1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

CẨM NANG VỀ LUẬT CẠNH TRANH VIÊT NAM

108 669 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khuôn khổ kì vọng dành cho Việt Nam 11.1 Tổng kết về các qui định phù hợp của Luật Cạnh tranh 11.2 Sự phân biệt rõ ràng giữa hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và chiều ngang 11.3 Xuất

Trang 1

1

CẨM NANG VỀ LUẬT CẠNH TRANH VIÊT NAM

Tác giả: Alice Phạm, CUTS (2007) Lược dịch: Hoàng Lệ Quyên

Nội dung

1 Mở đầu

Tóm lược về Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam

2 Nền kinh tế thị trường

2.1 Thị trường và giá cả - Hai nhân tố này làm việc thế nào?

2.2 Chính phủ và qui định của luật pháp đối với các Thị trường tự do

4.2 Quy tắc có lí và Quy tắc Per se

4.3 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

4.4 Các thỏa thuận ngang giữa các đối thủ cạnh tranh

4.5 Các thỏa thuận dọc trong phân phối và bán sản phẩm

6.1 Sự khác biệt giữa Sáp nhập và Mua lại doanh nghiệp

6.2 Các hình thức Sáp nhập và Mua lại doanh nghiệp

6.3 Một số vấn đề liên quan tới việc Sáp nhập và Mua lại doanh nghiệp

6.4 Thụ lý hồ sơ sáp nhập

6.5 Thông tin trong việc thụ lý các vụ sáp nhập

6.6 Các biện pháp khắc phục sai phạm trong sáp nhập

6.7 Liên doanh

7 Các hành vi thương mại không lành mạnh: Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng

7.1 Các hành vi thương mại không lành mạnh

7.2 Quảng cáo sai lệch

7.3 Bán hàng đa cấp bị cấm

8 Những vấn đề xuyên biên giới

8.1 Sức mạng thị trường trên thị trường xuất khẩu hay thị trường thế giới

8.2 Những rào cản đối với Cạnh tranh nhập khẩu

8.3 Những vấn đề về cạnh tranh liên quan tới đầu tư nước ngoài

Trang 2

2

8.4 Những vấn đề cạnh tranh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ

8.5 Việc giải quyết các vấn đề xuyên biên giới theo Luật Cạnh tranh của Việt Nam

9 Cạnh tranh và Luật Sở Hữu Trí Tuệ

9.1 Các tiêu chuẩn của quyền sở hữu trí tuệ như là việc điều chỉnh tính cạnh tranh

9.2 Điều chỉnh việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua Luật Cạnh tranh

9.3 Các vấn đề cạnh tranh trong các hiệp định cấp phép

9.4 Quyền sở hữu trí tuệ và việc vi phạm các vị trí thống lĩnh thị trường

9.5 Quyền ưu tiên

9.6 Bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế

9.7 Hàng nhập khẩu tương tự

10 Các nhân tố cần thiết để thành công

10.1 Trình tự thực hiện Luật Cạnh tranh

10.2 Xây dựng một thể chế cạnh tranh lành mạnh

11 Khuôn khổ kì vọng dành cho Việt Nam

11.1 Tổng kết về các qui định phù hợp của Luật Cạnh tranh

11.2 Sự phân biệt rõ ràng giữa hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và chiều ngang 11.3 Xuất bản hướng dẫn về việc thực thi Luật Cạnh tranh dễ đọc, dễ hiểu

11.4 Xem xét toàn diện hơn về Luật Cạnh tranh

11.5 Những qui định đặc biệt về cạnh tranh liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ

11.6 Thẩm quyền mở rộng vượt ra ngoài biên giới quốc gia

11.7 Tăng cường năng lực của nguồn nhân lực

11.8 Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh

11.9 Sự tham gia tích cực của người tiêu dùng và các tổ chức xã hội dân sự khác

Danh sách Hộp

Hộp 1: Các - ten của các nhà sản xuất xi măng và hành động của MCA

Hộp 2: Hệ thống nghiệp đoàn trong ngành vận tải

Hộp 3: Lịch Bloc – Thỏa thuận các-ten hay thỏa thuận làm tăng tính hiệu quả

Của một hoạt động kinh tế

Hộp 4: Một trường hợp về đấu giá gian lận tại Việt Nam

Hộp 5: Đấu giá bổ sung tại các xưởng in

Hộp 7: Tòa án Nam Phi giảm việc duy trì giá bán lẻ thấp nhất

Hộp 8: Sự cố của các nhà phát hành sách tại Hungari

Hộp 9: Doanh nghiệp Ceylon Oxygen thoát tội độc quyền giao dịch

Hộp 10: Chiến lược quảng cáo tước quyền gia nhập vào thị trường Bia Việt Nam

Hộp 11: Ghana: Các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau

Hộp 12: Bán kèm bếp ga cùng với việc cung cấp ống dẫn gas

Hộp 13: Các hành vi bán kèm trên thị trường Việt Nam

Hộp 14: Doanh nghiệp địa phương đối đầu với doanh nghiệp Sasol

Hộp 15: Chiến lược khuyến mãi hay cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ:

Liệu Viettel có vi phạm Luật Cạnh tranh hay không?

Hộp16: Các hoạt động kinh doanh loại bỏ đối thủ cạnh tranh

ra khỏi thị trường trong ngành bia ở Zimbabwe

Hộp 17: Hãng di động Viettel phải đối mặt với phá sản vì sự độc quyền của VNPT

Hộp 18: Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ trên chương trình truyền hình hường dẫn hàng tuần Hộp 19: Sáp nhập dẫn tới độc quyền trong ngành truyền hình cáp

Trang 3

3

Hộp 20: Sáp nhập ngành dược phẩm ở Nam Phi: những điều kiện cho Aspen

Hộp 21: Nhãn hiệu Rothmans của tập đoàn Pall Mall/ Sáp nhập công ty thuốc

lá của Anh-Mỹ tại Zimbabwe

Hộp 22: Phân phối chung Sản phẩm nắp nhựa tổng hợp

Hộp 23: Quảng cáo sai lệch và thủ đoạn treo đầu dê bán thịt chó

Hộp 24: Hệ thống siêu thị lớn lừa dối người tiêu dùng tại Argentina

Hộp 25: Doanh nghiệp bán hàng đa cấp không bị cấm đối mặt với điều tra gian lận

Hộp 26: Thỏa thuận các-ten của các nhà sản xuất điện cực than chì và ảnh hưởng

của nó tới các nhà sản xuất thép của quốc gia đang phát triển

Hộp 27: Luật Văn bằng sáng chế gây khó khăn cho các nước đang phát triển

Hộp 28: Tập đoàn Microsoft lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Hộp 29: Chile cho phép nhập khẩu hàng hóa tương tự nhằm thúc đẩy cạnh tranh

Hộp 30: Bộ Y tế điều chỉnh giá cả thuốc men nước ngoài

Hộp 31: Nhập khẩu và bán lẻ Đĩa compact

Bảng 1: Các giai đoạn khác nhau trong sự phát triển thể chế cạnh tranh quốc gia

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ACCC: Ủy ban cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Australia

AIOCD: Tổ chức của dược sĩ Ấn Độ

APCMA: Hiệp hội các nhà sản xuất xi măng Pakistan

BTAs: Các Hiệp định thương mại song phương

CAD: Cục quản lí cạnh tranh

COL: Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn Oxi ceylon

COPRA: Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ

CSOs: Các tổ chức dân sự xã hội

Dọ: Bộ luật pháp

EU: Liên minh Châu Âu

EULA: Thỏa thuận cấp phép sử dụng cuối cùng

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTC: Ủy ban thương mại công bằng

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

HLL: Doanh nghiệp Hindu Lever

IBC: tập đoàn truyền thông quốc tế

ICN: Mạng lưới cạnh tranh quốc tế

IGL: Doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn Gas công nghiệp

IPRs: Quyền sở hữu trí tuệ

ITP: Doanh nghiệp truyền thông độc lập

KFTC: Ủy ban thương mại Hàn Quốc

M&As: Sáp nhập và Mua lại

MCOT: Tổ chức Thông tin liên lạc lớn của Thái Lan

MDGs: Mục tiêu thiên niên kỷ

MLM: Bán hàng đa cấp không bị cấm

MNC: Doanh nghiệp đa quốc gia

Trang 4

4

MRTPC: Ủy ban về các hành vi hạn chế thương mại và vấn đề độc quyền

NUPH-HCM: Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

OECD: Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế

OEMs: Nhà sản xuất trang thiết bị

PC/OS: Hệ điều hành máy tính cá nhân

RBPs: Các hành vi hạn chế cạnh tranh

RTE: Hãng truyền thông Radio Telefís Eireann

RTPs: Các hoạt động thương mại hạn chế

SMEs: Doanh nghiệp vừa và nhỏ

SoEs: Doanh nghiệp nhà nước

TNCs: Doanh nghiệp xuyên quốc gia

TOMCO: Doanh nghiệp dầu lửa Tata

TRIPs: Thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

UBC: Tập đoàn truyền thông thống nhất

UTPs: Các hành vi thương mại không lành mạnh

UTV: Mạng lưới truyền hình thống nhất

VINASTAS: Hiệp Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam

VNPT: Tập đoàn bưu chính Viễn thông Việt Nam

WB: Ngân hàng Thế giới

WIPO: Tổ chức Sở Hữu Trí Tuệ Thế giới

WTO: Tổ chức thương mại Thế giới

Trang 5

5

Việt Nam đã duy trì một nền kinh tế vĩ mô tương đối phát triển trong suốt 15 năm qua Tổng thu nhập quốc nội (GDP) tăng ở mức cao và tương đối ổn định, với tỷ lệ 7% một năm đã đưa Việt Nam trở thành một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cùng với sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô thể hiện ở mức lạm phát thấp, thâm hụt ngân sách thấp, phát triển tín dụng tốt và các khoản nợ nước ngoài vẫn ở mức cho phép Qui mô thương mại quốc tế phát triển một cách nhanh chóng Tỷ lệ tổng thu nhập quốc nội trong thương mại của Việt Nam nằm trong số các nước cao nhất thế giới Tỷ lệ thâm hụt hiện tại đang ở mức có thể kiểm soát được và được đảm bảo bởi dòng vốn đầu tư tăng đáng kể, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Kết quả là không có bất kỳ sự thay đổi bất thường nào trong tỷ giá hối đoái Tăng trưởng kinh tế đã thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu xã hội và hỗ trợ cho tiến bộ đáng kể trong việc theo đuổi các mục tiêu Thiên Niên kỷ (MDGs)

Những thành tựu kể trên là nhờ vào việc triển khai thành công công cuộc cải cách kinh tế toàn diện được khởi xướng từ năm 1986 Trước mốc quan trọng này, Việt Nam thực hiện mô hình kinh tế tập trung, đặc trưng ở sự can thiệp sâu rộng của nhà nước vào các vận động của thị trường Theo mô hình kinh tế này, thị trường hầu như không phát triển và khái niệm “cạnh tranh” thậm chí còn không được chấp nhận một cách chính thức Chiến lược cải cách kinh tế được khởi xướng từ năm 1996 đã đưa ra hàng loạt các biện pháp bình ổn và tái thiết kinh tế nhằm phục vụ cho quá trình chuyển hướng nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường

Tuy nhiên, những thuận lợi mà nền kinh tế thị trường mang lại chưa được tận dụng một cách triệt để tại Việt Nam do thể chế còn yếu kém và những qui định luật pháp cho việc điều hành thị trường một cách suôn sẻ vẫn còn thiếu hoặc chưa hoàn thiện Hình thái độc quyền vẫn còn tồn tại ở một số ngành mũi nhọn trong khi các hành vi hạn chế cạnh tranh (RBPs) và các hành vi thương mại không lành mạnh (UTPs) vẫn gia tăng không ngừng và chưa có cách giải quyết triệt để Vì vậy một Bộ Luật Cạnh tranh hiệu quả sẽ giải quyết được những vấn đề này Ngày 03 tháng 12 năm 2004, kỳ họp Quốc hội lần thứ XI, khóa họp thứ 6 đã phê chuẩn Luật Cạnh tranh Bộ luật có hiệu lực vào tháng 7 năm 2005, và sau đó được giao cho Cục quản lí cạnh tranh của Bộ Thương Mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) quản lí

Việc ban hành Luật Cạnh tranh 2004 cũng với các qui định liên quan thể hiện cam kết của chính phủ nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh lành mạnh trong nền kinh tế Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong đó là hàng loạt những khó khăn lớn trong việc đưa Bộ luật này vào quá trình thực thi

Cuốn sách này được Tổ chức CUTS nghiên cứu và biên soạn trong bối cảnh Việt Nam Đây

là một cuốn sách ngắn gọn nhằm xem xét một số vấn đề chính xung quanh việc thực thi Luật Cạnh tranh 2004 Cuốn sách này cũng đưa ra một số hướng giải quyết phù hợp với thị trường Việt Nam hiện nay đối với RBPs và UTPs cùng với những trường hợp nghiên cứu thực tế

Trang 6

6

Một số trường hợp tương tự ở các nước đang phát triển cũng được đưa vào bài viết nhằm giúp cho độc giả có thể hiểu được vấn đề thông qua các trường hợp nghiên cứu cụ thể này Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, cuốn sách này sẽ phân tích những áp lực và thách thức mà cơ quan cạnh tranh của Việt Nam có thể phải đối mặt trong qúa trình xây dựng một thể chế cạnh tranh lành mạnh tại đất nước này, đồng thời cũng đưa ra một khuôn khổ cho vấn đề này

Cuốn sách này dành cho các nhà chức trách và các nhà quản lí cạnh tranh tham khảo Tuy nhiên các nhà hoạt động, báo chí, và các học giả…v.v cũng có thể sử dụng cuốn sách này như

là một công cụ tuyên truyền và các doanh nghiệp cũng có thể dùng cuốn sách này cho việc tập huấn và quản lí Cuối cùng, cuốn sách này cũng có thể được sử dụng với mục đích tăng thêm hiểu biết về các vấn đề cạnh tranh cho các nhóm liên quan và có lợi ích trong vấn đề này

Tổng quan về Luật Cạnh tranh 2004

Bộ luật này áp dụng cho tất cả thành phần kinh tế hoạt động tại Việt Nam, trong đó bao gồm các hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức, các nhân kinh doanh bao gồm

cả các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Bộ luật này sẽ thay thế cho toàn bộ các luật liên quan của Việt Nam tới RBPs và UTPs

Hai cơ quan nhà nước được thành lập nhằm triển khai việc thực hiện Bộ luật này là Cục Quản lí Cạnh tranh (với chức năng điều tra) thuộc Bộ Thương Mại và Ủy Ban Cạnh tranh (với chức năng xét xử)

Luật Cạnh tranh cấm 5 loại hành vi hạn chế cạnh tranh như sau:

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ( Điều 8)

Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và độc quyền (Điều 13&14)

Tập trung kinh tế gây hạn chế cạnh tranh (Điều 18)

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39); và

Các quyết định và hành vi hạn chể cạnh tranh, lợi dụng chức quyền của cán bộ, công chức hay các cơ quan quản lí nhà nước (Điều 120)

Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm các thỏa thuận sau: Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa,dịch vụ, phân chia thị trường, hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa dịch vụ, hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng; ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường; và đầu thầu gian lận

Ngoại trừ ba loại thỏa thuận cuối bị cấm hoàn toàn trong mọi trường hợp thì các thỏa thuận khác chỉ bị cấm khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên

Các cơ quan quản lí cạnh tranh sẽ có thẩm quyền áp dụng các miễn trừ khi họ thấy rằng thiệt hại của một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tới nền kinh tế và tới tiền trình phát triển cạnh tranh là không vượt quá các lợi ích tiềm năng mà nó đem lại trong việc hợp lý hóa cơ cấu tổ

Trang 7

7

chức, thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật công nghệ, tăng cường tính cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), đồng thời tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên các thị trường quốc tế, v.v

Trong Luật Cạnh tranh, nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có tổng thị phần từ 50% trở lên (đối với hai doanh nghiệp); 65% (đối với ba doanh nghiệp); 75% (đối với 4 doanh nghiệp) trên thị trường liên quan (Điều 11) Doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên hay doanh nghiệp đó phải là những doanh nghiệp có “khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” Các doanh nghiệp có

vị trí thống lĩnh thị trường không được phép thực hiện hành vi bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp khác nhau đối với cùng một lệnh cấm, ngăn cản việc tham gia thị trường của các doanh nghiệp khác và tiến hành các hành vi khác nhằm hạn chế cạnh tranh như áp đặt các điều kiện bất lợi thông qua các qui định về luật (Điều 13)

Doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ, mà doanh nghiệp đó kinh doanh hay cung cấp (Điều 12) Cấm các doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện các hành vi được liệt kê ở đoạn trên liên quan đến các doanh nghiệp có vị trí chiếm lĩnh thị trường, cũng như là áp đặt các điều kiện bất lợi cho người tiêu dùng; lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng; từ chối tiến hành hoạt động kinh doanh hay phân biệt đối xử với người tiêu dùng mà không có lí do chính đáng; và bất cứ hành vi nào bị cấm khác theo luật định (Điều 14)

Các hoạt động tập trung kinh tế được tiến hành bởi một doanh nghiệp nhằm quản lí hoạt động của các doanh nghiệp khác bao gồm sáp nhập, mua lại và hợp nhất và các hành vi tập trung kinh tế khác theo mục đích này (Điều 16 – 17)

Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm 50% hoặc hơn trừ trường hợp (1) kết quả sau khi thực hiện tập trung kinh tế doanh nghiệp vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa (khái niệm doanh nghiệp nhỏ hoặc vừa không được qui định tại Bộ luật này) hay (2) Thủ tướng Chính phủ cho phép hưởng miễn trừ (Điều 18 – 19)

Các doanh nghiệp có thị phần kết hợp từ 30- 50% bắt buộc phải thông báo cho cơ quan quản

lí cạnh tranh trong vòng 30 ngày trước khi tiến hành tập trung kinh tế

Đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh cấm: Chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn; xâm phạm bí mật kinh doanh; các hành vi đút lót, mua chuộc hay ép buộc trong kinh doanh; dèm pha doanh nghiệp khác; gât rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; quảng cáo, khuyến mãi nhằm cạnh tranh không lành mạnh; phân biệt đối xử của hiệp hội; và bán hàng đa cấp bất chính (Điều 39)

Luật Cạnh tranh cũng qui định các nguyên tắc và thủ tục cụ thể liên quan tới khiếu nại, điều tra, các quyết định tạm thời của các cơ quan quản lí cạnh tranh, việc xem xét các hành vi lạm dụng và biện pháp trừng phạt các hành vi đó Một doanh nghiệp bị thiệt hại hay cả Cục Quản lí Cạnh tranh cũng đều có thể tiến hành một vụ kiện và khi xác định được rằng cơ quan này có thẩm quyền pháp lí đối với một khiếu nại (trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận được khiếu nại), Cục Quản lí cạnh tranh có thể tiến hành điều tra

Trang 8

8

Trong các trường hợp được chứng minh có vi phạm về Luật Cạnh tranh, các cơ quan quản lí cạnh tranh có thể phạt tiền tối đa đến 10% tổng doanh thu của tổ chức, cá nhân vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm; phạt cảnh cáo; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật hoặc phương tiện được sử dụng để vi phạm pháp luật về cạnh tranh; yêu cầu cơ cầu lại doanh nghiệp hoặc sắp xếp lại hợp đồng; hay tiến hành bất kỳ biện pháp cưỡng nào để khắc phục thiệt hại

Trang 9

9

Trong kinh doanh hay thế giới kinh tế, thuật ngữ “thị trường” thường được sử dụng để nhắc tới một cơ chế trong đó cho phép mọi người được kinh doanh, nó được điều chỉnh bởi qui luật cung cầu, do đó việc phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế được cơ bản tiến hành thông qua một cơ chế định giá và đấu giá và đáp ứng yêu cầu đối với những ai sẵn sàng mua và những ai sẵn sàng bán.1

Thị trường = Hàng hóa/ Dịch vụ + Người cung cấp + Người tiêu dùng

Cung và cầu bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau, ví dụ như Cầu chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi trong giá cả liên quan tới hàng hóa, thay đổi trong thu nhập, thị hiếu, dân số hay kì vọng, v.v… Trong khi đó thì Cung chịu tác động bởi sự thay đổi giá cả đầu vào, thay đổi kỹ thuật, số lượng nhà cung cấp, v.v… Trong một mô hình kinh tế đơn giản, đường cong Cung

và Cầu có thể cùng thể hiện hoạt động của thị trường.2

Theo nguyên tắc chung, thị trường sẽ đạt tới trạng thái cân bằng, một tình huống mà trong đó không một bên nào có được ưu thế hơn từ việc tiến hành một chiến lược khác Một thị trường cạnh tranh đạt trạng thái cân bằng khi mà giá cả đạt tới mức tại đó Cầu về lượng của một hàng hóa cân bằng với Cung về lượng của loại hàng hóa đó Theo giá đó thì không một bên bán nào có thể thu được lợi nhuận cao hơn nhờ việc bán nhiều hoặc ít hơn hàng hóa đó và ngược lại không một người mua nào có thể được lợi từ việc mua ít hay nhiều hàng hóa đó

Giá cả đáp ứng được Cung và Cầu về lượng là giá cân bằng, thường được gọi là Giá cân bằng thị trường – mức giá có thể làm cân bằng thị trường thông qua việc đảm bảo rằng tất cả

người mua sẵn sàng trả giá đó có thể gặp được người bán sẵn sàng bán với giá đó và ngược lại

Có một vài thị trường mà hàng hóa tương tự có thể bán với các mức giá khác nhau, phụ thuộc vào người bán và người mua Ví dụ, bạn đã bao giờ mua một món đồ kỷ niệm trong một cửa hàng dành cho khách du lịch và sau đó nhìn thấy món đồ giống hệt như vậy được bán ở một nơi nào đó (có thể là cửa hàng ngay bên cạnh) với một mức giá thấp hơn? Tuy nhiên tại bất

kỳ một thị trường nào thì người mua và người bán cũng đều tham khảo xung quanh và như vậy thì việc bán và mua hàng hóa có xu hướng được qui về một giá cả đồng bộ chung, như

vậy chúng ta có thể nói một cách thận trọng về giá cả thị trường Rất dễ dàng để hiểu về vấn

đề này Giả sử một người bán đưa ra cho người mua một mức giá đáng chú ý mà cao hơn mức giá mà người mua biết rằng có người khác đang mua Người mua sẽ được lợi hơn nếu mua ở bất cứ nơi nào khác nếu như người bán không đưa ra một mức giá tốt hơn Đổi lại, một người bán sẽ không sẵn sàng bán với giá thấp hơn nhiều so với giá mà anh ta biết rằng hầu hết người mua sẵn sàng trả; anh ta sẽ được lợi hơn nếu như chờ đợi những người tiêu dùng tiềm năng hơn Vì vậy mà ở bất kỳ thị trường năng động được thiết lập tốt nào thì tất cả bên

Trang 10

10

bán cũng như bên mua đều nhận được và phải trả một mức giá hợp lí giống nhau- như thế gọi

là giá cả thị trường Nếu như giá cả vượt mức cân bằng, sẽ có một sự cắt giảm kéo giá giảm

xuống Cũng tương tự như vậy, nếu như giá cả thấp hơn mức cân bằng thì sẽ có một phần thặng dư xuất hiện điều chỉnh giá cả tăng lên

Đó là những gì xảy ra trong nền kinh tế thị trường, được điều khiển bởi lực lượng thị trường,

mà chính lực lượng này sẽ phân bổ các nguồn lực khan hiếm có thể dự đoán được và hàng hóa và ấn định giá cả Một nền kinh tế thị trường vì vậy khác với một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, mô hình kinh tế đã từng tồn tại ở Việt Nam trước công cuộc cải cách được khởi xướng vào năm 1986, trong mô hình kinh tế thị trường, tập hợp phản ứng của người mua, người bán, nhà sản xuất và người tiêu dùng trong một xã hội xác định xem các thị trường khác nhau hoạt động như thế nào trong một nền kinh tế thị trường, trong khi một hệ thống kế hoạch hóa tập trung thì được quyết định bởi các quyết định điều hành của một bộ máy quan liêu

Trong một mô hình kinh tế đơn giản ở trên, chúng ta chỉ xem xét hai nhân tố của thương trường là người mua và người bán hay người tiêu dùng và nhà sản xuất Trong tất cả các nền kinh tế, một hệ thống tuân theo hoặc dựa trên lực lượng thị trường hay hệ thống kế hoạch hóa tập thì vai trò của chính phủ cũng không thể bị lãng quên Chính phủ có thể hoạt động như những nhà cung cấp hàng hóa công cộng, hay là các nhà sản xuất của rất nhiều loại hàng hóa

và dịch vụ Một điều quan trọng hơn là vai trò của họ như là một bộ máy điều tiết nền kinh tế

Có điều này là bởi vì các thị trường đều có rất nhiều điểm không hiệu quả

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tính không hiệu qủa của thị trường Những nguyên nhân nói chung của tính không hiệu quả của thị trường bao gồm sức mạnh độc quyền, các nhân tố bên ngoài như ô nhiễm, tính không đối xứng của thông tin, tính không chắc chắn, và các hình thức khác nhau của các hành vi chiến lược và hành vi cơ hội Chính phủ có thể tăng cường luật pháp và thể chế, cung cấp hàng hóa công cộng, hay nắm được và phổ biến thông tin một cách hiệu quả

Không may là trong nhiều trường hợp, chính phủ thường vượt quá vai trò của mình như một

cơ quan điều tiết hay nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ công Can thiệp trung gian hay can thiệp quá sâu vào các hoạt động bình thường của thị trường, thiên vị đối với các doanh nghiệp nhà nước (SoEs), v.v… vì vậy, điều quan trọng là đảm bảo nguyên tắc của luật pháp chiếm ưu thế

Nguyên tắc pháp luật có hai chức năng kinh tế chính Trước tiên, nó điều chỉnh và hạn chế can thiệp tùy ý của nhà nước vào các hoạt động kinh tế Thứ hai, nó điều chỉnh các hành vi kinh tế của cá nhân, doanh nghiệp nhằm tạo ra một môi trường ổn định với sự cạnh tranh lành mạnh, xác định một cách rõ ràng và bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ, và các hợp đồng được tăng cường một cách có hiệu qủa.3

Trang 11

11

Trong bối cảnh tại Việt Nam, mặc dù đã có một số cải cách được tiến hành từ năm 1986 nhưng vẫn còn cách rất xa với mô hình kinh tế lý tưởng này Khuôn khổ luật pháp hiện chưa được hoàn thiện; thể chế luật pháp còn thiếu hoặc mới ở giai đoạn hình thành Hiểu biết về thị trường và cách thức thị trường hoạt động vẫn còn bị ám ảnh bởi lịch sử lâu dài của một nền kinh tế tập trung Các nhà chính trị và những người hoạch định chính sách vẫn còn hoài nghi đối với khu vực tư nhân; vì vậy mà khu vực nhà nước vẫn được coi trọng và được hưởng nhiều thuận lợi Khu vực kinh doanh không chính thức còn lớn, thiếu thông tin, thiếu có sở

dữ liệu, đang làm cho việc điều chỉnh một nền kinh tế lành mạnh trở nên khó khăn hơn

Trang 12

và các điều kiện của quá trình sản xuất, v.v…

Theo đó, trong một thị trường mang tính cạnh tranh, nơi có nhiều hàng hóa và dịch vụ có chủng loại đa dạng và có thể thay thế cho nhau, có mặt trên thị trường với một mức giá phù hợp, người tiêu dùng có thể luôn luôn thay đổi mua những hàng hóa/dịch vụ có tính cạnh tranh hơn, chính điều này kích thích nhà sản xuất cạnh tranh với đối thủ của mình nhằm đáp ứng được thị hiếu của khách hàng Vì vậy, cạnh tranh là một xu hướng tất yếu giữa các nhà sản xuất có hàng hóa tương tự và liên quan liên quan tới các yếu tố như giá cả, chất lượng, hay các dịch vụ sau khi bán, v.v… đặc biệt là thông qua giá cả.4 Tuy nhiên, trong thực tế, có thể xảy ra những tình huống khác, ví dụ như, trong trường hợp của độc quyền, chỉ có duy nhất một nhà sản xuất/một nhà cung ứng của một loại hàng hóa/dịch vụ cụ thể trên thị trường, không có hàng hóa thay thế, chính điều này đã tạo ra sức mạnh thị trường độc tôn cho người tham gia mà có thể vượt qua mọi qui luật thị trường

Ví dụ trong trường hợp của ba hệ thống siêu thị Big C, Metro và Intimex hiện nay đang hoạt động tại Hà Nội Những siêu thị này bán các sản phẩm giống nhau như: thực phẩm, quần áo,

đồ chơi, v.v… hay các sản phẩm mà có thể thay thế được cho nhau như: bánh Hăm - bơ – gơ

và bánh Sandwiches, Coca Cola và Sprite hay trà đá Nestle Vì vậy mà các siêu thị này phải cạnh tranh để có được sự lui tới thường xuyên của khách hàng/người tiêu dùng ở Hà Nội bằng việc đưa ra giá cả thấp hơn, các sự lựa chọn tốt hơn, đưa ra các loại hình dịch vụ trả tiền nhanh và thuận tiện hơn, v.v…

3.2 Thị trường liên quan

Cạnh tranh không đồng nhất tại tất cả thị trường Hai siêu thị tại Hà Nội cạnh tranh với nhau chỉ để thu hút khách hàng tại Hà Nội chứ không phải khách hàng tại thành phố Hồ Chí Minh Hay là hai nhà cung cấp dịch vụ di động cạnh tranh với nhau để cung cấp dịch vụ điện thoại

Trang 13

13

tốt hơn chứ không phải là dịch vụ bưu điện Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp này cũng khác nhau theo thời gian, ví dụ cạnh tranh giữa hai nhà sản xuất bia trong mùa hè hay trong mùa giải World Cup sẽ sôi nổi hơn trong mùa đông

“Thị trường liên quan” là khái niệm trước tiên phải hiểu để nắm được hầu hết mọi phân tích

về cạnh tranh “Thị trường liên quan” xác định mức độ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường, liên quan tới hàng hóa/dịch vụ, thời gian và địa điểm 5 Để xác định được thị trường liên quan cho một trường hợp cạnh tranh cụ thể, người ta thường xem xét tới “ thị trường hàng hoá liên quan” và “thị trường địa lý liên quan” trong một “giai đoạn” cụ thể

Thị trường hàng hoá liên quan: là thị trường hàng hoá bao gồm tất cả các hàng hoá, dịch vụ

có thể thay thế cho nhau cả về tiêu dùng lẫn sản xuất.6

Trong một ví dụ đơn giản, người ta có thể cố gắng xác định liệu các chai thủy tinh có cùng thị trường hàng hoá liên quan với chai nhựa hay không Trong trường hợp này, người ta xem xét xem liệu rằng khi giá của chai thủy tinh tăng có dẫn tới những thay đổi đáng kể trong lượng tiêu thụ của cả hai loại sản phẩm này không Nếu như sự tăng giá này dẫn tới việc người tiêu dùng sẽ chuyển sang mua một lượng đáng kể chai nhựa thì chai nhựa sẽ được coi là nằm trong thị trường hàng hoá liên quan với chai thủy tinh

Thị trường địa lý liên quan: một thị trường địa lý liên quan cũng tương tự, được xác định dựa

trên cơ sở khách hàng hay “khả năng của người tiêu dùng” thay đổi sức mua giữa các nhà cung cấp sản phẩm thay thế trong trường hợp có sự tăng giá Nếu như vé máy bay của chuyến thành phố Hồ Chí Minh và Phnom Penh (Cam-pu-chia) của hãng hàng không Việt Nam Airlines tăng và hành khách có thể chuyển sang đi hãng hàng không Air Cambodia hay Thai Airway International với những thuận tiện nhiều hơn, thì tất cả các hãng hàng không này mặc

dù nằm ở các nước khác nhau nhưng vẫn có thể được coi là cạnh tranh trong cùng một thị trường địa lý liên quan, ở đây là tuyến thành phố Hồ Chí Minh – Phnom Penh

Trong một trường hợp khác, ngay cả khi có sự thuận tiện khác cho một người mua một chiếc ôtô từ Singgapo, thì thuế nhập khẩu cao tại Việt Nam đã làm nản chí cho người tiêu dùng tại Việt Nam khi mua một chiếc xe từ nước ngoài Vì vậy mà theo quan điểm của những người

sử dụng ôtô Việt Nam, thì Việt Nam là thị trường địa lý liên quan

Ngoài thuế nhập khẩu cao và các biện pháp bảo hộ phức tạp, còn nhiều yếu tố khác như là luật pháp bảo vệ sức khỏe và an toàn hay các yêu cầu về giấy phép, hay chi phí vận chuyển,

là những yếu tố tạo nên rào cản đối với cạnh tranh và do đó giúp cho sự xác định các thị trường địa lý liên quan.7

Thị trường liên quan, vì vậy, thường được xác định từ quan điểm của người tiêu dùng Một ví

dụ đơn giản cho thị trường liên quan do đó có thể nói là: “doanh nghiệp A và doanh nghiệp B

là những đối thủ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ điện thoại (di động, đường dây cố định, vệ tinh, v.v…) tại Hà Nội”

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam (sau đây sẽ gọi là Luật CT) định nghĩa thị trường liên quan bao gồm “ thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan”; trong đó “thị

Trang 14

14

trường sản phẩm liên quan có nghĩa là thị trường của những hàng hóa,dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả”, và “thị trường địa lý liên quan có nghĩa là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hóa, dịch vụ có thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận”.8

Thêm vào đó, Nghị định số 116/2005/ND-CP được Chính phủ ban hành nhằm hướng dẫn cụ thể việc thực hiện Luật CT (sau đây sẽ gọi là Nghị định số 116/2005) cũng qui định một vài yếu tố để xem xét thế nào là một thị trường sản phẩm và địa lý liên quan bao gồm sự thay thế của sản phẩm (Điều 4 của Nghị định), cấu trúc thị trường và hành vi của người tiêu dùng, thị trường đối với các sản phẩm hỗ trợ cho sản phẩm tương tự (Điều 5 của Nghị định), khả năng thay thế liên quan tới nguồn Cung (Điều 6 của Nghị định), điều kiện cạnh tranh và các rào cản thâm nhập thị trường (Điều 7&8 của Nghị định) Các cuộc thăm dò người tiêu dùng có thể được sử dụng trong suốt quá trình (Điều 4(5) của Nghị định).9

Nghị định này rẩt phù hợp với khái niệm chung của thị trường liên quan và các biện pháp chung của việc xác định thị trường liên quan Tuy nhiên ở đây có thể có sức ép về nguồn lực đối với một thể chế cạnh tranh non trẻ như tại Việt Nam, hiện đang cần thêm nguồn nhân lực không kể tới các nguồn lực khác như tài chính, thời gian, v.v… Ngoài ra, tính không tương xứng của thông tin và thiếu cơ sở có thể cũng đẳt ra nhiều sự hạn chế nghiêm trọng

Khoảng thời gian: Xu hướng có thể thứ 3 đối với việc xác định thị trường là thời gian Những

ví dụ về việc thời điểm sản xuất và buôn bán có thể tác động tới thị trường bao gồm: 10

Những dịch vụ vào mùa cao điểm và mùa không cao điểm: đây có thể là một nhân tố trong dịch vụ vận chuyển hoặc các dịch vụ thiết thực khác như cung cấp điện

Mức độ biến đổi theo mùa, ví dụ như mùa hè so với những tháng mùa đông: điều này có thể ảnh hưởng đáng kể tới sức mua của người tiêu dùng khi mùa đó tới đối với các loại hàng hóa như quần áo, điều hòa hay lò sưởi,v.v…

Các sản phẩm thường xuyên được cải tiến/đổi mới: khách hàng có thể trì hoãn chi tiêu đối với các sản phẩm hiện tại bởi vì họ cho rằng sự đổi mới sẽ sớm tạo ra các sản phẩm tốt hơn hay bởi vì họ đang sở hữu một phiên bản cũ của một sản phẩm mà họ cho là một sản phẩm gần như thay thế được cho phiên bản hiện tại Một số ví dụ như là các sản phẩm may mặc hợp thời trang hay các loại phần mềm máy tính,v.v…

Khả năng thâm nhập của các nhân tố mới trong tương lai: Ngoài các nhà sản xuất đã có mặt trên thị trường (giả định là họ cũng sẽ vẫn có mặt trên thị trường trong tương lai) thì một số nhà sản xuất khác có thể và sẽ có mặt trên thị trường nhằm đáp trả lại một hành vi hạn chế cạnh tranh

Trong một chừng mực nào đó thì yếu tố thời gian chỉ đơn giản là một yếu tố mở rộng của thị trường sản phẩm liên quan Ví dụ: Thị trường sản phẩm liên quan có thể được xác định như

là việc cung ứng dịch vụ trên tàu tại một khoảng thời gian cụ thể trong ngày

Trang 15

15

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam chỉ xác định thị trường liên quan mà không đề cập tới yếu tố thời gian Tuy nhiên, điều 6 của Nghị đinh 116/2005 có đề cập tới vấn đề này khi nhắc tới các yếu tố như “khoảng thời gian cung cấp hàng hóa hay dịch vụ vào thị trường khi có một sự tăng đột biến về Cầu”, hay “khoảng thời gian sử dụng của hàng hóa/dịch vụ”, hay

“khả năng thay thế Cung” Mặc dù có những định nghĩa này nhưng yếu tố tương lai vẫn không hề rõ ràng

3.3 Thị phần và cấu trúc thị trường

Thị phần trong tiếp thị và quản lí chiến lược là tỷ lệ phần trăm hoặc tỷ lệ của tổng thị trường hay thị phần hiện có mà một doanh nghiệp đang nắm giữ.11 Trong thế giới cạnh tranh, thị phần của một doanh nghiệp sẽ thay đổi cùng với việc xác định thị trường liên quan Thị trường liên quan được xác định càng nhỏ đối với một trường hợp cụ thể thì một doanh nghiệp

có thể có thị phần càng cao tại thị trường đó

Theo Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam, “thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quí, năm”.12

Trong kinh tế, các thị trường được phân loại theo cấu trúc của ngành công nghiệp trong thị trường Cấu trúc công nghiệp được phân loại dựa trên các biến số cấu trúc thị trường được cho là để xác định qui mô và đặc trưng của tính cạnh tranh trong đó Các biến số này hầu hết

là phổ biến là số lượng người bán và người mua, qui mô của sự thay thế sản phẩm, giá cả, sự giảm đầu vào và ra, và qui mô của sự phụ thuộc nhiều bên Trong khuôn khổ truyền thống, những biến số cấu trúc này được đưa vào phép phân loại cấu trúc thị trường dưới đây:

Cạnh tranh hoàn hảo: một cấu trúc thị trường trong đó tất cả mọi doanh nghiệp đều tạo ra

một kết quả phân chia hoàn hảo và đồng đều; người sản xuất và người tiêu dùng có đầy đủ thông tin, gánh chịu các chi phí giao dịch và là những người nhận đề nghị về giá cả; và không

hề có các yếu tố bên ngoài.13 Cạnh tranh hoàn hảo khog tồn tại ở thế giới thực, nó chỉ có ở

mô hình đề cập ở đây nhằm để so sánh với các loại cấu trúc thị trường khác

Cạnh tranh thông thường: một cấu trúc thị trường trong đó một số lượng khá lớn các doanh

nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua các hành vi giống nhau chỉ khác một chút về các sản phẩm.14 Mỗi doanh nghiệp đếu có một vài sự kiểm soát đối với giá cả mà nó đưa ra bởi vì các sản phẩm đều được phân biệt Tuy nhiên, bởi vì không có bất cứ rào cản đáng kể nào đối với việc thâm nhập thị trường và các sản phảm có thể thay thế được cho nhau, không ai có thể chi phối lên toàn bộ thị trường Loại cấu trúc thị trường này thường được gọi là “cạnh tranh có thể làm việc được” hay “bình thường” Có rất nhiều thị trường có thể được nhắc tới như ví dụ

ở đây: thị trường sách, quần áo, ngành công nghiệp dịch vụ và phim ảnh ở các thành phố lớn

Trang 16

16

Thị trường độc quyền nhóm bán: một cấu trúc thị trường mà trong đó một nhóm nhỏ người

mua và người bán (những người độc quyền nhóm15

) chi phối thị trường Do có một số người cùng tham gia vào loại thị trường này, mỗi thành viên độc quyền nhóm đều thấy rằng họ có thể tác động tới giá cả thị trường và vì vậy có thể ảnh hưởng tới cả lợi nhuận của đối thủ cạnh tranh Ví dụ, hãng Ford không thể phớt lờ hãng Honda khi đưa ra những quyết định liên quan tới việc sản xuất xe hơi của mình Thị trường độc quyền nhóm bán, vì vậy có thể nói là được đặc trưng bởi mối quan hệ liên kết giữa những người tham gia vào thị trường đó Một doanh nghiệp có thể xem xét tới các hành vi của đối thủ cạnh tranh nhằm xác định chính sách tốt nhất cho doanh nghiệp của mình Thị trường dịch vụ điện thoại di động tại Việt Nam là một

ví dụ của thị trường độc quyền nhóm bán

Độc quyền: Đây là cấu trúc thị trường được đặc trưng bởi một doanh nghiệp duy nhất bán

một loại sản phẩm mà không có hàng hóa thay thế hay không có rào cản nào cho việc thâm nhập vào thị trường của loại sản phẩm này.16 Trong trường hợp này, nhà độc quyền có thể tối

đa hóa lợi nhuận bằng cách tăng giá lên mức cao nhất mà thị trường có thể chịu đựng được

3.4 Luật và chính sách cạnh tranh

Cạnh tranh ngày càng được coi như là một động lực tiềm ẩn để phát triển mọi nền kinh tế trên toàn thế giới.17 Nó cần thiết cho việc phân bổ một cách có hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy đổi mới, tăng năng suất, tạo ra nhiều công ăn việc làm và cơ hội kiếm thêm thu nhập, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) có thể tham gia vào thị trường Do vậy Cạnh tranh là một công cụ hữu ích để tăng trưởng và giảm nghèo.18

Cạnh tranh được phát huy tốt nhất trong một thị trường không bị bóp méo Tuy nhiên như đã

đề cập ở trước đó, cạnh tranh hoàn hảo không tồn tại trong cuộc sống thực tại, vì vậy mà lợi ích đầy đủ mà cạnh tranh mang lại thường không được cụ thể hóa.19

Tiến trình cạnh tranh thường không được thúc đẩy và không lành mạnh bởi vì các lí do liên quan tới lợi ích đặc biệt, chính phủ, và sự hiểu biết yếu kém về kinh tế của người dân Khi thị trường không cạnh tranh, bất kể là vì sự bóp méo thị trường do các chính sách gây ra, đặc thù kĩ thuật hay các hành vi hạn chế cạnh tranh của những người tham gia thị trường, thì nền kinh tế có thể mất đi rất nhiều lợi ích tiềm năng dành cho người dân Hơn nữa, các nỗ lực bãi bỏ các qui định không hợp lí của chính phủ nhằm mang lại lợi ích cho người tiêu dùng thậm chí có thể phản tác dụng

Hậu quả là ngoài các chế tài đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh của người tham gia thị trường, các biện pháp khác cũng cần thiết nhằm tăng cường các chính sách thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh (hoặc là ngăn chặn các doanh nghiệp khỏi hành động chống lại đối thủ cạnh tranh), từ đó để cải thiện tính hiệu qủa của việc phân bổ nguồn lực Vì vậy, các lợi ích mà cạnh tranh mang lại không chỉ giới hạn ở việc duy trì giá cả cận biên có lợi cho người tiêu dùng, đây là hiệu qủa tĩnh, mà còn ở chỗ tạo ra một môi trường kinh doanh mới có hiệu quả để gia nhập và phát triển trong khi đó thúc ép các doanh nghiệp đã có mặt trên thị trường phải tiếp tục cải thiện công việc kinh doanh tốt hơn

Trang 17

17

Chính sách cạnh tranh là những biện pháp của chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của doanh nghiệp và cấu trúc của nền công nghiệp Nó là một phần không thể thiếu của chính sách kinh tế, và có thể bao quát các yếu tố như chính sách tự do hóa thương mại, chính sách công nghiệp, chính sách đầu tư, và chính sách cổ phần hóa, với mục tiêu chính là việc duy trì

và thúc đẩy cạnh tranh như là một phương tiện để đảm bảo cho phân bổ một cách hiệu quả các nguồn lực trong một nền kinh tế, dẫn tới kết quả là có được sự lựa chọn tốt nhất có thể trong chất lượng sản phẩm, giá cả thấp nhất và nguồn cung đủ cho người tiêu dùng

Mặt khác, Luật Cạnh tranh là một thực thể bao gồm các nguyên tắc và điều khoản luật đảm bảo sự tự do và công bằng trên thương trường thông qua việc điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp, nghiêm cấm việc các tổ chức hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường mà có thể làm cản trở quá trình cạnh tranh và ảnh hưởng xấu tới các quyền và lợi ích chính đáng của các thành viên khác trong thị trường trong đó có cả người tiêu dùng

Chính sách cạnh tranh = Các chính sách kinh tế tác động tới cạnh tranh + Luật Cạnh tranh

Trang 18

18

4 CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

Các hành vi hạn chế cạnh tranh (RBPs) hay đơn giản là các hành vi phản cạnh tranh là hành

vi được tiến hành bởi các doanh nghiệp tư nhân hoặc các doanh nghiệp thuộc khối công cộng nhằm hạn chế sự thâm nhập thị trường hoặc kìm hãm sự cạnh tranh trên thị trường để duy trì

và tăng cường vị thế trên thị trường và lợi nhuận của họ mà không cần phải cung cấp hàng hóa và dịch vụ với mức giá thấp hơn hay chất lượng cao hơn

Theo Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam, “hành vi hạn chế cạnh tranh […] là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”20

Có rất nhiều loại hành vi hạn chế cạnh tranh Mỗi loại sẽ được giải thích trong một bản tóm tắt nhỏ sau đây Cùng với những bản tóm tắt này sẽ có những điều khoản tương ứng và các trường hợp tại Việt Nam cũng như là các vụ việc được trích dẫn ở nhiều nơi trên thế giới

4.1 Sức mạnh thị trường

Một khái niệm chính trong rất nhiều các phân tích về cạnh tranh là “Sức mạnh thị trường” Không có sức mạnh thị trường thì không một hành vi phản cạnh tranh nào của doanh nghiệp

có thể đạt được mục tiêu đã được trù tính của họ

“Sức mạnh thị trường” là khả năng của một doanh nghiệp riêng lẻ hay một nhóm các doanh nghiệp nâng cao và duy trì mức giá trên mức chiếm ưu thế do cạnh tranh mang lại.21 Mức độ cao nhất của sức mạnh thị trường là độc quyền; tuy nhiên tất cả các doanh nghiệp ngoại trừ các doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường có cạnh tranh hoàn hảo thì đều sở hữu một vài mức độ sức mạnh thị trường

Thị phần cao nhìn chung là một điều kiện cần, nhưng không phải là một điều kiện đủ, để xác lập sức mạnh thị trường.22 Ngoài ra, dù hiện tại còn nhiều tranh luận về các yếu tố cấu thành sức mạnh thị trường tiềm năng, thì thậm chí việc xác định thị phần cũng là một vấn đề gây tranh cãi Ví dụ thị phần có thể xác định bởi doanh số bán hiện tại, doanh số bán lịch sử hay thậm chí cả khả năng tiêu thụ (tiềm năng)

Một số khu vực tài phán đã xác lập các mức thị phần thực tế, hay pháp định, mà cao hơn hoặc thấp hơn mức đó thì sức mạnh thị trường được cho là tồn tại hoặc không tồn tại

Tuy nhiên, chưa có một kết luận rõ ràng nào về minh chứng kinh tế cho việc giả định sự tồn tại của sức mạnh thị trường tại bất cứ thị phần nào đã định sẵn nào Bù lại, những quan ngại

về tính hiệu quả của công tác thực thi pháp luật cho phép việc xác định một thị phần “an toàn” mà dưới đó thì sức mạnh thị trường dường như không tồn tại

Việc xác định xem một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp có sức mạnh thị trường hay không là một xuất phát điểm đối với việc phân tích các trường hợp có liên quan tới việc lạm dụng vị tri thống lĩnh thị trường (Đây là một kiểu hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ được bàn luận tại phần 4.6) Ngoài thị phần, những nhân tố quan trọng có thể được xem xét trong

Trang 19

19

việc đánh giá sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp bao gồm:

Số lượng và thị phần của các doanh nghiệp cạnh tranhl

Tính chất của sản phẩm tương đối;

Khả năng phản kháng của những doanh nghiệp tham gia thị trường khác;

Quyền sở hữu trí tuệ (IPRs);

Các đặc điểm thị trường như môi trường điều tiết, tốc độ thay đổi kỹ thuật, sự tồn tại của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng hay cân bằng; và

Các rào cản xâm nhập thị trường

Mặc dù đứng ở vị trí cuối của danh sách, nhưng các rào cản xâm nhập thị trường thường là nhân tố quan trọng nhất Sự thống lĩnh thị trường sẽ không còn tồn tại nếu như việc xâm nhập thị trường là dễ dàng Một doanh nghiệp với thị phần chiếm tới 90% sẽ không có vị trí thống lĩnh nếu như khi doanh nghiệp này tăng giá hàng hóa của mình, một doanh nghiệp khác sẽ thâm nhập vào thị trường và bán hàng hóa của họ với mức giá cạnh tranh hơn Như vậy, muốn xác định xem doanh nghiệp đó có vị trí thống lĩnh thị trường hay không cần phải phân tích xem liệu có bất cứ rào cản xâm nhập thị trường nào hay không

Các rào cản xâm nhập thị trường có thể được tạo ra bởi một vài nhân tố, sự sắp xếp từ các điều chỉnh của chính phủ, IPRs, sự tiếp cận trung tâm, chi phí đáng kể của việc gia nhập, qui

mô kinh tế cần thiết cho việc xâm nhập thị trường, hệ thống phân phối được tổ chức tốt, quảng cáo, sự trung thành của người tiêu dùng và sự công nhận nhãn hiệu hàng hóa, v.v… Đôi khi những rào cản xâm nhập thị trường bao gồm cả các hành vi hạn chế của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường cố gắng bảo vệ vị trí của họ

Theo Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam, “doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể” trong khi “ Nhóm doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau đây: (a) hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan; (b) Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan; (c) Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.”23 Mặt khác, “Một doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hoàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”24

Trong khi Luật CT cũng dựa theo các phương pháp thông thường để xác định vị trí thống lĩnh thị trường (và nhóm có vị trí thống lĩnh thị trường) dựa trên cơ sở “thị phần”, Luật này cũng đưa ra một cơ sở khác để kiểm tra xem có phải đó là sự thống lĩnh thị trường hay không, đó

là đề cập tới khả năng của doanh nghiệp có thể tiến hành các hành vi hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Nghị định 116/2005 cũng qui định thêm rằng khả năng này sẽ được xác định dựa trên cơ sở của cả sức mạnh tài chính và cả sức mạnh kĩ thuật của doanh nghiệp hay IPRs

và qui mô của mạng lưới phân phối.25 Đây cũng là những yếu tố cần thiết cũng giống như là những yếu tố khác đã đề cập ở trên về sức mạnh thị trường và các rào cản xâm nhập thị trường

Trang 20

20

4.2.Quy tắc có lí và Quy tắc Per se

RBPs cũng như các hành vi khác áp đặt hạn chế cạnh tranh một cách quá mức như sáp nhập

và mua lại (M&As) sẽ được phân tích sau đều chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Tuy nhiên, sự điều chỉnh này tuân theo một số quy tắc chính sau đây

Một vài hành vi hạn chế cạnh tranh được coi bất hợp pháp theo quy tắc per se trong một vài

khu vực tài phán Điều này có nghĩa là các hành vi này hoàn toàn có thể bị kết luận là đã áp đặt hạn chế không thoả đáng đối với tiến trình cạnh tranh, và do đó là phản cạnh tranh,26

hay coi là tự thân đã bất hợp pháp, mà không cần thêm bất cứ sự biện hộ nào khác

Trong các trường hợp khác, người ta qui định rằng chỉ có những sự kết hợp và các hợp đồng nào mà hạn chế thương mại một cách quá mức mới bị điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh và qui

mô kinh tế và việc sở hữu vị trí độc quyền tự thân không phải là bất hợp pháp Trong các trường hợp này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (cũng như là các vấn đề cạnh tranh khác) được xem xét dưới phạm trù của “quy tắc có lí”

Theo quy tắc có lí, một số hành vi chiến lược của các doanh nghiệp có thể có cả tác động hạn chế cạnh tranh và cả các lợi ích hiệu quả năng động Trong trường hợp các hiệu quả/lợi ích cao hơn các tác động tiêu cực, thì hành vi đó có thể được cho phép vượt qua sự kiểm soát của các quy định pháp luật về cạnh tranh Một hành vi có thể được xem như là một hành vi tăng cường hiệu quả kinh tế nếu:

(i) Có thể chứng minh được là hành vi đó có tác dụng thúc đẩy cạnh tranh (ví dụ, trong việc thúc đẩy đổi mới và phát triển kĩ thuật, tăng xuất khẩu hay tăng tính cạnh tranh quốc tế của đất nước, v.v…), hay

(ii) Hành vi đó được tiến hành dựa trên lợi ích công cộng (ví dụ như để giảm thất nghiệp

và bảo vệ môi trường, v.v…)

Đưọc hưởng miễn trừ trên các cơ sở này có nghĩa là một thỏa thuận được chấp nhận là có tác động hạn chế thương mại nhưng lợi ích mà thoả thuận đó mang lại vượt quá những thiệt hại

mà bản thân hành động hạn chế cạnh tranh này gây ra

Toàn bộ Luật Cạnh tranh của Việt Nam yêu cầu có phân tích quy tắc có lí ngoại trừ các trường hợp dưới mức „an toàn‟ 30% thị phần, vốn được tạo ra cho các thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh có thể bị coi là vi phạm điều 8 (khoản 1-5) (phần 4.3 sẽ thảo luận chi tiết về vấn

đề này) Điều khoản này giống với điều 81 của Hiệp ước Liên minh Châu Âu (EU) Điều này cấm triệt để (per se) các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong khoản 2, nhưng sau đó lại đưa ra

khoản 3 một vài lý do/biện hộ có thể khiến cho các hành vi được nêu tại khoản trở nên hợp pháp Vì vậy, khi xem xét về tính hợp pháp và bất hợp pháp của các hành vi thương mại phải tính đến cả những miễn trừ

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam đưa ra miễn trừ (có thời hạn) đối với “các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh” nếu các thỏa thuận này đáp ứng được một trong số các điều kiện sau đây nhằm hạ giá thành, có lợi cho người tiêu dùng:

Trang 21

21

Hợp lí hóa cơ cấu tổ chức, mô hình kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh;

Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ;

Thúc đẩy việc áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, định mức kỹ thuật của chủng loại sản phẩm;

Thống nhất các điều kiện kinh doanh, giao hàng, thanh toán nhưng không liên quan đến giá và các yếu tố của giá;

Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa;

Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.27Một điểm quan trọng nữa là Luật Cạnh tranh Việt Nam còn qui định rằng những hành vi hạn chế cạnh tranh được liệt kê trong điều 8 sẽ không hợp pháp nếu như các doanh nghiệp không đăng kí để được hưởng miễn trừ ngay từ đầu Điều này có nghĩa là các thực thể kinh doanh

sẽ không thể tiến hành các hành vi mà thực tế vi phạm các điều cấm trong luật ngay cả khi các giao dịch này có tác dụng kích thích cạnh tranh Có một ngoại trừ cho loại thủ tục này trong điều 85(d) của nghị định 116/2005 theo đó qui định rằng một quan tòa có thể coi hành

vi đó như “một tình tiết giảm nhẹ hình phạt” nếu sự vi phạm này có “một tác động tích cực tới nền kinh tế” Điều khoản không rõ ràng này có thể làm thay đổi hoàn toàn giả định cho rằng các doanh nghiệp vi phạm Luật Cạnh tranh có thể không chỉ phải chờ đợi các quyết định cho hưởng miễn trừ từ các cơ quan quản lí cạnh tranh mà còn phải đệ trình đơn xin được hưởng miễn trừ và phải công khai hóa đơn xin này

Yêu cầu phải công khai hóa đối với một miễn trừ có hậu quả rất lớn trong thực tiễn Bắt buộc các doanh nghiệp phải công bố kế hoạch kinh doanh của họ có thể loại bỏ nhiều ý tưởng cạnh tranh nhằm đổi mới doanh nghiệp Hơn nữa việc trì hoãn cũng khiến cho doanh nghiệp không thể đối phó được với thách thức cạnh tranh đến từ các doanh nghiệp khác

4.3 Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh liên quan tới giá cả, phân chia khách hàng, v.v…

là những hành vi hạn chế cạnh tranh có khả năng gây hại nặng nề nhất cho cạnh tranh và người tiêu dùng Những doanh nghiệp tiến hành các thỏa thuận này có thể không kiểm soát được sức mạnh thị trường một cách đơn lẻ Tuy nhiên họ có thể đạt được thỏa thuận thông qua sự hiểu biết tin cậy, viết tay hoặc bằng miệng, ám chỉ hoặc bày tỏ ra ngoài những cách thức thỏa thuận này sẽ giúp thực hiện sức mạnh thị trường tập thể của họ nhằm kiếm được lợi ích kinh tế không xứng đáng cho tất cả mọi thành viên tham gia thỏa thuận

Những thỏa thuận như vậy cũng có thể có ở những doanh nghiệp có mối quan hệ ngang (ví

dụ tất cả mọi doanh nghiệp cùng ở một bậc trong dây chuyền sản xuất hoặc tiếp thị, mang sản phẩm/dịch vụ tới người tiêu dùng, ví dụ giữa các nhà sản xuất bếp ga hoặc ôtô hoặc giữa những người bán nước ngọt, v.v…), hay giữa những doanh nghiệp có mối quan hệ dọc (ví dụ như một doanh nghiệp là nhà cung cấp đầu vào cho hoạt động thương mại của một doanh nghiệp khác, ví dụ thỏa thuận phân phối giữa các nhà sản xuất và các nhà phân phối)

Trang 22

22

4.4 Thỏa thuận ngang giữa các đối thủ cạnh tranh

Các thỏa thuận ngang hạn chế cạnh tranh, hay còn gọi là các-ten trong thuật ngữ chuyên môn

về cạnh tranh, thường được coi là những hành vi nghiêm trọng nhất trong tất cả các hành vi phản cạnh tranh và cấu thành những loại vi phạm dễ bị phạt hình sự nhất tại nhiều khu vực tài phán trên thế giới

Bản chất vốn là những thỏa thuận phản cạnh tranh theo chiều ngang, các-ten là sự thoả thuận giữa các nhóm doanh nghiệp sản xuất và bán cùng một loại sản phẩm nhằm mục đích thu và chia chác lợi nhuận độc quyền Nói chung hầu hết những doanh nghiệp đạt được mục đích này thông qua sự nhất trí về giá cả chung cao nhất cho sản phẩm của họ và không một thành viên nào của nhóm doanh nghiệp được phép hạ giá thành xuống thấp hơn (ví dụ giá thỏa thuận cố định) Một sự lựa chọn khác là các doanh nghiệp thành viên có thể đơn giản nhất trí

để phân chia thị trường theo khu vực địa lí hay theo loại hình khách hàng, đem lại vị trí độc quyền cục bộ cho các thành viên khác mà không cần phải ấn định một cấu trúc giá cả đồng bộ (đây là hành vi phân bổ thị trường hay các thỏa thuận chia sẻ khách hàng)

Các-ten được coi là căn bệnh ung thư của nền kinh tế thị trường Chúng khá phổ biến thịnh hành, có thể có qui mô thỏa thuận toàn cầu giữa các nhà sản xuất vitamin đa quốc gia hay chỉ

là sự thỏa thuận giữa bốn hoặc năm cửa hàng bách hóa ở một tỉnh nhỏ của miền Trung Việt Nam Các thỏa thuận này bản chất là rất bí mật và vì vậy mà rất khó để có thể phát hiện và điều tra Tuy nhiên, người ta cho rằng các ngành công nghiệp hay các thị trường có những đặc trưng dưới đây đều dễ xảy ra các-ten:

(i) Thị trường mà có chỉ có tương đối ít doanh nghiệp và có số lượng khách hàng lớn; (ii) Nhu cầu thị trường không quá thay đổi nhiều;

(iii)Sản phẩm/dịch vụ nhìn chung là đồng đều và không có sản phẩm thay thế; và

(iv) Đầu ra của mỗi doanh nghiệp, giá cả đặt ra và doanh số bán hàng có thể dễ dàng kiểm soát được bởi các tổ chức doanh nghiệp, ví dụ trên thị trường bán lẻ xăng dầu giá bán

lẻ được hiển thị tại tất cả mọi thời điểm tại tất cả các điểm bán xăng dầu (nhằm ngăn chặn các doanh nghiệp thành viên lừa dối và giải tán tổ chức doanh nghiệp)

Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, thỏa thuận phân chia thị trường hay thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa bị cấm theo khoản 1-3 của điều 8 Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam, tuy nhiên chỉ có thể áp dụng các điều khoản này khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.28 Điều khoản theo nguyên tắc “Bến an toàn” này đưa tới dấu hiệu để xác định thị trường liên quan cũng như là đánh giá sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp trong quá trình phân tích các vụ việc Nếu việc xác định thị trường không rõ ràng thì điểm khởi đầu 30% để được miễn trừ sẽ loại trừ hầu hết tất cả các thỏa thuận ngoại trừ những thỏa thuận giữa các nhà độc quyền nhóm

4.4.1 Ấn định giá cả

Như đã đề cập ở phần trước, hầu hết các các-ten đều chủ yếu được xây dựn trên cơ sở ấn định giá cả hàng hóa Đây là thuật ngữ tổng quát áp dụng cho việc thống nhất cùng hành động được tiến hành bởi các đối hủ cạnh tranh gây ra ảnh hưởng trực tiếp lên giá cả Hình thức đơn

Trang 23

23

giản nhất là thỏa thuận áp đặt mức giá thống nhất một số hoặc tất cả khách hàng Ngoài các thỏa thuận đơn giản về giá cả thống nhất, những thỏa thuận sau cũng được coi là thỏa thuận

ấn định giá cả:29

Thỏa thuận về việc tăng giá;

Thỏa thuận về áp dụng cách thức tiêu chuẩn tính giá chung;

Thỏa thuận duy trì tỷ lệ cố định về giá của sản phẩm cạnh tranh nhưng không đồng nhất;

Thỏa thuận không chiết khấu giá hoặc áp dụng mức chiết khấu giá thống nhất;

Hộp 1: Các-ten của các nhà sản xuất xi măng và hành động của Cơ quan Chống Độc

quyền Pakistan (MCA)

Tháng 10 năm 1998, các nhà sản xuất xi măng tại Pakistan tăng giá của một bao xi măng nặng 50 ki-lô-gam lên 100 Rs từ 135 Rs/bao lên 235 Rs/bao Trong tình hình đó, MCA tiến hành một cuộc điều tra đặc biệt về nguyên nhân của sự tăng giá này Hiệp hội các nhà sản xuất xi măng Pakistan (APCMA) đã thông báo cho MCA rằng giá xi măng tăng là do thuế cao và chi phí đầu vào cao

Tuy nhiên, theo điều tra của MCA thì không có sự tăng chi phí đầu vào nào ngoại trừ một sự tăng cận biên trong thuế đánh vào ngành điện, trong khi mức độ thuế trên thực tế đã giảm Cuộc điều tra cho rằng giá xi măng tăng để thu lợi bất chính theo một thỏa thuận ngầm giữa các nhà sản xuất xi măng thông qua hình thức các-ten chống lại lợi ích công cộng

Cơ quan quản lí đã thông qua lệnh phá bỏ các-ten và chuyển mức giá về mức giá ban đầu Các nhà sản xuất xi măng cũng bị ra lệnh trả 4.25 tỷ Rs số tiền kiếm được từ việc tăng giá gian lận tại Baitul Mal để đền bù lại những đòi hỏi chính đáng của người tiêu dùng Hơn nữa, cơ quan này còn áp đặt một mức phạt 100,000 Rs đối với mỗi doanh nghiệp và trong trường hợp tiếp tục không chấp hành thì sẽ phạt them 10,000 Rs mỗi ngày

Nguồn: Mukhtar Almad Ali (2006), Pakistan, trong cuốn sách Các thể chế cạnh tranh trên Thế giới – CUTS

Thỏa thuận dành hạn mức tín dụng cho khách hàng;

Thỏa thuận nhằm loại bỏ những sản phẩm có giá thành thấp ra khỏi thị trường để hạn chế nguồn cung và duy trì mức giá cao;

Thỏa thuận không giảm giá nếu không thông báo cho các thành viên khác của thỏa thuận;

Thỏa thuận giữ vững mức giá cả đã công bố;

Thỏa thuận không bán hàng hóa trừ phi có sự nhất trí về mức giá; và

Thỏa thuận sử dụng mức giá thống nhất tại thời điểm các cuộc đàm phán về giá bắt đầu

Đây cũng là những miêu tả chi tiết về việc tiến hành một thỏa thuận ấn định giá cả được đưa

ra tại nghị định 116/2005.30

Trang 24

24

Một điều quan trọng cần đề cập tới ở đây là mặc dù các thỏa thuận ấn định giá cả dường như

được coi như là bất hợp pháp trong mọi trường hợp (theo quy tắc per se) tại hầu hết các khu

vực tài phán, trong trường hợp của Việt Nam, Luật CT vẫn cho phép xem xét miễn trừ thậm chí là cho hình thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh này (xem phần 4.2)

4.4.2 Phân chia thị trường và chia sẻ khách hàng

Kế tiếp theo danh sách là những thỏa thuận các-ten phân chia thị trường theo lãnh thổ hay theo khách hàng giữa các đối thủ cạnh tranh Có thể nói những thỏa thuận này thậm chí còn hạn chế cạnh tranh hơn rất nhiều so với thỏa thuận ấn định giá, bởi vì những thỏa thuận ngăn

chặn mọi hình thức cạnh tranh và vì vậy thường được xem xét theo quy tắc per se Tuy nhiên

thì đây không phải là thực tiễn ở Việt Nam

Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, hình thức phổ biến của phân chia thị trường là thỏa thuận ngầm giữa các nhà độc quyền nội địa có tác dụng tương tự như các thỏa thuận các-ten Một doanh nghiệp bán vật liệu xây dựng tại tỉnh Hòa Bình có thể không dám mạo hiểm cung cấp sản phẩm cho một khách hàng ở tỉnh Vĩnh Phúc Một doanh nghiệp vận tải tại Hà Nội có thể từ chối phục vụ một khách hàng tại Hải Phòng Hành vi này có thể không cần có

sự phối hợp mà chỉ cần một quyết định độc lập được đưa ra bởi sự cân nhắc tới hiệu quả kinh doanh, và do đó nó hợp pháp và có tính hợp pháp chiến lược Tuy nhiên, các cơ quan quản lí cạnh tranh nên theo dõi sát sao mọi hành vi của các doanh nghiệp này phòng trường hợp họ

cố ý che giấu các thỏa thuận phân chia thị trường

Các thỏa thuận phân chia thị trường và phân chia khách hàng được xác định một cách chi tiết theo điều 15 của Nghị định 116/2005 của Việt Nam nhằm giải thích thêm về việc cấm các hình thức thỏa thuận này theo Luật Cạnh tranh 2004.31

4.4.3 Hạn chế số lượng khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ

Theo thỏa thuận này thì các doanh nghiệp sản xuất/cung cấp cùng một loại hàng hóa/dịch vụ cùng thống nhất hạn chế nguồn cung xuống mức thấp hơn trước Hậu quả của việc hạn chế này là gây ra sự khan hiếm trên thị trường từ đó giúp cho người bán có thể tăng giá hàng hóa/dịch vụ.32

Tại Việt Nam việc sắp xếp khối lượng sản xuất là hoạt động khá phổ biến của các hiệp hội các nhà sản xuất Những biện minh cho hoạt động này bao gồm các lí do như để tránh tình trạng “cung vượt quá cầu”, nhằm hạn chế sự cạnh tranh “khốc liệt” giữa các nhà sản xuất nhỏ, hoặc mức độ lãng phí các nguồn lực hướng tới việc ổn định thị trường và giúp ích cho người tiêu dùng với giá cả ổn định và chất lượng tốt Rất nhiều qui định và luật pháp về các lĩnh vực tại Việt Nam hợp pháp hóa thể thức và hoạt động của các thỏa thuận các-ten đi ngược lại tinh thần và câu chữ của Luật Cạnh tranh 2004 Theo điều 8 của Luật Cạnh tranh nghiêm cấm loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang và được giải thích cụ thể hơn tại điều 16 của Nghị định 116/2005 Luật CT vốn có thẩm quyền thay thế tất cả các luật

và quy định khác về tất cả các vấn đề cạnh tranh Chính vì vậy rất khó khăn để giải quyết vấn

đề xung đột luật ở đây

Trang 25

25

Cuối cùng, cũng giống như trường hợp các thỏa thuận phân chia thị trường, cơ quan quản lí cạnh tranh nên đảm bảo đây không phải là một hành động “giả mạo” để che giấu một ý định hạn chế cạnh tranh Cơ quan quản lý có thể tiến hành điều tra cụ thể dựa theo yêu cầu của thị trường thực tế, trong sự tương quan với năng lực và hạn mức của mỗi doanh nghiệp mà do hiệp hội áp đặt lên họ Hơn nữa, việc sắp xếp khối lượng hàng hóa không có nghĩa là chia sẻ các kênh phân phối, xác định giá bán hay phân chia thị trường và khách hàng Bất cứ một sự sắp xếp thêm nào khác có thể dẫn tới sự tồn tại một hành vi thỏa thận các-ten

Hộp 2: Hệ thống nghiệp đoàn trong ngành vận tải tại Nepal

Đa số các doanh nghiệp vận tải tại Nepal đều tham gia các nghiệp đoàn địa phương Các nghiệp đoàn này không cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào ngoài thành viên của nghiệp đoàn được phép chạy tuyến đường dài mà họ đã xác định rõ Họ không những ngăn cản các doanh nghiệp khác không được tham gia vào hoạt động kinh doanh vận tải mà còn cố ý phá hoại xe bus nào xâm lấn vào khu vực đã được phân định của các nghiệp đoàn khác nhau

Những người điều hành nghiệp đoàn cho rằng họ không cho phép những doanh nghiệp không phải là thành viên/xe bus chạy trên tuyến đường “của họ” và nếu họ vi phạm thì họ sẽ phải chịu phạt rất nặng Các doanh nghiệp không thuộc hệ thống nghiệp đoàn cảm thấy rằng điều này đã nảy sinh vấn đề cho hoạt động kinh doanh của họ Họ đổ lỗi cho Chính phủ đã không lên tiếng phản ứng đối hệ thống này và có trách nhiệm cho sự duy trì một hình thức gần giống với độc quyền này do đó tạo ra sự thiếu hiệu quả và thiếu cận trọng

Chính phủ Nepal đã tiến hành một nền kinh tế tự do hóa và mở cửa cách đây khoảng một thập kỷ Thậm chí trong đạo luật Vận tải, Chính phủ vẫn công nhận vai trò của các nghiệp đoàn xe bus, không có vấn đề nào cho phép duy trì một cách giả tạo hình thức độc quyền Tuy nhiên sự cưỡng chế thi hành vẫn còn yếu và tình hình bất ổn định về chính trị gần đây

đã không giúp ích được nhiều nếu không nói là còn làm tình hình trở nên xấu thêm

Nepal đang trong quá trình hình thành Luật pháp về cạnh tranh theo những cam kết gia nhập

tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của đất nước này Tuy nhiên thì quá trình này vẫn đang bị trì hoãn

Nguồn: Các hành vi hạn chế cạnh tranh tại Nepal, Adhikari và Regmi, CUTS và SAWTEE,

2001

4.4.4 Thông thầu

Một hình thức khác của thỏa thuận các-ten là đấu thầu gian lận, bị nghiêm cấm theo điều 8 của Luật Cạnh tranh 2004, liên quan tới việc phân chia thị trường của những doanh nghiệp cấu kết đấu thầu.33

Trang 26

26

Hộp 3: Lịch blốc – Thỏa thuận các-ten hay thỏa thuận làm tăng hiệu qủa kinh tế

Cho đến năm 2006 khi hiệp hội của 48 nhà in lớn tại Việt Nam tách ra hoạt động riêng lẻ, thì họ đã cùng phối hợp trong việc sản xuất lịch blốc được một thập kỷ Lịch blốc là loại lịch bóc tờ hàng ngày được sản xuất và bán quanh năm

Năm 2005, Hiệp hội đã nhất trí sản xuất một lượng lớn khoảng 13,5 triệu blốc lịch để phục

vụ nhu cầu cho năm mới 2006 cho cả nước Những blốc lịch này sau đó được sản xuất và cất giữ tại kho của Tổng doanh nghiệp sách Việt nam sẵn sàng cho việc phân phối Tuy nhiên tới cuối năm 2005, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đột ngột rút khỏi Hiệp hội và cùng lúc đó tuyên bố họ sẽ sản xuất và tung ra thị trường một lượng lớn khoảng 2 triệu blốc lịch

Hiệp hội cùng các thành viên tỏ ra hết sức bất ngờ trước sự thay đổi đột ngột này Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh chỉ dự định sản xuất 200,000 blốc lịch trước

đó, song số lượng mà họ sản xuất về sau có thể chiếm toàn bộ thị trường Do đó, Hiệp hội đã kiến nghị lên Vụ phát hành và xuất bản (Bộ Văn hóa Thông tin) Tuy nhiên, theo lời mở đầu của Luật xuất bản 2004 và tài liệu số 1187 về việc mở rộng cho phép các doanh nghiệp được xuất bản, Vụ phát hành và xuất bản không thấy bất kì một lỗi vi phạm nào của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, cũng như không thể cưỡng chế họ trở lại tham gia vào Hiệp hội

Trong khi Hiệp hội chỉ trích Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh về việc không tuân theo đúng cam kết dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu gây ra tổn thất cho tất

cả các thành viên của Hiệp hội, thì Nhà xuất bản ĐHQG TPHCM lập luận rằng họ chỉ tuân theo đúng tinh thần của chính sách tự do hóa trong ngành Xuất bản Mặt khác, Nhà xuất bản ĐHQG TPHCM cũng buộc tội Hiệp hội về việc hạn chế số lượng sản xuất ra và áp đặt giá

cả với mức cao hơn bình thường gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng

Đấu thầu gian lận thường liên quan tới việc phối hợp của các đối thủ cạnh tranh theo một số cách nhằm hạn chế cạnh tranh trong một cuộc đấu thầu bất kể là cuộc đầu thầu này do cơ quan chức năng hay một thực thể tư nhân đứng ra tổ chức Đây được coi như là một trong những loại thỏa thuận các-ten tồi tệ và “cứng nhắc” nhất bên cạnh thỏa thuận áp đặt giá cả, thỏa thuận hạn chế số lượng, khối lượng hàng hóa/dịch vụ và thỏa thuận phân chia thị trường, gian lận đấu thầu thường là sự kết hợp của tất cả các hành vi này.34

Gian lận đấu thấu cũng như tất cả các hành vi thỏa thuận các-ten khác đều rất khó phát hiện

ra và khởi tố Tuy nhiên hầu hết các Luật Cạnh tranh đều nghiêm cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và các hành vi cấu kết giữa các đối thủ cạnh tranh, và không hề cần bất kỳ ràng buộc pháp lí hay thỏa thuận chính thức hay bất cứ hình phạt nào hoặc các thiết chế cưỡng ép khác để xác lập rằng đã có gian lận đấu thầu Cũng như trong trường hợp các hình thức thỏa thuận các-ten khác, chỉ cần các bằng chứng gián tiếp, không cần các bằng chứng cụ thể, là đủ

để xác định đã có vi phạm xảy ra.35

Trang 27

27

Các nhà chức trách ngày càng nhận ra rằng có một số điều kiện thị trường cụ thể là nhân tố chính tạo điều kiện cho gian lận đấu thầu xảy ra Những điều kiện này bao gồm: (i) sự có mặt của một vài người bán hàng hay một nhóm nhỏ dẫn đầu những người bán hàng có khả năng kiểm soát hầu hết thị trường; (ii) thiếu các sản phẩm thay thế khác; và (iii) sản phẩm được tiêu chuẩn hóa Điều này gần giống với trường hợp các hình thức thỏa thuận các-ten khác như

đã đề cập ở trên Trong khi những nghiên cứu mới đây cho thấy ngành thiết kế và xây dựng công trình là ngành có dễ có khả năng xảy ra hoạt động thỏa thuận các-ten nhất, các vụ việc gian lận đấu thầu cũng được phát hiện tại nhiều ngành công nghiệp khác

4.4.5 Thỏa thuận tẩy chay các doanh nghiệp không phải là các bên thỏa thuận

Một thỏa thuận tẩy chay các doanh nghiệp không phải là các bên thỏa thuận là một hành động chung giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm mục đích sử dụng sức mạnh thị trường kết hợp của những đối thủ cạnh tranh này nhằm áp đặt lên một nhà cung cấp, một đối thủ cạnh tranh hay một khách hàng phải nhất trí về một hành động mà sẽ ảnh hưởng tới cạnh tranh, những ai không nhất trí về thỏa thuận này thì sẽ không tham vào hành động chung này Ví dụ, bằng việc đe dọa ngừng việc mua từ một nhà cung cấp, hai khách hàng bán lẻ lớn có thể ép buộc một nhà cung cấp đồng ý không bán một hoặc nhiều hơn sản phẩm của họ cho những nhà bán

lẻ khác Nếu nhà cung cấp đồng ý, những cửa hàng bán lẻ khác sẽ phải đóng cửa nếu không

một doanh nghiệp nào cung cấp sản phẩm cho họ Hơn nữa, người mua có thể phải chịu thiệt

thòi khi phải tìm mua sản phẩm chỉ có ở hai cửa hàng Việc sử dụng hình thức đe dọa này thường để loại bỏ những người bán lẻ khác hoặc để hạn chế cạnh tranh thong qua việc chỉ bán sản phẩm cho hai cửa hàng để tạo thuận lợi cho việc tăng giá

Hộp 4: Một vụ gian lận đấu thầu tại Việt Nam

Gian lận đấu thầu bị phát hiện ra trong rất nhiều dự án được tài trợ bởi ngân sách Nhà nước

Ví dụ, trong dự án xây dựng tuyến đường Vân Lâm – Sơn Hải II, có bốn doanh nghiệp tham gia đấu thầu cho dự án này và Công ty 98 đã thắng thầu Tuy nhiên sau đó phát hiện ra rằng

cả bốn doanh nghiệp tham dự đấu thầu đều trực thuộc cùng một nhóm doanh nghiệp mà Công ty 98 kiểm soát Công ty 98 đã sắp xếp cho ba doanh nghiệp vỏ bọc đệ trình đơn xin đấu giá không trung thực với mức giá thổi phồng để nhằm tạo ra quá trình cạnh tranh ảo Với sự sắp đặt từ trước, Công ty 98 đã thắng trong vụ đấu thầu này với mức giá chỉ chênh lệch có mười phần triệu của một phần trăm mức giá ước tính của chính phủ đã công bố (141 VND trên hợp đồng trị giá 1.56 tỷ VND)

Nguồn: “Đầu thầu xây dựng: Có cạnh tranh hay không?” Báo Ninh Thuận, 17/12/2002, trích

từ trang 118 cuốn Xin hãy công bằng – CUTS (2006)

Hộp 5: Đấu thầu bổ sung tại các xưởng in

Bốn xưởng in lớn thường cung cấp các hình thức kinh doanh đa dạng sử dụng cho giấy in máy tính, các mẫu thống kê, và các sản phẩm tương tự Trong quá khứ thì chính phủ chỉ đấu

Trang 28

28

thầu một lần các đơn đặt hàng và tiếp tục để cho doanh nghiệp đã trúng thấu lần đầu tiên được nhận các đơn đặt hàng tiếp theo Sau khi thấy rằng các doanh nghiệp này có thể cải thiện giá cả thông quá đấu thầu tất cả các đơn đặt hàng thì chính phủ bắt đẩu làm như vậy bằng việc lựa chọn một danh sách các xưởng in có chất lượng tổt, trong đó bao gồm bốn xưởng in lớn Việc giá cả tổng hợp giảm đã trở thành mối lo ngại cho các doanh nghiệp lớn

và các giám đốc kinh doanh của họ

Giám đôc kinh doanh của bốn doanh nghiệp này gặp nhau và nhất trí về một chiến lược đấu thầu Việc đặt giá của người đứng đầu thị trường thường xác định làm giá chuẩn cho mỗi sản phẩm của tất cả các doanh nghiệp Họ cũng nhất trí rằng khi có kêu gọi đấu thầu thì người cung cấp trước ở một hình thức đặc biệt sẽ đưa ra giá bằng hoặc thấp hơn mức giá chuẩn, khi đó tất cả các doanh nghiệp khác sẽ đưa ra giá cao hơn Sau đó những doanh nghiệp này kết luận lại rằng phương pháp này quá khó và nhất trí rằng người cung cấp trước đơn giản sẽ chỉ cần nói cho các đối thủ cạnh tranh biết giá của đơn đặt hàng trước là bao nhiêu và những người khác sẽ ra giá cao hơn hay không

Trong sự thỏa thuận này, khoảng 300 nhà thầu được chính phủ mời tham gia đấu thầu và đấu thầu các đơn đặt hàng phù hợp với các thỏa thuận Sự sắp xếp này bị phá vỡ sau sự gia nhập của một đối thủ cạnh tranh mới mà bẳt đầu thằng thầu Doanh nghiệp mới có xu hướng tham gia vào thỏa thuận đang có Thay vào đó thì những đối thủ cạnh tranh mới phàn nàn với các nhà chức trách và cung cấp các thông tin mới để bắt đầu tiến hành một cuộc điều tra Nguồn: Khemani, R.Shyam, Khuôn khổ cho việc triển khai xây dựng luật và chính sách cạnh tranh Ngân hàng Thế giới và OECD, được trích từ trang 10 trong cuốn Luật và chính sách cạnh tranh tạo điều kiện dễ dàng, CUTS (2001)

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam nghiêm cấm những hành vi này và coi chúng là các hành

vi bất hợp pháp hoàn toàn (theo quy tắc per se) không tính tới thị phần kết hợp của các bên

tham gia thỏa thuận theo điều 8(6) và điều 8(7) Các hành vi này còn được giải thích thêm theo điều 19-20 của Nghị định 116/2005

4.4.6 Các thỏa thuận theo chiều ngang khác giữa các đối thủ cạnh tranh

Rất nhiều thỏa thuận phi các-ten theo chiều ngang có thể có tác dụng tăng cường hiệu quả kinh tế thông qua việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển, tạo ra các sản phẩm hay các phương pháp phân phối mới hoặc cải thiện các nguồn thông tin Mặt khác nhiều loại thỏa thuận loại này có thể hạn chế cạnh tranh, hạn chế số lượng và làm tăng giá

Một ví dụ cho các thỏa thuận này là trường hợp của các tổ chức giám định tiêu chuẩn Ví dụ những minh chứng hiệu quả xuất hiện khi một số hiệp hội thương mại hay các cơ quan kiểm tra chất lượng cho rằng loại ổ cắm điện này sẽ cắm vào ổ cắm một cách an toàn, hay chất lượng và cấp bậc hay bất cứ tiêu chuần nào khác an toàn khi ăn hay an toàn khi sử dụng theo hướng dẫn Những tiêu chuẩn này thường không cấm việc sử dụng các sản phẩm thay thế khác (trừ phi chúng được đưa vào bộ luật xây dựng hay bộ luật sức khỏe) nhưng người mua

Trang 29

29

thì lại thường e ngại việc sử dụng các sản phẩm không được chứng nhận vì vậy mà kết quả của loại thỏa thuận này lại giống với thỏa thuận loại bỏ các doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận Và quá trình giám định tiêu chuẩn có thể bị lạm dụng để hạn chế các đối thủ cạnh tranh hay tăng giá mà có thể là một sự vi phạm Luật Cạnh tranh

Một ví dụ khác nữa là những người thợ lắp nước có thể ngăn cản sự ủng hộ của hiệp hội xây dựng an toàn cho việc sử dụng đường ống nước thải bằng nhựa bởi vì những thợ lắp nước có thể kiếm lợi nhiều hơn từ việc hàn các ống nước thải bằng kim loại hơn là việc gắn keo các ống nhưa Cũng tương tự như vậy, các nhóm bác sĩ kiện một số hiệp hội vì đã từ chối cho phép thành viên của họ hợp tác với y tá chăm sóc hoặc y tá gây mê, điều này khiến cho các y

tá thực hiện chuyên môn của họ một cách phi pháp

Hộp 6: Thỏa thuận các-ten trong bán lẻ dược phẩm tại Ấn Độ

Tại Ấn Độ, mặc dù có tới 20,000 nhà sản xuất dược phẩm nhưng mới chỉ có gần 800,000 nhà bán lẻ Những nhà bán lẻ này là người quyết định cho một doanh nghiệp dược phẩm chọn cách phân phối; bao nhiêu loại sản phẩm hay hàng hóa kết hợp sẽ có mặt trên thị trường; có những chiến lược kinh doanh tự do nào làm mẫu, v.v…Số dư tự do mà các doanh nghiệp dược phẩm yêu cầu và đặt ra đối với các loại dược phẩm cơ bản lên tới 2000 phần trăm

Năm 1984, Hiệp hội phân phối và bán lẻ dược phẩm tại thành phố Bombay bị triệu tập tới

Ủy ban về các hành vi hạn chế cạnh tranh và độc quyền (MRTPC) sau khi Hiệp hội này đã

ra lệnh cho tất cả các nhà bán buôn và bán lẻ tẩy chay sản phẩm của một doanh nghiệp cho tới tận khi mọi đòi hỏi của Hiệp hội này được doanh nghiệp này đáp ứng MRTPC cho rằng tác động của việc tẩy chay này hầu như không đáng kể Việc tẩy chay này là một cố gằng để ngăn không cho người tiêu dùng tiếp cận với các sản phẩm mà họ đã quen thuộc và vì vậy khó khăn đối với người tiêu dùng là một điều rõ ràng MRTPC sau đó đã thông qua lệnh ngừng ngay việc tẩy chay này

Trước đó vào năm 1992, tổ chức dược phẩm của Ấn Độ (AIOCD) cũng phải đối mặt với tình huống tương tự AIOCD bị triệu tập trước Ủy ban MRTPC vào năm 1983 khi mà tổ chức này thông qua một thông tư tới một số doanh nghiệp dược phẩm đe dọa nếu họ hợp tác với các tổ chức nhà nước và có vị trí như là một nhà phân phối và có quyền kinh doanh sản phẩm của họ, thì các doanh nghiệp này sẽ bị tẩy chay bởi các thành viên của tổ chức Vụ việc này được quyết định vào năm 1993 và Ủy ban MRTPC đã kết luận đây là một hành vi hạn chế cạnh tranh là thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường các doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận

Nguồn: Pradeep S Mehta (2005) Cạnh tranh phá vỡ các thỏa thuận các-ten Tạp chí Thương mại Hindu 12/1/2005, xem bài viết này tại trang web:

<http://thehindubusinessline.com/2005/01/12/stories/2005011200330900.htm>

Trang 30

30

Luật Cạnh tranh của Việt Nam, như đã đề cập ở trên, đưa ra một giải pháp quy tắc có lí cho những thỏa thuận này Tuy nhiên Luật Cạnh tranh lại không trao cho cơ quan cạnh tranh vai trò tiên phong trong việc xem xét những hiệu quả tốt đối với cạnh tranh mà hành vi này mang lại, mà để cho cơ quan này phải chờ các doanh nghiệp đệ trình đơn xin được miễn trừ cho mỗi trường hợp Một cuộc điều tra đỉển hình đối với những hành vi này theo Luật Cạnh tranh

sẽ bao gồm việc xác định thị trường liên quan cho một trường hợp, chứng minh có thị phần của doanh nghiệp trong thị trường liên quan đó đã được xác định, và tập hợp, phân tích các bằng chứng về các hành vi vi phạm.36 Phương pháp này khá cứng nhắc không kể tới sự thiếu bao quát và có thể thiếu hiệu quả trong các trường hợp cụ thể Năm câu hỏi khác có thể được phân tích để bổ sung thêm vào quá trình điều tra bao gồm:37

Liệu rằng hành vi hạn chế cạnh tranh dường như vốn đã hạn chế số lượng đầu và tăng giá cả hay không?

Liệu hành vi hạn chế này là hoàn toàn rõ ràng, hay có liên quan tới việc thúc đẩy cạnh tranh thông qua việc hợp nhất các nguồn lực kinh tế hay không?

Liệu hành vi hạn chế này có hạn chế số lượng đầu ra và tăng giá hoặc mặt khác tạo điều kiện cho việc thực thi sức mạnh thị trường hay không?

Liệu hành vi hạn chế này có cần thiết để đạt được những mục tiêu ủng hộ cạnh tranh

đã đặt ra hay không?

Liệu những lợi ích mà hành vi hạn chế này mang lại trong thúc đẩy cạnh tranh có vượt quá được những nguy cơ phản cạnh tranh mà chúng có thể gây ra hay không?

4.5 Thỏa thuận theo chiều dọc trong phân phối và bán sản phẩm

Thỏa thuận theo chiều dọc hạn chế cạnh tranh liên quan tới hoạt động thương mại ở những giai đoạn kế tiếp nhau trong một quá trình sản xuất Một ví dụ đơn giản về thỏa thuận chiều dọc có thể bao gồm hai doanh nghiệp, trong đó một doanh nghiệp là nhà cung cấp nguyên liệu đầu vào cho hoạt động thương mại của doanh nghiệp kia Nói chung, các thỏa thuận theo chiều dọc gây ra hậu quả ít nghiêm trọng hơn so với các thỏa thuận theo chiều ngang, và thường được xem xét theo quy tắc có lí bởi các cơ quan quản lí cạnh tranh Tuy nhiên, một điều chắc chắn là những thỏa thuận theo chiều dọc cụ thể có ảnh hưởng tới cạnh tranh trên thị trường đều hoàn toàn bị lên án ví dụ như thỏa thuận hợp tác bán sản phẩm, duy trì một thỏa thuận loại trừ hoặc thỏa thuận về giá bán lại

Những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc có thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh thường có trong các thỏa thuận hợp đồng giữa các nhà cung cấp (các nhà sản xuất)

và các nhà phân phối (các nhà bán lẻ), những thỏa thuận này có thể vượt quá giá giao dịch công bằng Do mong muốn có thể thực hiện kiểm soát theo chiều dọc trong mối quan hệ giữa các đại lí chính các thỏa thuận này được thúc đẩy theo đó những doanh nghiệp lớn (các nhà sản xuất) áp đặt những ràng buộc theo hợp đồng lên các đại lí của mình (nhà bán lẻ) khi ủy thác trách nhiệm cho họ bán các sản phẩm của mình.38 Các thoả thuận này khác với các hành

vi hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc dựa trên vị trí thống lĩnh thị trường, sẽ được xem xét tại phần về sự lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Trang 31

31

Những thỏa thuận này có thể mang lại những ảnh hưởng tốt, ví dụ như thông qua việc loại bỏ

sự bóp méo về giá cả, đánh giá lạc quan các mức độ đầu tư và hạn chế những phí tổn giao dịch có thể tránh được Những thỏa thuận này cũng có những ảnh hưởng ngược lại không chỉ

ở việc ngăn chặn sự tiếp cận thị trường của các doanh nghiệp mới mà còn giảm sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có thông qua những hạn chế cạnh tranh trong cùng một hãng và cạnh tranh khác hãng.39

Cũng giống như những hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang, người ta thường cho rằng sức mạnh thị trường tại một hoặc cả hai cấp độ là điều kiện cần thiết cho hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc để có được một tác động ngược bền vững đối với cạnh tranh Với sự có mặt của sức mạnh thị trường, một số các yếu tố khác đặc biệt là những tác động đối với cạnh tranh của các thỏa thuận chính, và bất kỳ một chỉ số hiệu quả nào có thể bù đắp những tác động xấu của các thỏa thuận này đối với cạnh tranh sẽ được tính đến trong khi giải quyết những loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc này.40

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam không đề cập một cách trực tiếp tới các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc này Thực tế chỉ có ba khoản của điều 8 (trong đó liệt kê một

số thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm theo Luật Cạnh tranh) có thể được hiều theo cách này đó là khoản 5-7 Theo đó, cấm “thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa

vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng” (Điều 8(5) của Luật Cạnh tranh),

“thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh” (Điều 8(6) của Luật Cạnh tranh), và “thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận” (Điều 8(7) của Luật Cạnh tranh) Điều thú vị là những điều khoản này có thể được áp dụng cho cả hai trường hợp của quan hệ theo chiều dọc và quan hệ theo chiều ngang, vấn đề này sẽ được bàn luận ở phần sau

4.5.1 Duy trì giá bán lại

Duy trì giá bán lại là hành vi của một nhà sản xuất và những nhà phân phối của mình đồng ý

về việc những nhà phân phối sẽ bán sản phẩm của nhà sản xuất với mức giá cụ thể (Duy trì giá bán lại) bằng hoặc thấp hơn mức giá trần (duy trì mức giá bán lại cao nhất).41

Duy trì giá bán lại đôi khi có thể mang lại hiệu quả tốt hay giúp tăng cường hiệu quả kinh doanh và như vậy sẽ được điều chỉnh theo nguyên tắc có lí Duy trì giá bán lại thường là công

cụ cho việc thúc đẩy các loại hình dịch vụ theo mức độ bán lẻ Những dịch vụ này bao gồm những hoạt động như tư vấn cho khách hàng, duy trì đủ nhân viên để các đường dây chi trả được rút ngắn lại, giữ cho các bản kiểm kê được tổ chức tốt, thậm chí là bất cứ hoạt động nào

mà một nhà bán lẻ có thể làm ngoại trừ việc thay đổi giá cả

Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của Luật Cạnh tranh, duy trì giá bán lại dường như không là

gì khác ngoài nỗ lực ấn định giá bán lẻ theo cấp độ độc quyền bởi một nhà độc quyền

Nguyên tắc per se bất hợp pháp vì vậy thường được áp dụng để điều chỉnh hành vi này, và

hiện nay nguyên tắc này vẫn có thể được áp dụng tại Luật Cạnh tranh của nhiều quốc gia

Trang 32

32

Tuy nhiên ở đây hành vi này thường được tiến hành đơn phương chứ không phải là các thỏa thuận hay hành vi phối hợp theo chiều dọc như chúng ta đang bàn luận ở đây

Hộp 7: Tòa án Nam Phi ngăn chặn việc duy trì giá bán lại thấp nhất

Tòa án cạnh tranh của Nam Phi đã đưa ra mức phạt ba triệu rand (tương đương 419.000 đô la Mỹ) đối với Công ty Federal Mogul Nam Phi vì đã vi phạm Luật cạnh tranh nước này Đây là hình phạt lớn nhất của Tòa án cạnh tranh từ trước tới giờ Hình phạt này là kết quả của cuộc điều tra do Tòa án tiến hành theo đó công ty Mogul đã tiến hành hành vi duy trì giá bán lại bằng cách bắt buộc các nhà phân phối bán phanh Ferodo ở một mức giá xác định và sẽ phạt những nhà phân phối nào không tuân thủ theo

Federal Mogul đầu tiên đã cho rằng Tòa án không có thẩm quyền ban hành hình phạt này theo hiến pháp Tuy nhiên, Tòa án thấy rằng bị đơn tiến hành hành vi bị cấm này không có vị trí tương tự với người bị cáo buộc trong các thủ tục tố tụng, và Đạo luật đã qui định đầy đủ cơ chế thủ tục Vì vậy, việc biện luận dựa trên hiến pháp này thất bại

Trong khi hình phạt tối đa (có nghĩa là 10 % của doanh thu hàng năm) mà Tòa án đưa ra để

áp dụng chỉ lên tới 6 triệu rand (tương đương với 838.000 đô la Mỹ), Tòa án thấy rằng sau những phân tích kĩ lưỡng về các qui định cụ thể trong điều 59(3) Đạo luật cạnh tranh, mức phạt 3 triệu Rand là hoàn toàn hợp lí Theo Luật cạnh tranh của Nam Phi, việc duy trì giá bán lại là một hình thức của hành vi áp đặt giá cả, và không thể được chứng minh dựa trên cơ sở hành vi này đưa tới những tác dụng về công nghệ, hiệu quả hay thúc đẩy cạnh tranh

Nguồn: Prabhala (2006), Nam Phi, Các thể chế cạnh tranh trên toàn thế giới, Một báo cáo

của tổ chức dân sự xã hộ, CUTS, trang 282

Là một hành vi được tiến hành đơn phương, duy trì giá bán lại bị cấm theo khoản 2 điều 13 (về lạm dụng vị trí chiếm lĩnh thị trường) trong Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam Trong trường hợp hành vi này bảo vệ những thành viên của một thỏa thuận các-ten hạn chế các doanh nghiệp mới tham gia thị trường thay bằng những doanh nghiệp khác hoạt động có hiệu quả hơn, vấn đề này được đề cập tới tại điều 8(6) của Luật Cạnh tranh và hành vi này bị cấm nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên.42

Một trong những lĩnh vực phổ biến nhất của việc duy trì giá bán lại là đối với các sản phẩm

có dán nhãn mác Các nhà sản xuất mong muốn duy trì một hình ảnh của một nhãn mác cụ thể thường khiến cho các nhà bán lẻ không thể giảm giá hàng hóa của họ, bởi các nhà sản xuất lo sợ rằng điều này sẽ làm giảm “hình ảnh độc quyền” của hàng hóa của họ

Một lĩnh vực khác mà việc duy trì giá bán lại thường xảy ra là hình thức kinh doanh franchise

(nhượng quyền) Trong trường hợp này, những doanh nghiệp nhượng quyền (franchisers) có thể duy trì một mức độ kiểm soát cao đối với các doanh nghiệp mua franchise, ví dụ như xem xét xem những sản phẩm nào mà họ có thể mua và bán, và các hoạt động kinh doanh diễn ra

Trang 33

33

như thế nào, thậm chí còn xem xem giá thấp nhất cho việc bán lại hàng hóa, dưới mức đó những doanh nghiệp mua franchise không thể bán được hàng hóa, phụ thuộc vào cả nội dung của thỏa thuận franchise Tại Việt Nam cũng như ở hầu hết các nước khác, franchise là hoạt động kinh doanh hoàn toàn hợp pháp Vì vậy, việc áp dụng điều 8(6) đối với các thỏa thuận này phải thận trọng

4.5.2 Độc quyền giao dịch

Độc quyền giao dịch là thỏa thuận theo chiều dọc trong đó một nhà bán lẻ và một nhà bán buôn câu kết để nhận được một sự thỏa thuận với nhà cung cấp về việc không có một nhà phân phối nào khác được chỉ định và nhận được sự cung cấp hàng hóa tại một khu vực đã xác định

Người ta thường cho rằng các thỏa thuận độc quyền giao dịch giúp cho một doanh nghiệp có thể tổ chức việc phân phối của họ một cách hiệu qủa Trong những trường hợp này, thỏa thuận nào dẫn tới việc giảm chi phí và một số lợi tức hiệu quả khác thì thỏa thuận đó có thể không gây ra bất kì một vấn đề nào ảnh hưởng tới cạnh tranh hoặc nếu có thì rất nhỏ.43

Mặt khác, những thỏa thuận này cũng có những ảnh hưởng xấu tới cạnh tranh bởi vì chúng có thể hạn chế các đối thủ khác trở thành nhà phân phối Các đối thủ cạnh tranh này có thể bị hạn chế tiếp cận thị trường một cách hoàn toàn hoặc phổ biến hơn là bị áp đặt một mức chi phí cao hơn hay các phương pháp kém hiệu quả hơn để đưa sản phẩm của họ tới thị trường Cũng như vậy, có thể giảm tính cạnh tranh thông qua cả việc giảm số lượng các nhà sản xuất trên thị trường lẫn việc tăng chi phí một cách giả tạo của một số nhà sản xuất.44

Do tính chất hai mặt này, ở một số khu vực pháp lí, việc tiến hành hành vi này bị cấm hoàn

toàn (nguyên tắc per se) trong khi ở một số khu vực pháp lí khác thì hànhvi này có thể được

xem xét trên cơ sở tất cả các tác động tích cực cũng như tiêu cực của nó (liệu hành vi này có làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường hay không) Ví dụ tại Mỹ độc quyền giao dịch được điều chỉnnh theo quy tắc per se, bị coi là bất hợp pháp hoàn toàn Tuy nhiên sau vài năm đưa

ra thông báo này, Tòa án tối cao Mỹ đã thay đổi quyết định trong vụ GTE Sylvania và tuyên

bố rằng nhìn chung các thỏa thuận độc quyền giao dịch là hợp pháp.45 Quyết định này có một

số hạn chế khi trong một số trường hợp đặc biệt các thỏa thuận độc quyền giao dịch này là phương tiện hiệu qủa cho độc quyền hóa

Mặc dù khái niệm “độc quyền giao dịch” không được đề cập tới một cách cụ thể nhưng một

số hình thức của thỏa thuận này bị cấm theo khoản 5 và 6 điều 8 Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam

Hộp 8: Vấn đề của các nhà xuất bản sách ở Hung-ga-ri

Hiệp hội các nhà xuất bản và bán lẻ sách Hung-ga-ri đã bị Hội đồng cạnh tranh quốc gia cáo buộc vi phạm Luật Cạnh tranh

Theo phán quyết ngày 11/4/2006, Hội đồng đã cho rằng những qui định cụ thể của Hiệp hội

là có ý định tiến hành hành vi duy trì giá bán lại thông qua việc hạn chế các nhà bán lẻ độc

Trang 34

34

lập bán sách dưới một mức giá cụ thể Bộ Luật Cạnh tranh của Hung-ga-ri có chứa các điều khoản trong đó cấm bán lại ở mức giá thấp hơn giá mua vào Nếu người bán không phải là một đại lí của nhà xuất bản thì hành động này là bất hợp pháp

Bộ luật này cũng cấm bán một khối lượng lớn hàng hóa với mức giá thấp hơn từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 15 tháng 6 và từ ngày 1 tháng 10 đến 31 tháng 12 năm 2005 Số lượng sách lớn được xác định là trên 192,300 quyển Theo hội đồng đây không chỉ là hành vi hạn chế cạnh tranh đối với hàng hóa có cùng nhãn mác mà còn đối với hàng hóa không cùng nhãn mác

Hội đồng cạnh tranh đã không đưa ra một mức phạt nào những đã cấm việc sử dụng những điều khoản này và bắt buộc Hiệp hội phải thông báo tới thành viên trong vòng 15 ngày

tới ở trên Tuy nhiên thay vì qui định những thỏa thuận này theo nguyên tắc per se, luật và

các qui định của Việt Nam chỉ đưa những thỏa thuận này vào phép thử xem những ảnh hưởng tới cạnh tranh một cách đáng kể hay không

Cả điều 8(6) và điều 9(2) của Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam đều cấm các thỏa thuận độc quyền giao dịch nhằm ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh mà không cần tính tới thị phần kết hợp của các bên tham gia thỏa thuận Cụ thể điều 19 khoản 2(a) Nghị định 116/2005 cũng giải thích cụ thể thêm điều 8(6) của Luật Cạnh tranh theo đó qui định hành vi thiết lập một mạng lưới độc quyền giao dịch với các nhà phân phối và nhà bán lẻ để gây khó khăn cho đối thủ cạnh tranh là bất hợp pháp

Hộp 9: Doanh nghiệp Ceylon Oxygen thoát tội độc quyền giao dịch

Công ty Ceylon Oxygen (COL) chiếm khoảng 80% thị phần trong sản xuất và phân phối khí oxygen và các sản phẩm liên quan từ ngày bắt đầu khai trương năm 1936 cho tới năm 1993 tại Sri Lanka Tháng 12 năm 1993, công ty Industrial Gases (IGL) bắt đầu tiến hành hoạt động trên thị trường này Năm 1994, IGL phản đối những hành vi thương mại không lành mạnh của COL làm phương hại tới IGL

IGL cho là để đối phó với việc doanh nghiệp này tham gia vào thị trường, COL đã sử dụng các chiến thuật ép giá xuống thấp thông qua việc giảm phí đặt cọc cho các cy-lanh oxygen

từ 8,500 LKR xuống còn 3,000 LKR Ngoài ra, doanh nghiệp này còn giảm phí bảo dưỡng

Trang 35

Về vấn đề này, Ủy ban thương mại công bằng của Sri Lanka (FTC) đã xác định ba hành vi hạn chế cạnh tranh do doanh nghiệp này tiến hành như ép giá, giảm giá phân biệt và độc quyền giao dịch Tuy nhiên, Tòa án Phúc Thẩm cho rằng FTC không có thẩm quyền pháp lí

để điều tra những hành vi này theo khoản 11 của Đạo luật về Ủy ban thương mại công bằng,

và do đó Tòa án này đã không coi những hành vi này như là những hành vi hạn chế, bóp méo, và chống cạnh tranh theo khoản 14 của đạo luật này

Nguồn: CUTS (2002), Hướng tới Luật Cạnh tranh mới tại Sri Lanka

Hộp 10: Chiến lược khuyến mãi đã ngăn cản các doanh nghiệp mới gia nhập thị

trường bia Việt Nam

Bia Tiger, Heineken và Bivina (là các sản phẩm được sản xuất bởi doanh nghiệp Liên doanh bia Việt Nam) bị cho là đã liên kết với nhau sử dụng các chiến thuật độc quyền giao dịch để ngăn chặn việc gia nhập thị trường của hãng bia Laser - nhãn hiệu bia chai đầu tiên của Việt Nam (được sản xuất bởi doanh nghiệp Tân Hiệp Phát)

Có mặt trên thị trường vào năm 2004, tuy nhiên bia Laser không thể tiếp cận được các cửa hàng bán lẻ, đại lý phân phối và các quan bar, v.v… vì các cửa hàng và đại lí này đã có hợp đồng với các sản phẩm bia đã nhắc tới ở trên trong đó bao gồm một điều khoản quan trọng

là cấm các nhà phân phối, người bán không được bán, trưng bày, giới thiệu, tiếp thị… thậm chí là không cho phép nhân viên tiếp thị của các hãng bia khác hoạt động trên địa bàn kinh doanh của họ Để đền bù hàng năm các cửa hàng và nhà phân phối nhận được một khoản hỗ trợ từ 50 triệu đồng tới 100 triệu đồng

Tình hình còn xấu hơn khi mà gần đây một cửa hàng bia đã bị các hãng bia lớn này kiện vì lí

do “vi phạm hợp đồng kinh tế” Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đưa ra phán quyết là cửa hàng bia “Cây Dừa” không được phép quảng cáo, bán hoặc cho phép nhân viên tiếp thị của bia Laser hoạt động trong khu vực kinh doanh của họ cho tới tháng 11 năm 2004 theo hợp đồng được kí giữa cửa hàng này với doanh nghiệp Liên doanh bia Việt Nam từ tháng 11 năm 2003

Mặc dù các nhà phân tích cho rằng những điều khoản trong hợp đồng này là một sự lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp liên doanh bia Việt Nam để cạnh tranh không lành mạnh và nhằm duy trì vị trì vị trí thống lĩnh thị trường thông qua các hành vi

Trang 36

36

không công bằng, nhưng hợp đồng này vẫn thoát khỏi sự kiểm soát của luật pháp bởi vì ở thời điểm đó Việt Nam vẫn chưa có Luật Cạnh tranh trong khi Luật thương mại và Sắc lệnh Nhà nước về các Hợp đồng kinh tế không điều chỉnh các vấn đề này

Nguồn: Vietnamnet, 04.07.2004 và 18.05.2004

Hộp 11: Ghana: Các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau

Công ty Brewery Accra đã kiện công ty Guiness Ghana vì công ty này đã ra lệnhh tạm thời hạn chế các doanh nghiệp khác gia nhập thị trường đồng thời còn tăng cường một thỏa thuận

có tên là “Guinness có nghĩa là lợi nhuận” với các nhà đại lý đồ uống có cồn Sản phẩm của các nhà sản xuất nguyên đơn (Club Super Stout, Club Dark Beer và Castle Milk Stout) cạnh tranh với các sản phẩm (Guinness Foreign Extra Stout) của Guinness Công ty Accra Brewery lập luận rằng:

Công ty Guiness Ghana đã tham gia vào một thỏa thuận “mang lại tiền” với khoảng

183 nhà bán lẻ đồ uống có cồn vào năm 1999, theo đó ràng buộc các nhà bán lẻ này chỉ nhập và quảng cáo cho riêng sản phẩm của họ Vì vậy, những nhà bán lẻ này đã

từ chối nhập các sản phẩm của công ty Accra Brewery;

Guinness đã phạm pháp khi xúi giục khách hàng phá hợp đồng với công ty Accra Brewery;

Hành vi của công ty Guinness đã ngăn cản người dân Ghana có quyền tự do lựa chọn bất kì sản phẩm đồ uống có cồn và không cồn nào tại các quầy bar đồ uống hoặc các nơi bán sản phẩm của cả hai doanh nghiệp khác;

Hành vi xúi giục của Guinness đã đi ngược lại với nguyên lí tự do kinh tế và xã hội

và sự thành công của mỗi cá nhân khi giao thương với một người mà anh ta mong muốn cũng như sự thịnh vượng của cả đất nước khi mở rộng qui mô thương mại; và Công ty Accra Brewery đã mất một nguồn thu nhập đáng kể vì hậu quả từ hoạt động của Guinness

Thẩm phán đã bác bỏ lập luận của công ty Accra Brewery và đưa ra phán quyết như sau: Không có bằng chứng nào cho thấy Guinness muốn tạo ra độc quyền;

Không có bằng chứng nào cho thấy Guinness thông qua các hành vi của họ đang có

ý định ngăn chặn khách hàng mua các sản phẩm tương tự nhưng có giá rẻ hơn ở bất

cứ đâu Bởi vì các sản phẩm này có giá bán giống nhau đã được xác định thông qua thỏa thuận giữa các nhà sản xuất; và khách hàng được tự do lựa chọn bất kì đại lí bán nào mà họ có thể mua sản phẩm được từ đó;

Không có bằng chứng nào cho thấy thị phần của Guinness tăng lên nhờ thỏa thuận này; và

Không có bằng chứng nào chứng tỏ rằng lợi ích công cộng bị tác động do kết quả từ thỏa thuận của Guinness với các nhà bán lẻ được lựa chọn bởi vì người tiêu dùng vẫn

Trang 37

37

có một sự lựa chọn

Nguồn: Aryeetey & Ahene (2006), Ghana, Các thể chế cạnh tranh trên thế giới, CUTS

4.5.3 Bán kèm

Bán kèm là hành vi ép khách hàng phải mua kèm hàng hóa khác thì mới mua được hàng hóa

mà anh ta muốn mua Một số thỏa thuận bán kèm, đặc biệt là trong các hợp đồng, trước đây thường được coi là các hành vi phản cạnh tranh, khi mà trong gói hàng hóa bán kèm đó bao gồm một hoặc một số hàng hóa là mặt hàng chủ lực của các doanh nghiệp khác và như vậy theo đó gói hàng hóa này có thể gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này Cũng có thể thấy rằng khi mà một doanh nghiệp tiến hành hành vi bán kèm có thị phần lớn và điều này có thể gây tác động xấu tới các doanh nghiệp chỉ bán một loại hàng hóa Hành vi bán kèm được miễn trừ khi mục tiêu là tối đa hóa tổng lợi ích của sản phẩm trong một vài trường hợp Nếu như hàng hóa chính sẽ phát huy lợi ích tốt hơn với sản phẩm bán kèm hơn là với các sản phẩm khác, nhà sản xuất có thể bán kèm các sản phẩm này để tránh các vấn đề về chất lượng có thể dẫn tới các vụ kiện đối với sản phẩm hay làm giảm danh tiếng của doanh nghiệp Hành vi bán kèm cũng có thể được sử dụng cùng hoặc thay thế cho các quyền sở hữu trí tuệ để giúp bảo vệ sự tham gia thị trường của doanh nghiệp thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Hành vi bán kèm thường được nhà cung cấp tiến hành với một sản phẩm thiết yếu với nhiều khách hàng Người ta cho rằng bằng cách đe dọa sẽ không bán sản phẩm chính nếu khách hàng không mua các sản phẩm khác, nhờ cách này nhà cung cấp có thể tăng được doanh số bán của các sản phẩm phụ khác

Hộp 12: Bán kèm bếp ga cùng với ống dẫn ga

Ở bất kì các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung nào, một số hàng hóa và dịch vụ luôn trong tình trạng thiếu nguồn cung điều này dẫn tới tình trạng lạm dụng và bảo trợ về mặt chính trị Các doanh nghiệp đã lợi dụng tình hình này thông qua các hành vi hạn chế cạnh tranh như hành vi bán kèm Trường hợp của doanh nghiệp gas Shyam khi doanh nghiệp này bị triệu tập lên trước Ủy ban về các hành vi hạn chế thương mại và vấn đề độc quyền (MRTPC) là một ví dụ Doanh nghiệp Shyam Gas nhà phân phối duy nhất các bình chứa gas dân dụng tại Hathras (Uttar Pradesh) của Tổng doanh nghiệp xăng dầu Bharat bị cho là đã tiến hành các hành vi hạn chế cạnh tranh sau:

Chỉ bán ống dẫn gas khi khách hàng mua một bếp gas hoặc một đĩa khuyếch nhiệt của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp chị em của doanh nghiệp là doanh nghiệp Shyam Jyoti; và

Đòi khách hàng trả gấp đôi giá thị trường cho việc cung cấp các thiết bị và dụng cụ

Trang 38

Doanh nghiệp này cũng bị buộc phải viết lên bảng thông báo của họ rằng khách hàng có thể

tự do mua bếp gas và đĩa khuyếch nhiệt ở bất kì đâu họ muốn và việc bán ống dẫn gas sẽ không bị từ chối hoặc trì hoãn nếu như khách hàng không mua bếp gas hoặc đĩa hâm nóng của doanh nghiệp này hoặc doanh nghiệp chị em của họ Lệnh này cũng thiết lập một nền tảng cho việc yêu cầu tất cả các đại lí bán gas hóa lỏng phải đưa ra thông báo tương tự trong cửa hàng của họ

Nguồn: Điều tiết thương mại độc quyền và Bảo vệ người tiêu dùng, D P S Verma, 1985

Một số vụ kiện chống độc quyền nổi tiếng gần đây đối với tập đoàn Microsoft tại Mỹ và Liên minh Châu Âu theo đó tập đoàn khổng lồ về phần mềm này đã bị cáo buộc là thực hiện hành

vi bán kèm cùng với hệ điều hành Microsoft Window 2 sản phẩm độc lập khác là trình duyệt Internet Explorer và phần mềm Windows Media Player Microsoft cho rằng trình duyệt web

và phần mềm nghe nhạc này đơn giản là một phần của hệ điều hành (và có trong tất cả mọi hệ điều hành máy tính cá nhân khác) Ngay cả việc xác định một chiếc ôtô cũng chuyển sang bao gồm cả những thứ thường là các sản phẩm bán riêng lẻ như công tơ mét và đài, việc xác định một hệ điều hành cũng bao gồm cả những sản phẩm mà trước đây là sản phẩm được bán riêng Tuy nhiên, phán quyết của tòa án Mỹ là một ví dụ đã bác bỏ lời bào chữa của Microsoft rằng trình duyệt Internet Explorer chỉ là một phần của hệ điều hành Cùng lúc đó tòa án cũng tuyên bố rằng việc bán kèm trình duyệt Internet Explorer với hệ điều hành

Microsoft Windows sẽ được xem xét theo nguyên tắc có lí chứ không phải nguyên tắc per se

bất hợp pháp.46

Hộp 13: Các hành vi bán kèm trên thị trường Việt Nam

Năm 2002, khi nhu cầu về xe máy nhãn hiệu “Wave @” tại Việt Nam tăng cao thì hành vi bán kèm đã xảy ra ở rất nhiều cửa hàng theo cách xe máy được bán kèm với một mũ bảo hiểm Trong nhiều trường hợp, đặc biệt ở bộ máy kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi cầu vượt quá cung thì hành vi bán kèm thường rất phổ biến

Vào giữa tháng 3 năm 2004 doanh nghiệp thông tin viễn thông tại thành phố Hồ Chí Minh (Netsoft) bắt buộc tất cả các đại lí của họ tại thành phố Hồ Chí Minh phải kí một hợp đồng theo điều kiện mỗi đại lý Internet phải đăng kí bán thẻ Internet trả trước ngoài các dịch vụ khác mà họ muốn đăng kí và doanh số bán loại thẻ này phải đạt ít nhất 400,000 VNĐ một tháng

Nguồn: 1 http://vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2002/02/3B9B9479/

2 Trịnh Thị Thanh Thúy (2004), Cơ sở khoa học cho việc xác định mức độ các thỏa

Trang 39

39

thuận hạn chế cạnh tranh và các yếu tố miễn trừ trong Luật Cạnh tranh, báo cáo hội nghị,

Bộ thương mại, Dự án nghiên cứu 2003-78-009

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam không có qui định nào về việc cấm hành vi bán kèm một cách cụ thể Tuy nhiên trong luật có qui định về cấm “thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng”47 khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên Nghị định 116/2005 giải thích thêm về điểm này tại khoản 1a) của điều 18 Tuy nhiên, điều khoản này chỉ đề cập tới khía cạnh bất hợp pháp của hành động áp đặt các đại lí bán hoặc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ không liên quan trực tiếp tới đối tượng của hợp đồng bán

4.6 Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường

Thuật ngữ “lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường” đề cập tới các hành vi thương mại hạn chế cạnh tranh mà một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường có thể tiến hành để duy trì hoặc để tăng vị trí thống lĩnh của mình trên thị trường Những hành vi này không còn nghi ngờ gì có thể được coi là các hành vi lạm dụng việc kiểt soát độc quyền một thị trường nhằm hạn chế cạnh tranh

Thuật ngữ “lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường” được qui định rõ ràng trong Luật Cạnh tranh của một số nước như Canada, Liên minh Châu Âu và Đức Tại Mỹ, các điều khoản giống như vậy có thể là các điều khoản giải quyết vấn đề độc quyền và các nỗ lực độc quyền hóa một thị trường Những loại hành vi thương mại nào được coi là hành vi lạm dụng sẽ thay đổi trên cơ sở từng trường hợp cụ thể và trên phạm vi các quốc gia Nhìn chung, các hành vi thương mại đã được tranh luận bao gồm các hành vi sau:

Phân biệt về giá cả;

Ép giá;

Ép giá bởi các doanh nghiệp trong cùng một thỏa thuận;

Thỏa thuận tẩy chay các doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;

và thỏa thuận hạn chế các doanh nghiệp không phải là bên tham gia thỏa thuận Tuy nhiên trong phần này sẽ tập trung hơn nữa vào khía cạnh “tiến hành một cách đơn phương” của các hành vi này

Trang 40

40

Ngoài ra, như đã đề cập ở các phần trước, tác động phản cạnh tranh của một vài thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường bị xử lí hết sức nghiêm khắc khi có một mức độ cụ thể sức mạnh thị trường giữa trong số các doanh nghiệp của một thỏa thuận Cũng tương tự như vậy, ở phần này, các hành vi chính trước khi xem xét về tác động hạn chế của chúng tới cạnh tranh

cơ quan quản lý cạnh tranh cần thẩm định xem liệu các doanh nghiệp này có nắm giữ vị trí thống lĩnh thống lĩnh thị trường hay vị trí độc quyền hay không

Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hay vị trí độc quyền, như đã được đề cập ở phần trước,

bị cấm theo Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam tại điều 11-12 theo đó đã liệt kê một danh sách dài (mặc dù chưa đề cập một cách thấu đáo cần thiết) vài hành vi của các doanh nghiệp

có vị trí thống lĩnh thị trường có thể vi phạm Luật Cạnh tranh Một điểm quan trọng là những điều khoản cấm này không có phần miễn trừ như phần các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Có

lẽ bởi vì các doanh nghiệp hay nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hay có vị trí độc quyền, được xác định theo Luật Cạnh tranh, có ít nhất 30% thị phần kết hợp trên thị trường liên quan đã bước qua ngưỡng “bến an toàn” theo Luật Cạnh tranh nên do đó có thể

có khả năng hạn chế cạnh tranh

Điều 117 Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam đã đưa ra một phạm vi rộng các biện pháp chế tài áp dụng trong trường hợp phát hiện ra việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bao gồm phạt tiền, cải chính công khai, cơ cấu lại doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, v.v…Ngoài ra chính phủ Việt Nam còn đưa ra những qui định khác về vấn đề này trong Nghị định số 120/2005/ND-CP về việc giải quyết các vi phạm về cạnh tranh

4.6.1 Phân biệt về giá cả

Phân biệt về giá cả là hành vi áp dụng các điều kiện khác nhau, giá cả khác nhau thông thường cho các giao dịch tương đương Một ví dụ đơn giản là việc áp dụng các mức giá khác nhau đối với các khách hàng khác nhau, cho cùng một loại hàng hóa giống nhau mà giá cả không phản ánh được số lượng, chất lượng hay bất kì một thuộc tính nào khác của sản phẩm

Hộp 14: Doanh nghiệp địa phương đối đầu với doanh nghiệp Sasol

Cơ quan giám sát cạnh tranh của Nam Phi gần đây đã giúp các doanh nghiệp địa phương có được chiến thắng lớn trước công ty dầu lửa quốc tế Sasol

Vào ngày 1 tháng 4 năm 2005, Tòa án cạnh tranh của Nam Phi cho rằng Sasol - một tập đoàn đa quốc gia có trụ sở tại Johannesburg chuyên chuyển hóa than thành các sản phẩm khí đốt hóa lỏng như xăng, dầu, và các loại dầu đốt – đã có hành vi phân biệt về giá phạm pháp, theo một khiếu nại của một doanh nghiệp nhỏ có tên là Nationalwide Poles

Nationalwide đã khiếu nại lên Ủy ban Cạnh tranh từ trước Theo một cuộc điều tra, Ủy ban

đã kết luận rằng không có bằng chứng nào cho thấy có sự phân biệt về giá cả một cách phạm pháp Sau đó Nationalwide đã khiếu nại lên Tòa án

Nationalwide Poles mua creozot, một chất hóa học xử lí gỗ từ Sasol Doanh nghiệp này cho

Ngày đăng: 13/05/2016, 20:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển cơ chế đối với các thể chế - CẨM NANG VỀ LUẬT CẠNH TRANH VIÊT NAM
Bảng 1 Các giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển cơ chế đối với các thể chế (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w