng được công nhận bởi các tổ chức kinh tế, môi trường và xã hội, bên cạnh đó đạt được sự tín nhiệm của các Hiệp hội sản xuất và người tiêu dùng trong khu vực và trên thế giới Hiện nay, các tổ chức cấp chứng chỉ rừng chính trên phạm vi toàn cầu là:

+ Hội đồng quản trị rừng thế giới (Forest Sterwardship Council- FSC) quy trình quốc tế

+ Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (Programme for the Endorsement of Forest Certification Schemes, PEFC) - quy trình quốc tế

+ Tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc gia Malaisia và Kerhout: hoạt động chủ yếu trong khu vực nhiệt đới, đây là quy trình quốc gia

+ Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (Sustainable Forestry Initiative, SFI) - quy trình vùng (Mỹ và Canada)

Trong đó, có 2 quy trình chứng chỉ rừng quốc tế có uy tín lớn nhất hiện nay là FSC và PEFC Hiện nay nhằm tăng số lượng cấp chứng chỉ rừng FSC đã thực hiện chính sách ủy quyền cho các tổ chức chứng chỉ, các sáng kiến quốc gia và các tiêu chuẩn quốc gia và khu vực Tính đến 10/2005 đã có 15 tổ chức được FSC uỷ quyền là:

- Nam Phi: QUALIFOR, SGS South Africa

- Anh quốc: Hiệp hội đất - Chương trình Woodmark

- Anh quốc: BM TRADA Certification Ltd (TT)

- Pháp: Centre Technique du Bois et de l’Ameublement (CTBA)

- Pháp: Eurocertifor - BVQI Program of BVQI France

- Mexico: Fundación vida para el bosque A.C (VIBO)

- Italya: Certiqualiti CQ)

- Italya: Instituto per la Certificazone e i Servizi per Imprese dell’ Arrendementoe

del Legno (ICILA)

- Mỹ: Hệ thống chứng chỉ khoa học - Chương trình bảo tồn rừng

- Mỹ: Liên minh về rừng nhiệt đới - Chương trình Smartwood

- Hà Lan: Skal International (SKAL)

- Canada: Silva Forest Foundation

Trang 20

- Canada: KMPG Forest Certification Services Inc

- Đức: GFA Terra Systems (FGA)

- Thụy Sĩ: Institut Marktokologic (IMO)

Tại Châu Á-Thái Bình Dương, Công ty SmartWood/Rainforest Allliance và SGS Forestry đã thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp chứng chỉ rừng (FSC) Đây cũng chính là các tổ chức đảm nhiệm việc cấp FSC tại Việt Nam [1]

Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trước đây là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ

Nhãn Logo FSC và nhãn dán trên sản phẩm sẽ giúp người tiêu dùng trên toàn thế giới có thể nhận biết được các tổ chức hay sản phẩm ủng hộ chương trình quản

lý rừng có trách nhiệm Có 02 loại chứng nhận FSC đang được các Tổ chức chứng nhận cung cấp là:

+ Forest Management Certificate (FSC-FM) - Chứng nhận Quản lý rừng:

yêu cầu cho một khu rừng xác định phải tuân thủ các yêu cầu liên quan đến các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và kinh tế

+Chain of Custody Certificate (FSC-CoC) - Chứng nhận Chuỗi hành trình sản phẩm: yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch

từ các nguồn gốc được chứng nhận, các sản phẩm này có thể được sử dụng nhãn FSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận

+ Chain of Custody/Control Wood Certificate (FSC-CoC/CW) - Chứng

nhận Chuỗi hành trình sản phẩm FSC/Đánh giá nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC:

yêu cầu các tổ chức chứng minh các sản phẩm gỗ được giao dịch từ các nguồn gốc được chứng nhận FSC và các nguồn gốc gỗ có kiểm soát FSC, các sản phẩm này có thể được sử dụng nhãn FSC và dấu chứng nhận của Tổ chức chứng nhận

Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) là con đường mà nguyên liệu thô từ rừng phải trải qua để đến với người tiêu dùng, bao gồm những giai đoạn liên tục của việc chế biến, vận chuyển, sản xuất và phân phối Là quá trình nhận dạng gỗ từ khu rừng được chứng nhận cho tới khi sản phẩm được gắn nhãn Mục đích của Chuỗi hành trình sản phẩm là nhằm cung cấp các chứng cứ xác thực về việc sản phẩm gỗ được chứng nhận đã sản xuất từ các nguồn nguyên liệu được chứng nhận Các tiêu chuẩn FSC áp dụng cho chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm FSC- CoC hiện đang áp dụng, như:

- FSC-STD-40-004 tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm của FSC áp dụng

cho nhà sản xuất

- FSC-STD-40-005 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho các công ty COC

- FSC-STD-30-010 tiêu chuẩn Gỗ có kiểm soát áp dụng cho nhà quản lý rừng

- FSC-STD-40-020 các yêu cầu về dán nhãn trên sản phẩm của FSC

Trang 21

Tổ chức Gỗ nhiệt đới Quốc tế (ITTO) đã thừa nhận FSC “Gần như là chương

trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới”

Hiện nay, số chứng chỉ rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đã được cấp

ở các Châu lục theo các quy trình chứng chỉ với số lượng như sau:

* Tại Châu Âu

+ Quy trình FSC: Đến tháng 11 năm 2005 diện tích rừng do FSC cấp chứng

chỉ ở Châu Âu đã lên đến 34.150.976 ha với 327 giấy chứng chỉ, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên, trong đó Đức, Lít-va, Thụy sỹ, Anh, Thụy điển là những nước đứng đầu về số diện tích được cấp chứng chỉ Về chứng chỉ CoC do FSC cấp: hiện có 2.566 giấy chứng chỉ, trong đó Đức, Anh, Ba lan và Hà lan là những nước

có số chứng chỉ cao nhất trong các quốc gia Châu Âu

+ Quy trình PEFC: có 57.804.810 ha rừng được cấp chứng chỉ Trong đó

Phần lan, Đức, Na Uy và Thụy điển là những nước có diện tích rừng được PEFC cấp chứng chỉ cao nhất

* Tại Bắc Mỹ

+ Quy trình FSC: Châu Mỹ đến thời điểm tháng 12 năm 2005, diện tích rừng

được FSC cấp chứng chỉ là 29.252.921 ha với 332 chứng chỉ, trong số này Canada dẫn đầu với 15.231.115 ha và 26 giấy chứng chỉ, tiếp theo là Mỹ với 5.671.251 ha

và 97 chứng chỉ và Braxin với 3.455.582 ha và 60 chứng chỉ Các diện tích được cấp chứng chỉ cũng chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Về chứng chỉ CoC, hiện Châu Mỹ có 941 giấy chứng nhận trong đó Mỹ dẫn đầu với 475 giấy, tiếp sau

đó là Chi Lê và Braxin

+ Quy trình PEFC: Chỉ có Canada được cấp chứng chỉ với 70.918.506 ha rừng + SFI: Hiện có 56.430.012 ha rừng tham gia chương trình QLRBV SFI để

được cấp chứng chỉ tại Mỹ

* Tại Nam Mỹ

+ Quy trình FSC: Có tổng số hơn 7 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ FSC,

trong đó Bolivia, Braixin là 2 quốc gia có diện tích rừng được cấp CCR lớn nhất, chủ yếu là rừng trồng và rừng nửa tự nhiên Hiện nay Braxin, Bolivia, Costa Rica, Uruguay, Guatêmala là các quốc gia xuất khẩu một khối lượng lớn nhất thế giới gỗ

có chứng chỉ FSC, mà Việt Nam là một trong những thị trường nhập khẩu lớn nhất

+ Quy trình PEFC: Có 1,55 triệu ha rừng ở Chi lê được cấp chứng chỉ PEFC

* Tại Châu Á - Thái Bình Dương

+ Quy trình FSC: Châu Á - Thái Bình Dương hiện có 63 giấy chứng chỉ FSC

cho 2.577.151 ha rừng, trong số đó Úc, Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản Australia

và New Zealand là những quốc gia dẫn đầu về diện tích và số chứng chỉ được cấp

Trang 22

Số giấy chứng chỉ CoC do FSC cấp tại Châu Á - Thái Bình Dương là 702, trong đó dẫn đầu là Nhật bản với 289 CoC và Việt Nam là 86 giấy chứng chỉ CoC, tiếp đó là Malaysia với 58 chứng chỉ

Một số nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia cũng đã xây dựng các quy trình CCR quốc gia, đồng thời họ cũng đã có một số khu rừng tự nhiên được FSC cấp chứng chỉ Ngoài ra các nước khác như Papua Niu- Ghi nê, Quần đảo Solomon cũng đã có nhiều khu rừng được cấp chứng chỉ, mà hiện cung cấp khá nhiều gỗ có chứng chỉ FSC cho các doanh nghiệp sản xuất đồ mộc xuất khẩu của Việt Nam Các nước khác như Thái Lan cũng có một vài diện tích rừng nhỏ được FSC cấp chứng chỉ gần đây

+ Quy trình PEFC: Chỉ có Úc với 5,166 triệu ha rừng được cấp chứng chỉ

PEFC (tính đến tháng 11 năm 2005)

* Tại Châu Phi

Ở Châu Phi tính có 1.690.281 ha được cấp chứng chỉ FSC, với 33 giấy chứng chỉ, chiếm 2% tổng số diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ trên thế giới, trong

đó Nam Phi đứng đầu có 1.426.362 ha với 23 chứng chỉ, sau đó là Zim-Ba -Uê với

127 ngàn ha Về chứng chỉ CoC, ở Châu Phi hiện tại có 120 chứng chỉ, trong đó Nam Phi dẫn đầu với 107 chứng chỉ CoC Châu Phi cho đến nay không có rừng được chương trình PEFC cấp chứng chỉ [1]

Như vậy, nhờ xu hướng tẩy chay các sản phẩm gỗ không được quản lý bền vững mà hàng loại các tổ chức Quản lý rừng bền vững đã ra đời và có các phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới và đề xuất các tiêu chuẩn quản lý rừng với các tiêu chí khác nhau, song mọi tiêu chuẩn đều được đề xuất đòi hỏi tính bền vững của

3 lĩnh vực: Kinh tế, Xã hội, Môi trường Trong đó, FSC là tổ chức được đánh giá là

có uy tín nhất và chứng chỉ FSC được mọi thị trường chấp nhận

1.1.2.2 Chuỗi hành trình sản phẩm (Chain of Custody - CoC)

Yếu tố quyết định để người tiêu dùng ở các nước lựa chọn một sản phẩm gỗ chế biến không chỉ là chất lượng hay mẫu mã mà còn là xuất xứ của nguồn nguyên liệu tạo ra sản phẩm đó Đây là xu hướng của người tiêu dùng thế giới, đối tượng chính của sản phẩm gỗ và cũng là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ Đã có hơn 300 người hoạt động về môi trường kéo đến biểu tình ôn hoà trong một Hội chợ gỗ Quốc tế được tổ chức ở Đức Những người này kêu gọi người tiêu dùng trên thế giới không ủng hộ và sử dụng những sản phẩm gỗ không có chứng chỉ FSC, thay vào đó nên chọn những sản phẩm thân thiện với môi trường Đây là hình ảnh làm nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ ở các nước lo ngại vì nếu không có chứng chỉ FSC thì người tiêu dùng sẽ tẩy chay sản phẩm của họ

Trang 23

Từ một cây gỗ, để có thể trở thành một thành phẩm gỗ cần phải trải qua nhiều bước, bao gồm: từ khai thác, chế biến, sản xuất sơ cấp và thứ cấp, phân phối và tiêu thụ Quá trình này được gọi là chuỗi hành trình sản phẩm Bằng cách kiểm định từng bước trong quá trình này, chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) đảm bảo với khách hàng rằng các sản phẩm đã được chứng chỉ mà họ mua thực sự có nguồn gốc từ một khu rừng đã được chứng chỉ Hiện có hơn 8.000 sản phẩm trên khắp thế

giới có mang biểu trưng của chứng chỉ rừng FSC (Hội đồng quản trị rừng thế giới)

từ cửa gỗ đến lược chải đầu, từ văn phòng phẩm đến giấy toilet Ngày nay, mạng lưới lâm sản toàn cầu, một nhóm các tổ chức và công ty cam kết sản xuất và buôn bán gỗ và lâm sản đã được chứng chỉ, đã có mạng lưới ở 18 quốc gia khác nhau trên khắp thế giới với hơn 600 thành viên Các mạng lưới bán lẻ rất lớn từ Anh và Mỹ cũng hoạt động với vai trò xúc tác cho những thay đổi bởi họ đang gia tăng yêu cầu

Bước đầu tiên cho một công ty muốn thực hiện chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm là phải xác định tất cả điểm kiểm soát gỗ tập kết (CCP’s) Điểm kiểm soát gỗ tập kết là điểm mà gỗ nguyên liệu đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ có khả năng bị trộn lẫn với nhau Ở mỗi điểm đã xác định sẽ cần sự kiểm soát để đảm bảo rằng gỗ sẽ không bị trộn lẫn Cách thức mà CCp’s có thể ngăn cản được việc trộn lẫn gỗ đã được chứng chỉ và chưa được chứng chỉ là thông qua việc kết hợp xác nhận và xác minh gỗ, phân loại gỗ và chứng từ phù hợp, cùng với việc đào tạo chuyên môn đầy đủ Hướng dẫn chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm thay đổi tùy theo các cơ quan cấp chứng chỉ khác nhau và các chi tiết cần dẫn chiếu đến các cơ quan cấp chứng chỉ có liên quan Do đó, mục tiêu của việc chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm là cung cấp bằng chứng rằng sản phẩm được chứng chỉ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ và quản lý tốt và xác minh rằng các sản phẩm đó không lẫn lộn với các sản phẩm từ các khu rừng chưa được chứng chỉ ở bất kỳ điểm nào của chuỗi cung cấp, trừ phi dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ chế nhãn sinh thái tỷ lệ (%) mà sản phẩm đang được áp dụng Nhãn sinh thái dựa trên tỷ lệ là một cơ chế mà lâm sản chỉ chừa một tỷ lệ nhỏ nguyên liệu gỗ được chứng chỉ vẫn có thể được dán nhãn nêu lên rằng chúng có nguồn gốc từ các khu rừng được quản lý tốt Cơ quan chứng chỉ được ủy nhiệm đang tiến hành hoặc quản

lý chương trình chứng chỉ này sẽ đưa ra hướng dẫn và giới hạn về các tuyên bố này trên nhãn sinh thái Vì vậy, chuỗi hành trình sản phẩm được coi là công cụ chủ yếu đấu tranh với việc khai thác gỗ bất hợp pháp và buôn bán gỗ lậu, đồng thời được dùng để tăng cường hiệu lực luật lâm nghiệp, bảo đảm rằng tất cả quyền lực chính phủ và thuế đã được áp dụng và để chứng tỏ rằng các sản phẩm được dán nhãn có

Trang 24

nguồn gốc từ các khu rừng đã được cấp chứng chỉ ở trong khuôn khổ hệ thống chứng nhận tự nguyện rừng

Liên minh Châu Âu EU gần đây giới thiệu 1 hệ thống giấy phép như một phần của công tác tăng cường hiệu lực luật rừng, sáng kiến hành chính và thương mại (FLEGT) Theo hệ thống này nhập khẩu gỗ vào EU phải chứng minh nguồn gốc

hợp pháp (xác định bởi các nước xuất khẩu trên cơ sở luật pháp hiện hành) Do

vậy, dây chuyền cung cấp sản phẩm gỗ từ rừng thông qua việc vận chuyển, lưu kho

và chế biến cần được công khai và kiểm tra tới tận biên giới của EU

Phần lớn các nước nhiệt đới dùng hệ thống theo dõi hành trình dựa trên giấy

tờ thông thường với các nhãn vật lý trên sản phẩm gỗ, nhưng gần đây các hệ thống thuận lợi hơn đã được phát triển chứng tỏ tính hiệu quả và đáng tin cậy của dây chuyền cung cấp

Hình 1.1 Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)

(Nguồn: cẩm nang lâm nghiệp 2006)

Hệ thống chuỗi hành trình sản phẩm của FSC có 5 yêu cầu: về hệ thống chất lượng; về nguồn cung cấp; kiểm tra sản xuất, ghi chép và dán nhãn sản phẩm Hiện nay trên thị trường có một số hình thức CoC, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu mà

doanh nghiệp sở hữu (mua vào và xuất ra) Hình thức CoC được lựa chọn sẽ quyết

định việc xây dựng và thực hiện hệ thống CoC cho doanh nghiệp đó Quy trình FSC

có hai hình thức CoC chính là:

- Doanh nghiệp sử dụng 100 % nguyên liệu có chứng chỉ FSC

- Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm có sử dụng một tỷ lệ % nguyên liệu chưa

có chứng chỉ FSC trộn lẫn với nguyên liệu đã có chứng chỉ FSC

Tuy nhiên, cho dù đơn vị sản xuất 100% gỗ có nguồn gốc FSC và sản xuất riêng gỗ không có chứng chỉ FSC thì việc xác nhận và truy tìm nguồn gốc (identification and traceability) vẫn phải bắt buộc được thực hiện, cụ thể:

Trang 25

Hệ thống kiểm tra đối với quá trình sản xuất sử dụng 100% nguyên liệu

có chứng chỉ: Hệ thống bảo đảm tại mỗi khâu quan trọng đã được xác định trong

dây chuyền là việc sử dụng cách thức để riêng rẽ, đánh dấu và ghi chép lập tài liệu

sẽ không để xảy ra sự lẫn lộn giữa 2 loại nguyên liệu và sản phẩm có và chưa có chứng chỉ

Hệ thống kiểm tra đối với quá trình sản xuất sử dụng nguyên liệu pha trộn: đối với quá trình sản xuất sản phẩm có sử dụng tỷ lệ phần trăm nguyên liệu

chưa có chứng chỉ thì việc kiểm tra nguyên liệu có chứng chỉ từ nơi nó được pha trộn với nguyên liệu chưa có chứng chỉ, cũng cần tinh toán chính xác tỷ lệ phần trăm nguyên liệu pha trộn trong sản phẩm Trong thực tế sẽ có thể có 3 trường hợp xảy ra

- Tỷ lệ phần trăm cho một loại sản phẩm: nghĩa là trong một loại sản phẩm sẽ

có sự pha trộn của 2 loại nguyên liệu, việc theo dõi kiểm tra cần được tiến hành trong toàn bộ dây chuyền Tỷ lệ phần trăm trong mỗi sản phẩm cũng cần được tính toán dựa vào khối lượng hoặc trọng lượng của nguyên liệu có chứng chỉ được sử dụng trong dây chuyền sản xuất loại sản phẩm đó

- Tỷ lệ phần trăm trong cả dây chuyền: việc kiểm tra này cũng được yêu cầu

cho các khâu nơi mà nguyên liệu có chứng chỉ được đưa vào dây chuyền sản xuất Nếu việc kê khai, đăng ký dán nhãn cho sản phẩm chỉ rõ một tỷ lệ phần trăm tối thiểu của nguyên liệu có chứng chỉ trong sản phẩm thì việc kiểm tra cần phải đảm bảo được tỷ lệ này trong dây chuyền Tỷ lệ phần trăm của nguyên liệu có chứng chỉ cho từng lô hàng được dựa trên tỷ lệ nguyên liệu được dùng để sản xuất trong lô hàng đó

- Tỷ lệ phần trăm nguyên liệu đầu vào - tỷ lệ sản phẩm đầu ra: áp dụng hình

thức này thì yêu cầu của việc kiểm tra là cho khối lượng nguyên liệu có và chưa có chứng chỉ được đưa vào sản xuất, để tạo cơ sở cho việc tính toán tỷ lệ sản phẩm sẽ được dán nhãn là “có chứng chỉ”

Việc kiểm tra kỹ hơn và cần nhiều văn bản hơn xảy ra ở cả nơi xuất và nhập khẩu gỗ bao gồm cả sự kiểm tra của viên chức Hải quan Việc kiểm tra đo lường ngặt nghèo và văn bản tại chỗ có thể theo dõi gỗ từ nguồn gốc rừng hoặc thậm chí

từ nguồn gốc cây theo phương thức hiệu quả và minh bạch

ITTO hiện đang tiếp tục hỗ trợ các nước sản xuất tìm kiếm các phương pháp cải tiến phù hợp luật pháp được củng cố Các công ty gỗ nên được khuyến khích giới thiệu các hệ thống kiểm tra chuỗi hành trình của riêng mình, nhưng điều này còn đòi hỏi chính phủ thiết lập hoặc cải tiến cơ cấu kiểm tra và giám sát

Trang 26

1.1.3 Lập kế hoạch quản lý rừng

Việc lập kế hoạch quản lý rừng (KHQLR) là một hoạt động không thể thiếu trong QLRBV, là công việc đầu tiên cần tiến hành trước khi thực hiện quản lý một khu rừng Trong bộ tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững của FSC có 10 tiêu chuẩn và

56 tiêu chí thì việc lập kế hoạch quản lý rừng được quy định tại tiêu chuẩn 7 như sau:

Có kế hoạch quản lý phù hợp với quy mô và cường độ hoạt động lâm nghiệp, với những mục tiêu rõ ràng và biện pháp thực thi cụ thể và được thường xuyên cập nhật

Hội nghị thượng đỉnh về trái đất của UNCED năm 1992 nhận định “Nguồn tài

nguyên rừng và đất rừng chỉ được quản lý bền vững khi đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần của loài người trong thời điểm hiện tại và cho

cả các thế hệ mai sau”

QLRBV đòi hỏi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng lồng ghép và việc giám sát chặt chẽ các hoạt động lâm nghiệp Bao gồm các nhiệm vụ chính như: + Đánh giá tiềm năng nguồn rừng

+ Khảo sát chuyên đề: đa dạng sinh học (động, thực vật) và đánh giá tác động

về mặt xã hội để xác định vùng có giá trị bảo tồn cao

+ Lập bản đồ chức năng rừng dựa trên các kết quả khảo sát chuyên đề và ảnh

+ Thực hiện và giám sát kế hoạch từng lô

+ Đánh giá nội bộ các hoạt động lâm nghiệp và đánh giá tiến độ thực hiện giữa kỳ + Đánh giá độc lập về tính bền vững

1.2 Ở VIỆT NAM

1.2.1 Phát triển bền vững và phương thức QLRBV ở Việt Nam

Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh chóng Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan được tiến hành như "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu

và thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt

Trang 27

nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về phát triển bền vững đối với một quốc gia là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí phát triển bền vững cho Việt Nam "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững" (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho phát triển bền vững

Nhìn chung các công trình nghiên cứu này có một điểm chung là thao tác hoá khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, tuy nhiên những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tế Việt Nam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng, miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa được làm rõ

Đối với ngành lâm nghiệp, khái niệm “bền vững” được thế giới bắt đầu sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 để chỉ lượng gỗ lấy ra khỏi rừng không vượt quá lượng gỗ mà rừng có thể sinh ra, tạo tiền đề cho quản lý rừng bền vững sau này thì

ở Việt Nam mãi đến cuối thế kỷ 20 mới dùng khái niệm “Điều chế rừng” để quản

lý, kinh doanh lâm nghiệp với hy vọng sản lượng rừng được duy trì ở những lần khai thác tiếp theo Phương án điều chế rừng đầu tiên của Việt Nam (được thực hiện 7/1989) là Phương án điều chế rừng lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài (Dự án VIE/82/002 do UNDP/FAO trợ giúp) Nhiệm vụ chính là xây dựng một mẫu phương án tiêu chuẩn; hướng dẫn lập kế hoạch điều chế

và đưa ra những đề xuất cho việc điều chế rừng lâm trường Mã Đà Cho đến nay, ngành lâm nghiệp vẫn đang dùng thuật ngữ “Điều chế rừng”, coi nó như một công

cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý của các chủ rừng Nghĩa là, tất cả các chủ rừng cho đến nay đều quản lý rừng theo cách lập phương án điều chế được thực hiện theo những quy định tại Quyết định 40/2005/QĐ-BNN, ngày 7/7/2005 của Bộ NN-PTNT về Quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác [7]

Khái niệm quản lý rừng bền vững đến nay đối với cả cán bộ lâm nghiệp vẫn còn khá mơ hồ về mục đích và các hoạt động của quản lý rừng bền vững Qua kết quả điều tra mới đây của ORGUT cho thấy: có 85% số người được phỏng vấn trả lời là có biết về thuật ngữ Quản lý rừng bền vững Nhưng khi được hỏi tiếp là: Những hoạt động chính để tiến tới quản lý rừng bền vững là gì? thì có tới 75% trong

số đó trả lời là không biết (theo Báo cáo Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý rừng

Trang 28

bền vững của Việt Nam do ORGUT thực hiện trong khuôn khổ Chương trình quản

lý bền vững rừng tự nhiên và tiếp thị lâm sản - GTZ tài trợ)

Như trên đã nêu, Chứng chỉ rừng đã được các nước trên thế giới biết đến và sử dụng từ gần 20 năm nay, trong khi đó ở Việt nam hiện nay khái niệm nay đang còn

là rất mới mẻ với cán bộ, người dân hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp Vì vậy trong chiến lược LNQG 2006-2020 chương trình QLRBV là chương trình được phân kỳ thành giai đoạn 2006-2010, 2011-2020 và xác định từng bước đi cho tới kết quả đạt chứng chỉ cho các đơn vị quản lý rừng sản xuất theo một lộ trình xác định trong từng kế hoạch 5 năm Đây là chương trình rất cơ bản để đưa quản lý lâm nghiệp Việt Nam vào ổn định, hiệu quả, đem lại không chỉ lợi ích kinh tế rõ rệt cho chủ rừng mà còn đảm bảo ổn định diện tích, chất lượng rừng cùng các lợi ích môi trường, xã hội cho cộng đồng và quốc gia trong quá tình hội nhập quốc tế

Tiến trình QLRBV vẫn đang tiến triển và đã vào giai đoạn không thể chậm chễ so với các nước bạn bè ASEAN cả vệ bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, mà còn phải nâng cao năng lực cạnh tranh trong thị trường xuất khẩu hàng hoá chế biến

1.2.2 Tổ công tác quốc gia quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng

Ngay khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN từ 1995 nhu cầu hợp tác về QLRBV trong khối trở thành một trong các nội dung chính của các cuộc họp hàng năm của các chuyên gia cao cấp về lâm nghiệp (ASOF) Qua nhiều cuộc thảo luận

về việc làm sao xây dựng được một bộ tiêu chuẩn QLRBV cho ASEAN và đẩy mạnh việc QLRBV trong mỗi nước thành viên, thì nhu cầu hình thành một tổ chức

để xúc tiến quá trình này ở Việt Nam trở nên bức xúc Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 12/1998 một hội thảo quốc gia về QLRBV do Bộ NN & PTNT, Quỹ quốc tế

về bảo vệ thiên nhiên (World Wide Fund for Nature - WWF), Đại sứ quán vương quốc Hà Lan tại Hà Nội và Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đồng tài trợ và tổ chức tại TP.HCM Trong hội thảo đã có nhiều báo cáo, thảo luận về khái niệm QLRBV, đánh giá hiện trạng về rừng và quản lý sản xuất lâm nghiệp tại Việt Nam

Hội thảo đã thành lập một Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) (nay là

Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng) và đề xuất một chương trình hoạt

động trong 5 năm đầu tiên Các đại biểu đã đi tham quan tình hình sản xuất và quản

lý của Lâm trường Tân Phú, Vườn quốc gia Nam Cát Tiên và khu rừng phòng hộ Cần Giờ

NWG ban đầu do Cục Phát triển lâm nghiệp quản lý, nhưng từ năm 2001 do Hội KHKTLN quản lý NWG liên tục mở rộng và củng cố về tổ chức phù hợp với hướng dẫn của FSC, gồm 3 ban: kinh tế, môi trường và xã hội, với sự tham gia rất rộng rãi của các thành viên từ các cơ quan, đoàn thể và nhiều nhà khoa học, nhà

Trang 29

quản lý ở Trung ương và địa phương đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu Năm 2002,

có 10 người trong của NWG đã trở thành thành viên của FSC quốc tế FSC cũng đã

cử 1 thành viên làm Đại diện cho FSC quốc tế tại Việt Nam, gọi là ”Đầu mối quốc gia (Contact Person)” Kinh phí hoạt động của NWG thu hút từ các nguồn tài trợ không cố định như hỗ trợ ban đầu của Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, dự án cải cách hành chính lâm nghiệp (REFAS), WWF Đông Dương và 1 dự án nhỏ thực hiện trong 2 năm 2002 - 2003 do Quỹ Ford (The Ford Foundation Representative Office for Vietnam and Thailand) tài trợ Giai đoạn 5 năm đầu các hoạt động của NWG tập trung vào các nội dung:

a) Tuyên truyền, phổ cập, giới thiệu về QLRBV

b) Xây dựng Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam về QLRBV và CCR

c) Khảo sát tình hình QLR tại các đơn vị và đánh giá tính khả thi của các chỉ

số của Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam do NWG dự thảo trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và

dự án hỗ trợ kỹ thuật cho một số chủ rừng xây dựng mô hình CCR Từ năm 2004, các tổ chức này đã đẩy mạnh các hoạt đông theo từng chương trình riêng trong việc

hỗ trợ các đơn vị quản lý rừng (thường là đơn vị lâm trường) tiếp cận các tiêu chuẩn QLRBV của FSC, trong khi NWG gặp khó khăn về nguồn tài trợ nên phải giảm thiểu hoạt động để tổ chức lại NWG đã liên tục tổ chức một loạt hoạt động tuyên truyền phổ cập về QLRBV như:

- Các hội nghị, hội thảo về nhận thức và lập kế hoạch quản lý rừng: Vùng miền Trung, Huế 12-1999; tỉnh Nghệ An - Vinh 2000; QLR và chế biến gỗ Miền Nam Trung bộ - Quy Nhơn 2001; Tây Nguyên - Buôn Mê Thuột 2001; Tây Nguyên, Gia Lai 2002; Hội thảo quốc gia chỉnh sửa tiêu chuẩn lần 7- Hà nội 2003; và lần 8 -

Hà Nội 2005

- Tuyên truyền phổ cập QLRBV và CCR trên các phương tiện truyền thông như báo chí, Radio, TV, và trong nhiều hội nghị hội thảo về nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, dân tộc, miền núi,…

- Nói chuyện ngoại khoá và phổ cập kiến thức quản lý rừng cho các lớp cao học của Đại học lâm nghiệp Xuân Mai, Đại học Tây Nguyên, và cùng chuyên gia GFA Terra phổ cập kiến thức cho các dự án trồng rừng do KfW tài trợ

Trang 30

Cùng với các hoạt động khảo sát nhằm phổ cập nhận thức cho các thành viên của NWG và các cổ đông như chủ rừng, quan chức quản lý lâm nghiệp cấp trung ương và cấp tỉnh, NWG cũng đã thực thi một số chương trình hỗ trợ chứng chỉ rừng sau đây:

- Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ trên 2 triệu USD, đã kết thúc năm 2003 Hiện nay giai đoạn 2 nhằm tăng cường các hoạt động khuyến nông khuyến lâm và xây dựng mô hình quản lý rừng cho cộng đồng, đã bắt đầu triển khai từ 2005 với kinh phí trên 1 triệu USD

- Dự án hỗ trợ cải thiện quản lý rừng ở lâm trường Hà Nừng và lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông dương tiến hành 2003 - 2005 với số vốn 490 nghìn USD do Thuỵ Sĩ tài trợ

- Chương trình hỗ trợ QLRBV và CCR của dự án GTZ/REFAS đối với 2 lâm trường Ma- Drak và NamNung (Đắc Lắc) 2005 Từ 2006 mở rộng ra Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái với kinh phí 4,5 triệu Euro cho 4 hợp phần, trong đó có hợp phần hỗ trợ QLRBV và CCR mà chưa xác định vốn cho mỗi hợp phần

- Một phong trào rộng rãi các cơ sở chế biến lâm sản xuất khẩu, đặc biệt là tại các tỉnh Nam bộ, các tỉnh duyên hải Nam trung bộ và Tây Nguyên đã tự nâng cấp quản lý dây chuyền công nghệ từ nguyên liệu gỗ đến sản phẩm cuối cùng Từ 2002 đến nay đã có 84 cơ sở đạt chứng chỉ CoC

- Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của Quỹ rừng nhiệt đới (TFT) tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị QLR như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty lâm nghiệp

Hộ trồng rừng thuộc Chi hội đã đáp ứng được các tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam

ở các mức độ khác nhau Mặt khác các khiếm khuyết trong quản lý rừng có thể khắc phục được, tuy nhiên một số tiêu chí và chỉ số trong quản lý chưa phù hợp với chủ rừng, nên việc sử dụng nó để đánh giá còn có chênh lệch Bên cạnh đó thông qua đánh giá, Viện cũng đưa ra được các biện pháp khắc phục các khiếm khuyết

Ngay sau khi được thành lập, NWG đã ưu tiên việc dự thảo Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam (P&C&I VN) để làm căn cứ đánh giá và cấp chứng chỉ rừng cho các đơn vị QLR tại Việt Nam Có hai hoạt động được thực hiện song song:

Trang 31

- Phối hợp với các nước ASEAN xây dựng bộ tiêu chuẩn chung cho các nước ASEAN trên cơ sở 7 tiêu chí của ITTO Hội nghị cấp Bộ trưởng năm 2001 tại Phnom-penh Song bộ tiêu chuẩn này kém khả thi trong thực tế vì ITTO chỉ đề xuất

7 tiêu chí QLRBV mà không phải là quy trình chứng chỉ nên chỉ có thể áp dụng để thẩm định, đánh giá mức độ QLRBV mà không có hiệu lực CCR quốc tế

- Quá trình dự thảo P&C&I Việt Nam trên cơ sở các tiêu chuẩn và tiêu chí của FSC cũng được tiến hành ngay từ khi thành lập bằng cách hàng năm vừa dự thảo, vừa khảo sát áp dụng thử và chỉnh sửa trong 8 lần Bản dự thảo được chỉnh sửa lần thứ 8 cũng đã nhận được nhận xét, đánh giá bằng văn bản của các cơ quan chính phủ, các đoàn thể và các tổ chức quốc tế liên quan đang hoạt động tại Việt Nam P&C&I Việt Nam dự thảo tuân thủ 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí của FSC và đã có 147 chỉ số được đề xuất để thể hiện các tiêu chí và để kiểm tra đánh giá mức độ phù hợp của tiêu chuẩn đối với thực tiễn QLR ở Việt Nam Các chỉ số đề xuất này đã xem xét tới tính phù hợp với các cơ sở pháp luật, chính sách và điều kiện thực tiễn Việt Nam Mặc dù bộ tiêu chuẩn dự thảo năm 2004 được sự nhận xét và đồng tình từ 14

cơ quan tổ chức hữu quan, nhưng nó chưa được trình FSC để xem xét và phê duyệt Tuy vậy P&C&I VN đã được WWF Đông Dương, TFT, Viện Điều tra quy hoạch rừng và dự án REFAS tham khảo sử dụng khi hỗ trợ các lâm trường thực hiện

QLRBV và cũng đã được NWG sử dụng để đánh giá QLR ở 4 chủ rừng (Lâm

trường Con Cuông, Công ty Lâm công nghiệp Long Đại, Công ty lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, Xí nghiệp trồng rừng tư nhân 327 Đỗ Thập, Yên Bái) được

chọn để xây dựng mô hình QLRBV

Đến nay, Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng đã xây dựng xong bộ tiêu chuẩn số 9C gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí dựa trên bộ tiêu chuẩn của FSC làm căn cứ để các chủ rừng tự đánh giá và khắc phục những khiếm khuyết trong quản lý rừng để có thể đề xuất các tổ chức cấp chứng chỉ rừng quốc tế đến đánh giá , cấp chứng chỉ rừng Tuy nhiên, FSC cũng chỉ rõ là tất cả các bộ tiêu chuẩn quốc gia kể

cả khi đã được FSC công nhận và áp dụng vẫn cần được xem xét sửa đổi bổ sung thường xuyên cho phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện kinh tế xã hội và trạng thái rừng Bộ tiêu chuẩn này nhằm giúp cho các đơn vị và cá nhân quan tâm đến quản lý rừng có được các nhận thức cơ bản thế nào là một đơn vị quản lý rừng đạt đến mức quản lý bền vững theo các tiêu chuẩn quốc tế

Gần đây, hàng loat đơn vị quản lý rừng tự nhiên và trồng rừng sản xuất, rất nhiều công ty, xí nghiệp chế biến xuất khẩu lâm sản đang có nhu cầu tự nguyện tham gia quá trình QLRBV và yêu cầu SFMI hướng dẫn, hỗ trợ, tư vấn để tự đánh giá năng lực quản lý rừng, năng lực giám sát chuỗi hành trình, song tính tới tháng

Trang 32

5/2010, các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ mới chỉ được cấp gần 205 chứng chỉ CoC, nhưng mới chỉ có 1 chứng chỉ FSC về QLRBV Đó là Công ty TNHH trồng rừng Quy Nhơn với 9781 ha đất lâm nghiệp phân bố tại 8 huyện của tỉnh Bình Định, một tỉnh duyên hải miền trung của Việt Nam

Để hướng đến một nền lâm nghiệp bền vững, trong những năm gần đây Đảng

và Nhà nước cũng tích cực sửa đổi và ban hành nhiều chủ trương, chính sách có tác động mạnh tới việc phát triển lâm nghiệp bền vững, như: Luật đất đai, năm 2003; Luật bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004; Luật bảo vệ môi trường, năm 2005; Đặc biệt là Quyết định số 18/2007/QĐ- TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ

đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, trong đó có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý

và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu phấn đấu tới năm 2020 sẽ tạo ra một lâm phận ổn định gồm các khu rừng chất lượng cao, phân bố hợp lý, trong đó 30% diện tích rừng sản xuất đạt được tiêu chuẩn QLRBV và được cấp chứng chỉ, với tổng kinh phí chương trình dự toán là 23.000 tỷ đồng, tương đương 1,5 tỷ USD và được phân kỳ thành 3 kế hoạch 5 năm Tuy nhiên việc phát triển QLRBV và CCR ở Việt Nam đang có những trở ngại như: Trình độ quản lý rừng còn thấp, sự hiểu biết về QLRBV và CCR còn rất hạn chế cả ở cấp trung ương và địa phương, diện tích nhỏ, phân tán, địa bàn hoạt động khó khăn phức tạp; Lượng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên

ít không đủ làm động lực thị trường chứng chỉ rừng, đồng thời cơ chế đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều hạn chế Do đó, chương trình quản lý rừng bền vững của Nhà nước 2006-2020 chỉ có thể đạt được mục tiêu khi các thách thức trên được quan tâm giải quyết một cách đồng bộ

1.2.3 Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam

Việc lập kế hoạch quản lý rừng ở Việt Nam được thực hiện theo Chỉ thị số

15-LS/CNR, ngày 19/7/1989 của Bộ Lâm nghiệp “Về công tác xây dựng phương án

điều chế rừng đơn giản cho các Lâm trường” Đây là một trong bốn chương trình

mục tiêu của ngành Lâm nghiệp đã khởi động và hoàn thành được những công việc quan trọng của giai đoạn xây dựng các tiền đề điều chế: Phân công phân cấp quản lý rừng, phân chia 3 loại rừng, ban hành các qui chế sử dụng rừng, quy phạm kỹ thuật lâm sinh Giai đoạn tiếp theo là xây dựng cho mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh rừng một phương án điều chế rừng chính thức, nhưng công việc này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí Để khắc phục khó khăn trên, Bộ ban hành bản quy định xây dựng phương án điều chế rừng đơn giản để các lâm trường có thể tự xây dựng và nhanh chóng có một phương án tổ chức rừng đảm bảo được nguyên tắc cao nhất là sản xuất lâu dài, liên tục trên cơ sở ổn định vốn rừng, sử dụng hợp lý tài nguyên, có lịch

Trang 33

tác nghiệp cụ thể, dễ điều hành, dễ thực thi Trong phương án điều chế rừng của các

Lâm trường phải thể hiện 3 nội dung chính sau:

- Phần hiện trạng phải làm rõ các vấn đề: Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế,

xã hội; Hiện trạng sử dụng đất đai và Phương thức quản lý kinh doanh trước đây

- Phần quy hoạch thể hiện được nội dung phân chia các đơn vị sản xuất như Phân trường, tiểu khu, khoảnh, lô Xác định được các biện pháp khai thác, trồng rừng, nuôi dưỡng rừng, làm giầu rừng, nông lâm kết hợp cho từng đối tượng Xác định mạng lưới đường vận xuất, vận chuyển

- Phần tác nghiệp thể hiện khái quát trình tự mở mang toàn khu điều chế, cho ý niệm về quá trình định hình và vạch ra sơ đồ toàn cảnh việc sắp xếp tổ chức lại rừng

về sinh vật học và về công nghệ, về sản xuất Nông Lâm Công nghiệp và xây dựng hạ tầng cơ sở Trong phần 5 năm đầu phải hình thành các chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của lâm trường Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở các kế hoạch chi tiết sau:

1 Kế hoạch hàng năm về tác nghiệp lâm sinh (khai thác, làm giầu, cải tạo, trồng rừng) thể hiện bằng khối lượng sản phẩm, khối lượng công việc (ha, công) và tới từng địa chỉ cụ thể (diện tích từng khoảnh)

2 Kế hoạch sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) và sản xuất Nông Lâm kết hợp

3 Kế hoạch lao động (sử dụng tại chỗ, điều chỉnh, thu hút thêm từ nơi khác đến), tỷ lệ lao động sử dụng giữa nông lâm

4 Kế hoạch tài chính và vật tư, tiêu thụ sản phẩm

5 Kế hoạch phát triển các công trình công cộng, xây dựng hạ tầng cơ sở

Kế hoạch sản xuất hàng năm thể hiện được đầy đủ khối lượng công việc (tấn sản phẩm, ha rừng tác động, công lao động ) và vị trí tác động tới địa chỉ từng khoảnh, tuân thủ sự ổn định về mặt lâm sinh của phương án điều chế đồng thời phải thực sự là một kế hoạch có đầy đủ khả năng thực hiện và cụ thể đến mức trả lời được những câu hỏi của người thực hiện: khi nào? làm gì? ở đâu? bao nhiêu ? Tại các tiểu khu dựa vào tác động trong năm kế hoạch, phải xác minh lại rừng, phân chia thành các khoảnh và lô kinh doanh, thiết kế sản xuất cho từng khâu công việc,

từ đó mới xây dựng được các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất hàng năm cụ thể

Tuy nhiên phương án điều chế rừng đơn giản còn tồn tại những khiếm khuyết trong việc lập và thực hiện kế hoạch khai thác như: Mới chú trọng quản lý rừng về mặt kinh tế, còn bền vững về mặt xã hội và môi trường chưa được quan tâm đầy đủ;

Về mặt kỹ thuật, các chỉ tiêu kỹ thuật khai thác mới chỉ được xác định dựa vào kinh nghiệm trong và ngoài nước, chưa được nghiên cứu để có một cơ sở khoa học chắc chắn; Chưa xác định chính xác lượng tăng trưởng rừng và không đủ điều kiện để

Trang 34

xác định chính xác tài nguyên rừng (trữ lượng rừng), dẫn đến không xác định được

chính xác lượng khai thác (yếu tố quan trọng bảo đảm khai thác rừng bền vững)

Đặc biệt trong lập kế hoạch chưa chú ý đến xác định các khu vực loại trừ,chưa xác địa hệ thống đường cho toàn bộ các khu khai thác, mặc dầu đã được quy định trong hướng dẫn xây dựng phương án điều chế Các phương án bảo vệ hệ sinh thái đặc

thù, bảo vệ đa dạng sinh học… được xác định rõ ràng

Đến ngày 7/72005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Quyết định số 40/2005/QĐ-BNN, về việc ban hành quy chế khai thác gỗ và lâm sản khác, trong đó có quy định về xây dựng phương án điều chế rừng (Điều 4-8 Chương 2

Quy chế khai thác) Do vậy, hiện nay nay các chủ rừng đang sử dụng “Điều chế

rừng” như một công cụ, một phương pháp truyền thống để quản lý rừng Thực chất

của Phương án điều chế rừng là xây dựng kế hoạch tác nghiệp cụ thể, trong đó đưa

ra thời gian và các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho từng khoảnh, tiểu khu trong một hay nhiều chu kỳ khai thác Tuy nhiên, khi sử dụng “Điều chế rừng” để quản lý rừng cũng bộc lộ nhiều hạn chế nhất định, rõ nét nhất là nội dung phương án điều chế (Điều 8 của Quyết định 40), chủ yếu là xây dựng kế hoạch khai thác, kinh doanh rừng từng năm, 5 năm của đơn vị Trong khi đó, hàng loạt các hoạt động liên quan đến mục tiêu bảo vệ môi trường và mục tiêu xã hội lại chưa được Phương án điều chế quy định một cách cụ thể Từ đó dẫn đến phương án điều chế rừng hiện nay của các chủ rừng thường tập trung vào việc đảm bảo mục tiêu kinh tế của rừng, nghĩa là rừng cho nhiều sản phẩm, có năng suất cao và lâu dài liên tục Nên các mục tiêu quan trọng khác như môi trường và xã hội lại chưa được chú ý đúng mức đến

trong phương án điều chế rừng của các đơn vị sản xuất

Khảo sát tình hình tại 5 tỉnh: Hòa Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Đắc Lắc và Ninh Thuận, gần đây cho thấy các đơn vị quản lý cơ sở (lâm trường, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ ) chỉ tập trung vào việc lập kế hoạch khai thác hoặc trồng rừng theo các chỉ tiêu kế hoạch được giao từ cấp trên còn các nội dung

xã hội và môi trường thường làm sơ sài Nguyên nhân của tình trạng trên là thiếu một văn bản hướng dẫn lập kế hoạch quản lý rừng bền vững trên cả ba phương diện

kinh tế, xã hội và môi trường cho một đơn vị quản lý rừng cấp cơ sở (Quy phạm

thiết kế kinh doanh rừng năm 1984 cũng chỉ hướng dẫn chi tiết về việc lập các kế hoạch tác nghiệp lâm nghiệp) [7]

Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020: Đã khẳng định quan điểm phát triển lâm nghiệp là: Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm không ngừng nâng cao chất lượng rừng Đồng thời, trong Chiến lược cũng đã

Trang 35

đề ra 5 chương trình hành động, trong đó Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững là Chương trình trọng tâm và ưu tiên số 1

Tất cả những vấn đề trên sẽ là những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch quản lý rừng bền vững là bước ban đầu rất quan trọng

1.3 Thảo luận

Quản lý rừng bền vững là mục tiêu mà mọi nước đang phấn đấu, sự thực hiện

tự nguyện của chủ rừng, của người sử dụng và buôn bán lâm sản, của cộng đồng dân cư đang sống và hưởng lợi từ rừng Vì vậy, mặc dù QLRBV là cuộc vận động lớn nhất của ngành lâm nghiệp từ cuối thế kỷ XX và được các tổ chức độc lập quốc

tế như FSC, ITTO vận động hướng dẫn và chứng nhận Song, vai trò của các chính phủ là rất quan trọng trong từng quốc gia do chính sách khuyến khích QLRBV của mỗi nước khác nhau, và tầm quan trọng của rừng ở mỗi quốc gia có khác nhau CCR

là sự xác nhận khu rừng đã được quản lý bền vững dựa trên các tiêu chuẩn cao và thống nhất quốc tế về Kinh tế, xã hội và môi trường Chứng chỉ rừng là giải pháp khuyến khích các chủ rừng quản lý bền vững vì ngoài lợi ích quốc gia về đảm bảo môi trường phát triển bền vững và phát triển kinh tế - xã hội, chính chủ rừng được đền đáp các chi phí tự nguyên QLRBV Chứng chỉ rừng là hiệu quả cuối cùng của QLRBV, vì nếu quá trình QLR chưa đạt được các tiêu chuẩn bền vững thì không có

CCR Do đó, hai từ này thường được gắn chặt với nhau

QLRBV và CCR là phương thức quản lý rừng tiên tiến mà thế giới và Việt Nam đang hướng tới trong quản lý rừng Mới chỉ trong 15 năm phát động cao trào QLRBV

mà đã có 94 triệu ha rừng đạt chứng chỉ FSC (đến 31-12-2007) và khoảng 140 triệu

ha rừng đạt chứng chỉ rừng của 74 nước trên toàn thế giới Việt Nam, mới trong 10 năm từ Tổ công tác quốc gia về QLRBV đã hình thành Viện QLRBV&CCR, đã đưa

ra được các tiêu chuẩn, tiêu chí QLRBV, các yêu cầu về CoC và hàng chục đơn vị quản lý rừng đang trong lộ trình đánh giá, khắc phục các khiếm khuyết trong quản lý rừng để tiến tới được cấp CCR

Chuỗi hành trình sản phẩm là hành trình sở hữu lâm sản từ rừng tới người tiêu dùng, bao gồm tất cả các công ty sản xuất, vận chuyển, và phân phối gỗ và các sản phẩm có liên quan Đạt chứng chỉ CoC là yêu cầu bắt buộc với việc dán nhãn và bán sản phẩm từ gỗ có chứng chỉ FSC

Từ những nhận thức và tiếp thu các thông tin có liên quan đến QLRBV và CCR trên sẽ được đề tài vận dụng vào trong quá trình nghiên cứu hỗ trợ cho Công

ty lâm nghiệp Ngòi Sảo đánh giá, khắc phục các khiếm khuyết trong quản lý rừng

để trong tương lai được cấp chứng chỉ rừng

Trang 36

- Lập được kế hoạch quản lý rừng bền vững trong giai đoạn chu kỳ kinh doanh

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.2.1 Đánh giá quản lý rừng

- Đánh giá quản lý rừng theo 10 tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam

- Xác định được các lỗi không tuân thủ trong quản lý rừng của Công ty và đề

ra các giải pháp khắc phục khiếm khuyết

2.2.2 Đánh giá quản lý chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của Việt Nam

- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) theo hướng dẫn của Việt Nam

- Xác định được các lỗi không tuân thủ trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục các khiếm khuyết

2.2.3 Đánh giá điều kiện cơ bản và lập kế hoạch QLR cho Công ty

2.2.3.1 Đánh giá các điều kiện cơ bản của Công ty: bao gồm

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình quản lý rừng của Công ty

- Đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản tới việc quản lý rừng

+ Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học

+ Kế hoạch giảm thiểu tác động môi trường

+ Kế hoạch giảm thiểu tác động xã hội

+ Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng

Trang 37

+ Kế hoạch nguồn nhân lực

+ Kế hoạch đánh giá, giám sát

+ Kế hoạch huy động nguồn vốn

2.2.4 Đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch quản lý rừng

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu

- Quản lý rừng bền vững là phương thức quản lý rừng tiên tiến là mục tiêu chính, chứng chỉ rừng là kết quả của Quản lý rừng bền vững

- Đánh giá quản lý rừng căn cứ vào tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững nhưng

có vận dụng vào các điều kiện thực tế

- Công ty tự đánh giá, có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá của các chuyên gia

- Công ty phải thay đổi phương thức quản lý để có cơ hội nhận chứng chỉ rừng

- Lập kế hoạch quản lý rừng có tham gia (tư vấn và chủ rừng)

2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.3.2.1 Đánh giá quản lý rừng

- Phạm vi đánh giá: đánh giá toàn diện công tác quản lý rừng (bao gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh) thông qua các tiêu chuẩn

- Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá: Bộ Tiêu chuẩn QLRBV- FSC Việt nam

gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và 160 chỉ số Các tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằng các tiêu chí và được thể hiện chi tiết bằng các chỉ số và các nguồn kiểm chứng

Nhóm tiêu chuẩn Kinh tế - Xã hội:

1) Tiêu chuẩn 1- Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC

2) Tiêu chuẩn 2-Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;

3) Tiêu chuẩn 3- Quyền của người dân sở tại

4) Tiêu chuẩn 4- Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân

5) Tiêu chuẩn 5- Những lợi ích từ rừng

Nhóm tiêu chuẩn lâm nghiệp và môi trường:

6) Tiêu chuẩn 6- Tác động môi trường;

7) Tiêu chuẩn 7- Kế hoạch quản lý;

8) Tiêu chuẩn 8- Giám sát, đánh giá;

9) Tiêu chuẩn 9- Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao

10) Tiêu chuẩn 10 - Rừng trồng

Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn

Trang 38

- Thu thập các thông tin về các yếu tố tác động đến quản lý rừng

Quy trình đánh giá quản lý rừng tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo tổng hợp như sau:

Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo

1) Lập kế hoạch nội bộ ban đầu

- Tổ chức cuộc họp nội bộ: nắm bắt khái quát quá trình đánh giá; lên thời gian biểu và phân công nhiệm vụ các nhóm đánh giá; lập danh sách tổ chức cá nhân cần tham vấn; câu hỏi phỏng vấn; lịch phỏng vấn

- Lập danh sách hiện trường

- So sánh văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn FSC VN

3) Tham vấn các bên liên quan

- Nhóm môi trường: Phòng tài nguyên môi trường, các tổ chức bảo tồn

- Cơ quan nhà nước: Hạt kiểm lâm, Tài chính, Thuế, UBND xã, các phòng ban chức năng của Công ty

- Cộng đồng: dân cư sống quanh đơn vị, những hộ được giao đất lâm nghiệp liền kề, những hộ có tranh chấp đất đai với đơn vị

Các câu hỏi đã được lập sẵn xoay quanh các vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ rừng theo các tiêu chuẩn QLRBV của FSC, chuỗi hành trình sản phẩm

Trang 39

4) Khảo sát hiện trường

Khảo sát hiện trường thực hiện sau khi đã xem xét các kế hoạch quản lý ban đầu

và tham vấn các bên liên quan Không tới hiện trường khi không đủ những thông tin

cơ bản về các hoạt động quản lý rừng Các công việc cần thực hiện như sau:

- Kiểm tra xem những việc làm ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã cung cấp không

- Phỏng vấn công nhân, người nhận khoán, UBND xã, trưởng thôn, người dân

sở tại

Các tài liệu cần mang: bản đồ hiện trạng, các bản thiết kế trồng rừng, khai thác, vận chuyển làm cơ sở so sánh Ngoài ra người đánh giá ghi chép đầy đủ các thông tin về địa điểm đến như: vị trí, thực trạng rừng, đặc điểm đặc trưng

- Khi họp với cơ quan nhà nước cần bao quát các chủ đề pháp luật; sự tuân thủ của chủ rừng (quy định quản lý đất đai, nộp thuế, BHXH ); danh sách loài quý hiếm địa phương; danh sách hóa chất bị cấm hoặc hạn chế dùng

- Khi họp với các tổ chức môi trường, cộng đồng cần bao quát vấn đề: những khu vực có tranh chấp; các trường hợp có tác động liên quan đến hoạt động của chủ rừng và tổ chức khác; xem xét những loài có nguy cơ bị đe doạ; hóa chất bị cấm; kết quả nghiên cứu hiện tại có tác dụng gì với việc quản lý của chủ rừng

Các câu hỏi đánh giá:

5) Cho điểm các tiêu chuẩn

Xác định kết quả sơ bộ cho mỗi tiêu chuẩn (chấm điểm, cung cấp bằng chứng) Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa.Tổng hợp điểm từ:

Điểm bằng chứng chỉ số tiêu chí tiêu chuẩn

Hệ thống chấm điểm

Trang 40

- Cho điểm đánh giá trong phòng: với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước,

- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không

- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm

rõ những mối liên hệ

Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm

- Thảo luận những tiền đề, điều kiện và khuyến nghị liên quan đến điểm

+ Điều kiện tiền đề: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng cần có trước khi chứng chỉ được cấp

+ Điều kiện hiện tại: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng phải thực hiện đầy đủ theo lịch cụ thể trong suốt quá trình cấp chứng chỉ trong 5 năm

+ Khuyến nghị: những cải thiện do nhóm đánh giá gợi ý, mà không bắt buộc hoặc yêu cầu

6) Xác định các lỗi không tuân thủ

- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục

Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn <5,6 các tiêu chí ít được thực hiện

Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện

7) Viết báo cáo đánh giá

2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC

Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) từ khâu khai thác về nơi tiêu thụ (nhà máy giấy Bãi Bằng) Đánh giá chuỗi hành trình dựa trên 9 yêu cầu của Việt Nam Phương pháp đánh giá và hệ thông cho điểm của đánh giá chuỗi hành trình sản

phẩm tương tự với phương pháp đánh giá quản lý rừng

2.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng

Lập kế hoạch quản lý rừng bao gồm đánh giá các điều kiện cơ bản của Công

ty và kế hoạch quản lý rừng

Ngày đăng: 13/05/2016, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 1.1. Sơ đồ Chuỗi hành trình sản phẩm (CoC) (Trang 24)
Hình 2.1: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 2.1 Quy trình đánh giá QLR tại Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo (Trang 38)
Hình 3.1: Cơ cấu tổ chức Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức Công ty lâm nghiệp Ngòi Sảo (Trang 52)
Hình 4.1. Chuỗi hành trình sản phẩm chính của Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 4.1. Chuỗi hành trình sản phẩm chính của Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo (Trang 67)
Hình 4.2. Sơ đồ lập kế hoạch khai thác Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 4.2. Sơ đồ lập kế hoạch khai thác Công ty Lâm nghiệp Ngòi Sảo (Trang 74)
Hình 4.3. Biểu đồ hiện trạng rừng trồng Keo, Bồ đề - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 4.3. Biểu đồ hiện trạng rừng trồng Keo, Bồ đề (Trang 75)
Hình 4.4. Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng, giai đoạn 2011-2018 - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
Hình 4.4. Biểu đồ điều chỉnh diện tích khai thác rừng, giai đoạn 2011-2018 (Trang 77)
Phụ biểu 16: Bảng kê thuốc phòng trừ sâu bệnh hại - Đánh giá quản lý rừng, chuỗi hành trình sản phẩm và lập kế hoạch quản lý rừng tiến tới chứng chỉ rừng tại công ty lâm nghiệp ngòi sảo tỉnh hà giang full
h ụ biểu 16: Bảng kê thuốc phòng trừ sâu bệnh hại (Trang 133)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w