1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG

170 426 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó, MUTRAP III tập trung vào 5 lĩnh vực chủ chốt sau: i Tăng cường năng lực của Bộ Công Thương trong việc điều phối và thực hiện các cam kết WTO, kể cả trong các lĩnh vực chuy

Trang 1

Tầng 9, Tòa nhà Minexport, 28 Bà Triệu, Hà Nội, Việt Nam

Tel: 04 62702158 Fax: 04 62702138

Email: mutrap@mutrap.org.vn ; Website: www.mutrap.org.vn

BÁO CÁO CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG

MÃ HOẠT ĐỘNG: SERV-2

Chuyên gia: Thomas Hart

Phan Tâm Trần Tuấn Anh Phạm Mạnh Lâm

Báo cáo này được lập với sự hỗ trợ tài chính của Liên minh châu Âu Những quan điểm trình bày trong báo cáo này là quan điểm của các tác giả, không phải ý kiến chính thức của Liên minh châu Âu hay Bộ Công Thương

Trang 2

2

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 6

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT 8

1 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU BÁO CÁO 10

Bối cảnh Dự án 10

Mục tiêu và Cấu trúc Báo cáo 11

Cách tiếp cận 13

Tại sao phải có “chính sách viễn thông” - Cơ sở lý luận của sự can thiệp 15

2 CHƯƠNG 2: THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG 18

VÀ THÁCH THỨC 18

Hiện trạng quản lý 18

So sánh về thể chế, mục tiêu và chính sách quản lý giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam 20

So sánh thể chế quản lý viễn thông ở EU và Việt Nam 22

So sánh mục tiêu quản lý ở Việt Nam và EU 26

So sánh chính sách quản lý viễn thông giữa EU và Việt Nam 27

So sánh cơ sở lý luận và chính sách quản lý viễn thông 27

So sánh tiếp cận thị trường 27

So sánh về kết nối mạng 28

Quản lý giá cước viễn thông 29

So sánh dịch vụ phổ cập ở EU và Việt Nam 29

Phát triển thị trường viễn thông tại Việt Nam 30

Dịch vụ điện thoại cố định 31

Dịch vụ điện thoại di động 33

Internet 35

Những thách thức về quản lý và thị trường của Việt Nam 38

Trang 3

3 CHƯƠNG 3: CÁC KHÁI NIỆM QUẢN LÝ ĐỂ CỦNG CỐ CẠNH TRANH 39

3.1 CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH 39

Cách tiếp cận của EU về chính sách cạnh tranh chung 39

Định nghĩa thị trường và định nghĩa thị trường liên quan 41

Thị trường sản phẩm 42

Thị trường địa lý 45

Kết luận 45

Vị trí thống lĩnh thị trường 47

Lạm dụng sức mạnh thị trường 48

Các dạng thức chung của hành vi hạn chế cạnh tranh 50

3.2 KHUÔN KHỔ QUẢN LÝ CỦA EU ĐỐI VỚI LIÊN LẠC ĐIỆN TỬ 50

Các chính sách quản lý trong giai đoạn độc quyền (trước năm 1998) 51

Chính sách quản lý trong giai đoạn cạnh tranh một phần (Khuôn khổ quản lý năm 1998) 53

Chính sách quản lý trong giai đoạn cạnh tranh đầy đủ (Khuôn khổ quản lý năm 2002) và cuộc rà soát 2007 57

3.3 CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ GIẢI PHÁP 59

Nhiệm vụ của cơ quan quản lý 59

Hành vi hạn chế cạnh tranh 60

Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường 61

Từ chối cung cấp 64

Ép giá chiều dọc (Vertical Price Squeeze) 65

Bù giá chéo 68

Lợi dụng thông tin 69

Khóa chặt khách hàng 70

Định giá thôn tính hay loại bỏ đối thủ (Exclusionary or predatory pricing) 72

Bán có điều kiện và bán trọn gói (Tying and Bundling) 75

Trang 4

4

4 CHƯƠNG 4: CƠ QUAN QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH VÀ QUAN HỆ 77

VỚI CƠ QUAN QUẢN LÝ CẠNH TRANH 77

Xác định sự tương tác giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý chuyên ngành 79

Mối quan hệ giữa quản lý chuyên ngành và quản lý cạnh tranh chung trong EU 85

Các vấn đề quá độ 86

Tình huống ví dụ: Hợp tác giữa Cơ quan quản lý chuyên ngành (BNetzA) và Cơ quan quản lý cạnh tranh (BKartA) ở Đức 88

5 CHƯƠNG 5: CÁC KHÁI NIỆM QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH 90

5.1 CÁCH THỨC ĐỊNH NGHĨA THỊ TRƯỜNG, ĐÁNH GIÁ SỨC MẠNH THỊ TRƯỜNG ĐÁNG KỂ VÀ CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ BẤT ĐỐI XỨNG 90

Đánh giá vị trí thống lĩnh thị trường ở Việt Nam 92

Định nghĩa thị trường 94

Đánh giá sức mạnh thị trường đáng kể 102

Các tiêu chí đánh giá theo thị phần và không theo thị phần 102

Nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường 104

Tóm lược 105

Định nghĩa thị trường 106

Sức mạnh thị trường đáng kể 106

Các biện pháp quản lý bất đối xứng ở EU 106

5.2 CÁCH THỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ VÀ QUẢN LÝ GIÁ CƯỚC 107

Mục tiêu thống kê liên quan đến quan sát thị trường 108

Mục tiêu quản lý 111

5.3 CÁCH THỨC CHUYỂN MẠNG GIỮ SỐ 115

6 CHƯƠNG 6: NHỮNG THÁCH THỨC CỤ THỂ CỦA HỘI TỤ 121

Phạm vi của khuôn khổ quản lý EU 126

Những thách thức trong việc định nghĩa thị trường 127

Trang 5

Quyền tiếp cận cho các nhà cung ứng nội dung 128

Khái niệm 128

Những thay đổi về quản lý do tiếp cận thế hệ mới (NGA) 131

Ví dụ: Sự hội tụ di động-cố định 133

Ví dụ: Quản lý VoIP 135

7 CHƯƠNG 7: TÓM LƯỢC VÀ KHUYẾN NGHỊ 144

Những đề xuất về chính sách cơ bản 145

Xúc tiến đầu tư và đổi mới 145

Tư nhân hóa để thúc đẩy cạnh tranh 145

Thể chế quản lý 146

Xem xét, đánh giá và điều chỉnh thường xuyên 147

Các khuyến nghị cụ thể về hoạt động quản lý 148

Chính sách cạnh tranh chung 148

Chính sách cạnh tranh chuyên ngành 149

Các hành vi hạn chế cạnh tranh và giải pháp 150

Thiết kế tương tác giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý chuyên ngành 151

Cách thức Định nghĩa thị trường và Đánh giá sức mạnh thị trường đáng kể 152

Cách thức kế toán, định hướng chi phí và phê duyệt giá 153

Cách thức chuyển mạng giữ số 154

Sự hội tụ 155

Quản lý VoIP 156

KẾT LUẬN 158

PHỤ LỤC 159

Trang 6

6

LỜI NÓI ĐẦU

Báo cáo “Các phương pháp quản lý hành vi hạn chế cạnh tranh trong viễn thông” là một báo cáo chuyên sâu tổng hợp và phân tích kinh nghiệm quốc tế về quản lý các hành vi cạnh tranh trong viễn thông cho thị trường viễn thông Việt Nam Từ phân tích đánh giá quá trình phát triển của thị trường viễn thông Việt Nam có những nét tương đồng so với thị trường viễn thông

EU, báo cáo đã tập trung giới thiệu chi tiết kinh nghiệm của EU Báo cáo không chỉ giới thiệu

và phân tích cơ sở lý luận của việc xây dựng chính sách quản lý mà còn các phương pháp và công cụ quản lý cụ thể như xác định doanh nghiệp giữ vị trí thống lĩnh thị trường (SMP), quản

lý giá cước, quản lý kết nối, Báo cáo đặc biệt có giá trị với việc xác định một số bất cập trong quản lý thị trường viễn thông Việt Nam hiện nay và việc đưa ra khuyến nghị về cách thức thực tiễn giải quyết nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, thúc đẩy cạnh tranh Báo cáo cũng chia sẻ kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan quản lý cạnh tranh chuyên ngành và

cơ quan quản lý cạnh tranh chung Điều đáng nói là các đề xuất/khuyến nghị không chỉ dựa trên các kinh nghiệm quốc tế đơn thuần mà có tính đến điều kiện kinh tế, hành chính và chính trị của Việt Nam Chính vì vậy, giá trị thực tiễn của Báo cáo là khá cao Bên cạnh việc trình bày các thành tố cơ bản của hệ thống quản lý cạnh tranh trong viễn thông, Báo cáo cũng đề cập đến những thách thức quản lý cạnh tranh do sự hội tụ và ứng dụng công nghệ mới: Cung cấp truy nhập với mạng thế hệ mới (Next Generation Access Provision), Hội tụ di động-cố định (Fixed-Mobile Convergence) và Thoại qua giao thức Internet (VoIP)

Chủ động, mạnh dạn áp dụng các kinh nghiệm quốc tế tiên tiến trong hoạt động quản lý nhà nước và tổ chức sản xuất kinh doanh là một trong những bài học thành công của ngành thông tin truyền thông qua các giai đoạn hiện đại hoá, tăng tốc, hội nhập và phát triển Hiện nay, ngành thông tin truyền thông Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với việc bắt đầu triển khai đề án sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đề án là xây dựng một cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia rộng khắp và hiện đại, có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội và công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Một thị trường viễn thông và công nghệ thông tin cạnh tranh lành mạnh, phát triển năng động với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế sẽ cho phép huy động nhiều nguồn lực của xã hội cả trong và ngoài nước, khuyến khích sự năng động

và sáng tạo trong việc thực hiện mục tiêu nêu trên

Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy đầu tư và cạnh tranh, ngành thông tin và truyền thông cũng đang nỗ lực củng cố tổ chức và nâng cao năng lực thực thi của cơ quan quản lý viễn thông – cơ quan đảm bảo các điều kiện hoạt động bình đẳng cho các doanh nghiệp viễn thông thuộc nhiều thành phần kinh tế Đây chính là cơ quan có trách nhiệm ngăn ngừa và xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh trong viễn thông Những nguyên tắc, mô hình, giải pháp quản lý tiên tiến được quốc tế đúc kết chắc chắn sẽ rất hữu ích cho cơ quan quản lý viễn thông Việt Nam bắt kịp tư duy quản lý hiện đại, đáp ứng được kỳ vọng của các doanh nghiệp viễn thông và thách thức quản lý trong kỷ nguyên hội tụ công nghệ và dịch vụ Với ý nghĩa như vậy, Báo cáo “Các phương pháp quản lý hành vi hạn chế cạnh tranh trong viễn thông” thực sự là một tài liệu nghiên cứu bổ ích cho các nhà quản lý viễn thông trong nỗ lực

Trang 7

tìm kiếm biện pháp đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Các doanh nghiệp viễn thông cũng rất nên đọc Báo cáo để hợp tác tốt với cơ quan quản lý viễn thông Cuối cùng Báo cáo cũng là tài liệu tham khảo tốt cho tất cả những ai quan tâm đến cải cách và mở cửa thị trường viễn thông

Ban Đặc trách Dự án Hỗ trợ thương mại đa biên (EU-Viet Nam MUTRAP III) xin trân trọng giới thiệu Báo cáo nghiên cứu đến bạn đọc

GIÁM ĐỐC DỰ ÁN

Nguyễn Thị Hoàng Thúy

Trang 8

8

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

 “Annex xxx”

Tài liệu trong Phụ lục của Báo cáo Tên đầy

đủ của tài liệu được nêu trong bảng “Các tài liệu thuộc Phụ lục” ở cuối mỗi phần hoặc chương

châu Âu ( trước năm 2010: ERG)

một nhà khai thác đường dây hữu tuyến lắp đặt đường truyền tốc độ cao tới địa điểm của khách hàng (ví dụ như lắp đặt thiết bị ADSL trong mạng lưới truy cập nội hạt), sau đó cung cấp đường truyền này cho các bên thứ

ba để họ cung cấp dịch vụ tốc độ cao cho khách hàng Phương thức này không đòi hỏi bên thứ ba phải có truy cập tới đôi cáp đồng (cooper pair) của mạch vòng nội hạt (local loop)1

tập trung: Một thiết bị mạng, thường lắp đặt tại văn phòng trung tâm điện thoại của công

ty, nhận và tập hợp tín hiệu từ nhiều kết nối đường dây thuê bao số (DSL) của khách hàng bằng kỹ thuật ghép kênh, sau đó chuyển tín hiệu qua một đường trục tốc độ cao Tùy thuộc vào loại sản phẩm, bộ ghép kênh DSLAM sẽ kết nối các đường dây DSL kết hợp với phương thức truyền dẫn không đồng

bộ (ATM), chuyển tiếp khung (frame relay), hay các mạng giao thức Internet khác DSLAM cho phép một công ty điện thoại cung cấp cho người sử dụng doanh nghiệp hoặc cá nhân dịch vụ công nghệ sử dụng đường dây điện thoại nhanh nhất (DSL) với công nghệ mạng đường trục nhanh nhất (ATM)2

hiện nhận dạng chung cho tất cả các hệ thống liên lạc

( kể từ năm 2010: BEREC)

Trang 9

NRA Cơ quan quản lý chuyên ngành quốc gia

theo đó mức giá tối đa cho kỳ kế tiếp là RPI -

X, với X là mức giảm giá quy định

bang Đức

Trang 10

tự do song phương và khu vực; thực hiện các cam kết hội nhập và chính sách cạnh tranh Bộ Công Thương cần được tăng cường năng lực phân tích và nghiên cứu để quản lý và tham gia đồng thời nhiều nội dung đàm phán trong Chương trình nghị sự phát triển Đô-ha của WTO cũng như số lượng ngày càng gia tăng các thỏa thuận thương mại song phương và khu vực MUTRAP III kế thừa một cách liên tục từ MUTRAP II và MUTRAP I MUTRAP I đã khởi động nhiều nghiên cứu mang tính nền tảng liên quan đến WTO, như các nghiên cứu toàn diện

về sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp trong bối cảnh WTO, các phương thức cắt giảm thuế quan; ngoại trừ Tối huệ quốc (MFN) trong tự do hóa dịch vụ và đầu tư; đàm phán về các cơ chế hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông sản; thực hiện Hiệp định về các Biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) và Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) MUTRAP II tăng cường năng lực của Chính phủ Việt Nam và các bên có liên quan của Việt Nam trong việc quản lý hội nhập WTO và thực hiện sớm các nghĩa vụ và cam kết, đối phó với những thách thức phát sinh từ các hiệp định thương mại quốc tế và khu vực mà Việt Nam đã tham gia

Trên cơ sở đó, MUTRAP III tập trung vào 5 lĩnh vực chủ chốt sau:

i) Tăng cường năng lực của Bộ Công Thương trong việc điều phối và thực hiện các cam

kết WTO, kể cả trong các lĩnh vực chuyên ngành;

ii) Tăng cường khả năng điều phối của Bộ Công Thương đối với khu vực tư nhân, các viện

nghiên cứu, cơ sở đào tạo để phát triển một chiến lược hội nhập thương mại nhất quán, bền vững về môi trường và xã hội;

iii) Tăng cường năng lực của Bộ Công Thương để đàm phán và điều phối hiệu quả các thỏa

thuận khu vực liên quan đến thương mại như AFTA, đối thoại giữa ASEAN với các đối tác ngoài khối và tham gia đàm phán FTA với các đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam bao gồm EU;

iv) Tăng cường thuận lợi hóa thương mại dịch vụ thông qua cải thiện khả năng điều phối

thống kê và phân tích;

v) Tăng cường năng lực cho các bên liên quan đến chính sách cạnh tranh để bảo vệ người

tiêu dùng và đảm bảo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp thông qua thực thi luật cạnh tranh mới

Hoạt động này là một trong số các hoạt động thuộc hợp phần 4 (mã SERV), kế hoạch hoạt động năm 2010 của MUTRAP nhằm hỗ trợ nâng cao vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam và hỗ trợ các nhà cung ứng dịch vụ, các nhà sản xuất công nghiệp và nông nghiệp của Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và nước ngoài

Hoạt động SERV-2 bổ sung cho SERV-1 và SERV-2A về đánh giá khả năng cạnh tranh của các dịch vụ chủ chốt trong nước để giúp các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp định hướng cho sự phát triển của khu vực dịch vụ đến năm 2020 SERV-2 nhằm đánh giá khả năng cạnh tranh của hai lĩnh vực dịch vụ trong nước: dịch vụ liên lạc (hay viễn thông) bao gồm tất

Trang 11

cả các phân ngành liên quan trong Danh mục của Liên hợp quốc và các dịch vụ tài chính Về dịch vụ liên lạc, Báo cáo nhằm:

 Phân tích các hoạt động xúc tiến và thông tin của các công ty viễn thông nhằm xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, mối quan hệ giữa quản lý cạnh tranh trong viễn thông và quản

lý cạnh tranh nói chung;

 Xác định các hành động để tăng cường khả năng cạnh tranh và sự công bằng trong xúc tiến

và thông tin trong viễn thông

Mục tiêu và Cấu trúc Báo cáo

Báo cáo này được lập để làm tài liệu tham khảo cho việc phát triển một hệ thống quản lý, theo dõi và giám sát các dịch vụ liên lạc điện tử ở Việt Nam Báo cáo tập trung vào những giải pháp

để giải quyết hay ngăn ngừa hành vi hạn chế cạnh tranh của các nhà khai thác mạng và các nhà cung ứng dịch vụ Nhằm đưa ra khuyến nghị cho cơ quan quản lý chuyên ngành, Báo cáo đề cập đến những giải pháp chủ yếu là công cụ quản lý dự kiến (ex ante), chứ không phải là công

cụ xử lý (ex post) sau khi vi phạm đã xảy ra và thường do cơ quan quản lý cạnh tranh chủ trì Vấn đề phân công trách nhiệm giữa cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ quan quản lý cạnh tranh cũng sẽ được đề cập trong Báo cáo

Báo cáo đã tham khảo kinh nghiệm của EU, cụ thể là sẽ giới thiệu khuôn khổ, lịch sử quản lý của EU, chỉ ra hướng phát triển của lĩnh vực liên lạc điện tử châu Âu từ các dịch vụ điện thoại hoàn toàn do nhà nước quản lý đến một môi trường cạnh tranh với sự can thiệp tối thiểu, thông qua quá trình tư nhân hóa và tự do hóa Một số kinh nghiệm cụ thể của EU có thể coi là thông

lệ tốt và vận dụng được ở bất cứ nơi nào, trong bất cứ môi trường quản lý nào trong khi việc áp dụng một số kinh nghiệm khác thì còn tùy thuộc vào bối cảnh quốc gia Do đó, Báo cáo sẽ đi sâu phân tích thực trạng của Việt Nam để đề xuất những công cụ quản lý phù hợp với điều kiện của Việt Nam

Cách tiếp cận chung của Báo cáo là tìm hiểu thực trạng của Việt Nam, xem xét áp dụng thông

lệ quốc tế tốt, tập trung tham khảo khuôn khổ chính sách của EU đối với liên lạc điện tử Báo cáo sẽ rà soát ngắn gọn hiện trạng thị trường viễn thông Việt Nam, lịch sử phát triển của Khuôn khổ quản lý và chỉ ra các lĩnh vực hay yếu tố không còn phù hợp với trình độ phát triển hay độ chín muồi của thị trường Việt Nam Trong các chương kế tiếp, Báo cáo sẽ mô tả Khuôn khổ quản lý của Việt Nam và chỉ ra những quy định phù hợp, không phù hợp với thông lệ quốc

tế, hay các quy định chưa đầy đủ, chưa rõ ràng, v.v cần được bổ sung, sửa đổi Tiếp đó, Báo cáo sẽ mô tả cơ sở lý luận của khuôn khổ chính sách cạnh tranh cho thị trường viễn thông, diễn giải chi tiết cách thức phát triển chính sách cạnh tranh ở EU và trình bày cơ sở lý luận (logic) cho sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường viễn thông, từ sự cần thiết phải có chính sách cạnh tranh chung để giải quyết những thất bại của thị trường cho đến khuôn khổ chính sách viễn thông với việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành

Mỗi chương sẽ bắt đầu với những khái niệm rất cơ bản về hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường viễn thông, cách thức phản ứng của khuôn khổ chính sách cạnh tranh và chính sách viễn thông Các công cụ đo lường và đánh giá của EU để giám sát và đánh giá hành vi của các doanh nghiệp trên cơ sở Khuôn khổ quản lý đã được thiết lập sẽ được giới thiệu Phần kế tiếp trong mỗi chương sẽ phân tích sâu hơn về các giải pháp quản lý cụ thể để giải quyết sự thất bại của thị trường trong các thị trường dịch vụ và mạng lưới

Trang 12

12

Một khía cạnh quan trọng trong giai đoạn ban đầu của việc thiết lập quản lý chuyên ngành là phân công nhiệm vụ giữa cơ quan quản lý cạnh tranh chung và cơ quan quản lý chuyên ngành Vấn đề này sẽ được đề cập trong một chương riêng Chương này cũng sẽ nêu những ví dụ về cách thức các khu vực khác đã vận dụng để phối hợp hai cơ quan này

Trên cơ sở kết luận về các hình thức hạn chế cạnh tranh điển hình trên thị trường viễn thông, chương kế tiếp sẽ mô tả các giải pháp và phương thức thực hiện quản lý, cụ thể là cách thức định nghĩa (hay xác định) thị trường liên quan, đánh giá vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường Chương này sẽ đề cập đến các phương thức tiếp cận về kế toán chi phí, mô hình hóa chi phí và phê chuẩn giá cước/phí Chuyển mạng giữ số cũng được

đề cập với ý nghĩa là một chủ đề thích hợp cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam Sau khi rà soát những yếu tố cơ bản điển hình của một hệ thống quản lý, chương cuối cùng trong Báo cáo sẽ xem xét những thách thức đối với quản lý do hiện tượng hội tụ Quản lý liên quan đến 3 chủ đề sau sẽ được tập trung xem xét: Cung cấp tiếp cận thế hệ mới (Next Generation Access Provision), Hội tụ di động-cố định (Fixed-Mobile Convergence) và Thoại qua giao thức Internet (VoIP)

Cuối cùng, Báo cáo sẽ đề ra những khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam Đây là những khuyến nghị hành động thực tiễn để cải thiện cạnh tranh và sự công bằng

về thông tin và xúc tiến trong lĩnh vực viễn thông Khuyến nghị tập trung vào các biện pháp tăng cường cạnh tranh trong Khuôn khổ quản lý hiện hành, nghĩa là thực thi các chính sách cạnh tranh và viễn thông của Việt Nam

Những khuyến nghị này không chỉ là thông lệ quốc tế tốt giới thiệu cho Việt Nam mà còn là những đề xuất đã tính đến điều kiện kinh tế, hành chính và chính trị của Việt Nam, nhằm hướng dẫn thực tiễn về các mục tiêu cần đặt ra và những bước đi kế tiếp cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam

Những khuyến nghị này nhằm giúp chính phủ Việt Nam:

 Thiết lập một hệ thống đảm bảo sự nhất quán giữa chính sách cạnh tranh và chính sách viễn thông;

 Ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường viễn thông;

 Cải thiện sân chơi cho các doanh nghiệp cung ứng các dịch vụ hội tụ hiện đại;

 Cải thiện chất lượng dịch vụ;

 Mở rộng sự lựa chọn cho người tiêu dùng;

 Giảm giá cước;

 Tăng cường cung ứng truy cập cho các địa bàn chưa được phục vụ đầy đủ, với mức giá chấp nhận được;

 Cải thiện tình hình cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường toàn cầu Cần lưu ý một số điều Báo cáo có thể và không thể mang lại:

 Báo cáo không thể hướng dẫn một cách chi tiết và toàn diện về việc thiết lập một hệ thống quản lý để giải quyết các hành vi hạn chế cạnh tranh Các công cụ và mô hình áp dụng bởi các cơ quan quản lý quốc tế đều rất phức tạp nên không thể vận dụng chỉ bằng cách bám sát các biểu kiểm tra và bắt chước thông lệ tốt Cơ quan quản lý cần bồi dưỡng chuyên môn sâu về thị trường, bao gồm các hệ thống theo dõi chi tiết để xác định độ co giãn về giá, hàm

số chi phí, v.v Điều này đòi hỏi thời gian, học hỏi và thực hành liên tục, nguồn lực dành riêng cho việc xây dựng năng lực

Trang 13

 Tuy nhiên, Báo cáo có thể chỉ ra những điểm mấu chốt từ góc độ một cơ quan quản lý muốn tìm cách triển khai một Khuôn khổ quản lý mới Theo yêu cầu của bên hưởng lợi của hoạt động Dự án, trọng tâm của Báo cáo không chỉ là đưa ra kiến thức khái quát về các chính sách và biện pháp quản lý mà còn cung cấp nhiều tài liệu cơ bản để đọc và nghiên cứu, giúp các bên liên quan trong chính phủ Việt Nam tiếp tục học tập các kinh nghiệm và phân tích quốc tế cho mục đích phát triển một hệ thống quản lý tinh vi và hiện đại hơn

Cách tiếp cận

Để đánh giá được những thách thức cụ thể mà cơ quan quản lý ở Việt Nam phải đối mặt, các chuyên gia đã tổ chức gặp mặt các bên liên quan trong suốt hoạt động này, coi đây là một phần quan trọng của việc nghiên cứu Điều này giúp tăng cường hiểu biết về bối cảnh chính trị và hành chính cho sự phát triển của thị trường Việt Nam, về mức độ đổi mới, chất lượng dịch vụ, khả năng cạnh tranh, v.v mà thị trường đã đạt được Quan trọng nhất là sự hỗ trợ của nhóm công tác đứng đầu là ông Phan Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam Nhóm công tác đã cung cấp thông tin về hiện trạng thị trường Việt Nam và những diễn biến trong công tác quản lý, tạo thuận lợi cho các chuyên gia gặp gỡ các bên liên quan trong chính phủ và phù hợp với mục đích nghiên cứu của Báo cáo

Trong chuyến đi khảo sát nghiên cứu ở Việt Nam, các chuyên gia đã được bố trí gặp gỡ các cơ quan như Bộ Công Thương, Cục Quản lý Cạnh tranh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đồng thời, các chuyên gia cũng thu thập được thông tin từ cộng đồng chuyên gia trong nước, đặc biệt từ các công ty luật quốc tế chuyên về thị trường viễn thông Việt Nam, qua đó có được những thông tin giá trị bên trong về các tranh luận hiện nay liên quan đến cải cách thị trường và cải cách quản lý Đặc biệt, việc gặp gỡ thường xuyên với các chuyên gia của công ty luật Baker & McKenzie giúp các tác giả của Báo cáo nắm bắt được ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp trong nước và quốc tế về hiện trạng của thị trường

Trước đây, Dự án MUTRAP đã công bố một số báo cáo có đề cập đến thị trường viễn thông Các báo cáo sau đây đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo:

Đồng thời, Báo cáo cũng tham khảo kết quả của Dự án Xã hội thông tin EU-Trung Quốc Dự

án này có hoạt động nghiên cứu tương tự trong giai đoạn 2005 đến 2009 nhằm hỗ trợ Trung Quốc phát triển Khuôn khổ quản lý Đặc biệt, các nội dung về sự phát triển của Khuôn khổ quản lý EU trong Báo cáo căn cứ vào Dự án nói trên, cụ thể là tài liệu: Bernd Holznagel, Xu

Jinqi, Thomas Hart, Quản lý viễn thông ở EU và Trung Quốc Những bài học nào cần rút ra?,

Berlin 2009

Phần quan trọng nhất trong hoạt động này là việc rà soát các văn bản của EU và các cơ quan quản lý quốc tế để làm tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác xây dựng năng lực cho các cơ quan quản lý của Việt Nam Trong số đó, tài liệu của Nhóm các Cơ quan quản lý châu Âu (ERG) và đơn vị kế thừa là Tổ chức các Cơ quan quản lý liên lạc điện tử châu Âu (BEREC) đặc biệt thích hợp Trong nỗ lực hợp tác nhằm tìm ra các tiêu chuẩn và cách tiếp cận chung cho các nước EU, các cơ quan này đề ra một cách tiếp cận rất hữu ích cho một nước muốn tìm kiếm những giải pháp thông lệ tốt, xác định sớm những thách thức sẽ phải đối mặt và sự hợp

Trang 14

về lý thuyết mà cả hướng dẫn thực tiễn kỹ thuật quản lý Bộ công cụ với nhiều tài nguyên khác

Trang 15

Tại sao phải có “chính sách viễn thông” - Cơ sở lý luận của sự can thiệp

Quá trình tự do hóa dịch vụ của Việt Nam theo cam kết trong các diễn đàn đa phương và khu vực, cộng với tự do hóa đơn phương đã tác động đáng kể đến toàn bộ nền kinh tế Một trong những mục tiêu của tự do hóa là làm tăng cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ bằng cách mở cửa cho nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường, mở rộng hạ tầng dịch vụ để gia tăng và nâng cấp những công cụ, lựa chọn cho nhà cung ứng dịch vụ và người tiêu dùng Rủi ro đi kèm là các nhà cung ứng dịch vụ trong nước sẽ bị đánh bại bởi các công ty nước ngoài cung cấp các dịch

vụ tương tự Mặc dù có xem xét đến rủi ro này, Báo cáo không nhằm đưa ra những lập luận hỗ trợ cho chính sách bảo hộ các ngành non trẻ Thay vào đó, Báo cáo nhằm đề xuất tạo dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài cung ứng các dịch vụ đổi mới

Ngày nay, “xã hội thông tin” trên mọi phương diện: công nghệ thông tin, chính phủ điện tử, quyền lực của người sử dụng, mạng lưới xã hội, dịch vụ viễn thông, nội dung do người sử dụng tạo ra, v.v đang được coi là một chủ đề đòi hỏi sự quan tâm của nhà nước Khả năng cạnh tranh quốc gia, khu vực, quyền công dân, phát triển xã hội và các nội dung chính sách khác đều đóng một vai trò nhất định trong đó

Chính sách viễn thông đã và đang được nhìn nhận trong một chương trình xã hội thông tin rộng lớn hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chính sách viễn thông tồn tại không chỉ vì những lý do lớn đằng sau mà còn vì viễn thông xứng đáng có những lý do của riêng nó, chẳng hạn việc giám sát thị trường để can thiệp khi cần thiết chủ yếu trên cơ sở những cân nhắc kinh tế Mối tương quan này có thể quan sát được qua cách EU thực thi chính sách viễn thông Từ những năm

1980, chính sách viễn thông ở EU đã phát triển như một lĩnh vực chính sách độc lập để giải quyết những vấn đề về cạnh tranh trên thị trường mạng thống lĩnh bởi các nhà cung ứng độc quyền nhà nước, kế đó dẫn dắt thị trường hướng tới cạnh tranh, tự do hóa và tư nhân hóa Sau này, chính sách viễn thông của EU được lồng ghép vào một khuôn khổ chính sách rộng lớn hơn gọi là “Chương trình i2010”, gần đây được thiết kế lại với tên gọi “Chương trình nghị sự

kỹ thuật số” Quản lý chỉ là một khía cạnh của chương trình này, cũng như xúc tiến đổi mới, bảo tồn di sản kỹ thuật số, xây dựng thị trường chung cho hàng hóa kỹ thuật số, v.v thay cho các mục tiêu không nhất quán dưới tiêu đề “xã hội thông tin”

Các yếu tố quản lý cần thiết để góp phần cho việc thực hiện thành công các nhiệm vụ này bao gồm:

 Cơ quan quản lý độc lập;

 Những sắp đặt về hạn chế cạnh tranh;

 Kết nối mạng;

 Các chương trình dịch vụ phổ cập;

 Sử dụng hiệu quả tài nguyên quý hiếm

Kết hợp với nhau, các yếu tố này đóng góp cho một hệ thống chính sách đa mục tiêu Sự can thiệp không nhất thiết vì lý do kinh tế (cho dù kinh tế thường là lý do chủ yếu) Báo cáo không

mô tả chi tiết nhưng vẫn nêu ra các lý do phi kinh tế dưới đây vì chúng cũng góp phần tạo ra khuôn khổ hành động và phạm vi nhiệm vụ của bất kỳ cơ quan quản lý nào:

 Giải quyết “sự thất bại của thị trường” thường thấy trong các thị trường mạng lưới do hiệu ứng mạng lưới, tính kinh tế theo quy mô và phạm vi, độc quyền tự nhiên, v.v ;

 Đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng được bảo vệ, chẳng hạn về chất lượng dịch vụ, điều kiện dịch vụ, đồng thời tạo thuận lợi cho đổi mới và mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ;

Trang 16

16

 Tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư vào dịch vụ viễn thông và hạ tầng viễn thông chất lượng cao, kể cả phục vụ các ngành khác trong nền kinh tế

 Bảo vệ cạnh tranh hiệu quả và ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh;

 Tối ưu hóa sử dụng các tài nguyên quý hiếm, bằng cách đưa các yếu tố cạnh tranh vào phân

bổ phổ tần số vô tuyến điện, cung cấp truy cập tới phương tiện thiết yếu cho các doanh nghiệp mới

Khi dịch vụ và mạng lưới viễn thông đã trở thành xương sống của ngành dịch vụ hiện đại, việc thiết lập môi trường quản lý càng trở nên cần thiết đối với toàn bộ nền kinh tế, vì liên lạc (hay viễn thông) không chỉ là một ngành năng động mà còn là một yếu tố quyết định đối với việc đầu tư và hiệu năng kinh tế của các ngành khác (kể cả chính phủ, y tế, giáo dục và các ngành phi thương mại khác trong nền kinh tế) Đặc biệt ở các nước đang phát triển và trong giai đoạn chuyển đổi quá độ, việc có hay không sử dụng một cách hệ thống Công nghệ Thông tin và Liên lạc (ICT) hiện đại quyết định đến sự tồn tại trong tương lai của một công ty Dữ liệu của Ngân hàng Thế giới chỉ ra vô vàn cơ hội để cải thiện năng suất:

Bảng 1.1 Tác động của ICT đối với doanh nghiệp ở các nước đang phát triển

không sử dụng ICT

Doanh nghiệp sử dụng ICT

Chênh lệch

Năng suất lao động (giá trị gia tăng trên

đầu người, USD)

Chú giải: n.a - không áp dụng

Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 2006, ICT4D = Xu hướng và Chính sách toàn cầu

Bảng trên cho thấy, dịch vụ viễn thông ảnh hưởng trực tiếp đến cung ứng các dịch vụ khác, từ

du lịch tới may mặc, hay các dịch vụ đầu vào như ngân hàng Ngoài các khía cạnh thương mại, viễn thông còn đóng góp nhiều và ngày càng tăng vào chất lượng cuộc sống Viễn thông kết nối mỗi người với các mạng lưới cá nhân và công việc, làm phong phú cuộc sống với nhiều lựa chọn giải trí và giáo dục, tạo điều kiện cho những người muốn linh hoạt về công việc thông qua các giải pháp như làm việc từ xa, làm việc ở nhà, tùy chọn địa điểm đặt văn phòng, chẳng hạn như văn phòng ở nhà

Trang 17

Hướng tới cạnh tranh không dễ nếu chỉ dựa vào các doanh nghiệp độc quyền nhà nước, đặc biệt ở các nước mà từ trước đến nay nhà nước vẫn có vai trò chủ đạo và nắm giữ kiểm soát đối với thị trường và nền kinh tế Củng cố cạnh tranh nghĩa là từ bỏ kiểm soát đối với thị trường ở mức độ đáng kể bởi cạnh tranh có xu hướng đem lại giải pháp tốt nhất cho các vấn đề Đây có

lẽ là bước đi khó khăn nhất trong cải cách quản lý: chính phủ phải tự bãi bỏ quyền kiểm soát của mình, đồng thời phải đảm bảo rằng tự do hóa không chỉ về hình thức mà còn là sự thay đổi sâu sắc về cơ chế Cơ chế phải thay đổi từ cung ứng dịch vụ theo chỉ đạo của nhà nước đến các quá trình do sự thúc đẩy của thị trường, thường vượt quá ảnh hưởng của nhà nước

(công cộng, nhóm người sử dụng, cá

nhân)

Tương tác

(tức thì & có độ trễ) Thoại

Dữ liệu

Âm thanh

Đồ họa Video

Mạng lưới phương tiện viễn thông

(Đường truyền thông tin tốc độ cao)

Trang 18

Hiện trạng quản lý

Thị trường dịch vụ viễn thông cơ bản của Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển kể từ năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách cải cách với tên gọi “Đổi mới” Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên vào viễn thông ở Việt Nam là Hợp đồng Hợp tác kinh doanh ký kết năm 1990 giữa Tổng cục Bưu chính Viễn thông và Tập đoàn Telstra của Úc (tiền thân là OTC)

Trước năm 1992, Bưu chính và Viễn thông là các lĩnh vực thuộc Bộ Giao thông vận tải Tháng 10/1992, Tổng cục Bưu chính Viễn thông được thành lập với vai trò là một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý và hoạch định chính sách về bưu chính và viễn thông

Năm 1995 đánh dấu sự xuất hiện của cạnh tranh trong viễn thông Hai công ty mới thuộc sở hữu nhà nước được thành lập là Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) và Công ty Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT) Tuy nhiên, cạnh tranh trong giai đoạn này vẫn còn rất hạn chế Năm 2003 đánh dấu giai đoạn kế tiếp với 6 nhà khai thác có hạ tầng mạng là VNPT, Viettel, EVN Telecom, SPT, Hanoi Telecom, Vishipel Giai đoạn này có sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ cuộc gọi nội hạt, đường dài và quốc tế (chỉ có 3 đơn vị được cấp phép dịch vụ điện thoại quốc tế là VNPT, Viettel và EVN Telecom (VP Telecom)) Về dịch vụ điện thoại di động, cạnh tranh đã bắt đầu giữa 5 đơn vị, bao gồm: VMS (Mobifone), Vinaphone, Viettel, SPT và Hanoi Telecom

Giai đoạn cuối cùng là từ khi Luật Viễn thông bắt đầu hiệu lực ngày 1/7/2010 cho đến nay Một số văn bản pháp lý để hoàn thiện Khuôn khổ quản lý đang được xây dựng như Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Viễn thông, hay Quyết định thành lập

cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông Văn bản sau rất cần thiết vì một số chức năng của

cơ quan quản lý chuyên ngành trong tương lai đã được quy định trong Luật Viễn thông, trong khi một số chức năng khác vẫn thuộc thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông Điều này ảnh hưởng lớn đến việc cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông sẽ được thành lập với tư cách đơn vị tham mưu, cơ quan bán độc lập hay độc lập

Luật Viễn thông và Luật Tần số vô tuyến điện

(http://mic.gov.vn/VBPL/vn/documentdetail/9784/index.mic) và Luật Tần số vô tuyến điện (http://mic.gov.vn/VBPL/vn/documentdetail/9785/index.mic) tháng 11/2009, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/7/2010 Luật Viễn thông quy định về hạ tầng viễn thông và các dịch vụ viễn thông, trong khi các dịch vụ ứng dụng và thương mại về hàng hóa viễn thông thuộc sự điều chỉnh của các luật và quy định khác

Luật Viễn thông mở cửa hơn nữa thị trường dịch vụ viễn thông cho các nhà đầu tư tư nhân trong nước Luật cũng hài hòa hóa các quy trình cấp chứng nhận đăng ký kinh doanh (theo

Trang 19

Luật Doanh nghiệp), quy trình cấp phép đầu tư (theo Luật Đầu tư) và quy trình cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông Luật quy định các doanh nghiệp được cấp giấy phép viễn thông phải nộp phí quyền hoạt động viễn thông theo tỷ lệ phần trăm doanh thu hàng năm hoặc nộp mức cố định theo quy định của Bộ Tài chính

Về phân bổ tài nguyên quý hiếm, Luật đã quy định các phương pháp “đăng ký trước được xét cấp trước”, thi tuyển và đấu giá, kể cả quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng tài nguyên quý hiếm Chính phủ có thể thu hồi giấy phép sử dụng tài nguyên quý hiếm vì một số lý do nhất định (chẳng hạn như thay đổi về kế hoạch sử dụng tài nguyên quý hiếm, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia) nhưng phải bồi thường cho người được cấp phép

Luật Viễn thông xác định Bộ Thông tin và Truyền thông là cơ quan có thẩm quyền quyết định thỏa thuận kết nối mạng giữa các nhà cung cấp phương tiện thiết yếu và các doanh nghiệp mới tham gia thị trường Nếu các bên không thể nhất trí với nhau, Bộ Thông tin và Truyền thông có quyền quyết định các điều kiện kết nối mạng Bộ Thông tin và Truyền thông cũng là cơ quan

có thẩm quyền quyết định việc sử dụng chung cơ sở hạ tầng thụ động để bảo đảm yêu cầu về cảnh quan, môi trường và quy hoạch đô thị; thẩm quyền quyết định các nghĩa vụ chia sẻ cơ sở

hạ tầng để cung ứng dịch vụ phổ cập

Luật Viễn thông quy định về việc thành lập một cơ quan quản lý viễn thông trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Chức năng hoạch định chính sách sẽ do Bộ đảm nhiệm và chức năng quản lý sẽ do cơ quan quản lý mới đảm nhiệm Trước khi Luật Viễn thông có hiệu lực, ngày 23/10/2009, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch phổ tần số vô tuyến điện quốc gia (http://mic.gov.vn/VBPL/vn/documentdetail/9752/index.mic) có hiệu lực thi hành từ ngày 15/12/2009 Quy hoạch này phân chia phổ tần số từ 0 kHz đến 1000 GHz thành các băng tần nhỏ dành cho các nghiệp vụ, quy định mục đích, điều kiện sử dụng cho mỗi băng tần Trên cơ

sở Quy hoạch này, Bộ Thông tin và Truyền thông đang tiến hành lấy ý kiến rộng rãi cho dự thảo Quy hoạch băng tần 2300- 2400MHz và 2500- 2690 MHz cho hệ thống thông tin di động Ngoài Luật Viễn thông là văn bản pháp lý chủ đạo, quy định cụ thể về quản lý thị trường được nêu trong các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm:

 Thông tư 22/2009/TT-BTTTT về quản lý thuê bao di động trả trước;

 Các Thông tư năm 2009 về việc ban hành cước kết nối cuộc gọi giữa các mạng;

 Thông tư 11/2010/TT-BTTTT quy định hoạt động khuyến mại đối với dịch vụ thông tin

di động

Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Viễn thông

Diễn biến gần đây nhất liên quan đến thực thi chính sách là tranh luận về “Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Viễn thông” Sau giai đoạn tham vấn với các bên có liên quan, Bộ Thông tin và Truyền thông dự kiến sẽ hoàn chỉnh Nghị định, gửi Bộ Tư pháp thẩm định và trình Văn phòng Chính phủ vào cuối năm 2010 Nghị định này hướng dẫn chi tiết nhiều nội dung không quy định cụ thể trong Luật Viễn thông

Quá trình tham vấn cho thấy các doanh nghiệp tham gia thị trường và các chuyên gia đang tranh cãi quyết liệt về một số điều khoản của dự thảo Nghị định, như hạn chế về sở hữu chéo (Điều 4), hạn chế sở hữu vốn nước ngoài (Điều 5) Quy định về sở hữu chỉ gián tiếp liên hệ đến mục đích của Báo cáo Hạn chế về sở hữu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển cạnh tranh trong ngành và thông thường là ảnh hưởng tiêu cực Tuy nhiên, Báo cáo chỉ chú trọng vào các nhiệm

vụ và công cụ quản lý của cơ quan quản lý chuyên ngành Hạn chế về sở hữu là quyết định ở

Trang 20

Tuy nhiên, Nghị định cũng có một số khía cạnh liên quan đến mục đích của Báo cáo Quy định

về thẩm quyền xét duyệt dự án bị chỉ trích là không rõ ràng và không hiệu quả trong việc phân công nhiệm vụ giữa cơ quan quản lý chuyên ngành và các Sở Thông tin và Truyền thông địa phương, gây trở ngại cho đầu tư vì thiếu cơ cấu xét duyệt dự án minh bạch Ngoài ra, các quy định phân công nhiệm vụ và quyền hạn không phù hợp với thông lệ quốc tế tốt, chẳng hạn như

Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm phê duyệt một số loại giá cước, chứ không phải

cơ quan quản lý chuyên ngành (Điều 29) Tương tự, Điều 6 dự thảo Nghị định bị coi là không

rõ ràng trong việc quy định cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết tranh chấp trong các vụ việc liên quan đến cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông hay các vụ việc liên quan đến các luật khác như Luật Đất đai (Điều 7).3

Ngoài ra, các yêu cầu cao về vốn và số lượng thuê bao đối với các doanh nghiệp mới có thể gây trở ngại cho việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp

Một số ý kiến về dự thảo Nghị định đã được cơ quan chủ trì xây dựng tiếp thu như sau:

 Thiếu quy định về chuyển mạng giữ số (Điều 22) Cơ quan chủ trì đã tuyên bố sẽ bổ sung quy định này trong dự thảo mới (Báo cáo có một chương riêng về thông lệ tốt liên quan đến chuyển mạng giữ số)

 Những ý kiến về quy định trong dự thảo nhằm hạn chế hành vi khuyến mại giảm giá của các nhà cung cấp dịch vụ buộc cơ quan chủ trì phải nỗ lực trong việc thiết lập các thủ tục quản lý giá và đánh giá chi phí tinh vi hơn Mức giá sàn 50% đối với khuyến mại giảm giá quy định trong Nghị định (Điều 27.8) bị coi là chủ quan, không có cơ sở, cho thấy việc thiếu một hệ thống kế toán để xác định chính xác chi phí cung ứng dịch vụ hiệu quả Điều này đòi hỏi điều chỉnh về cách thức thu thập thông tin thị trường của cơ quan quản lý Báo cáo sẽ đề cập đến nội dung này ở phần sau

 Tương tự về quy định quản lý giá (Điều 29) Điều khoản này chỉ hướng dẫn sơ sài về hình thức quản lý giá, thiếu ứng dụng các công cụ quản lý hiện đại cho mục đích phê duyệt giá

và đánh giá chi phí cung ứng

So sánh về thể chế, mục tiêu và chính sách quản lý giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam

Liên minh châu Âu và Việt Nam có những điểm chung về các giai đoạn phát triển, ý tưởng phát triển, mô hình, mục tiêu và chính sách quản lý viễn thông Tuy nhiên, trong quá trình củng

cố cạnh tranh, Việt Nam đã tụt hậu so với Liên minh châu Âu về phương thức và chính sách quản lý Vì thế, kinh nghiệm quản lý của EU rất đáng tham khảo, đặc biệt về thể chế và chính sách quản lý nhằm thúc đẩy cạnh tranh và hội nhập

3

Đặc biệt liên quan là mối quan hệ với Luật Cạnh tranh Chính sách cạnh tranh đã phát triển hơn nhiều so với chính sách viễn thông Luật Cạnh tranh được thông qua vào tháng 11/2004 và đi kèm bởi nhiều văn bản pháp lý khác liên quan đến thị trường viễn thông: Nghị định 116/2005/NĐ-CP ngày 15/09/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Cạnh tranh; Quyết định 39/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá cước dịch vụ bưu chính viễn thông; Quyết định 1622/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 29/10/2008 ban hành danh mục dịch vụ và doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp viễn thông chiếm thị phần khống chế

Trang 21

So sánh các giai đoạn phát triển và quản lý thị trường viễn thông ở EU và Việt Nam

Giai đoạn độc quyền trước năm 1995

Giai đoạn cạnh tranh

Từ năm 1995 - 2001: Cạnh tranh giới hạn/cục

bộ giữa 3 doanh nghiệp nhà nước trên thị trường dịch vụ viễn thông cơ bản Quản lý bởi Tổng cục Bưu chính Viễn thông

Từ năm 2001 - 1/7/2010: Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nước

Sau ngày 1/7/2010: dự kiến có sự tham gia và cạnh tranh nhiều hơn của khu vực tư nhân

EU Độc quyền nhà nước Tách biệt các chức năng

hành chính với quản lý doanh nghiệp, độc quyền nhà nước

Giai đoạn cạnh tranh cục bộ

Giai đoạn cạnh tranh toàn diện

Trong các giai đoạn đầu tự do hóa, EU bắt đầu chú ý đến việc phát triển viễn thông ở các nước thành viên Năm 1987, Ủy ban châu Âu công bố Báo cáo Xanh và bắt đầu quá trình tự do hóa

và tư nhân hóa thị trường viễn thông Trong suốt một thập kỷ kế tiếp, quá trình tư nhân hóa các tập đoàn viễn thông thuộc sở hữu nhà nước đã diễn ra

Năm 1995, Việt Nam cũng bắt đầu đưa các nhân tố cạnh tranh vào viễn thông bằng cách thành lập 2 công ty viễn thông mới là Viettel và Saigon Postel Khác với ở EU, các công ty này là doanh nghiệp nhà nước Quá trình chia tách và tái tổ chức cũng diễn ra ở Việt Nam nhưng đều trong nội bộ nhà nước Viễn thông Việt Nam vẫn thống lĩnh bởi các doanh nghiệp nhà nước Một sự khác biệt nữa giữa Việt Nam và EU là hầu hết các thị trường thành viên EU đã hội tụ với nhau; hoạt động kinh doanh viễn thông và truyền thông thường có một đội ngũ quản lý hỗn hợp Trái lại, ở Việt Nam, viễn thông và truyền thông là hai loại hình kinh doanh tách biệt rõ ràng và quản lý riêng biệt Sự hội tụ giữa 2 thị trường này khó xảy ra do ranh giới rõ ràng về thị trường và hành chính

Trong khi EU đã tư nhân hóa lĩnh vực dịch vụ viễn thông cơ bản sau khi đưa vào các nhân tố cạnh tranh, Việt Nam không hề mở cửa cho khu vực tư nhân Chỉ có một số doanh nghiệp bán

tư nhân (FPT, SPT) được phép tham gia hoạt động trong thị trường dịch vụ viễn thông cơ bản

kể từ ngày 1/7/2010 Như vậy, điểm khác biệt căn bản giữa thị trường viễn thông Việt Nam và

EU là sự thiếu vắng khu vực tư nhân

Mục đích, biện pháp và cách thức quản lý ở EU đã thành công trong việc chuyển đổi thị trường

từ độc quyền sang cạnh tranh Mặc dù sự phát triển ở Việt Nam có tính đặc thù cao, mục tiêu

và biện pháp quản lý ở Việt Nam cũng tương đồng với ở EU nên có thể tham khảo kinh nghiệm của EU để rút ra những kết luận hữu ích

Quản lý ở EU trong giai đoạn độc quyền nhà nước đặc trưng bởi bảo hộ độc quyền và phương thức quản lý giá truyền thống Dịch vụ viễn thông thực ra được cung cấp bởi các cơ quan chính phủ như Bộ Viễn thông, do đó, thuật ngữ “quản lý” có ý nghĩa sai lệch: giá cước quyết định bởi

cơ quan vận hành và khai thác mạng lưới, chính là các Bộ

Trang 22

22

Ở Việt Nam, trước khi thành lập công ty Viettel (nay là tập đoàn Viettel) và Saigon Postel năm

1995, các doanh nghiệp viễn thông đều là doanh nghiệp độc quyền Tổng cục Bưu chính Viễn thông được thành lập năm 1994 và Bộ Giao thông Vận tải tách khỏi Bộ Bưu chính Viễn thông năm 2002 Quản lý viễn thông ở Việt Nam trong thời gian này chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển hạ tầng viễn thông và cung cấp dịch vụ cho một số cơ quan chính phủ và cho một số nhóm khách hàng đặc biệt

Trong giai đoạn này, cơ cấu thể chế quản lý ở Việt Nam giống với ở hầu hết các nước thành viên EU Các nước đều thành lập Bộ Bưu chính Viễn thông và các cơ quan chính phủ liên quan thực hiện các chức năng hành chính và quản lý doanh nghiệp để giữ độc quyền viễn thông Thông qua các bộ và cơ quan hành chính liên quan, chính phủ vừa là nhà cung cấp dịch vụ vừa

là cơ quan quản lý viễn thông, giống như Bộ Bưu chính Viễn thông ở Việt Nam Sau khi phát hiện ra những bất cập của việc kết hợp chức năng hành chính và quản lý doanh nghiệp, cả Việt Nam và các nước thành viên EU bắt đầu tách chức năng quản lý nhà nước khỏi quản lý doanh nghiệp, chia tách các bộ truyền thống: Một bộ phận có nhiệm vụ thúc đẩy sự phát triển và quản

lý viễn thông, bộ phận còn lại là các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước cung ứng dịch vụ viễn thông và hầu hết được bảo hộ độc quyền ban đầu đối với việc cung cấp dịch vụ điện thoại

cơ bản

Mục tiêu quản lý của chính sách viễn thông ở Việt Nam và EU tương đồng như nhau:

 Cung cấp dịch vụ viễn thông cho quân đội và chính phủ vì dịch vụ viễn thông được coi là dịch vụ công nghệ cao, không cung cấp rộng rãi cho công chúng vào thời điểm đó;

 Tăng cường xây dựng hạ tầng viễn thông và thúc đẩy sự phát triển viễn thông để cung cấp dịch vụ rộng rãi cho công chúng;

 Đề ra công nghệ viễn thông và tiêu chuẩn thiết bị công nghệ để cung cấp dịch vụ viễn thông;

 Quản lý cung cầu thông qua quản lý cước, phí như phí lắp đặt điện thoại và giá cước dịch

vụ điện thoại;

 Cung cấp các dịch vụ cơ bản ở mức giá chấp nhận được thông qua bù giá chéo và trợ cấp của chính phủ

So sánh thể chế quản lý viễn thông ở EU và Việt Nam

Năm 1994, để đẩy nhanh tiến trình tách biệt chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý doanh nghiệp, Chính phủ Việt Nam đã thành lập Tổng cục Bưu chính Viễn thông với tư cách là một cơ quan Chính phủ Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng được thành lập với tư cách một doanh nghiệp nhà nước Tổng cục Bưu chính Viễn thông với chức năng quản

lý nhà nước có trách nhiệm thúc đẩy sự phát triển của ngành viễn thông cũng như quản lý thị trường viễn thông Đồng thời, Tổng cục Bưu chính Viễn thông cũng được giao chức năng duy trì và nâng cao giá trị tài sản nhà nước vì Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp nhà nước Vì thế, Tổng cục Bưu chính Viễn thông thực chất được giao phó rất nhiều chức năng

Năm 2002, theo kế hoạch cải cách mới của Chính phủ, Bộ Bưu chính Viễn thông được thành lập, thay thế Tổng cục Bưu chính Viễn thông Bộ Bưu chính Viễn thông quản lý cả bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin Năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông được thành lập, quản lý bưu chính, viễn thông, mạng Internet, phát thanh truyền hình, in ấn, xuất bản, v.v Tại EU, sau khi đưa vào các nhân tố cạnh tranh và tư nhân hóa thị trường viễn thông, các nước thành viên bắt đầu lập các cơ quan quản lý độc lập như Oftel ở Anh năm 1984 hay RegTP tại

Trang 23

Đức năm 1996 để tăng cường cạnh tranh và ngăn ngừa các nhà khai thác mạng có vị trí thống lĩnh thị trường lạm dụng sức mạnh của mình Các cơ quan này độc lập với các doanh nghiệp và chính phủ, được trao thẩm quyền quản lý theo luật và hầu như chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện và các cơ quan lập pháp khác Ngân quỹ hoạt động của các cơ quan này chủ yếu từ thu phí cấp phép hoặc tương tự và phân bổ ngân sách Trong quá trình thiết kế tổ chức các cơ quan này, điều quan trọng được đảm bảo là sự độc lập của các cơ quan đối với những ảnh hưởng chính trị, đi đôi với nguồn ngân quỹ đầy đủ

Mục tiêu của các cơ quan quản lý độc lập là thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh trên thị trường viễn thông, ngăn ngừa các doanh nghiệp lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường của mình, tạo điều kiện cạnh tranh cho các doanh nghiệp mới, đòi hỏi các doanh nghiệp cải thiện chất lượng và giảm giá dịch vụ qua cạnh tranh và tối ưu hóa phúc lợi của người sử dụng và xã hội Cùng với

sự phát triển của cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường do tiến bộ công nghệ, một số nước thành viên đã thay đổi thiết kế thể chế quản lý, thành lập các cơ quan quản lý đa ngành như OFCOM của Anh (phụ trách cả về liên lạc và nội dung), hoặc BnetzA của Đức (quản lý tất cả các hạ tầng mạng lưới)

Việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành có tầm quan trọng đặc biệt trong tiến trình cải cách của Việt Nam Sau các nghĩa vụ cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đang trong quá trình thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông

Ở một nước với sự thống lĩnh của khu vực công và cơ cấu động lực của các doanh nghiệp đặc trưng sở hữu nhà nước, việc thành lập một cơ quan quản lý độc lập và an toàn khỏi những ảnh hưởng chính trị và lợi ích ngành là vô cùng khó khăn Nghệ thuật tổ chức quản lý phải là thiết

kế một hình thái cơ quan quản lý đặc định hóa phù hợp với bối cảnh, xác định các nhiệm vụ, công cụ và nguồn lực cần thiết cho cơ quan này Việt Nam cũng đang trong tiến trình tổ chức

cơ quan quản lý chuyên ngành viễn thông và phải hoàn tất dự thảo vào cuối năm 2010 để trình lên Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định

Luật Viễn thông đã cung cấp nhiều hướng dẫn cho việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành, thông qua các quy định về nhiệm vụ và trách nhiệm làm cơ sở cho thiết kế tổ chức

Các quy định trong Luật Viễn thông về cơ quan quản lý viễn thông

Điều 10 : Cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về viễn thông

Điều 19.5: Các cơ quan viễn thông có thị phần kết hợp từ 30 - 50% phải thông báo cho cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông

Điều 26.3: Vai trò xác nhận của cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông đối với các doanh nghiệp viễn thông từ chối cung cấp dịch vụ viễn thông

Điều 27.1: Thông báo cho cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông về việc ngừng cung cấp dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông

Điều 37.1d: Cung cấp thông tin về tuyến cáp cho cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông Điều 44.3: Các mạng viễn thông dùng riêng kết nối trực tiếp với nhau phải có sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông

Trang 24

24

Điều 45.3: Cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông quyết định việc chia sẻ hạ tầng viễn thông

Trách nhiệm chung của Bộ Thông tin và Truyền thông

Điều 8.3: Bộ Thông tin và Truyền thông xây dựng quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia

Điều 9.2: Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về viễn thông

Điều 11: Thanh tra chuyên ngành về viễn thông và tổ chức bộ máy thanh tra chuyên ngành do

Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện

Điều 19.4: Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mục doanh nghiệp viễn thông, nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống lĩnh thị trường, Danh mục doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếu; quy định và tổ chức thực hiện biện pháp quản lý bảo đảm cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông

Điều 24.5: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc thiết lập mạng viễn thông công cộng và các mạng viễn thông dùng riêng

Điều 25.7: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc cung cấp dịch vụ viễn thông Điều 27.2: Doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếu, doanh nghiệp viễn thông

có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông công ích chỉ được ngừng kinh doanh các dịch vụ viễn thông khi được Bộ Thông tin và Truyền thông chấp thuận bằng văn bản

Điều 29.2: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định các số liên lạc khẩn cấp và hướng dẫn thực hiện cung cấp dịch vụ viễn thông khẩn cấp

Điều 30.5: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc cung cấp dịch vụ trợ giúp tra cứu số thuê bao điện thoại cố định

Điều 32.4: Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành danh mục các dịch vụ được cấp miễn phí một lần bảng kê chi tiết và hóa đơn

Điều 43.4: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết thủ tục ký kết, thực hiện thỏa thuận kết nối các mạng viễn thông công cộng; chủ trì hiệp thương và giải quyết tranh chấp kết nối giữa các doanh nghiệp viễn thông

Điều 44.3: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc kết nối giữa các mạng viễn thông dùng riêng

Điều 44.4: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc kết nối mạng viễn thông dùng riêng với mạng viễn thông công cộng

Trang 25

Điều 45.4: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc chia sẻ hạ tầng viễn thông Điều 46.4: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc quản lý kho số viễn thông, tài nguyên Internet

Điều 47.2: Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quy hoạch kho số viễn thông, quy hoạch tài nguyên Internet

Điều 48.6: Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết việc lựa chọn quyền sử dụng kho số viễn thông và tài nguyên Internet

Điều 52.6: Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quy chuẩn và quy định về đánh giá thiết bị viễn thông, chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông; quản lý chất lượng mạng và dịch vụ viễn thông; ban hành danh mục thiết bị viễn thông có khả năng gây mất an toàn, Danh mục thiết bị viễn thông bắt buộc kiểm định, Danh mục mạng và dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng; Quản lý hoạt động của tổ chức đánh giá sự phù hợp tiêu chuẩn

Điều 56.1: Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm quản lý giá cước viễn thông

Điều 61: Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chủ trì phối hợp lập kế hoạch và quy định hạ tầng kỹ thuật viễn thông bị động

Liên kết, điều phối, hợp tác với các Bộ khác theo quy định trong Luật Viễn thông

Điều 5: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và cơ quan có liên quan quy định việc bảo đảm an toàn hạ tầng viễn thông và an ninh thông tin trong hoạt động viễn thông

Điều 9.2d: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ động phối hợp với Bộ Công Thương thực hiện quản lý cạnh tranh trong hoạt động thiết lập hạ tầng viễn thông và cung cấp dịch vụ viễn thông theo quy định của pháp luật về cạnh tranh

Điều 9.3: Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về viễn thông

Điều 19.7: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phố hợp với Bộ Công Thương quy định chi tiết việc thực hiện các vấn đề về cạnh tranh

Điều 22.4: Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành quy định các khoản đóng góp cho Quỹ dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam

Điều 41.3: Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết mức thu phí quyền hoạt động viễn thông

Điều 48.7: Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết mức thu phí sử dụng kho số viễn thông, tài nguyên Internet

Điều 52.5: Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố tiêu chuẩn quốc gia về viễn thông

Trang 26

26

sau khi thống nhất với Bộ Thông tin và Truyền thông

Điều 56.1b: Bộ Công Thương chủ trì phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông quy định hoạt động khuyến mại trong cung cấp dịch vụ viễn thông

Điều 56.1c: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính quy định việc miễn cước viễn thông phục vụ hoạt động viễn thông công ích

Điều 61.1a: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công Thương lập quy hoạch hạ tầng kỹ thuật viễn thông thụ động

So sánh các cơ quan quản lý viễn thông ở Việt Nam và EU

Giai đoạn độc quyền Giai đoạn cạnh tranh Giai đoạn cạnh tranh và hội tụ Việt Nam Tổng cục Bưu chính Viễn

thông

Cơ quan được giao chức năng quản lý nhà nước: Bộ Bưu chính Viễn thông (MPT)

Cơ quan được giao nhiều chức năng quản lý nhà nước, quản lý ngành và thông tin: Bộ Thông tin

Các cơ quan quản lý hội tụ với các cách tiếp cận khác nhau: OFCOM, Cơ quan mạng lưới liên bang Đức

So sánh mục tiêu quản lý ở Việt Nam và EU

Trong giai đoạn độc quyền, mục tiêu quản lý viễn thông ở Việt Nam khá giống với ở EU, nhưng khác biệt khi xuất hiện cạnh tranh Quản lý viễn thông ở Việt Nam vẫn theo đuổi nhiều mục tiêu cùng một lúc, trong khi EU bắt đầu hướng tới mục tiêu tăng cường cạnh tranh, nâng cao phúc lợi xã hội và xúc tiến thị trường thống nhất

So sánh mục tiêu quản lý viễn thông tại EU và Việt Nam

Mục tiêu Việt

Nam

Sau khi thành lập, mục tiêu của Tổng cục Bưu chính Viễn thông Việt Nam là cung cấp dịch vụ viễn thông cho các cơ quan chính phủ và quân đội, thúc đẩy sự phát triển của viễn thông

Khi thành lập, Tổng cục Bưu chính Viễn thông nhằm đạt nhiều mục tiêu khác nhau bao gồm phát triển và quản lý viễn thông, bảo tồn và nâng cao giá trị tài sản nhà nước, v.v

Một mặt, Tổng cục Bưu chính Viễn thông cho phép cạnh tranh để phá vỡ thế độc quyền nhà nước và thúc đẩy sự phát triển của viễn thông

Mặt khác, Tổng cục Bưu chính Viễn thông thực hiện chức năng bảo tồn và nâng cao giá trị tài sản nhà nước

Sau khi thành lập, Tổng cục Bưu chính Viễn thông vẫn theo đuổi các mục tiêu khác bao gồm tăng cường cạnh tranh, thúc đẩy sự hội tụ của ngành và công nghệ thông tin

Trang 27

EU Trong giai đoạn độc quyền, mục tiêu quản lý của các nước thành viên EU là cung cấp

dịch vụ viễn thông cho các cơ quan chính phủ và thúc đẩy sự phát triển của viễn thông bằng các chính sách ưu đãi

Với việc đưa vào cạnh tranh, chính sách quản lý năm 1998 tập trung thúc đẩy cạnh tranh, quản lý các các doanh nghiệp nhà nước cung cấp dịch vụ có vị trí thống lĩnh trên thị trường, kết nối các mạng viễn thông theo các điều kiện hợp lý, minh bạch và không phân biệt đối xử Ngoài ra, chính sách quản lý năm 1998 cũng tạo điều kiện cạnh tranh cho các doanh nghiệp mới với một số biện pháp có tính chất bắt buộc như

ấn định giá kết nối mạng viễn thông dựa trên giá thành, phân tách các bộ phận cấu thành mạng mạch vòng nội hạt, v.v

Khuôn khổ quản lý (2002) tiếp tục mục tiêu thúc đẩy cạnh tranh, cụ thể là đưa vào áp dụng nguyên tắc “độc lập công nghệ” (hay trung lập về công nghệ, tùy chọn công nghệ) để đẩy mạnh cạnh tranh giữa các mạng viễn thông

Năm 2007, Khuôn khổ quản lý (2002) được sửa đổi và mục tiêu chính của nó vẫn là thúc đẩy cạnh tranh, nới lỏng quản lý đối với các thị trường cạnh tranh và nâng cao phúc lợi của người tiêu dùng bằng các biện pháp thiết thực

So sánh chính sách quản lý viễn thông giữa EU và Việt Nam

Một loạt các chính sách quản lý viễn thông tương đối giống nhau đã được áp dụng ở EU và Việt Nam, bao gồm mở cửa thị trường, kết nối các mạng viễn thông, quản lý giá cước và dịch

vụ phổ cập Tuy nhiên, một xu hướng phát triển khác đã xuất hiện, dẫn đến những khác biệt về thể chế và chính sách quản lý giữa EU và Việt Nam Chính sách quản lý của EU về phát triển thị trường và điều chỉnh khung quản lý đã đi trước nhiều bước so với Việt Nam, vì vậy có thể

là kinh nghiệm tham khảo hữu ích cho Việt Nam, mặc dù thực tế là Việt Nam không thể áp dụng ngay khuôn khổ mà EU gọi là khuôn khổ “thông lệ tốt nhất” Thay vào đó, Việt Nam có thể xác định được các mốc quan trọng để chuyển đổi thị trường từ độc quyền sang cạnh tranh

và các công cụ quản lý thích hợp để hỗ trợ sự phát triển này

So sánh cơ sở lý luận và chính sách quản lý viễn thông

Chính sách quản lý sửa đổi của EU tiếp tục nới lỏng quản lý đối với thị trường EU coi tăng cường cạnh tranh là mục tiêu, do đó sẽ giảm dần quản lý khi cạnh tranh phát triển Chính sách cạnh tranh theo mô hình xử lý vi phạm (ex post) sẽ thay thế mô hình quản lý chuyên ngành dự kiến (ex ante), nhằm tiêu chuẩn hóa thị trường Việt Nam cũng nới lỏng dần quy định về mở cửa thị trường và quản lý giá cước Để nâng cao cạnh tranh trên thị trường, các nhà khai thác mạng được khuyến khích tăng cường khả năng cạnh tranh bằng cách áp dụng công nghệ mới

và xây dựng năng lực Việt Nam tìm cách thu hút chuyển giao công nghệ và bí quyết kỹ thuật bằng cách cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia, mặc dù thị trường chỉ mở cửa dần dần theo BTA và các cam kết WTO

So sánh tiếp cận thị trường

Tiếp cận thị trường viễn thông ở EU đã trải qua hàng loạt thay đổi, từ chỗ chỉ cấp phép cho các doanh nghiệp độc quyền nhà nước đến cấp phép một phần về dịch vụ, rồi đến cấp phép chung Theo Khuôn khổ quản lý năm 2002, việc cấp phép chung đã thay thế cho hệ thống cấp phép

Để xúc tiến sự hội tụ giữa các doanh nghiệp viễn thông, EU tách biệt quản lý mạng lưới và dịch vụ, áp dụng nguyên tắc độc lập công nghệ vào quản lý mạng lưới để tạo cơ hội kinh doanh

Trang 28

28

bình đẳng cho các công nghệ khác nhau Cùng với việc xóa bỏ hệ thống cấp phép, EU đã áp dụng một số biện pháp như cho phép bán lại, phân tách mạch vòng nội hạt (local loop unbundling), cho phép thành lập các nhà khai thác mạng ảo di động và triển khai mô hình truy cập luồng bit (hay chia sẻ băng tần trên đôi cáp - bit stream access) và đòi hỏi các nhà khai thác dịch vụ có hạ tầng mạng phải cho các doanh nghiệp cạnh tranh mới kết nối mạng, cung cấp dịch vụ đa dạng cho người sử dụng

Về đầu tư nước ngoài, EU không hạn chế vốn đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài Đầu tư giữa các nước thành viên EU với nhau hoặc giữa các nước thành viên EU với các nước ngoài EU, phải căn cứ theo quy tắc của WTO vì hầu hết các nước thành viên EU không hạn chế về tỷ lệ vốn sở hữu nước ngoài

Luật Viễn thông của Việt Nam năm 2009 có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2010 hướng tới mục tiêu

mở ra nhiều cơ hội mới cho thương mại và đầu tư trong viễn thông Tuy nhiên, vấn đề nổi cộm chủ yếu là quy định bắt buộc các công ty nước ngoài phải liên kết với các doanh nghiệp nhà nước để cung cấp dịch vụ trên cơ sở mạng (facilities-based services) Vấn đề này đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết sẽ giải quyết thông qua một nghị định chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật

Tăng trưởng quá nhanh, kể cả cạnh tranh giá cước, lỗi kết nối mạng viễn thông và sự thờ ơ với thị trường điện thoại cố định có thể gây trở ngại, ảnh hưởng đến sự phát triển của viễn thông Việt Nam

Việc lựa chọn đối tác trong nước không chỉ cần thiết để tối đa hóa các cơ hội phát triển kinh doanh mà còn là điều kiện để cung cấp một số dịch vụ như hạn chế đặt ra trong cam kết tiếp cận thị trường viễn thông theo WTO của Việt Nam

Là một ngành công nghệ cao liên tục phát triển tại Việt Nam, viễn thông dự kiến còn tiếp tục giảm giá cước, tăng đầu tư và có môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn Các công ty viễn thông nước ngoài có thể tiếp cận với thị trường mới nổi này tốt nhất bằng cách từng bước tham gia thị trường thông qua con đường cổ phần hóa/tư nhân hóa doanh nghiệp trong nước

So sánh về kết nối mạng

Trước năm 2002, các cơ quan quản lý ở EU đã áp dụng nhiều biện pháp để quản lý truy cập và kết nối mạng Khuôn khổ quản lý năm 2002 cho phép dần bãi bỏ quản lý chuyên ngành và áp dụng chính sách quản lý cạnh tranh chung Ý tưởng đằng sau các quy tắc về truy cập và kết nối mạng là: Thứ nhất, các nhà cung cấp dịch vụ có quyền yêu cầu kết nối mạng với các nhà khai thác mạng khác Thứ hai, các nhà khai thác mạng có nghĩa vụ phải thương thảo với các nhà cung ứng dịch vụ yêu cầu truy cập và kết nối mạng Thứ ba, cơ quan quản lý có quyền áp đặt nghĩa vụ bổ sung đối với các nhà khai thác có sức mạnh thị trường đáng kể (SMP), bao gồm các nghĩa vụ về minh bạch hóa, không phân biệt đối xử, kế toán riêng, quản lý giá và nghĩa vụ cung cấp truy cập

Nói cách khác, nhìn chung doanh nghiệp nhận được đề nghị cung cấp truy cập hoặc kết nối mạng phải đàm phán và đạt được một thỏa thuận thương mại với bên yêu cầu mà không cần đến sự can thiệp của cơ quan quản lý Tuy nhiên, nếu thị trường xuất hiện doanh nghiệp nắm giữ vị trí thống lĩnh thì vẫn cần đến cơ quan quản lý chuyên ngành để đảm bảo các doanh nghiệp mới có thể tham gia thị trường và các hành vi hạn chế cạnh tranh (như từ chối kết nối mạng hoặc áp đặt phí kết nối mạng cao quá mức) được ngăn chặn

Trang 29

Ở Việt Nam, Luật Viễn thông đã nêu ra các nguyên tắc cơ bản về kết nối mạng áp dụng đối với tất cả các mạng viễn thông, bao gồm:

 Thông qua thương lượng trên cơ sở bảo đảm công bằng, hợp lý, phù hợp với quyền, lợi ích của các bên tham gia;

 Sử dụng hiệu quả tài nguyên viễn thông và cơ sở hạ tầng viễn thông;

 Bảo đảm yêu cầu kỹ thuật về kết nối viễn thông và an toàn, thống nhất của các mạng viễn thông;

 Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông và tổ chức, cá nhân

có liên quan

Giá cước kết nối viễn thông được xây dựng trên cơ sở giá thành, phân tách hợp lý theo các bộ phận cấu thành mạng hoặc theo công đoạn dịch vụ, không phân biệt các loại hình dịch vụ Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết thủ tục ký kết, thực hiện thỏa thuận kết nối các mạng viễn thông công cộng; chủ trì hiệp thương và giải quyết tranh chấp kết nối giữa các doanh nghiệp viễn thông

Quản lý giá cước viễn thông

Quản lý giá cước viễn thông ở EU gắn liền với quản lý doanh nghiệp có sức mạnh thị trường đáng kể: chỉ các nhà khai thác có vị trí thống lĩnh thị trường mới bị quản lý giá cước Theo tinh thần của chính sách quản lý năm 2007, các nhà cải cách chủ trương tự do hóa, bãi bỏ quản lý giá cước đối với hầu hết các loại dịch vụ bán lẻ, trừ trường hợp phát hiện doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường Trong giai đoạn cải cách trước đó - năm 2005, mối quan tâm về quản lý chủ yếu tập trung vào các loại giá cước chuyển vùng di động (mobile roaming), dẫn đến mức giảm đáng kể các loại giá cước này trong EU

Tại Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm quy định về quản lý giá cước viễn thông; quyết định giá cước viễn thông; quy định hoạt động khuyến mại trong cung cấp dịch vụ viễn thông; quy định phương pháp xác định giá thành dịch vụ viễn thông; kiểm soát, đình chỉ

áp dụng giá cước viễn thông khi doanh nghiệp viễn thông áp đặt, phá giá giá cước viễn thông gây mất ổn định thị trường viễn thông, làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp viễn thông khác và nhà nước

Đồng thời, doanh nghiệp viễn thông được tự do quyết định giá cước dịch vụ viễn thông do mình cung cấp, trừ dịch vụ thuộc danh mục giá cước viễn thông do nhà nước quy định Đối với dịch vụ thuộc danh mục giá cước viễn thông do nhà nước quy định, doanh nghiệp phải trình phương án giá cước dịch vụ viễn thông cho Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định

So sánh dịch vụ phổ cập ở EU và Việt Nam

Một trong những mục tiêu chủ yếu của chính sách viễn thông ở EU là bảo đảm tất cả các công dân EU có thể sử dụng nhiều loại dịch vụ với mức giá cước chấp nhận được Trong giai đoạn độc quyền, nhà khai thác dịch vụ có thể bù giá chéo nội bộ để cấp kinh phí cho việc cung cấp dịch vụ phổ cập Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, nhà khai thác dịch vụ phải tính toàn

bộ chi phí cho người tiêu dùng hoặc ngừng cung cấp dịch vụ Người tiêu dùng ở các vùng xa,

có thu nhập thấp, không có điều kiện sử dụng dịch vụ Do đó, Khuôn khổ quản lý EU quy định các nhà khai thác dịch vụ phải cung cấp dịch vụ phổ cập Hướng dẫn Dịch vụ phổ cập năm 2002 quy định chi tiết về phạm vi, nguồn kinh phí và nghĩa vụ cung cấp dịch vụ phổ cập

Trang 30

Các mạng di động phủ sóng tất cả các quận, huyện kể từ năm 2007 Các mạng 3G phủ sóng toàn bộ 63 tỉnh Thành

Bắt đầu cung cấp dịch vụ 3G kể từ ngày 12/10/2009

Tháng 4/2008, Việt Nam phóng vệ tinh đầu tiên VINASAT-1, dự kiến phóng vệ thứ 2 vào năm 2012 Cấp 5 giấy phép cung cấp thử nghiệm dịch vụ 4G trong vòng 1 năm

Mạng Internet: Quay số trực tiếp: 64/64 tỉnh Thành

Phương thức truy cập: phần lớn là quay số trực tiếp (dial-up) , ADSL (25.000 thuê bao), wireless (802.11b), truy cập qua điện thoại

cho việc thực hiện nhiệm vụ viễn thông công ích do nhà

nước giao được bảo đảm từ ngân sách nhà nước Quỹ

VTF là tổ chức tài chính nhà nước và thuộc quyền quản

lý của Thủ tướng Chính phủ Quỹ này hoạt động không

vì mục đích lợi nhuận để hỗ trợ thực hiện chính sách

của nhà nước về cung cấp dịch vụ viễn thông công ích

Nguồn vốn của VTF từ đóng góp theo tỷ lệ doanh thu

dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông,

viện trợ, tài trợ, đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá

nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài

Phát triển thị trường viễn thông tại Việt Nam

Kể từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã có bước tiến dài

trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu khi

chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức

Thương mại Thế giới Là một trong những động lực

chính cho phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, viễn

thông đã có những đóng góp đáng kể để thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế quốc gia cũng như nâng cao vị thế của

Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế như Bảng xếp

hạng Viễn thông châu Á

Thị trường viễn thông Việt Nam đang trong quá trình

chuyển đổi từ độc quyền sang cạnh tranh

Vào thời điểm hoàn tất Báo cáo (09/2010), Việt Nam đã

có:

 13 nhà khai thác viễn thông có hạ tầng;

 8 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định;

 7 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động;

 2 nhà cung cấp dịch vụ mạng di động ảo; và

 91 nhà cung cấp dịch vụ Internet

Tất cả đều được cấp phép bởi cơ quan quản lý viễn

thông là Bộ Thông tin và Truyền thông

Tháng 09 năm 2009, Bộ Thông tin và Truyền thông cấp

giấy phép cung cấp dịch vụ 3G cho 4 doanh nghiệp,

gồm Viettel, MobiFone, VinaPhone, và EVN Telecom

liên kết với Viet Nam Mobile

Kể từ tháng 8 năm 2010, Việt Nam có:

 156,1 triệu thuê bao điện thoại, trong đó 90,32% là

thuê bao di động (trong đó 14,8 triệu đăng ký sử

Trang 31

dụng dịch vụ 3G) và mật độ sử dụng dịch vụ điện thoại là 180,7 thuê bao/100 dân;

 25,09 triệu người sử dụng Internet, mật độ sử dụng là 29,24%;

 3,38 triệu thuê bao DSL

Mức tăng trưởng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2004 - 2009 là:

 Điện thoại cố định: 27,07%/năm;

 Di động: 86,17%/năm;

 Người sử dụng Internet: 27,78%/năm

Theo các cam kết của Việt Nam trong quá trình gia nhập WTO, nhà đầu tư nước ngoài được phép liên doanh với doanh nghiệp trong nước để xây dựng mạng lưới và cung cấp dịch vụ viễn thông Điều này mang lại nhiều thay đổi cho thị trường Việt Nam, cụ thể là các dịch vụ điện thoại di động, cố định và Internet đã đạt được mức tăng trưởng đáng kể

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Tăng trưởng trong năm 2009 được duy trì nhờ việc giảm giá cước viễn thông từ 15-20% đối với cả điện thoại cố định và điện thoại thẻ công cộng kể từ tháng 6/2007 Thị trường Việt Nam

có 8 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, trong đó có 4 nhà cung cấp lớn, bao gồm:

 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT);

Trang 32

32

Các doanh nghiệp này tạo nên một thị trường điện thoại cố định năng động với tổng số thuê bao xấp xỉ 19,1 triệu (VNPT có 13,6 triệu tương đương 77,55%, Viettel 2,38 triệu tương đương 12,51%, EVN Telecom 2,85 triệu tương đương 14,93% và SPT 193.000 tương đương với 1%)

và tỷ lệ thâm nhập là 22 điện thoại cố định trên 100 dân (số liệu tháng 8 năm 2010)

Tuy nhiên, thị trường điện thoại cố định đang suy giảm về tăng trưởng do sự thay thế bởi dịch

vụ điện thoại di động, sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ VoIP và tình trạng bão hòa không thể tránh khỏi ở các khu vực đô thị

Theo dự báo của một số nghiên cứu trong nước và nước ngoài, trong vòng 2 năm tới, tăng trưởng điện thoại cố định sẽ giảm Tỷ lệ tăng trưởng dịch vụ điện thoại cố định dự kiến ở mức 13% trong khi mật độ sẽ đạt 17% năm 2011 Doanh nghiệp dẫn đầu trong lĩnh vực điện thoại

cố định của Việt Nam là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) dự kiến tiếp tục duy trì vị trí thống lĩnh thị trường Thống kê cũng cho thấy Việt Nam là một trong số các nước châu Á có mật độ điện thoại cố định thấp nhất, chỉ trên Indonesia, Pakistan, Philippines và Ấn

Độ

Mặc dù VNPT có triển vọng tương đối tích cực trên thị trường dịch vụ điện thoại di động, số lượng thuê bao cố định dịch vụ mạng điện thoại chuyển mạch công cộng truyền thống chỉ chiếm khoảng 77% trên tổng thị trường, số lượng thuê bao cố định còn lại dựa vào dịch vụ cố định không dây Sự phổ biến nhanh chóng của dịch vụ cố định không dây, đặc biệt tại các huyện ngoại thành, nông thôn góp phần làm giảm thị phần của VNPT

1 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT 11.052,000 67.01 %

4 Công ty Bưu chính Viễn thông Sài Gòn SPT 153,601 0.93 % Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Thị trường điện thoại cố định có tổng số thuê bao xấp xỉ 16,5 triệu (VNPT 11 triệu tương đương 67%, Viettel 2,7 triệu tương đương 16,5%, EVN Telecom 2,6 triệu tương đương 15,5%

và SPT 153.000 tương đương 1%)

Số lượng thuê bao cố định tháng 5/2010

Trang 33

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Dịch vụ điện thoại di động

12/2006 12/2007 12/2008 12/2009 8/2010

2.1 Số lượng thuê bao di động 18.910.550 35.560.000 70.530.000 111.300.000 142.400.000

2.2 Thuê bao di động trên 100 dân 22,43 42,28 83,36 130,4 167,5

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Trong 6 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng dịch vụ di động trên thị trường viễn thông Việt Nam duy trì tốc độ ấn tượng Theo Tổng cục Thống kê, thị trường dịch vụ di động đạt con số 28,9 triệu thuê bao di động mới trong 7 tháng đầu năm 2009, tương đương với tỷ lệ tăng trưởng 20,1%

VNPT vẫn là nhà cung cấp dịch vụ di động dẫn đầu với 71,2 triệu thuê bao, tương đương với 55% thị phần, đạt mức tăng trưởng 40,7% so với cùng kỳ năm trước

Cạnh tranh khốc liệt giữa 7 nhà khai thác dịch vụ di động lớn là Vinaphone, Mobifone, Viettel, EVN Telecom, S-Phone, HT Mobile và Gtel - mới thành lập năm 2009, đã tạo nên một phân đoạn năng động nhất trên thị trường viễn thông Việt Nam và thúc đẩy mạnh mẽ tốc độ tăng trưởng của thị trường di động

Tạp chí Telecom Asia đã xếp hạng Việt Nam nằm trong danh sách 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng của thị trường di động cao nhất thế giới Theo xếp hạng phát triển viễn thông châu Á năm 2009, thị trường viễn thông Việt Nam được xếp thứ 13 về quy mô thị trường và tốc độ tăng trưởng dịch vụ điện thoại cố định, di động và Internet

Số thuê bao

Tỷ lệ %

Trang 34

34

Năm 2009, bất chấp tình hình suy thoái kinh tế, không tính các yếu tố khác bao gồm tăng giá máy điện thoại di động kể từ giữa năm 2008, ngừng cung cấp dịch vụ HT Mobile CDMA và yêu cầu đăng ký thuê bao trả trước thông qua tin nhắn và website, tăng trưởng thị trường di động Việt Nam vẫn duy trì ở mức cao ấn tượng là 94%

Các nhà khai thác dịch vụ di động đua giành thị phần bằng cách phát động một loạt các chương trình khuyến mại liên tục và hấp dẫn Tuy nhiên, họ chủ yếu cung cấp các dịch vụ thoại và các dịch vụ giá trị gia tăng như SMS, WAP, GPRS trên nền mạng 2G hoặc 2,5G Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp các đầu số mới và 4 giấy phép 3G để thúc đẩy tăng trưởng và cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ di động Số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ 3G tại Việt Nam

dự kiến sẽ vượt 3 triệu người năm 2013, tương đương với khoảng 2% cơ sở khách hàng sử dụng di động

Ngoài các dịch vụ di động, các nhà khai thác dịch vụ di động của Việt Nam cạnh tranh gay gắt

để cung cấp dịch vụ cố định không dây trên nền mạng di động cho khách hàng có thu nhập thấp Hiện tại, thị trường viễn thông Việt Nam có 3 nhà cung cấp dịch vụ cố định không dây chủ yếu là VNPT với Gphone trên nền mạng Vinaphone, EVN với mạng E-Com và Viettel với mạng Home phone

Thị trường có 4 nhà khai thác dịch vụ triển khai dịch vụ WiMax tại Việt Nam, bao gồm Công

ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC), Tổng công ty truyền thông đa phương tiện Việt Nam (VTC), Tập đoàn FPT và Viettel Trong đó, FPT và Viettel đang triển khai dịch vụ WiMax thử nghiệm trên mạng di động

Năm 2009, Viettel, công ty thuộc sở hữu của quân đội, đã duy trì vị trí dẫn đầu thị trường di động Việt Nam trong cả năm Viettel có 50 triệu thuê bao năm 2009 so với năm 2008 là 25 triệu, chiếm thị phần 34,90% và tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 100%

Số liệu của VNPT về 2 mạng di động MobiFone và Vinaphone cho thấy 2 nhà khai thác dịch

vụ này đã giành lại một số thị phần từ Viettel Mặc dù từng là nhà khai thác dịch vụ di động dẫn đầu năm 2008 và tiếp đến nửa đầu năm 2009 nhờ khởi xướng chiến lược giảm đáng kể dưới hình thức giảm 50% cước cuộc gọi nội vùng, vị trí dẫn đầu của MobiFone đã bị lật đổ bởi Viettel với sự phát triển mạnh mẽ năm 2009 Trong khi đó, Vinaphone đã có 26 triệu thuê bao vào cuối năm 2009 Với thị phần 28,3% nhà khai thác dịch vụ này đã bắt kịp với tốc độ tăng trưởng của các đối thủ cạnh tranh khác

Theo thông tin do chính nhà khai thác dịch vụ xếp hạng thứ 4 S-Fone (theo SPT) cung cấp, nhà khai thác dịch vụ này có 6 triệu thuê bao vào cuối năm 2008, chiếm thị phần 6,5% S-Fone lưu

ý rằng thương hiệu này cuối cùng đã có chỗ đứng trên thị trường Việt Nam sau 5 năm cung cấp dịch vụ Nhà khai thác dịch vụ này đã tạo ra một bước đột phá trong chiến lược kinh doanh thiết bị điện thoại cầm tay bằng cách giới thiệu nhãn hiệu điện thoại cầm tay của hãng, eCo, được bán ra với giá tối đa là VND 500,000 (tương đương với 20 Euro/máy) Tiếp đó, nhà khai thác dịch vụ này tiếp tục mở rộng vùng phủ sóng bằng cách lắp đặt trạm BTS mới, bổ sung 75 trạm trong năm 2009 và đặt mục tiêu lắp đặt thêm 500 trạm trong giai đoạn 2009-2010

Trang 35

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Internet

Hiện tại, thị trường Việt Nam có 6 nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và 9 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kết nối Internet (IXP) đang hoạt động tại Việt Nam Trong số đó, Công ty Điện toán và Truyền số liệu Việt Nam (VDC) đang dẫn đầu thị trường với việc triển khai dịch vụ ADSL trên hầu hết tất cả các tỉnh thành trong cả nước

Số thuê bao

Tỷ lệ %

Số thuê bao

Tỷ lệ %

Trang 36

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Tăng trưởng dịch vụ Internet giai đoạn 2003 - 2010

Tháng 4/2010

Số hộ gia đình truy cập Internet tại nhà trên 100 hộ (ước tính) 12,22

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Đồng thời, theo số liệu thống kê từ Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC), sau giai đoạn mở rộng mạnh mẽ năm 2007 (150%), tăng trưởng về số lượng người sử dụng dịch vụ băng rộng đang có xu hướng giảm nhẹ (45% trong năm 2008 => 31% trong năm 2009 => 27% tính đến tháng 4 năm 2010) với các thuê bao lớn là các doanh nghiệp (tỷ lệ truy cập Internet tại các doanh nghiệp chiếm 89% tổng lưu lượng sử dụng, trong đó 4/5 là các dịch vụ băng rộng) Tính đến cuối năm 2013, dự kiến thị trường sẽ có khoảng 17 triệu khách hàng sử dụng dịch vụ băng rộng, tương đương với tỷ lệ thâm nhập gần 18%

Sự tăng trưởng mạnh mẽ của dịch vụ băng rộng trong tương lai được hỗ trợ bởi một số bước phát triển, đặc biệt là tình hình đầu tư đang diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực băng rộng Tuy nhiên, cạnh tranh gia tăng dự kiến cũng làm tăng khả năng phù hợp về mặt tài chính của các dịch vụ băng rộng Sự xuất hiện của các nhà cung cấp dịch vụ băng rộng mới, trong đó có một

số nhà khai thác dịch vụ quốc tế, sẽ góp phần thúc đẩy cạnh tranh Ngoài ra, việc triển khai các dịch vụ WiMAX thương mại cũng giúp đẩy mạnh việc tiếp nhận dịch vụ băng rộng

Số thuê bao băng rộng tính đến tháng 5/2010

Trang 37

Nguồn: Bộ Thông tin và Truyền thông 2010

Mặc dù có khả năng cạnh tranh cao, thị trường dịch vụ Internet tại Việt Nam hiện do VNPT dẫn đầu với thị phần xấp xỉ 56% và mạng ADSL được triển khai trên toàn bộ 64 tỉnh thành trong cả nước Từ năm 2008 đến tháng 4/2010, số lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam duy trì mức tăng trưởng ổn định (20,5 triệu => 21,5 triệu => 23,9 triệu) Số lượng này dự kiến tiếp tục tăng nhanh trong vòng 5 năm tới và có thể đạt tới 28 triệu tính đến cuối giai đoạn này

Thị phần (số thuê bao) của các nhà cung cấp dịch vụ Internet

2009 Thị phần

1 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam VNPT 3.509.043 76,016 %

4 Công ty Bưu chính Viễn thông Sài Gòn SPT 49.672 1,076 %

11 Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện Việt Nam VTC 134 0,003 %

Trang 38

38

Những thách thức về quản lý và thị trường của Việt Nam

Thực tế quản lý và thị trường quan sát được cung cấp bối cảnh cho việc đánh giá tính khả thi của các công cụ và cơ cấu quản lý Vai trò chủ đạo của khu vực nhà nước và giai đoạn độc quyền kéo dài ở Việt Nam là các yếu tố khiến cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp chần chừ không muốn chuyển đổi và đối mặt với tự do hóa và cạnh tranh Tiến trình tự do hóa và cổ phần hóa viễn thông ở Việt Nam còn rất dè dặt bất kể đã có những cam kết với WTO Dường như cơ quan nhà nước muốn tìm cách đi đường vòng để tránh cạnh tranh và mở cửa hơn là tập trung nỗ lực để tạo dựng môi trường cạnh tranh mở cửa và thân thiện với thị trường

Tình trạng thiếu chuyên môn và kinh nghiệm quản lý hiện nay đòi hỏi được khắc phục Việc thiếu những kỹ năng chuyên môn cụ thể khiến quản lý theo hướng bồi dưỡng cạnh tranh trở thành một nhiệm vụ đầy thách thức và khó khăn hơn nhiều so với ở các nước phát triển hơn Đây cũng là những kỹ năng chuyên môn thực tiễn bắt buộc phải có để quản lý các thị trường mạng lưới Một trong những bước đi đầu tiên trong việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành phải là nâng cao năng lực về khía cạnh này

Những thách thức đặt ra đối với một cơ quan quản lý mới thành lập phải cộng thêm những thách thức mà sự phát triển đặt ra đối với tất cả các cơ quan quản lý và cơ quan hoạch định chính sách nói chung Đó là sự hội tụ và đổi mới, làm phát sinh khuôn khổ mới và tạo ra sự thay đổi về yêu cầu quản lý và chuyên môn cần thiết Cùng với sự phát triển của các mạng lưới, các định nghĩa về thị trường và kinh tế thị trường cũng thay đổi, đòi hỏi phải rà soát thường xuyên các vấn đề như sự thất bại của thị trường và sức mạnh thị trường

Các nhiệm vụ quan trọng nhất của chính phủ Việt Nam và cơ quan quản lý chuyên ngành sắp thành lập bao gồm:

 Hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Viễn thông vì nghị định này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để áp dụng và thực thi Luật Viễn thông;

 Thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành về viễn thông để đảm nhiệm chức năng quản lý thay Bộ Thông tin và Truyền thông;

 Xúc tiến chia sẻ hạ tầng viễn thông và tăng cường dùng chung hạ tầng của các ngành khác nhau như viễn thông, điện, nước;

 Nghiên cứu các nội dung chính sách và quản lý mới, tiến hành các bước đầu tiên để hợp nhất vào khuôn khổ chung (như chuyển mạng giữ số, hội tụ)

Các chương sau của Báo cáo sẽ tập trung xác định các thông lệ tốt để hỗ trợ cho cơ quan quản

lý hoàn thành các nhiệm vụ này, góp phần thúc đẩy phát triển môi trường quản lý hướng tới cạnh tranh ở Việt Nam

Trang 39

3 CHƯƠNG 3: CÁC KHÁI NIỆM QUẢN LÝ ĐỂ CỦNG CỐ CẠNH TRANH

Chương này nhằm làm rõ sự tương tác giữa chính sách viễn thông và chính sách cạnh tranh ở cấp độ chính sách và cấp độ quản lý cũng như sự đan xen giữa các khái niệm Chương này đồng thời giới thiệu cách tiếp cận của EU về chính sách cạnh tranh chung và những công cụ quan trọng nhất cho việc quản lý thị trường Những công cụ này sẽ được mô tả kỹ hơn ở phần chính sách chuyên ngành viễn thông

3.1 Chính sách cạnh tranh

Cách tiếp cận của EU về chính sách cạnh tranh chung 4

Chính sách cạnh tranh chung nhằm đảm bảo thị trường:

 Duy trì tính cạnh tranh (chống độc quyền, kiểm

soát sáp nhập, các-ten);

 Trở nên cạnh tranh hơn (tự do hóa);

 Có một sân chơi cạnh tranh bình đẳng (liên quan

đến hỗ trợ của nhà nước)

Logic của sự can thiệp dựa vào giả định (và kinh nghiệm

cho thấy) thị trường cạnh tranh đem lại những lợi ích rất

rõ ràng và định lượng được Những lợi ích này bao gồm

sự đảm bảo khả năng cạnh tranh của ngành, dẫn đến đổi

mới công nghệ, lợi ích cho người tiêu dùng thông qua cải

tiến chất lượng dịch vụ và xuất hiện của những dịch vụ

mới và sáng tạo Câu hỏi quan trọng đằng sau mỗi chính

sách là việc chủ động bảo vệ cạnh tranh “có cần thiết hay

không” và làm thế nào để đánh giá được “sự cần thiết”

này

Bốn trụ cột của Luật Cạnh tranh EU

Điều 81 (1) Hiệp ước EC (trước đây) là trọng tâm của các quy định ngăn chặn thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Điều khoản này nhằm kiểm soát các hành vi:

 Ấn định giá mua, bán hoặc bất kỳ điều kiện giao dịch nào khác;

 Hạn chế hoặc kiểm soát sản lượng;

4

Xem giới thiệu tổng quát tại www.oecd.org/competition/toolkit và bài thuyết trình của diễn giả Torben Toft từ

Tổng cục Cạnh tranh chung châu Âu:

Điều 82 EC cấm lạm dụng

sức mạnh thị trường

Quy định 138/2004 về kiểm soát sáp nhập

Lịch sử chính sách cạnh tranh của EU

1951: Cộng đồng Than - Thép châu Âu (ECSC) đề ra…

 quy tắc chống độc quyền và sáp nhập cho ngành than và thép

 khái niệm siêu quốc gia 1957: Hiệp ước EC với ý nghĩa

là một thỏa thuận đầy tham vọng về luật cạnh tranh (trừ kiểm soát sáp nhập)

 Thuộc thẩm quyền trực tiếp của Ủy ban châu

Âu 1989: Thiết lập Kiểm soát sáp nhập

2004: Phân cấp thực thi quy tắc chống độc quyền

 Chia sẻ quyền hạn giữa

Ủy ban châu Âu và cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh của các nước Thành viên châu Âu

Trang 40

40

 Chia sẻ thị trường hoặc nguồn cung ứng;

 Phân biệt đối xử giữa các bên giao dịch;

 Đặt ra những hạn chế thương mại một cách không công bằng với các bên giao dịch Điều khoản này cho phép rất ít các trường hợp ngoại lệ (chẳng hạn như một số thỏa thuận nhất định trong nông nghiệp hoặc liên quan đến sản phẩm quân sự) Trường hợp ngoại lệ quan trọng nhất là những thỏa thuận không đáng kể (“thỏa thuận dưới ngưỡng tối thiểu - de minimis agreements”) Tuy nhiên, thỏa thuận dưới ngưỡng tối thiểu với những điều kiện hạn chế quá rõ ràng (chẳng hạn như ấn định giá) vẫn bị coi là hành vi hạn chế cạnh tranh và là đối tượng quản

2 Chia sẻ cho người sử dụng một phần tương xứng;

3 Không đặt ra những hạn chế không cần thiết;

4 Không cho phép doanh nghiệp loại bỏ cạnh tranh ở mức độ đáng kể

Những thỏa thuận có tác động tích cực (tăng hiệu quả) bù đắp cho tác động tiêu cực (giảm cạnh tranh) có thể được coi là ngoại lệ

Việc lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường thuộc sự điều chỉnh của Điều 82 Hiệp ước EC trước đây:5

“Việc lạm dụng vị trí thống lĩnh bởi một hay nhiều doanh nghiệp trên thị trường chung hoặc trong một khu vực đáng kể của thị trường đều bị cấm vì không thích hợp với thị trường chung do có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa các nước thành viên”

Tòa án Công lý châu Âu (trong vụ án United Brands) đã nêu rõ như sau:

“Vị trí thống lĩnh liên quan đến sức mạnh kinh tế mà một doanh nghiệp đạt được, cho

phép bên này ngăn chặn cạnh tranh hiệu quả trên thị trường liên quan, qua đó có khả năng ứng xử ở mức độ độc lập hơn đối với đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng

là người tiêu dùng”

Cuối cùng, thời điểm thích hợp để can thiệp vào thị trường, đồng nghĩa với hạn chế tự do giao kết hợp đồng và tự do hoạt động kinh doanh, cần được xác định qua một quá trình phân tích phức tạp Tuy nhiên, việc phân tích này chưa được thực hiện một cách hệ thống cho từng bước

5

Mặc dù Điều 81 EC chấm dứt hiệu lực kể từ khi Hiệp ước Lisbon bắt đầu hiệu lực ngày 1/12/2009, tên (cũ) này của điều khoản vẫn được sử dụng vì hầu hết tài liệu của các chuyên gia bên thứ ba tham chiếu trong báo cáo này được lập vào thời điểm trước Hiệp ước Lisbon Việc sử dụng tên (quy hoạch số) của điều khoản tương ứng trong Hiệp ước mới có thể gây nhầm lẫn Xem giới thiệu tổng quan về những quy định tương ứng sau khi Hiệp ước Lisbon bắt đầu có hiệu lực 12/2009, kể cả mối liên hệ giữa số cũ và số mới của các điều khoản tương đương tại

“Phiên bản tổng hợp Hiệp ước về Chức năng của Liên minh châu Âu” (TFEU, 2009): http://en.wikisource.org/wiki/Consolidated_version_of_the_Treaty_on_the_Functioning_of_the_European_Union , đặc biệt là Phần VII: Chương 1, “Quy tắc Cạnh tranh” và “Phiên bản tổng hợp Hiệp ước về Liên minh châu Âu”

http://en.wikisource.org/wiki/Consolidated_version_of_the_Treaty_on_European_Union/Title_I:_Common_Provi sions

Ngày đăng: 13/05/2016, 20:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Tác động của ICT đối với doanh nghiệp ở các nước đang phát triển - CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG
Bảng 1.1 Tác động của ICT đối với doanh nghiệp ở các nước đang phát triển (Trang 16)
Bảng câu hỏi sau có thể sử dụng để hướng dẫn đánh giá việc lạm dụng vị trí thống lĩnh: - CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG
Bảng c âu hỏi sau có thể sử dụng để hướng dẫn đánh giá việc lạm dụng vị trí thống lĩnh: (Trang 49)
Hình  vẽ  trên  cho  thấy  cạnh  tranh  giữa  một  doanh  nghiệp  dẫn  đầu  có  liên  kết  chiều  dọc  (vertically  integrated)  (bên  phải)  và  một  doanh  nghiệp  mới  tham  gia  thị  trường  hạ  nguồn  (downstream)  (bên  trái) - CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG
nh vẽ trên cho thấy cạnh tranh giữa một doanh nghiệp dẫn đầu có liên kết chiều dọc (vertically integrated) (bên phải) và một doanh nghiệp mới tham gia thị trường hạ nguồn (downstream) (bên trái) (Trang 65)
Hình thức  quản lý giá  cước - CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG VIỄN THÔNG
Hình th ức quản lý giá cước (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w