1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

các quy định về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

15 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 116 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Khái quát chung về thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. 1 1.Thẩm quyền xử phạt hành chính. 1 2. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. 2 II/ đánh giá tính hợp lí về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. 3 1. Ưu điểm và nhược điểm của những quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. 3 2. Ưu điểm và hạn chế của thủ tục xử lý vi phạm hành chính. 6 III. Hướng hoàn thiện các quy định về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. 10 1. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. 10 2. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. 11 IV.KẾT LUẬN: 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 1

Khái quát chung về thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

1.Thẩm quyền xử phạt hành chính.

a).Thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính: là khả năng áp dụng các biện pháp xử

lí hành chính giới hạn nhất định do pháp luật qui định cho các cá nhân hoặc tổ chức Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ thể nào đó được xác định bằng những quyền hạn mà pháp luật quy định cho chủ thể đó được áp dụng các biện pháp

xử lí với các mức độ được xác định cụ thể Theo pháp luật hiện hành , rất nhiều chủ thể có thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính Vì vậy, việc phân định thẩm quyền, xác định đúng thẩm quyền, xác định đúng chủ thể có thẩm quyền trong việc xử lí các vi phạm hành chính là một việc rất cần thiết…

Hiểu một cách đơn giản thì: “ Thẩm quyền xử lí vi phạm hành chính là quyền hạn và nghĩa vụ của các cán bộ, công chức cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xử lý vi phạm hành chính theo những thủ tục nhất định, trong phạm vi nhất định theo quy định của Pháp luật”

b.Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Nhìn chung: Thẩm quyền xử phạt hành chính là quyền lợi và nghĩa vụ xử phạt

hành chính của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành xử phạt hành chính theo thủ tục xử phạt và trong phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật.

Khác với việc xét xử của các hành vi phạm tội mà ở đó thẩm quyền thực hiện công việc này được giao cho một cơ quan duy nhất là tòa án thực hiện, việc xử phạt hành chính được giao cho nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau thực hiện Theo qui định của pháp luật , thẩm quyền xử phạt hành chính thuộc về các cơ quan như: Ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan công an nhân dân; bộ đội biên phòng;

cơ quan cảnh sát biển;cơ quan hải quan;cơ quan kiểm lâm;…

Đồng thời, pháp luật quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cụ thể của mỗi cán bộ có thẩm quyền xử phạt trong các cơ quan này Ví dụ: theo khoản 1

Điều 35 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính; “ kiểm lâm đang thi hành công vụ có quyền: a Phạt cảnh cáo; b Phạt tiền đến 200000 đồng’… Trong các văn bản pháp

luật về xử phạt vi phạm hành chính được ban hành trước Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 thì vấn đề mức phạt tiền không được quy định rõ ràng Vì vậy, trong nhiều trường hợp đã xảy ra những tranh luận xung quanh trường hợp tổ chức, các nhân thực hiện đồng thời nhiều vi phạm hành chính một lúc và mức phạt tiền tổng hợp đối với cá nhân, tổ chức vượt quá mức mà pháp luật quy định cho thẩm quyền của người xử phạt

Để khắc phục tình trạng thiếu rõ ràng về các quy định thẩm quyền cử phạt và để đảm bảo cho việc thực hiện đúng thẩm quyền xử phạt, Điều 42 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm vi phạm hành chính, cụ thể là :

Trang 2

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương

- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các Điều 31 đến Điều 41 của Pháp lện xử lý vi phạm hành chính năm 2002 có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mà mình quản lí

- Trong nhiều trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thì việc xử phạt do người thụ lí đầu tiên thực hiện

- thẩm quyền xử phạt của những người quy định tại Điều 28 đến Điều 40 của Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002 là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính, Trong trường hợp phạt tiền , thẩm quyền xử phạt hành chính được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể

- Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc;

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;

+ Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các ngành khác nhau thì thẩm quyền xử phạt thuộc chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền nơi xảy ra vi phạm

2 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

Các hoạt động của nhà nước đều có đặc tính chung là phải tuân theo những thủ tục pháp lý nhất định Nghĩa là phải tuân theo các quy định của pháp luật về thứ tự các công việc phải tiến hành, nội dung cụ thể của từng công việc và người thực hiện công việc đó Việc đặt ra các thủ tục pháp lý nhằm xác định nội dung và quy trình thực hiện các công việc một cách hợp lí giúp cho hoạt động của nhà nước tiết kiệm được thời gian, công sức và đạt được hiệu quả cao

Xử phạt vi phạm hành chính cũng là hoạt động của nhà nước nên hoạt động này cũng phải tuân theo thủ tục do pháp luật quy định Thủ tục XPVPHC được quy định chủ yếu tại Chương VI pháp lệnh XLVPHC năm 2002 Trên cơ sở pháp lệnh, ngày 14/11/2003 Chính phủ ban hành Nghị định 134/2003/CP quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh XPVPHC năm 2002, trong đó có các quy định về thủ tục XPVPHC Năm 2008 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC ban hành đã có nhiều quy định cụ thể hơn về thủ tục xử phạt, bổ sung thêm một số quy định mới để đáp úng nhu cầu thực tế…

Xuất phát từ nguyên tắc “ mọi vi phạm phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay Việc xử lí vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng và triệt để ” và “ việc xử lí vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi

Trang 3

phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề quyết định hình thức, biện pháp xử lí thích hợp…”, pháp lệnh XLVPHC quy định hai thủ

tục xử lí vi phạm hành chính như sau:

a)Thủ tục đơn giản: gọi là thủ tục đơn giản vì theo thủ tục này khi phát hiện

hành vi vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định xử phạt ngay Điều kiện để áp dụng thủ tục này là hành vi vi phạm phải đơn giản để khi phát hiện hành vi vi phạm thì người có thẩm quyền đã xác định được đó là hành vi vi phạm phạm nào, tính chất,mức độ của vi phạm, đông thời phát hiện vi phạm phải có

đủ thẩm quyền để ra quyết định xử phạt tại chỗ Chính vì vậy, pháp luật quy định thủ tục này được áp dụng trong trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.0000 đồng (sửa đổi, bổ sung năm 2008) Đó là hành vi đơn giản và mức phạt được áp dụng phù hợp với thầm quyền của hầu hết các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

b)Thủ tục lập biên bản: thủ tục này khác thủ tục đơn giản ở chỗ, khi phát hiện

hành vi vi phạm, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt ngay mà phải lập biên bản VPHC Sở dĩ trong trường hợp này cần phải lập biên bản vì hành

vi vi phạm phức tạp nên trong thời gian ngắn (ngay khi phát hiện vi phạm)và với những biểu hiện bên ngoài của hành vi vi phạm được nhận biết một cách trực tiếp thường không đủ để đánh giá chính xác các loại vi phạm, tính chất, mức độ của vi phạm nên không thể ra quyết định xử phạt ngay Trong khi đó, xử phạt vi phạm hành chính phải đúng người, đúng vi phạm nên việc ghi lại các sự kiện, hiện tượng, tình tiết, số liệu liên quan đến vi phạm làm căn cứ để sau đó xử phạt là rất cần thiết

Hành vi vi phạm được phát hiện nhưng người phát hiện không đúng thẩm quyền

xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt thì lại không có mặt tại nơi xảy ra vi phạm nên cần phải lập biên bản để cung cấp thông tin cho người có quyết định xử phạt

II/ đánh giá tính hợp lí về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

1 Ưu điểm và nhược điểm của những quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

a.Ưu điểm:

- Trong hệ thống pháp luật hiện hành liên quan đến thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho thấy các chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đã được quy định tương đối đầy đủ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực quản lý nhà nước đều có chức danh được trao thẩm quyền tiến hành hoạt động này Đó là điều kiện quan trọng bảo đảm phát hiện nhanh chóng và và xử lý kịp thời mọi trường hợp vi phạm, đáp ứng đòi hỏi của nguyên tắc thứ nhất trong xử lý vi phạm hành chính là

“mọi vi phạm hành chính đều được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay”

- Trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã tăng thẩm quyền phạt tiền cho các

chức danh cơ sở nhằm thực hiện chủ trương phân cấp mạnh cho cơ sở trong việc xử

lý vi phạm hành chính, đồng thời cũng quy định tăng thẩm quyền phạt tiền cho các

Trang 4

chức danh thuộc cơ quan chuyên ngành nhằm khắc phục tình trạng đùn đẩy lên các

cơ quan cấp trên dẫn đến quá tải trong xử lí vi phạm hành chính

Ví dụ: Theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính sửa đổi bổ sung năm 2008 thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền phạt tiền đến 30.000.000 đồng, cao hơn so với quy định của Pháp lệnh

xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 là 10.000.000 đồng

- thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thể hiện tập trung và tương đối đầy đủ, rõ ràng trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính là căn cứ quan trọng và điều kiện thuận lợi để quy định cụ thể trong các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước Các Nghị định này về cơ bản đã đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật quy định về thẩm quyền xử phạt

- Các quy định hiện hành đi theo khuynh hướng trao thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gần với thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra Điều đó góp phần quan trọng trong việc giáo dục, răn đe người vi phạm bảo đảm khắc phục hậu quả của vi phạm đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính

- Các quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền đã giúp người có thẩm quyền

xử phạt đỡ lúng túng trong việc xác định vụ việc cụ thể có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không và giúp cấp trên của họ dễ dàng hơn trong đánh giá kết quả hoạt động của xử phạt vi phạm hành chính nói chung cũng như xác định của cấp dưới trong từng vụ việc cụ thể

- Các quy định về ủy quyền được đặt ra tương đối hợp lý Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định rõ người có thẩm quyền xử phạt chỉ ủy quyền trong trường hợp vắng mặt; Nghị định của Chính phủ số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 đặt ra những đòi hỏi rất khắt khe khi tiến hành ủy quyền, đó là người có thẩm quyền xử phạt chỉ được ủy quyền cho cấp phó trực tiếp của mình, việc ủy quyền phải được thể hiện thành văn bản và người được ủy quyền không được ủy quyền trực tiếp

b.Nhược điểm: trong hệ thống quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành

chính đã bộc lộ không ít những hạn chế như:

- Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đã quy định bằng cách liệt kê các chức danh

có thẩm quyền xử phạt, mỗi chức danh đã được quy định rõ hình thức, mức xử phạt

và các biện pháp cưỡng chế khác mà các chủ thể có quyền áp dụng khi xử phạt vi phạm hành chính Ngoài ra những ưu điểm của phương pháp này đã được phân tích

ở trên thì phương pháp liệt kê thẩm quyền Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính còn những nhược điểm như sau: đó là sự không linh hoạt để theo kịp những thay đổi về

tổ chức trong các cơ quan quản lý và thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính Thực tiễn quản lý cho thấy những đơn vị thuộc cơ quan nhà nước thành lập chức danh trong cơ quan quản lý nhà nước được quyết định sau thời điểm Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực nên không được pháp lệnh quy định

về thẩm quyền xử phạt Nhưng các cơ quan quản lí chuyên ngành mới được thành

Trang 5

lập có hoạt động đặc thù là người trực tiếp phát hiện các vi phạm hành chính nên xuất hiện nhu cầu bổ sung các chức danh có thẩm quyền xử phạt Trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay thì nhu cầu này xuất hiện tương đối thường xuyên mà việc sửa đổi, bổ sung lại không thể tiến hành thường xuyên được

Ví dụ: trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi bổ sung năm 2007

và năm 2008 không quy định thẩm quyền xử phạt của cá nhân đứng đầu các cơ quan thuộc bộ như cục trưởng các cục: Cục bảo vệ thực vật, Cục thú y, Cục vệ sinh- an toàn thực phẩm,…mặc dù các cục này được tổ chức để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chuyên ngành

- Tiếp theo là những bất hợp lý trong các quy định về thẩm quyền xử phạt của thanh tra chuyên ngành Trong khi các vi phạm hành chính trên các lĩnh vực quản lí rất khác nhau về tính chất, mức độ vi phạm trong các lĩnh vực cũng không như nhau những thẩm quyền xử phạt của các chức danh thanh tra viên chuyên ngành trong tất

cả các ngành, lĩnh vực đều giống nhau

Ví dụ: Điều 38 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định về thẩm quyền xử lý

vi phạm hành chính của thanh tra chuyên ngành: Khoản 1 quy định : “ thanh tra viên chuyên ngành đang thi công vụ có quyền: phạt cảnh cáo; phạt tiền 500000 đồng.

Có những lĩnh vực quản lý do có tính chất đặc thù mà các hành vi vi phạm có mức

xử lý rất cao, trong khi đó thẩm quyền của thanh tra viên chuyên ngành lại hạn chế

- Những hạn chế về thẩm quyền xử phạt của người trực tiếp thi hành công vụ, nhiệm vụ thể hiện ở thẩm quyền áp dụng mức phạt tiền của người trực tiếp thi hành công vụ, nhiệm cụ còn quá thấp vì những người trực tiếp thi hành công vụ là lực lượng thường xuyên trong lĩnh vực kiểm tra, phát hiện vi phạm nhưng thẩm quyền

xử phạt của họ lại rất thấp

Ví dụ: Chiến sĩ công an, bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, nhân viên thuế vụ đang thi hành công vụ chỉ được phạt tiền đến 200000 đồng, đội trưởng của những người này cũng chỉ có thẩm quyền phạt đến 500000 đồng.Thanh tra viên chuyên ngành được phạt đến 500000 đồng.

Ngoài hai hình thức phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền, các chức danh trực tiếp thi hành công vụ không có thẩm quyền áp dụng các hình phạt bổ sung hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra (trừ thẩm quyền của thanh tra viên chuyên ngành được áp dụng thêm các biện pháp là ; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng ; Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả…) Vì thếm, mặc dù hành vi vi phạm nhỏ, mức phạt tiền được quy định nằm trong phạm vi thẩm quyền cảu những người đang trực tiếp thi hành công vụ nhưng nếu có tang vật , hoặc phương tiện cần tịch thu hoặc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra thì người trực tiếp thi hành công vụ đều phải chuyển vụ việc đến người khác có thẩm quyền giải

Trang 6

quyết Như vậy, sẽ dẫn đến những thiếu sót, làm giảm độ chính xác trong xử phạt vi phạm hành chính

- Các quy định hiện hành về thẩm quyền xử phạt hành chính chưa thực sự gắn với thẩm quyền xử phạt của các chức danh với hành vi hoặc nhóm hành vi nhất định Hạn chế này khiên các chức danh có thẩm quyền xử phạt trong những ngành có phạm vi quản lý bao gồm nhiều lĩnh vực rất lúng túng trong việc xác định thẩm quyền trong vụ việc cụ thể Dẫn đến quá tải về số lượng vụ việc trong một số ngành, lĩnh vực và khó khăn trong việc phối hợp giữa các chức danh có thẩm quyền xử phạt thuộc các ngành, các lĩnh vực khác nhau Trong cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo hướng xây dựng các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực thì hạn chế ngày càng thấy rõ

2 Ưu điểm và hạn chế của thủ tục xử lý vi phạm hành chính.

a Ưu điểm: Việc chia thủ tục xử phạt vi phạm hành chính thành hai loại có ý

nghĩa: đối với vụ việc đơn giản, rõ ràng như điều khiển xe vượt đèn đỏ, đi vào đường cấm, đường ngược chiều,… thì người có thẩm quyền xử phạt có thể quyết định xử phạt ngay; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt tại chỗ, vụ việc được giải quyết nhanh chóng, đơn giản Điều đó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan nhà nước và người thi hành công vụ mà còn cho cả cá nhân, tổ chức

vi phạm Ngược lại, với những vụ việc phức tạp, đòi hỏi phải xác minh, làm rõ những tình tiết vi phạm thì việc lập biên bản sẽ đảm bảo việc xử phạt được khách

quan, chính xác, không phạt “oan” cá nhân, tổ chức

Như vậy, nếu thủ tục đơn giản tạo điều kiện xử lí vi phạm hành chính nhanh gọn thì thủ tục có lập biên bản xử phạt hành chính có cơ sở Mặt khác, biên bản hành chính cũng là cơ sở để người bị xử phạt khiếu nại, khởi kiện và cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và xét xử vụ kiện đơn vị quyết định xử phạt vi phạm hành chính Việc quyết định hai thủ tục xử phạt vi phạm hành chính tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động xử phạt, vừa nhanh chóng vừa chính xác trong những khả năng và điều kiện cho phép

b.Nhược điểm: Thực tiễn đấu tranh, phòng chống vi phạm hành chính, việc quyết

định và áp dụng hai thủ tục nói trên tồn tại một số vấn đề chưa hoàn toàn thỏa đáng

b.1 Việc áp dụng thủ tục đơn giản: mức tiền phạt được nâng lên từ 100.000 đồng

(Pháp lệnh XLVPHC năm 2002) lên 200.000 đồng năm 2008 Việc nâng mức tiền phạt là rất cần thiết để khắc phục tình trạng vụ việc vi phạm dồn ứ lên cấp trên để giải quyết Nhưng mức tiền phạt như vậy vẫn còn thấp, nhiều vụ vi phạm vẫn chưa thể xử lý theo thủ tục này

b.2)Đối với thủ tục lập biên bản: -Về nội dung của biên bản:được quy định tại

Khoản 2 Điều 55 Pháp lệnh XLVPHC Điều 55 Pháp lệnh quy định nội dung của biên bản đã thể hiện rõ tính khoa học, chặt chẽ và phù hợp Tuy nhiên, một số quy đinh, của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP (hướng dẫn thi hành Pháp lệnh XLVPHC năm 2002) và mẫu biên bản để xử phạt còn quá dài, mất thời gian ảnh hưởng đến kết

Trang 7

quả xử lý vi phạm trong nhiều trường hợp, người có trách nhiệm xử lý đã chuyển vụ việc về giải quyết theo thủ tục đơn giản với mức thấp hơn nhiều để tránh thủ tục lập biên bản, dẫn đến lọt nhiều hành vi vi phạm không được xử lý thỏa đáng Các mẫu quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, mẫu quyết định xử phạt, mẫu biên bản đều rườm rà, chưa phù hợp với thực tế; biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC, theo quy định phải có hai người làm chứng, trên thực tế áp dụng rất khó, đề nghị chỉ nên quy định một người làm chứng mẫu biên bản VPHC chưa hợp lý, vừa thừa, vừa thiếu,cụ thể: phần nội dung về điều, khoản quy định hành vi vi phạm của

tổ chức, cá nhân chỉ in một dòng nên khi có hai hành vi vi phạm thì phải lập hai biên bản

- Về quyết định xử phạt, nội dung quyết định xử phạt: được quy định tại Điều 56

Pháp lệnh

Quyết định xử phạt, nội dung của quyết định xử phạt: quy định tại Điều 56 của

Pháp lệnh XLVPHC năm 2002

Đây là một trong những điều của Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung cơ bản theo quan điểm tạo điều kiện cho cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt trong việc quyết định

xử phạt nhưng cũng phải bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức (vụ việc vi phạm, dù phức tạp, cũng không thể quá kéo dài, gây ảnh hưởng không tốt đến sinh hoạt, đời sống, đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của cá nhân, tổ chức) Điều 56 Pháp lệnh quy định ba loại thời hạn: 10 ngày đối với vụ việc đơn giản; 30 ngày đối với vụ việc phức tạp; đối với vụ việc phức tạp, cần có thời gian xác minh thêm, thì người có thẩm quyền xử phạt được xin gia hạn thêm 30 ngày nữa Quá các thời hạn này, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp

xử phạt trục xuất Điều 21 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP còn quy định cụ thể các trường hợp mà quá thời hạn, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định

xử phạt: trường hợp đã quá các thời hạn ra quyết định xử phạt, đã hết thời hạn mà người có thẩm quyền xử phạt không xin gia hạn hoặc đã xin gia hạn nhưng không được cấp có thẩm quyền cho phép gia hạn Quá trình thực hiện pháp luật XPVPHC

đã cho thấy, quy định này là phù hợp với thực tế Tuy nhiên, cũng còn ý kiến cho rằng, thời hạn 30 ngày là quá ít vì nhiều vụ việc cần phải có thời gian để xác minh, thu thập tài liệu liên quan đến nhiều đối tượng, nhiều địa bàn hoặc một số đối tượng

vi phạm hành chính sau khi lập biên bản vi phạm hành chính đã bỏ đi khỏi địa phương trong thời gian dài, gây khó khăn cho việc xử lý

Một khó khăn khi thực thi Miều 56 là việc Pháp lệnh và Nghị định số

134/2003/NĐ-CP chưa quy định cụ thể thủ trưởng trực tiếp có quyền gia hạn thêm thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm Trong trường hợp Chủ tịch UBND cấp tỉnh cần gia hạn thời hạn ban hành quyết định xử phạt thì cần xin phép Thủ tướng Chính phủ hay Bộ trưởng? Đây là vấn đề không phức tạp nhưng cũng cần được xem xét và quy định rõ khi nghiên cứu, xây dựng Luật XLVPHC

d Về xử lý tang vật, phương tiện bị tịch thu

Trang 8

Trước đây, theo quy định tại Điều 52 Pháp lệnh XLVPHC năm 1995, đối với tang vật bị tịch thu sung quỹ nhà nước thì người ra quyết định tịch thu có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện và chuyển cho cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên để

cơ quan này lập Hội đồng định giá và tổ chức bán đấu giá Tuy nhiên, thực tế nhiều khi phương tiện, tang vật của vụ vi phạm khi định giá để bán đấu giá theo cơ chế nội

bộ đã được đánh giá với mức thấp hơn giá trị thực, gây thất thoát tài sản Do đó, Điều

61 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 đã quy định theo hướng: đối với tang vật, phương tiện vi phạm có giá trị dưới 10 triệu đồng thì người quyết định tịch thu phải chuyển cho cơ quan tài chính cấp huyện tổ chức bán đấu giá; tang vật, phương tiện vi phạm

có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên thì người quyết định tịch thu phải giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh để bán đấu giá theo quy định của pháp luật Quy định này đảm bảo tính công khai, khách quan và chính xác trong khi xử lý tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu Tuy nhiên, quy định này cũng còn có điểm hạn chế:

Thứ nhất, làm thế nào xác định được giá trị tang vật, phương tiện vi phạm để chuyển cho cơ quan tài chính cấp huyện hoặc Trung tâm bán đấu giá cấp tỉnh?; Thứ hai,

trong một số trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm bị tịch thu khó vận chuyển lên cấp tỉnh, nơi có trung tâm bán đấu giá để bán đấu giá (như trường hợp tang vật là

gỗ bị tịch thu) Để giải quyết vướng mắc thứ nhất, Điều 31 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP quy định: sau khi tiến hành tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, xét thấy cần tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm mà không xác định

rõ giá trị tang vật, phương tiện đó thì người đã ra quyết định tạm giữ phải mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, đánh giá tang vật, phương tiện vi phạm Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm thuộc loại khó xác định hoặc chưa có ý kiến thống nhất giữa người có thẩm quyền tịch thu và đại diện cơ quan tài chính thì người có thẩm quyền quyết định tịch thu lập Hội đồng định giá tang vật, phương tiện

vi phạm với sự tham gia của đại diện Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh và đại diện cơ quan có liên quan để định giá Nếu trị giá tang vật, phương tiện vi phạm thuộc thẩm quyền của người đã ra quyết định tạm giữ thì người đó tiến hành tịch thu theo quy định; nếu trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vượt quá thẩm quyền tịch thu của người đó thì phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt Trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu đã được xác định là căn cứ để xem xét, quyết định việc chuyển giao tang vật, phương tiện cho Trung tâm bán đấu giá tài sản cấp tỉnh hoặc chuyển cho cơ quan tài chính cấp huyện bán đấu giá Về cơ bản, quy định này đảm bảo tính chặt chẽ về mặt pháp lý, tuy nhiên tính khả thi cần được cân nhắc thêm bởi việc mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp hoặc đại diện Trung tâm bán đấu giá cấp tỉnh đến để định giá là điều khó khăn và nhiều khi không thể thực hiện được

Để khắc phục một số khó khăn, vướng mắc vừa nêu, khoản 1, Điều 61 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh XLVPHC (2008) đã được sửa đổi theo hướng phù hợp hơn: đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan trung ương

Trang 9

hoặc của cơ quan cấp tỉnh ra quyết định tịch thu thì giao cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá cấp tỉnh, nơi cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu đóng trụ sở để bán đấu giá Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính do người có thẩm quyền của cơ quan cấp huyện trở xuống ra quyết định tịch thu thì thành lập Hội đồng bán đấu giá của cấp huyện để bán đấu giá Việc bán đấu giá tang vật, phương tiện bị tịch thu được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá Đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu mà không bán được thì cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu thành lập Hội đồng để thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật Tiền thu được từ bán đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, sau khi trừ các chi phí theo quy định của pháp luật phải được nộp vào ngân sách nhà nước qua tài sản mở tại kho bạc nhà nước

f Cưỡng chế thi hành quyết định XPVPHC

Đây cũng là một trong những vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Mặc dù các biện pháp cưỡng chế cũng như thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế đã được quy định cụ thể tại Điều 66 và Điều 67 Pháp lệnh XLVPHC, nhưng việc cưỡng chế vẫn gặp những khó khăn nhất định do chưa có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế, như biện pháp khấu trừ tiền từ tài khoản tại ngân hàng Theo ý kiến của nhiều Bộ, ngành, địa phương thì việc trừ tiền tại ngân hàng gặp khó khăn do các ngân hàng vì mục đích kinh doanh, để bảo vệ khách hàng nên thường không muốn phối hợp, thực hiện việc cưỡng chế nộp tiền phạt qua ngân hàng Mặt khác, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là công việc khó khăn, phức tạp, trong khi đó trình tự, thủ tục cưỡng chế chưa được ban hành cũng là vấn đề gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền xử phạt Mặc dù Pháp lệnh XLVPHC được ban hành lần đầu tiên vào năm 1989 (sau đó là các pháp lệnh năm 1995 và 2002) nhưng mãi đến ngày 18/03/2005, Chính phủ mới ban hành Nghị định số 37/2005/NĐ-CP quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định XPVPHC Khó khăn khác trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế là cơ quan có thẩm quyền xử phạt không có lực lượng chuyên trách để thi hành các quyết xử phạt vi phạm hành chính vì theo quy định tại Điều 67 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 và Nghị định số 37/2005/NĐ-CP thì những người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế và có nhiệm vụ tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm của mình và của cấp dưới, các cơ quan chức năng của UBND có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND cùng cấp theo sự phân công của Chủ tịch, lực lượng cảnh sát nhân dân chỉ có trách nhiệm bảo đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của cơ quan khác của Nhà nước khi được các cơ quan đó yêu cầu Tuy nhiên, quy định này khó khả thi vì cơ quan xử phạt, cơ quan chuyên môn thuộc UBND không đủ lực lượng để tổ chức cưỡng chế Việc ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực thuế khi đã

Trang 10

áp dụng hết các biện pháp xử phạt như nộp chậm, tạm đình chỉ sử dụng hoá đơn lại gặp rất nhiều khó khăn trong thực hiện cưỡng chế như: không có một cơ quan chuyên trách chịu trách nhiệm cưỡng chế thu hồi tiền cho ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, ngành thuế phải tranh thủ sự ủng hộ của UBND các cấp, của cơ quan bảo

vệ pháp luật cùng phối hợp thực hiện nên quá trình làm có lúc chưa đồng bộ, mất nhiều thời gian, làm giảm hiệu lực pháp luật trong khi thi hành cưỡng chế Để khắc phục tình trạng này, Điều 114 Luật Quản lý thuế quy định xử phạt với mức phạt tương ứng với số tiền phải nộp của người nộp thuế (bao gồm cả tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế) đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng trong trường hợp tại thời điểm trích chuyển, tài khoản tiền gửi của người nộp thuế có số dư đủ hoặc thừa so với số tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế mà người nộp thuế phải nộp nhưng ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác không thực hiện trích toàn bộ hoặc một phần tương ứng số tiền phải nộp của người nộp thuế Tinh thần này cũng

đã được thể hiện trong Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh XLVPHC năm 2002

III Hướng hoàn thiện các quy định về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính.

1 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động có tác động trực tiếp tới quyền và lợi ích

của cá nhân, tổ chức nên các quy định mang tính nguyên tắc cần phải được thể hiện trong các văn bản pháp lý do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành dưới hình thức Luật hoặc Bộ luật

Vi phạm hành chính là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nên có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực của nhà nước, vì vậy không nên đặt vấn đề giới hạn lĩnh vực có các chức danh được trao thẩm quyền xử phạt Mọi lĩnh vực quản lý nhà nước đều cần có các chức danh được trao thẩm quyền xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Quy định về các chức danh có thẩm quyền xử phạt cần áp dụng các quy định theo hướng mở để đảm bao khi có chức danh mới với vị trí tương đương và phạm vi quyền hạn, nhiệm vụ tương tự như các chức danh đang hiện hữu thì không nhất thiết phải sửa đổi, bổ sung

Quy định về các chức danh có thẩm quyền XPVPHC cũng như hình thức và mức phạt mà chủ thể có quyền áp dụng phải được thể hiện chủ yếu trong luật (hoặc bộ luật) về xử lý vi phạm hành chính nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức

Cần phân cấp mạnh hơn cho các chức danh có thẩm quyền xử phạt cấp cớ sở bởi

đó là lực lượng chủ yếu kiểm tra, phát hiện vi phạm Việc tăng thẩm quyền về mức phạt cho các chức danh này phải được hai mục đích là nâng cao ý thức trách nhiệm,

Ngày đăng: 13/05/2016, 20:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w