Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Có 7 giai đoạn trong hoạt động tố tụng của một vụ án hình sự thì trong đó xét xử
sơ thẩm là giai đoạn quan trọng nhất bằng việc đưa vụ án đó ra phiên tòa sơ thẩm Các giai đoạn của quá trình tố tụng đề phải gắn với các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục… xét xử sơ thẩm cũng phải tuân thủ các vấn đề trên Trong Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định mở rộng thẩm quyền cho tòa án cấp huyện đồng thời Quốc hội cũng có Nghị quyết quy định lộ trình hoàn thiện quy định đó trên thực tế Thêm vào đó, Pháp lệnh Tổ chức tòa án quân sự năm 2002 cũng quy định phân biệt một cách cơ bản thẩm quyền của Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật về lĩnh vực này vẫn gặp những vướng mắc và bất cập nhất định Trên cơ sở đó, chúng ta thấy rằng muốn xây dựng thẩm quyền của tòa án trước hết phải xây dựng thẩm quyền
xét xử sơ thẩm của tòa án Chính vì thế, em chọn đề bài như sau: “ Quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về thẩn quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự-
so sánh với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”
Trang 2NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý về xét xử sơ thẩm và thẩm
quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
1 Xét xử sơ thẩm
Xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Toà án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật Theo Luật tổ chức Toà án nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm ở Việt Nam là các Toà án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh, Toà án quân sự khu vực, Toà án quân sự cấp quân khu Theo pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành, thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, truy tố thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được tranh luận chất vấn những điều mà tại Cơ quan điều tra họ không có điều kiện thực hiện Xét xử sơ thẩm được coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên toà quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tồ tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất; những lo âu của bị cáo, người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác được giải toả tại phiên toà.Tâm lý nói chung đối với những người tham gia tổ tụng là mong muốn vụ án nhanh được đưa
ra xét xử để họ biết được Toà án sẽ phán quyết như thế nào
Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng mà ở đó đòi hỏi những người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng phải tập trung trí tuệ, xử lý các tình huống một cách mau lẹ, các lý lẽ đưa ra không chỉ đòi hỏi sự chính xác mà phải có sức thuyết phục, nhưng đồng thời lại phải tuân theo những quy định của pháp luật thông qua phiên toà có thể đánh giá được trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, của Hội thẩm, của Kiểm sát viên, của Luật sư và những người tham gia tố tụng tố tụng thác Cũng thông qua phiên toà mà Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư nâng cao được trình độ nghiệp vụ năng lực công tác và kỹ năng nghề nghiệp; thông qua phiên toà, những người dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào Toà án Vì vậy, việc tổ chức phiên toà sơ thẩm tốt có tác dụng to lớn
Trang 3không chỉ đối với một vụ án cụ thể mà còn có tác dụng đối với việc nâng cao ý thức pháp luật cho mọi công dân1
Giai đoạn xét xử sơ thẩm được quy định tại Phần thứ ba: xét xử sơ thẩm của BLTTHS 2003 Gồm 7 chương, từ chương XVI-XXII bao gồ 60 điều từ 170- 229
2 Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự
“Thẩm quyền” theo từ điển Việt Nam là quyền xem xét để kết luận và định đoạt
một vấn đề theo pháp luật Thẩm quyền của tòa án Việt Nam cũng được coi là quyền xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật Khi xét xử Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của tòa án còn ra bản án, các quyết định
như đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án…thẩm quyền của tòa án bao gồm thẩm quyền về hình thức và nội dung
Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án
hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không
có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan,
tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều 2, Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm được quy định tại Chương XVI của BLTTHS 2003
và Chương XXI, Mục I của BLTTHS 2015 Theo đó thẩm quyền xét xử
sơ thẩm là quyền mà pháp luật quy định cho phép tòa án được xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội,nơi thực hiện phạm tội theo quy định của pháp luật
1 http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/33.
Trang 4Thẩm quyền xét xử theo sự việc là sự phân định thẩm quyền xét xử giữa tòa án các cấp với nhau căn cứ vào tính chất của tội phạm Theo đó, việc xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự sẽ được phân chia thẩm quyền cho hai cấp tòa án: Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
Căn cứ quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án:
- Đường lối, chính sách của Đảng,
- Nguyên tắc cơ bản của bộ luật tố tụng hình sự,
- Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
- Tính chất nghiêm trọng và phức tạp của tội phạm,…
II Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trong BLTTHS 2003 và so
sánh với BLTTHS 2015.
1 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án cấp huyện, tòa án quân sự khu vực.
Điều 170 BLTTHS 200 Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm sau đây :
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221, 222, 223,
224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự.
Tòa án nhân dân cấp huyện, tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là đến 3 năm tù Tội nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hiểm lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt với tội ấy là đến 7 năm tù Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hiểm rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt với tôi ấy
là 15 năm tù Để xác định được thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cáp huyện hay Tòa án quân sự khu vực thì phải căn cứ vào hồ sơ, tôi danh, điều khoản
Trang 5Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý và những người tuy không thuộc các đối tượng trên nhưng hành vi phạm tội của họ có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội
Bị cáo phạm nhiều tội và các tội đó đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện, Tòa án quân sự khu vực thì các tòa án này xét xử tất cả các tội đó
và tổng hợp hình phạt theo quy định của điều 50 BLHS 1999 Bị cáo đang chấp hành bản án mà lại xét xử một tội danh khác trước khi có bản án này hoặc phạm tội mới thuộc thẩm quyền của tòa án này thì tòa án xét xử và tổng hợp hình phạt theo điều 51 BLHS 1999 và hình phạt có thể là chung than hoặc tử hình
Toà án quân sự khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về
những tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mà bị cáo khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc là người có chức vụ từ Trung đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống; giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật – khoản 2 Điều 29 Pháp lệnh tổ chức tòa án quân sự.
Có thể thấy rằng thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án quân sự khu vực có sự mở rộng rất lớn về thẩm quyền do nhưng
lý do sau:
Thứ nhất:Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của thẩm phán ở hầu hết các tòa án cấp
huyện ngày càng được nâng cao có khả năng xét xử những vụ án có mức cao nhất khung hình phạt tù từ 15 năm trở xuống Số lượng biên chế của tòa án cấp huyện
và cơ sở hạ tầng được nâng cao
Thứ hai: Việc tăng thẩm quyền cho cấp dưới sẽ hạn chế sự tồn đọng ở cấp tỉnh, để
dành thời gian cho tòa cấp tỉnh xét xử phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm
Thứ ba: Giúp tiết kiệm thời gian, có hiệu quả hơn, tránh được việc hoãn phiên tòa
do vắng mặt người tham gia tố tụng Đồng thời phát huy được tính giáo dục
Khi so sánh về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án cấp huyện và tòa án quân sự khu vực với BLTTHS 2015 thì có thể nhận thấy có sự giống nhau hay
Trang 6nói cách khác BLTTHS 2015 có sự kế thừa về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa
án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vưc Điều 268 Thẩm quyền xét xử của Tòa án-BLTTHS 2015.
1,Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ
án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng.
Sự khác nhau :Theo BLTTHS 2015 Điều 272 thẩm quyền xét xử của tòa án
quân sự “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa
bàn thiết quân luật.” Có thể thấy đây là sự khác nhau hay có thể nói mở rộng
thêm quyền cho tòa án quân sự trong trường hợp quân đội thiết quân luật “Thiết
quân luật là biện pháp quản lý nhà nước đặc biệt có thời hạn do quân đội thực hiện” Đối với tòa án quân sự khu vực thì xét xử ở phạm vi tội ít nghiêm trọng,
nghiêm trọng và rất nghiêm trọng
BLTTHS 2015, Điều 273 Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
Khi vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân
sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:
1 Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những
bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;
2 Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.
Có thể thấy đây là một điều luật khác hoàn toàn so với BLTTHS 2003 Tại điều này quy định về việc nếu bị cáo phạm nhiều tội mà có cả thẩm quyền của tòa án nhân dân và tòa án quân sự thì tách vụ án, mà nếu không tách thì tòa án quân sự xét xử toàn bộ Và điều luật này cũng cần căn cứ vào vụ án để xác định rõ thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án quân sự khu vực Qua điều luật này
có thể thấy thẩm quyền của tòa án quân sự khu vực còn được mở rộng thêm
2 Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án cấp tỉnh, tòa án quân sự cấp quân khu.
Theo Điều 170 khoản 2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực hoặc những vụ
án thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử.
Trang 7Cùng với đó ở khoản 1 điều này còn quy định về vấn đề tòa án nhân dân cấp
huyện và tòa án quân sự khu vực không được xét xử sơ thẩm
BLTTHS 2003 đang dùng phương pháp loại trừ khi quy định về thẩm quyền xét
xử của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm về những tội phạm sau:
Thứ nhất: Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn
cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Thứ hai: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại chương XI BLHS
1999: bao gồm Tội phản bội tổ quốc, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,Tội gián điệp, Tội xâm phạm an ninh lãnh thổ, Tội bạo loạn, Tội hoạt động phỉ, Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, Tội phá hoại cơ sở vật chất
kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tội phá hoại việc thực hiện các hoạt động chính sách kinh tế xã hội, Tội phá hoại chính sách đoàn kết, Tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tội phá rối an ninh, Tội chống phá trại giam, Tội trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
Thứ ba: Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh quy
định tại chương XXIV BLHS 1999 bao gồm Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; Tội chống loài người; Tội phạm chiến tranh; Tội tuyển mộ lính đánh thuê; Tội làm lính đán thuê
Thứ tư: Các tội quy định tại các điều 93, 95, 96, 172, 216, 217, 218, 219, 221,
222, 223, 224, 225, 226, 263, 293, 294, 295, 296, 322 và 323 của Bộ luật hình sự
1999 là những Tội giết người; Tội giết người trong tình trạng tinh thần bị kích động; Tội giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng; Tội vi phạm các quy định
về thăm dò, nghiên cứu, khai thác tài nguyên; Tội vi phạm quy định điều khiển bay; Tội cản trở giao thông đường không; Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thong đường hàng không không bảo đảm an toàn; Tội điều động hoặc giao cho ngươi không đủ điều kiện điều khiển giao thông đường không; Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hang không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tội tạo ra và phát tán các chương trình virut tin học, Tội vi phạm các quy định về vận hành, khai thác và sử dụng mạng máy tính điển tử; Tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính; Tội
Trang 8cố ý làm lộ bí mật nhà nước; Tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy bí mật nhà nước; Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội;Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội; Tội ra bản án trái pháp luật; Tội ra quyết định trái pháp luật; Tội đầu hàng địch; Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh
Thứ năm: những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa
án quân sự khu vực lấy lên để xét xử Đó là những tội ít nghêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nhưng có tính chất phức tạp do liên quan đến nhiều cơ quan, cấp, ngành; hoặc bị cáo là thẩm phán, kiểm sát viên, công an, cán bộ cấp huyện, người nước ngoài, người trong chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong các bản làng dân tộc
Thứ sáu: Theo Điều 173 Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của các Tòa án khác cấp “Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc
thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên, thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án”
Bị cáo phạm nhiều tội nhưng trong đó có cả tội thuộc thẩm quyền cảu tòa án nhân dân cấp huyện và tòa án nhân cấp tỉnh thì cấp tỉnh sẽ xét xử sơ thẩm toàn bộ vụ án
Bị cáo phạm nhiêu tội có tội thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự khu vực và thảm quyền thuộc tòa án quân sự cấp quân khu thì cấp quân khu sẽ xét xử toàn bộ vụ án Tuy nhiên trong điều này quy định vẫn chưa có sự cụ thể về việc nếu như cấp trên khác địa phương, cấp dưới khác địa phương, hay giữa cấp dưới là tòa án nhân dân
và cấp trên là tòa án quân sự quân khu và ngược lại thì sẽ thực hiện thẩm quyền như thế nào thì chưa quy định rõ
Khi so sánh về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa
án quân sự cấp quân khu theo BLTTHS 2015:
Giống nhau: Dùng phương pháp loại trừ, tội nào không thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân huyện , tòa án quân sự khu vực thì thuộc thẩm quyền của cấp trên Đồng thời , Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126,
227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371,
399 và 400 của Bộ luật hình sự 2015 là hoàn toàn giống so với các quy định tại BLTTHS 2003
Khác nhau: Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài
Trang 9hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài thuộc thẩm quyền xét xử của
cấp tỉnh và cấp quân khu BLTTHS 2015 đã mở rộng thêm thẩm quyền Các vấn đề liên quan đến nước ngoài thì đều là vấn đề quan trọng, nghiêm trọng có ảnh hưởng rất lớn đến ngoại giao của đất nước nên quy định cho cấp tỉnh và quân khu là hoàn toàn phù hợp mà BLTTHS 2003 đã chưa quy định
Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa
án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người đã được
quy định cụ thể đó là thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án quân sự cấp quân khu Mà trong BLTTHS 2003 không quy định rõ
Mở rộng thêm thẩm quyền của tòa án quân sự cấp quân khu trong việc xét xử các
vụ án mà không thuộc thẩm quyền của tòa án quân sự khu vực trong trường hợp thiết quân luật, và vấn đề tách vụ án
3. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo lãnh thổ.
Điều 171 Thẩm quyền theo lãnh thổ
1 Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.
2 Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì do Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hoặc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.
Việc quy định thẩm quyền xét xử thuộc về tòa án nơi tội phạm được thực hiện nằm tạo điều kiện thuận lời cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng tìm kiếm thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng hoặc người có liên quan đến vụ án Mặt khác việc xử lý vụ án
Trang 10tại nơi phạm tội được thực hiện cũng đảm bảo tốt hơn sự có mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra truy tố xét xử
Tội phạm được thực hiện tại một địa danh cụ thể thuộc phạm vi địa giới hành chính theo quy định của pháp luật Đối với vụ án xét xử tại tòa án nhân dân thì nơi thực hiện tội phạm là xã, phường, thị trấn,quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Xét xử tại tòa án quân sự thì tội phạm xảy ra tại địa bàn quân khu, khu vực quân sự
Đối với những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự thì ngoài quy tắc chung trên, việc xác định thẩm quyền còn phải căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 04 năm
2005 hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Theo hướng dẫn của
thông tư thì các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự khu vực thuộc quân khu được xét xử theo quy định của điều 171 BLTTHS về thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ Còn các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân chủng hải quân và tòa án quân sự khu vực quân chủng hải quân thì không áp dụng nguyên tắc lãnh thổ Các tòa án này có thẩm quyền xét xử các vụ án xảy ra trong các đơn vị quân chủng, các vụ án mà bị cáo là người do quân chủng quản lý hoặc người khác phạm tội liên quan đến bí mật quân sự, gây thiệt hại cho các đơn vị thuộc quân chủng hải quân
Trường hợp phạm tội được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau mà không xác đinh
rõ được nơi thực hiện tội phạm tại đâu thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là tòa án nơi kết thúc việc điều tra: Bị cáo phạm tội nhiều lần, mỗi lần tại một địa bàn nhất định; bị cáo phạm nhiều tội, mỗi tội thực hiện ở một địa bàn nhất đinh Nếu các vụ
án trên không được nhập thành một vụ án thì có nhiều tòa án có thẩm quyền xét xử
Nơi cư trú của nạn nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống, không xác định được nơi sống thì là nơi đang cư trú Nơi cư trú cuối cùng trong nước là nơi bị cáo
cư trú ở Việt Nam trước khi ra nước ngoài Thì thẩm quyền xét xử thuộc về tòa án nhân dân cấp tỉnh Nếu như không xác định được nơi cư trú cuối cùng trong nước thì Chánh án tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho Tòa án nhân dân TP
Hà Nội hoặc tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh xét xử
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì do Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên xét xử theo quyết định của Chánh án tòa án quân sự TW