1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tranh chấp về bất động sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản với 2 vụ việc cụ thể

15 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 133 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. ĐẶT VẤN ĐỀ Bất động sản là những tài sản có giá trị lớn và khá phức tạp, hiện nay việc thực thi áp dụng pháp luật về vấn đề này đang gặp phải rất nhiều khúc mắc. Vì vậy trong thời gian gần đây pháp luật về tranh chấp bất động sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này nhóm em đã tìm hiểu về vấn đề “ Tranh chấp về bất động sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản với 2 vụ việc cụ thể”. Trong quá trình nghiên cứu và tìm tòi do những hạn chế về mặt khách quan và chủ quan nên nhóm chúng em khó tránh khỏi những sai sót, chúng em mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Bất động sản là những tài sản có giá trị lớn và khá phức tạp, hiện nay việc thực thi áp dụng pháp luật về vấn đề này đang gặp phải rất nhiều khúc mắc Vì vậy trong thời gian gần đây pháp luật về tranh chấp bất động sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản đang trở thành một trong những vấn đề thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Xác định được tầm quan trọng của vấn đề

này nhóm em đã tìm hiểu về vấn đề “ Tranh chấp về bất động sản được dùng để

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản với 2 vụ việc cụ thể” Trong quá trình

nghiên cứu và tìm tòi do những hạn chế về mặt khách quan và chủ quan nên nhóm chúng em khó tránh khỏi những sai sót, chúng em mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I.Cơ sở lý luận.

1.Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

1.1Khái niệm các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự.

Nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển, càng hội nhập sâu rộng thì các giao dịch dân sự cũng ngày càng đa dạng, mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro Bởi vậy, để khắc phục, ngăn chặn điều này, các nhà làm luật đã dự phòng thông qua việc xây dựng các quy định của pháp luật về các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự được hiểu theo

2 phương diện:

-Về mặt khách quan: Là sự quy định của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao

dịch dân sự hoặc các quan hệ dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định và bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó

-Về mặt chủ quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các

bên nhằm qua đó đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra

1.1

Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm (BPBĐ) nghĩa vụ dân sự

● Các BPBĐ mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính: Các BPBĐ nghĩa vụ

dân sự không tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc và gắn liền với một nghĩa vụ nào

Trang 2

đó Sự phụ thuộc thể hiệ ở chỗ: khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới cùng nhau thiết lập một BPBĐ Nghĩa là việc đảm bảo thực hiện nghĩa vụ không tồn tại một cách độc lập nội dung, hiệu lực của các BPBĐ phù hợp và phụ thuộc vào nghĩa vụ chính Vì vậy, người ta gọi nghĩa vụ phát sinh từ các BPBĐ là nghĩa vụ phụ

● Các BPBĐ chỉ phát sinh trên cơ sở có sự thỏa thuận của các bên chủ thể:

Nói cách khác các BPBĐ không mặc nhiên phát sinh bên cạnh các hợp đồng chính trừ trường hợp các quan hệ vay tiền trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng Như vậy, không phải bên cạnh hoạt động mua bán nhà luôn là hợp đồng đặt cọc, hay bên cạnh hợp đồng vay tiền là hợp đồng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh Các BPBĐ này

có xuất hiện hay không là phụ thuộc vào sự thỏa thuận, định đoạt của các bên chủ thể

● Đối tượng của các BPBĐ là những lợi ích vật chất: Nghĩa vụ cần được bảo

đảm là nghĩa vụ mang tính chất tài sản (như nghĩa vụ thanh toán tiền hay nghĩa vụ thực hiện một công việc trị giá được bằng tiền…), cho nên đối tượng của các BPBĐ cũng phải mang tính tài sản Bởi chỉ có lợi ích vật chất hoặc tài sản mới bù đắp, khấu trừ được các lợi ích vật chất bị mất mát, thiệt hại

● Các BPBĐ nghĩa vụ dân sự chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ:

Cho dù các bên đã đặt ra một BPBĐ bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng BPBĐ đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách đầy đủ Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ dân sự, bên có nghĩa vụ tự giác thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người có quyền, và nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì BPBĐ đó cũng được coi

là chấm dứt

● Phạm vi bảo đảm của các BPBĐ do các bên thỏa thuận có thể là toàn bộ hay một phần nghĩa vụ: Điều 319 BLDS quy định: “Nghĩa vụ dân sự có thể được đảm bảo một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thảo thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm, thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại” Như vậy, phạm vi bảo đảm có thể là toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ và về

nguyên tắc, phạm vi của các BPBĐ không thể vượt quá phạm vi nghĩa vụ chính

● Mục đích của các BPBĐ: nhằm nâng cao trách nhiệm của các bên trong

quan hệ nghĩa vụ dân sự Thông thường khi đặt ra BPBĐ, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, các bên còn hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm được giao kết hợp đồng của cả hai bên Mục đích của các BPBĐ được thể hiện

Trang 3

thông qua các chức năng của từng biện pháp cụ thể Mỗi một BPBĐ có đặc điểm

và tính chất riêng biệt, nên chức năng của chúng không thể giống nhau hoàn toàn Một chức răng riêng biệt có ở biện pháp này nhưng không có ở biện pháp khác Nhưng nếu nhìn một cách tổng thể, thì các BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự đều có

3 chức năng nói chung: chức năng tác động, chức năng dự phòng và chức năng dự phạt

1.3 Đối tượng của biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự

* Tài sản, điều kiện của tài sản đó là:

- Thuộc sở hữu của bên bảo đảm và không có tranh chấp, trừ 2 TH:

+ Bên thuê trong hợp đồng thuê động sản phải đăng kí quyền sở hữu mà thời hạn thuê từ 1 năm trở lên có quyền dùng tài sản thuê đó đi bảo đảm

+ Bên mua trong hợp đồng mua bán trả chậm, trả dần cung được dùng tài sản này

để mang đi bảo đảm khi chưa thanh toán hết tiền

-Tài sản bảo đảm được xác định cụ thể, để phục vụ cho việc xử lý tài sản trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ

-Giá trị tài sản nếu không có thỏa thuận gì khác thì phải lớn hơn hoặc bằng giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm

-Tài sản bảo đảm phải được phép giao dịch

* Công việc phải thực hiện, điều kiện:

- Công việc đó phải được xác định cụ thể

- Công việc phải có khả năng thực hiện được

- Không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội

* Uy tín

2 Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản có đối tượng dùng

để đảm bảo là bất động sản

* Quy định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ vay tài sản có đối tượng dùng để đảm bảo là bất động sản

2.1 Cầm cố

Trang 4

Điều 326 Bộ luật dân sự (BLDS) quy định “Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự Khoản 1, điều 432 quy định “Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia

và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp”

Theo những quy định trên thì khi cầm cố tài sản, người cầm cố phải chuyển tài sản đó để cho người nhận cầm cố quản lý và sử dụng Còn đối với thế chấp tài sản thì người thế chấp được giữ lại tài sản thế chấp, chỉ dùng quyền sở hữu tài sản

đó để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ Điểm chung của hai loại hình này theo quy định

là phải được lập thành văn bản Tuy nhiên đối với thế chấp tài sản nếu pháp luật có quy định thì việc thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký giao dịch đảm bảo

Như vậy có thể thấy cầm cố tài sản được dùng cho các giao dịch là các loại động sản thông thường và thế chấp tài sản được áp dụng đối với những loại tài sản

có giá trị lớn là các bất động sản và động sản có đăng ký quyền sở hữu

2.2 Thế chấp

Theo quy định tại Điều 342của Bộ luật dân sự thì “thế chấp tài sản là việc một bên dung tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận tài sản”.

Tài sản thế chấp do bên thế chấp giữ Các bên cũng có thể thoả thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản thì bất động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Trong tường hợp thế chấp một phần bất động sản, mà các bên không có thoả thuận về tài sản phụ đó thì tài sản phụ đó cũng thuộc tài sản thế chấp

Việc thế chấp quyền sử dụng đất phải thực hiện theo quy định tại Điều 715 đến Điều 721 Bộ luật dân sự năm 2005 và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Tài sản thế chấp là tài sản có thực và cũng có thể là tài sản hình thành trong tươnglai

Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản thì vật phụ của độ bất động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Trong tường hợp thế chấp một phần bất động sản mà các bên không có thoả thuận về tài sản phụ đó thì tài sản phụ đó cũng thuộc tài sản thếchấp

Trang 5

Việc thế chấp quyền sử dụng đất phải thực hiện theo quy định tại Điều 715 đến Điều 721 Bộ luật dân sự năm 2005 và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Trên thực tế hiện nay việc thế chấp tài sản hiện đang được sử dụng rất thông dụng trong các giao dịch đảm bảo, nhất là trong giao dịch với các ngân hàng thương mại 2.3 Bảo lãnh

Theo quy định tại điều 361 BLDS năm 2005 thì “bảo lãnh là việc người thứ

ba cam kết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh thì phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.

Bên bảo lãnh phải dùng tài sản thuộc sở hữu của mình hoặc tự mình thực hiện một công việc để chịu tránh nhiệm thay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ hoặc gây ra thiệt hại cho bên nhận bảo lãnh Khi bên bảo lãnh thực hiện xong những cam kết trước bên nhận bảo lãnh, thì quan hệ nghĩa vụ chính cũng như việc bảo lãnh được coi là chấm dứt Khi đó, bên bảo lãnh có quyền yêu cầu người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mình trong phạm vi đã được bảo lãnh; bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu có thỏa thuận giữa họ với người được bảo lãnh hoặc pháp luật có quy

*Xử lý bất động sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ vay tài sản.

- Qsdđ là tài sản đảm bảo trong hđ vay ts được xử lý trong 2 trường hợp: + Khi đến hạn thanh toán nợ mà người thế chấp qsdđ không thanh toán số nợ đã vay ở hđ vay ts

+ Khi đến hạn thanh toán nợ mà người thế chấp qsdđ không thanh toán đủ số nợ

đã vay ở hđ vay ts

- Phương thức xử lý qsdđ là theo thỏa thuận của các bên Thỏa thuận này không trái với quy tắc chung của pháp luật dân sự và đạo đức xã hội

Thỏa thuận của các bên là căn cứ đầu tiên để xử lý qsdđ thế chấp Trong trường hợp không có thỏa thuận hoặc không xử lý được theo thỏa thuận thì bên nhận thế chấp có quyền khởi kiện tại tòa án

Trang 6

- Thứ tự ưu tiên thanh toán: tương tự như các tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác Điều 325 Bộ Luật Dân sự 2005 quy định: Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định như sau:

1 Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký thì việc xác định thứ tự

ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký;

2 Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa

vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán;

3 Trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân

sự mà các giao dịch bảo đảm đều không có đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm

Như vậy, khác với xử lý các tài sản thế chấp khác được bán đấu giá nếu không

có sự thỏa thuận, đối với tài sản thế chấp là qsdđ, phương thức xử lý lại thông qua một vụ kiện tại tòa án Đây là một quy định mới mở rộng quyền tự do thỏa thuận của các bên đồng thời hạn chế sự can thiệp của cơ quan quản lý hành chính vào quan hệ dân sự, khắc phục những hạn chế của phương thức xử lý trước đây

II Các vụ việc có thật.

1.Vụ việc 1

Ngày 19/10/2009, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 130/2009/TLST-KDTM ngày 26/06/2009 về tranh chấp liên quan đến thế chấp trong hợp đồng vay tiền

* Các đương sự

 Nguyên đơn (bên nhận thế chấp):

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam - số 70 + 72 Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội – do ông Phạm Đức Toàn làm đại diện (sau đây gọi là

ngân hàng)

 Bị đơn (bên vay):

Vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng Cùng trú tại

số 05/99 ngõ 281 Trương Định, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội

 Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (bên thế chấp):

Vợ chồng ông Lê Văn Dương và bà Nghiêm Thị Thu Hà Cùng trú tại thôn

Nghĩa Lại, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Trang 7

* Tóm tắt nội dung vụ việc:

Ngày 14/09/2007, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, ông Phạm Tuấn Dũng và Ngân

hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Thăng Long tiến hành kí kết hợp đồng tín dụng số 14/09/2007 với nội dung: Ngân hàng cho bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng vay 1.000.000.000 đồng, với mục đích vay vốn góp vốn kinh doanh; thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất vay là 1,1%/tháng, lãi suất

nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay

Để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng nêu trên, tại phòng công chứng số 01 thành phố Hà Nội, bên thế chấp, bên nhận thế chấp và bên vay cùng tiến hành hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba với nội dung: ông Lê Văn Dương cam kết dùng quyền sử dụng đất ở và đất vườn liền kề diện tích 400m2 tại thửa đất

số 53 tờ bản đồ số 124 toạ lạc tại thôn Nghĩa Lại, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội cấp ngày 28/06/2002 đứng tên ông, để đảm bảo cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam theo hợp đồng tín dụng số 14.09.07/HĐTD Hợp đồng thế chấp ngày 13/09/2007 được đăng kí giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng kí đất và nhà huyện Đông Anh ngày 13/09/2007

Thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ngày 14/09/2007, Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng 1.000.000.000 đồng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông Dũng bà Nhung đã thanh toán được nợ gốc là 398.351.543 đồng và lãi phát sinh là 136.294.571 đồng Ngân hàng nhiều lần yêu cầu nhưng bà Nhung và ông Dũng không thanh toán hết

nợ gốc và lãi phát sinh Vì vậy ngày 19/05/2009 Ngân hàng TMCP Công thương

Việt Nam làm đơn khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại đến Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, đề nghị Toà án buộc bà Nhung và ông Dũng thanh toán cho ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 14/09/07/HĐTD gồm nợ gốc 601.648.457 đồng, lãi suất phát sinh tính đến ngày 30/04/2009 là 74.451.649 đồng Trường hợp ông bà không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Toà án buộc Người thế chấp thực hiện nghĩa vụ thế chấp theo hợp đồng thế chấp của người thứ ba đã ký kết với ngân hàng

Tại phiên toà, bên nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bên bị đơn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật

Trang 8

Bà Nghiêm Thị Thu Hà – người có quyền và nghĩa vụ liên quan có ý kiến: Sự việc chồng bà là ông Lê Văn Dương dùng sổ đỏ để thế chấp quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo cho khoản vay của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam, bà hoàn toàn không hề biết

Bà cũng không ký bất cứ giấy tờ nào để bảo lãnh cho bà Nhung, ông Dũng vay tiền Và bà cũng không biết bà Nhung, ông Dũng là ai Nay ngân hàng kiện đòi tiền, yêu cầu bà Nhung và ông Dũng là người đứng tên vay tiền Ngân hàng thì phải

có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng; bà không đồng ý phát mãi tài sản của vợ chồng bà

* Giải quyết của Toà án

Căn cứ vào quy định của pháp luật dân sự, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam đối với bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng về Hợp đồng tín dụng số 14/09/07 kí ngày 14/09/2007

- Buộc bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng phải thanh toán cho ngân hàng tiền nợ gốc 601.648.457 đồng và tiền lãi phát sinh là 131.039.032 đồng, tổng cộng là 732.687.489 đồng

- Sau khi án có hiệu lực pháp luật mà bà Nhung và ông Dũng chưa trả số tiền trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Thi hành án phát mại tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất ở và đất vườn liền kề diện tích 400m2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ 124 toạ lạc tại thôn Nghĩa Lại, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Đông Anh, Hà Nội cấp ngày 28/06/2002 của ông Lê Quang Dương để thu hồi nợ

- Ngân hàng tiếp tục quản lý hồ sơ tài sản thế chấp để đảm bảo cho việc thi hành án

- Kể từ khi bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành

án chưa trả tiền thì còn phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất cõ bản của Ngân hàng Nhà nýớc quy ðịnh týõng ứng với số tiền và thời gian chýa thi hành án

Nhận xét của nhóm:

Từ những quy định liên quan của pháp luật hiện hành, ta thấy cách giải quyết như trên của tòa án là hoàn toàn hợp tình, hợp lý:

Trang 9

Trong vụ việc nêu trên, đã có sự xuất hiện của 2 loại hơp đồng là hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba

Thứ nhất, về hợp đồng vay tài sản được xác lập giữa Ngân hàng Thương

mại Cổ phần Công Thương Việt Nam với vợ chồng bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

và ông Phạm Tuấn Dũng là một hợp đồng được xác lập dựa trên cơ sở ý chí tự

nguyện, hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 399 BLDS 2005.

Từ đây, cho thấy quyết định “buộc bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phạm Tuấn Dũng phải thanh toán cho ngân hàng tiền nợ gốc 601.648.457 đồng và tiền lãi phát sinh là 131.039.032 đồng, tổng cộng là 732.687.489 đồng” của Tòa án là

hoàn toàn đúng với quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 và các quy định tại Điều 52, 54, 56 Luật tổ chức tín dụng năm 2004 Khoản 1 và khoản

5 Điều 474 BLDS 2005 quy định:

“Điều 474 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1.Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

5 Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản

do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Từ những căn cứ trên cho thấy những quyết định của tòa án về xử lý loại hơp đồng thứ nhất – hợp đồng vay tài sản – là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

Thứ hai, ta cần bàn luận thêm về giá trị pháp lý của loại hợp đồng đang gây

nhiều tranh cãi hiện nay là hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ

ba Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành chưa có những quy định về loại hợp

đồng này Với vụ án trên, nếu áp dụng các quy định hiện hành của Bộ luật Dân sự hiện hành chúng ta sẽ thấy những mâu thuẫn nhất định trong phán quyết của tòa án khi công nhận hợp đồng thế chấp với sự xuất hiện của 3 chủ thể ( trong khi theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng thế chấp chỉ có 2 chủ thể) mà không

coi đó la hợp đồng bảo lãnh Trước hết, để hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng ta cần

xem xét tính đúng đắn trong quyết định của tòa án khi xác nhận anh Lê Văn

Dương là chủ sở hữu hợp pháp của tài sản dùng làm thế chấp: “Về quyền sử dụng đất ở và đất vườn liền kề diện tích 400m 2 tại thửa đất số 53 tờ bản đồ số 124 toạ lạc tại thôn Nghĩa Lại, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh, Hà Nội cấp ngày 28/06/2002 đứng tên ông Lê Văn Dương, Tòa xác định tài sản này là do ông được bố mẹ cho

Trang 10

trước khi cưới bà Nghiêm Thị Thu Hà và ông cũng không nhập tài sản này vào khối tài sản chung của vợ chồng” Việc xác định tài sản của anh Dương thuộc tài

sản riêng của anh là đúng với quy định của pháp luật hiện hành bởi: Khoản 1 Điều

32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “ Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế

riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân” Vì anh Dương la chủ sở hữu tài sản nói trên nên việc anh định

đoạt tài sản này là quyền của anh:

Điều 197 Bộ luật Dân sự quy định chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản Điều 198 Bộ luật Dân sự quy định quyền định đoạt của chủ sở hữu chỉ bị hạn chế

khi pháp luật quy định hoặc tài sản đem bán là di tích lịch sử

Điều 361 Bộ luật Dân sự quy định người có tài sản có quyền bảo lãnh cho

người có nghĩa vụ

Vì vậy chủ sở hữu của tài sản (kể cả tài sản hình thành trong tương lai) có quyền dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho người khác

Tuy nhiên theo quy định tại tiết a tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần I của Thông

tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT hợp đồng thế chấp bất động sản

nhằm bảo lãnh cho bên thứ ba vẫn gọi là hợp đồng thế chấp Từ đây, tư cách pháp

lý của hợp đồng trên đã được xác lập Anh Dương sẽ phải có nghĩa vụ thực hiện thay nghĩa vụ của ông Dũng nếu đến hạn mà ông Dũng không thực hiện được

nghĩa vụ trả nợ: Điều 355 BLDS quy định:

“Điều 355 Xử lý tài sản thế chấp

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản thế chấp được thực hiện theo quy định tại Điều 336 và Điều 338 của Bộ luật này”

2 Vụ việc 2

Ngày 16/4/2006, bà Nguyễn Thị Thu Hương và ông Trần Khắc Nam có lập văn bản cam kết thể chấp tài sản là ngôi nhà và quyền sử dụng đất tại 253 Thụy Khê, Hà Nội (thuộc sở hữu chung của hai vợ chồng) trị giá 3 tỉ đồng để bảo lãnh cho các nghĩa vụ trả nợ tiền vay của ba người là: bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung vay

150 triệu đồng, ông Ngô Văn Hải vay 120 triệu đồng và bà Nguyễn Thị Cẩm Tú vay 360 triệu đồng tại ngân hàng VPBank( Ngân hàng thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam)

Ngày đăng: 13/05/2016, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w