1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp cải thiện

15 419 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 261,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA MÔI TRƯỜNG BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TÓM TẮT LUẬ VĂ THẠC SĨ KHOA HỌC Đề tài: Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA MÔI TRƯỜNG

BỘ MÔN QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG

TÓM TẮT LUẬ VĂ THẠC SĨ KHOA HỌC

Đề tài: Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp cải thiện

Học viên cao học : Nguyễn Thị Vân Anh

Khóa : 2009 -2011 Chuyên ngành: Khoa học môi trường Mã số: 608502

Lý do chọn đề tài

Hiện nay, sự phát triển hơn nữa các loại hình công nghiệp, dịch vụ, gia tăng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ vật chất… đã làm gia tăng lượng lớn chất thải nguy hại được thải ra môi trường, đặc biệt là chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế nguy hại tiềm Nn cao hơn khả năng lây nhiễm, gây tổn thương hơn bất kỳ loại chất thải khác,

có thể truyền các bệnh nguy hiểm cho những người phơi nhiễm (như HIV, HBV, HCV)

Thanh Hóa là một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế xã hội khá cao, đứng thứ 3

về dân số trong các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương Cùng với chất lượng đời sống được nâng lên thì nhu cầu về y tế của người dân cũng ngày một tăng Dẫn đến lượng rác thải y tế của Thanh Hóa tăng cao Hầu hết các bệnh viện trên địa bàn tỉnh được xây dựng từ lâu, trong quy hoạch không có hệ thống xử lý chất thải hoặc nếu có cũng không phù hợp và hoạt động kém hiệu quả Các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khuôn viên bệnh viện, không đảm bảo vệ sinh Bên cạnh đó nhận thức về thực hành xử lý chất thải trong các bộ y tế, nhân viên làm công tác xử

lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao

Đề tài “Điều tra, nghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại

Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp cải thiện” được thực hiện nhằm bước đầu

Trang 2

đánh giá hiện trạng chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa, từ đó đề xuất ra biện pháp quản

lý phù hợp, giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường và các nguồn lây lan bệnh truyền nhiễm

Cấu trúc luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

CHƯƠ G 1 TỔ G QUA 1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế

1.1.1 Định nghĩa chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế được định nghĩa trong Quyết định 43/2007/QĐ-BYT bao gồm tất cả chất thải rắn được thải ra từ các cơ sở y tế Định nghĩa chất thải rắn y tế của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO thêm vào đó là bao gồm cả những chất thải có nguồn gốc từ các nguồn nhỏ hơn như được tạo ra trong quá trình chăm sóc sức khỏe tại nhà (lọc máu, tiêm…)

Chất thải rắn y tế (CTRYT) nguy hại là chất thải rắn (CTR) y tế chứa yếu tố

nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn

1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế

Khoảng 75-90% chất thải bệnh viện là chất thải thông thường, tương tự như chất thải sinh hoạt, không có nguy cơ gì Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, CTR trong cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm, trong

đó nhóm 1, nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4 là CTRYT nguy hại chiếm khoảng 10-25%:

1 Chất thải lây nhiễm 2 Chất thải hóa học nguy hại

3 Chất thải phóng xạ 4 Bình chứa áp suất

5 Chất thải thông thường

Trang 3

1.2 Tác động của chất thải rắn y tế với môi trường và sức khỏe cộng đồng 1.2.1 Đối với sức khỏe cộng đồng

- N guy cơ của các vật sắc nhọn (chất thải lây nhiễm): Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền các bệnh nguy hiểm

- N guy cơ của các chất thải rắn hóa học và dược phNm: Các chất thải hóa học

có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất: ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến di truyền

- N guy cơ của chất thải phóng xạ: Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe do có khả năng gây ảnh hưởng đến chất liệu di truyền N goài ra chất thải phóng xạ còn gây ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, nôn

1.2.2 Đối với môi trường

- Việc xả thải bữa bãi chất lâm sàng, ví dụ xả chung chất thải lây nhiễm vào chất thải thông thường, có thể tiềm Nn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD

- Vận hành và bảo dưỡng kém lò đốt có thể dẫn đến xả ra khí thải chứa nhiều chất ô nhiễm như các kim loại nặng (chì, thủy ngân,…), bụi, HCl, SO2, CO, N Ox và

cả dioxin/furans

CHƯƠ G 2 ĐỐI TƯỢ G VÀ PHƯƠ G PHÁP GHIÊ CỨU 2.1 Mục tiêu và đối tượng nghiên cứu

 Mục tiêu nghiên cứu:

- N ghiên cứu hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa

- Đề xuất các giải pháp cải thiện hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế

 Đối tượng nghiên cứu: là chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa

2.2 ội dung nghiên cứu

 N ghiên cứu đặc thù mạng lưới y tế Thanh Hóa

 Điều tra, đánh giá về khối lượng, quy trình phân loại, thu gom, lưu giữ, xử lý CTR y tế tại tỉnh Thanh Hóa

 Điều tra, đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế

Trang 4

 Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý CTR y tế phù hợp tại tỉnh Thanh Hóa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu có liên quan

Thu thập tài liệu, số liệu có liên quan tại:

 Vụ Kế hoạch – Tài chính thuộc Bộ y tế

 Phòng N ghiệp vụ y, phòng Kế hoạch – Tài chính Sở y tế Thanh Hóa

 Phòng Công nghệ Khai thác Chế biến Tài nguyên Thiên nhiên – Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên – Viện Khoa học và Công nghệ Việt N am

 Bệnh viện đa khoa và trung tâm y tế thành phố Thanh Hóa

 Thu thập và thống kê các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước liên quan tới quản lý chất thải rắn y tế bằng mạng internet

2.3.2 Thiết kế câu hỏi, tiến hành điều tra hiện trạng QLCTRYT

- Với nội dung nghiên cứu đề ra thì cần có bảng hỏi để bổ sung thông tin chi tiết về hiện trạng quản lý CTRYT tại Thanh Hóa Qua khảo sát thực tế, qua những tài liệu, báo cáo về quản lý CTRYT của các đơn vị nghiên cứu khác, luận văn đưa

ra phiếu câu hỏi trọng tâm vào các vấn đề: i) tổng khối lượng CTRYT nguy hại ; ii) thực hành phân loại thu gom, cách tái chế, xử lý ; iii) biện pháp đào tạo cán bộ về quản lý CTR tại cơ sở ; iv) nhận thức về quy chế quản lý CRTYT

- Phiếu điều tra sẽ dành để phỏng vấn trưởng khoa chống nhiễm khuNn hoặc y

tá trưởng và cán bộ quản lý lò đốt, phòng hành chính tổng hợp

- Cách điều tra : phỏng vấn trực tiếp tại các 11 bệnh viện tuyến tỉnh và 1 bệnh viện tuyến huyện, 4 bệnh viện tư nhân nằm tại thành phố và gửi phiếu tra về 25 các bệnh viện đa khoa tuyến huyện

2.3.3 Phương pháp quan sát thực tế

Phương pháp quan sát thực tế là một phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp về đối tượng nghiên cứu bằng cách ghi chép trực tiếp lại những nhân tố có liên quan đến đối tượng nghiên cứu tại hiện trường, khi sự việc đang diễn ra Quan sát cho phép phát hiện vấn đề, kiểm tra và hiệu chỉnh những thông tin đã thu được qua phỏng vấn và từ tài liệu thứ cấp.Việc quan sát cho phép đánh giá một cách tổng quan về hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa

Trang 5

2.3.4 Phương pháp phỏng vấn bằng thư

Phương pháp phỏng vấn bằng thư được thực hiện theo cách: bảng câu hỏi được soạn sẵn, gửi kèm theo phong bì và thông qua công tác thanh, kiểm tra đến các bệnh viện huyện trong tỉnh của Sở y tế Thanh Hóa để gửi đến 25/26 bệnh viện tuyến huyện ở xa

2.3.5 Phương pháp phỏng vân qua điện thoại

Phương pháp được áp dụng trong luận văn với mục đích để kiểm tra lại thông tin đã được điều tra trong bảng câu hỏi Các đối tượng gọi điện đến là lãnh đạo, hoặc các cán bộ phụ trách về quản lý chất thải rắn y tế tại các cơ sở y tế mà chưa tiếp xúc trong quá trình điều tra bằng bảng hỏi

2.3.6 Tổng hợp, phân tích số liệu

Số liệu được tổng hợp và xử lý trên chương trình Excel Microsoft

CHƯƠ G 3 KẾT QUẢ GHIÊ CỨU 3.1 Kết quả điều tra và đánh giá bổ sung

3.1.1 Đặc điểm hệ thống khám chữa bệnh tại Thanh Hoá

Toàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 71 đơn vị y tế công lập, bao gồm các bệnh viện

đa khoa (BVĐK), chuyên khoa (CK), các TTYT tuyến tỉnh, tuyến huyện và 21 bệnh viện (BV), phòng khám đa khoa tư nhân với gần 10.000 giường bệnh Các BV luôn trong tình trạng quá tải bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh chiếm đa phần từ 130% đến hơn 200%

a Thông tin chung về số giường bệnh tại các bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tư nhân

N hìn chung công suất sử dụng giường bệnh tại các BVĐK lớn hơn tại các BVCK Với các BV tuyến tỉnh, công suất sử dụng giường bệnh của BVĐK dao động quanh giá trị 200%, công suất giường bệnh của BVCK chủ yếu từ 105-151% , riêng tại BV Phụ Sản và BV N hi do đặc điểm về dân số cao cũng như đặc điểm của chuyên khoa nên số lượng bệnh nhân lớn, công suất sử dụng giường bệnh cao, tại

BV Phụ sản là 205%, BV N hi là 196% Tại các BV tư nhân, qua bảng 8 cho thấy công suất sử dụng giường bệnh thấp so với các BV tuyến tỉnh, dao động từ 109-120% Tại các BV tuyến tỉnh, công suất giường bệnh đều lớn hơn 120%, công suất

Trang 6

lớn giường bệnh lớn hơn 150% chiếm 45,5% tổng số các BV tuyến tỉnh, tại các BV

tư nhân là 25% Do được đầu tư trang thiết bị hiện đại, đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn cao, BVĐK Hợp Lực có công suất sử dụng giường bệnh 171%, cao nhất trong các BV tư nhân, cao hơn các các BVCK tuyến tỉnh (trừ BV N hi và BV Phụ sản)

b Thông tin chung về số giường bệnh tại các bệnh viện tuyến huyện

Tình trạng quá tải diễn ra ở gần như ở tất cả các BVĐK tuyến huyện, riêng BVĐK Quan Hóa có công suất sử dụng giường bệnh đạt 100% Số lượng BV quá tải, công suất sử dụng giường bệnh lớn hơn 150% chiếm tỉ lệ lớn nhất, có 14 trong tổng số 26 BVĐK tuyến huyện, chiếm 53,9% Số các bệnh viện này phân bố gần như đồng đều giữa miền núi và miền xuôi Công suất sử dụng giường bệnh cao nhất tại BVĐK CNm Thủy, đạt 209%

3.1.2 Tỷ lệ phát sinh lượng chất thải y tế tại các tuyến bệnh viện của Thanh Hoá

a Tại các bệnh viện tuyến tỉnh – tư nhân

Tổng lượng phát thải CTRYT nguy hại của 11 BV tuyến tỉnh và 4 BV tư nhân khoảng 577,5 kg/ngày Trong đó tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình của các BV tuyến tỉnh- tư nhân nói chung là 0,17 kg/giường/ngày, tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình nói riêng tại các BV tuyến tỉnh là 0,166 kg/giường/ngày, tại các BV tư nhân là 0,22 kg/giường/ngày Tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại tại các bệnh viện tuyến tỉnh dao động từ 0,11 kg/giường/ngày (BV Điều dưỡng và PHCN ) đến 0,23 kg/giường/ngày (BV Mắt) Tại các BV tư nhân thì khoảng cách chênh lệch giữa tỉ lệ phát sinh CTR y tế nguy hại tại các BV gần như không đáng kể so với tại các BV tuyến tỉnh, tỉ lệ phát sinh CTRYT cao nhất là tại

BV Hợp Lực – 0,23 kg/giường/ngày, và thấp nhất tại BV Mắt Bắc Trung N am – 0,2 kg/giường/ngày Mức phát thải CTRYT nguy hại tại BVĐK Khu vực N gọc Lặc là 0,23 kg/giường/ngày xấp xỉ mức phát sinh trung bình tại các BVĐK tuyến tỉnh nói chung theo khảo sát của Bộ Y tế là 0,225 kg/giường/ngày (2010) Mức phát thải tại BVĐK tỉnh là 0,14 kg/giường/ngày, thấp hơn mức phát thải trung bình

Có 4/9 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh có tỉ lệ phát thải CTRYT nguy hại dao động từ 0,21 – 0,23 kg/giường/ngày, xấp xỉ tỉ lệ phát thải trung bình theo khảo sát của Bộ Y

tế là 0,2 kg/giường/ngày Các bệnh viện còn lại có tỉ lệ phát sinh thấp hơn, dao động

từ 0,08 – 0,16 kg/giường/ngày

b.Tại các bệnh viện tuyến huyện, thị, thành phố

Trang 7

Toàn tỉnh Thanh Hóa có 26 BVĐK tuyến huyện, thị, thành phố, với 16 bệnh viện tại thành phố, thị xã, các huyện miền xuôi và 10 bệnh viện tại các huyện miền núi Riêng tại huyện N gọc Lặc không có BVĐK tuyến huyện do đã nâng cấp BVĐK N gọc Lặc thành Bệnh viện Đa khoa Khu vực N gọc Lặc trực thuộc tỉnh vào năm 2004 Tổng lượng phát thải CTRYT nguy hại của các BVĐK tuyến huyện, thị, thành phố theo số liệu hiện có là 600,5 kg/ngày, tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại xấp xỉ 0,17 kg/giường/ngày, thấp nhất tại BVĐK Yên Định, BVĐK Thiệu Hóa – 0,13 kg/giường/ngày, cao nhất tại BVĐK thành phố - 0,3 kg/giường/ngày

Mức độ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình tại các bệnh viện tuyến huyện

là 0,167 kg/giường/ngày, thấp hơn mức phát sinh trung bình tại các bệnh viện huyện theo khảo sát của Bộ y tế

c.Tình hình phát sinh CTR y tế nguy hại tại các cơ sở y tế khác ngoài bệnh viện Tại các trạm y tế

Trạm y tế xã phường có rất ít bệnh nhân điều trị nội trú, chính vì vậy số giường bệnh không nhiều, một số trạm y tế không có giường bệnh N hững trạm y tế nằm gần khu vực trung tâm Thành phố phần lớn làm công tác dự phòng là chính Chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh từ các trạm y tế chủ yếu do tiêm phòng và một

ít của điều trị Tổng khối lượng CTR y tế nguy hại phát sinh của 636 trạm y tế là

450 kg/ngày, tương ứng khoảng 0.71 kg/trạm/ngày

Tại các cơ sở y tế hệ dự phòng, trường đào tạo y dược

CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế hệ dự phòng là không nhiều, phát sinh từ việc thực hiện các chương trình y tế N hư tại TTYT thành phố Thanh Hóa, CTRYT nguy hại chủ yếu là bơm kim tiêm do thực hiện chương trình phòng chống HIV/AIDS, lấy máu sàng lọc HIV cho đối tượng sử dụng ma túy, gái mại dâm…

Với các Trung tâm (TT) y tế huyện, TT y tế dự phòng, các TT y tế xã phường, lượng CTYT phát sinh tại cơ sở là nhỏ hơn, và có thể ít chủng loại hơn tại các bệnh viện tuyến tỉnh CTYT tại TT y tế dự phòng lượng thải tối đa là 5-8kg/ngày

3.1.3 Đặc thù hiện trạng Quản lý CTR y tế tại tỉnh Thanh Hoá

3.1.3.1 Thực hành phân loại rác tại bệnh viện

Theo điều tra ban đầu cho thấy, các bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, thị, thành phố; các trung tâm y tế trực thuộc Sở y tế, các trung tâm y tế huyện, thị, thành phố; trạm y tế, phòng khám tư nhân cùng các cơ sở y tế khác tại tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện tương đối tốt công tác phân loại, thu gom chất thải rắn y tế Chất thải rắn y tế

Trang 8

nguy hại được phân loại ngay ban đầu, không để lẫn trong chất thải thông thường, được cho vào hộp an toàn, các túi có màu theo đúng quy định của Bộ Y tế

N goài sử dụng hộp cacton thành và đáy cứng không bị xuyên thủng, kích thước phù hợp, có khả năng chống thấm theo quy định của Bộ y tế, có 9,8% bệnh viện sử dụng thùng cacton khác Trong các bệnh viện được khảo sát, điều tra, thu thập số liệu, 100% bệnh viện sử dụng đúng túi màu theo quy định phân loại của Bộ

Y tế như sau:

+ Túi màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

+ Túi màu xanh đựng chất thải sinh hoạt

Thùng đựng và thu gom chất thải sử dụng màu sắc thích hợp, được để ở giữa, đầu các dãy phòng, khoa và để tại nơi phát sinh chất thải loại thùng thu gom tương ứng

Tại một số cơ sở y tế, CTRYT sau khi phân loại tại nguồn sẽ được các nhân viên vệ sinh, cán bộ y tế vận chuyển trong các thùng có xe đNy, thùng không có xe đNy, xách tay… về nơi lưu giữ Đối với CTRYT thông thường có thể tái chế như các chai truyền bằng nhựa, dây truyền dịch đã lôi đầu sắc nhọn (không dính máu),

vỏ nilon của bơm kim tiêm…được tập kết tại khu dành cho công nhân vệ sinh, hoặc nơi thuận tiện trong cơ sở y tế để bán lại cho cơ sở tái chế/ người đi mua phế liệu Đối với CTRYT nguy hại sẽ được tập kết và lưu giữ các buồng, khu riêng biệt hoặc trong các khoa chịu trách nhiệm quản lý chất thải y tế trước khi đem đi tiêu hủy

N hững cơ sở y tế không có lò đốt hoặc có lò đốt nhưng công nghệ đã cũ kỹ, lạc hậu, các nhân viên vệ sinh, cán bộ tại các cơ sở y tế, hoặc các đồng đẳng viện tại các trung tâm y tế, trạm y tế sẽ vận chuyển đến những nơi có lò đốt để tiêu hủy

3.1.3.2 Các phương pháp lưu chứa, xử lý rác thải y tế

Hầu hết các BV trong tỉnh để lưu chứa tại nhà chứa rác, không có điều hòa Rác thải lây nhiễm, nguy hại được chứa tại thùng nhựa có bánh đNy và rác thải sinh hoạt được lưu tại nhà chứa riêng hoặc trên xe đNy tay để công ty thu gom rác đến thu gom

Tại tuyến huyện, thị xã đã có 25/26 BV có lò đốt đi vào sử dụng Tại khu vực thành phố Thanh Hóa, có 8/11 BV tuyến tỉnh, 4 bệnh viện tư nhân, 7 TTYT thuộc

Sở Y tế, 1 TTYT dự phòng Thành phố, 1 BVĐK nhưng chỉ có 2 lò đốt CTRYT nguy hại tại các BVĐK Tỉnh, BV tư nhân Hợp Lực, trong đó BVĐK tỉnh cần thay thế Hiện tại hầu hết các BV, cơ sở y tế tư và công lập đều ký hợp đồng xử lý CTR nguy hại với BVĐK tỉnh với chi phí xử lý 10.000 đồng/kg CTRYT nguy hại Do

Trang 9

BVĐK tỉnh, BV Phụ Sản tỉnh cũng đã ký hợp đồng với công ty TN HH một thành viên Môi trường và công trình đô thị Thanh Hóa để chôn cất rau thai, bệnh phNm, u cục tại nghĩa trang N hân Dân Chợ N hàng Thông thường chất thải sẽ được đốt luôn trong ngày hoặc lưu giữ không quá 48 giờ

Với một số cơ sở y tế chưa có cơ sở xử lý chất thải y tế nguy hại đạt tiêu chuNn tại địa phương thì xây dựng hố chôn lấp hợp vệ sinh Tro sau khi tiêu hủy bằng lò đốt sẽ được các cơ sở y tế ký hợp đồng với công ty Môi trường tại các huyện, thị, thành phố đem đi xử lý

3.1.4 Đánh giá về quản lý chất thải rắn y tế

Tại các cơ sở y tế đều có 1 bộ phận chuyên trách về quản lý chất thải y tế, bao gồm các cán bộ, công nhân viên quản lý, thu gom, xử lý Công tác quản lý tùy theo từng BV và các cơ sở y tế được phân cho các bộ phận khác nhau Thông thường các

BV tuyến tỉnh, một số BVĐK tuyến huyện thành lập hội đồng chống nhiễm khuNn,

tổ chống nhiễm khuNn thuộc Khoa Chống nhiễm khuNn để xây dựng, phổ biến quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải Y tế Một số cơ sở y

tế giao cho khoa Truyền nhiễm, khoa Lây, phòng điều dưỡng, phòng hộ lý thực hiện các công tác trong quản lý chất thải y tế Việc xử lý, tiêu hủy CTRYT nguy hại và vận hành, quản lý lò đốt sẽ do 1 đến 2 nhân viên phụ trách Có thể thấy về công tác

tổ chức quản lý và nhân lực cho quản lý chất thải rắn y tế các cơ sở y tế tại tỉnh Thanh Hóa đã thực hiện tốt và đầy đủ Qua phỏng vấn, điều tra cho thấy một điều khả quan là các bộ y tế có nhận thức tốt về phân loại các vật sắc nhọn, hiểu rõ được mức độ nguy hại của việc phân loại không tốt tại nguồn và những rủi ro từ kim tiêm

và các vật sắc nhọn

Để nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân viên y tế cũng như đội ngũ phụ trách

về quản lý CTRYT, Sở Y tế Thanh Hóa cũng đã cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn của Bộ Y tế cũng như mở các lớp nâng cao năng lực về quản lý chất thải rắn y

tế cho các cán bộ, nhân viên y tế của các cở sở y tế trong tỉnh Thanh Hóa, cũng như gửi các công văn và hướng dẫn về quy chế quản lý chất thải y tế theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y tế đến các cơ sở

3.2 Đánh giá hiện trạng hệ thống kỹ thuật quản lý CTR y tế tại tỉnh Thanh Hoá

3.2.1 Hệ thống thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTR y tế bên trong các cơ sở y tế

Các túi thu gom chất thải tại các cơ sở y tế tại tỉnh Thanh Hóa được sử dụng theo đúng mã màu quy định, túi màu xanh đựng chất thải sinh hoạt, màu vàng đựng chất thải lây nhiễm, màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ,

Trang 10

riêng đối với chất thải tái chế được đựng vào túi bất kỳ (nhưng không trùng với loại túi đã đựng các loại chất thải khác)

Đối với chất thải sắc nhọn như bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ… được đựng vào hộp an toàn theo đúng quy định của Bộ Y tế : thành dầy và cứng không bị xuyên thủng, có khả năng chống thấm, có dòng chữ “HỘP

AN TOÀN ĐỰN G BƠM KIM TIÊM ĐÃ QUA SỬ DỤN G” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔN G ĐƯỢC ĐỰN G QUÁ VẠCH N ÀY”

Các thùng đựng chất thải đều bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng Thùng 50 lít trở lên đều có bánh xe Màu các thùng đựng chất thải theo mã màu của túi đựng chất thải Thùng màu vàng dùng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen

Trong quá trình thu gom, vận chuyển về nơi lưu giữ, chất thải thường vận chuyển bằng phương tiện như thùng có bánh xe, có nắp, xe kéo, dùng sức để bê các thùng đựng chất thải, xách tay hộp đựng an toàn… Theo Quy chế Quản lý chất thải

y tế yêu cầu xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuNn: có thành, có nắp,

có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tNy uế, dễ làm khô N hư vậy, một số phương tiện cũng như cách thức vận chuyển chất thải tại Thanh Hóa chưa đúng theo quy định

Đối với các bệnh viện, cơ sở y tế có lò đốt, CTRYT nguy hại sẽ được lưu giữ tại khu lò đốt hoặc được đưa thẳng vào lò đốt Các cơ sở y tế còn lại sẽ dự lưu giữ tại buồng riêng biệt, hoặc tại vị trí thuận lợi, hạn chế được tối đa sự tiếp xúc cũng như ảnh hưởng của chất thải với bệnh nhân cũng như cán bộ, công nhân viên y tế Tuy nhiên, nơi lưu giữ chất thải phần lớn chưa hạn chế được các loài gặm nhấm xâm nhập

3.2.2 Hệ thống thu gom, vận chuyển, lưu trữ CTRYT bên ngoài các cơ sở y tế

Với các cơ sở y tế không có lò đốt, CTRYT nguy hại sẽ được vận chuyển bằng nhiều hình thức, phương tiện như xe máy, xe lam, xe ba gác đến các cơ sở y

tế đã hợp đồng thuê đốt CTRYT nguy hại.Bất cập hiện nay là các cơ sở y tế chưa có chuyên dụng, xe đông lạnh để vận chuyển chất thải theo đúng quy định Chất thải sau khi được vận chuyển đến các cơ sở để xử lý, tiêu hủy sẽ được lưu trữ trong buồng riêng biệt hoặc lò đốt cùng với chất thải phát sinh của chính cở sở y tế đó để chờ xử lý

Ngày đăng: 13/05/2016, 19:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w