cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản 211.3.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp sản xuất và chế biến 1.4 Các nghiên cứu liên quan và những vấn đề đặt ra cho nghiê
Trang 1NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN NÔNG
SẢN Ở TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62 31 05 01
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Nguyễn Thị Minh Hiền
2 PGS TS Nguyễn Hữu Ngoan
HÀ NỘI - 2011
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kếtquả nghiên cứu trình bày trong luận án là trung thực, khách quan, chưa từng
để bảo vệ bất kỳ một học vị nào, các nguồn trích dẫn có nguồn gốc Mọi sựgiúp đỡ đã được cảm ơn
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh Phượng
Trang 3Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này, tôi đã nhậnđược sự quan tâm giúp đỡ của nhiều tập thể và cá nhân Nhân dịp này tôi xinbày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến:
- Tập thể các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộmôn Phát triển nông thôn, Viện Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nôngnghiệp Hà Nội đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu vàhoàn thành luận án này;
- PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hiền - người hướng dẫn khoa học 1 vàPGS.TS Nguyễn Hữu Ngoan - người hướng dẫn khoa học 2 đã tận tình hướngdẫn, trực tiếp chỉ ra những ý kiến quý báu và giúp đỡ tôi trong quá trìnhnghiên cứu thực hiện và hoàn thành luận án;
- Lãnh đạo địa phương và các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nôngsản Nghệ An đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình điều tra khảosát thực địa và nghiên cứu đề tài;
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Vinh, tập thể đồng nghiệp khoa Kinh
tế, đặc biệt là tổ bộ môn Kinh tế đã tạo điều kiện về thời gian và tinh thầnđộng viên, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án;
- Các tập thể và cơ quan, ban, ngành, bạn bè và người thân đã tạo điềukiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu và động viên tinhthần trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu củacác tập thể và cá nhân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Minh Phượng
Trang 4ời cam đoan i
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP, DOANH
1.2 Lý luận về doanh nghiệp, doanh nghiệp sản xuất và chế biến
Trang 5cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản 21
1.3.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp sản xuất và chế biến
1.4 Các nghiên cứu liên quan và những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu
nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế
1.4.2 Những vấn đề đặt ra cho việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
52
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế
xã hội của Nghệ An đối với phát triển các doanh nghiệp sản
2.2.1 Phương pháp tiếp cận đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh
Trang 6nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An 78Chương 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
3.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế
3.1.1 Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm của các doanh
3.1.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
3.3 Cơ hội và thách thức của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN NÔNG
4.1 Quan điểm, định hướng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
Trang 74.1.2 Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp sản xuất và chế biến nông sản tỉnh Nghệ An trong thời
4.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản
Trang 8AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
DN SX&CB NS Doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản
Trang 92.1 Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế (2006-2010) 54
2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
3.1 Số lượng doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản được thành
3.2 Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh phân
3.3 Cơ cấu các loại hình doanh nghiệp đăng ký kinh doanh phân
3.4 Đóng góp của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản vào
3.5 Doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản
3.6 Mức độ đổi mới của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông
3.7 Đánh giá về nguồn cung ứng đầu vào cho các loại hình doanh
3.8 Đánh giá khả năng đổi mới kỹ thuật, công nghệ của các loại hình
3.9 Đánh giá khả năng thiết kế sản phẩm mới của các loại hình
3.10 Đánh giá khả năng tài chính/kế tóan của các loại hình doanh
Trang 103.12 Đánh giá hoạt động marketing và dịch vụ khách hàng của các loại
hình doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản tại Nghệ An 1043.13 Tốc độ tăng trưởng của thị trường của doanh nghiệp sản xuất và
3.14 Dịch vụ phát triển kinh doanh cho các loại hình doanh nghiệp sản
3.15 Đánh giá khả năng lãnh đạo và thực hiện chiến lược của các loại
hình doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản tại Nghệ An 1103.16 Số lần thanh kiểm tra bình quân hàng năm tại các doanh nghiệp
3.17 Mức độ tiếp cận thông tin về các văn bản luật, thủ tục hành chính
của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở Nghệ An 1173.18 Mức độ tiếp cận thông tin về kế hoạch, chính sách của doanh
3.19 Nhu cầu cung cấp thông tin của các doanh nghiệp sản xuất và chế
3.20 Mức độ tiếp cận các nguồn vốn của các doanh nghiệp sản xuất và
3.21 Những khó khăn doanh nghiệp SX&CB NS gặp phải khi vay tiền
3.23 Bảng phân tích SWOT về phát triển doanh nghiệp sản xuất
Trang 111.1 Nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của địa phương 482.1 Khung phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanhnghiệp đồng thời cũng gây ra nhiều sức ép cạnh tranh mới đối với các doanhnghiệp sản xuất và chế biến nông sản Những cơ hội có thể kể đến là: có thịtrường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm; có điều kiện thu hút vốn đầu tư từnước ngoài và tiếp nhận công nghệ tiến tiến Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũngphải đối đầu với các thách thức hết sức gay gắt đó là sự cạnh tranh quyết liệt dohàng rào bảo hộ bị bãi bỏ, khi phải thực hiện chế độ đãi ngộ tối huệ quốc và đối
xử quốc gia Các sản phẩm nước ta phải cạnh tranh bình đẳng với các sản phẩmcủa các nước khác không chỉ trên thị trường thế giới mà ngay cả ở thị trườngnội địa Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra nhữngthách thức Cơ hội và thách thức cũng luôn luôn vận động, biến đổi Tận dụngđược cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức và tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại,không tận dụng cơ hội thì thách thức sẽ lấn át làm triệt tiêu cơ hội
Trong những năm qua, tỉnh Nghệ An đã có những bước tiến quan trọngtrong phát triển kinh tế và xã hội Tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương chínhsách, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển, phát huy các nguồn lực,tiềm năng, lợi thế của từng doanh nghiệp để phát triển nhanh, bền vững trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nôngsản ở tỉnh Nghệ An đã có đóng góp quan trọng vào các thành tựu kinh tế - xãhội chung của tỉnh; chiếm 39,32% trong cơ cấu tổng sản phẩm theo giá thực tếtrên toàn tỉnh năm 2010; sử dụng 29.278 lao động (Cục Thống kê Nghệ An,2010) Số lượng doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở Nghệ An đãtăng lên nhanh chóng, từ 82 doanh nghiệp năm 2000 đến 2010 đã tăng lên 477
Trang 13(tăng 5,8 lần) (Cục Thống kê Nghệ An, 2010).
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nhìn chung, các doanh nghiệp sảnxuất và chế biến nông sản được hình thành trong những năm gần đây nên chủ yếu
là quy mô nhỏ hoặc vừa, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, khả năng quản trị doanhnghiệp còn nhiều hạn chế nên năng lực cạnh tranh còn thấp Khi bước vào hộinhập kinh tế quốc tế, vấn đề đặt ra cho doanh nghiệp sản xuất và chế biến nôngsản tỉnh Nghệ An hiện nay là làm thế nào để tạo ra năng lực và lợi thế cạnh tranhtrong điều kiện cạnh tranh mới? làm thế nào nhận diện và khai thác được các nănglực và lợi thế cạnh tranh? Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nói trên, tác giả lựa chọn
đề tài “Nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế
biến nông sản ở tỉnh Nghệ An” làm luận án nghiên cứu.
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở khoa học của năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpsản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An thông qua các loại hình doanhnghiệp, nhằm tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và đềxuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sảnxuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh chodoanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là năng lực cạnh tranh của các loạihình doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An
+ Thời gian nghiên cứu từ 2009 – 2011
+ Thời gian lấy số liệu: từ năm 2000 - 2010
4 Những đóng góp của luận án về học thuật lý luận và thực tiễn
Luận án đã thảo luận về năng lực cạnh tranh của các loại hình doanhnghiệp sản xuất và chế biến nông sản nói chung và ở tỉnh Nghệ An nói riêng,
từ đó đã có những đóng góp mới cả về lý luận, thực tiễn và giải pháp nângcao năng lực cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp sản xuất và chế biếnnông sản ở tỉnh Nghệ An như sau:
- Về lý luận, luận án đã hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn vềnăng lực cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệp sản xuất và chế biến nôngsản Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản lànguồn nội lực và những thế mạnh mà doanh nghiệp có thể huy động được đểduy trì, cải thiện và nâng cao thứ hạng của doanh nghiệp so với đối thủ trên thịtrường nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nôngsản chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Năng lực sản xuất của doanh nghiệp: yếu
tố lao động, yếu tố vật chất kỹ thuật, yếu tố tổ chức kỹ thuật; Năng lực tài
Trang 15chính, kế toán của doanh nghiệp; Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanhnghiệp; Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của doanh nghiệp; Khả năngđáp ứng yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp;Chất lượng, giá cả sản phẩm của doanh nghiệp; Năng lực marketing và dịch
vụ khách hàng của doanh nghiệp; Văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp;Luận án góp phần làm rõ năng lực cạnh tranh của các loại hình doanh nghiệpsản xuất và chế biến nông sản trong điều kiện hội nhập và phát triển
- Về thực tiễn, luận án đã đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An theo các loại hình sởhữu thông qua các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: Mức
độ đổi mới của doanh nghiệp; Nguồn cung ứng đầu vào; Khả năng đổi mới kỹthuật, công nghệ sản xuất; Khả năng thiết kế sản phẩm mới; Khả năng tàichính kế toán; Khả năng thu thập, quản lý thông tin; Marketing và dịch vụkhách hàng; Các dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh; Văn hóa doanh nghiệp,khả năng lãnh đạo của doanh nghiệp;
Luận án đã tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh củacác doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An Từ đó, giúpcác doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An phát triểnhoàn thiện và bền vững hơn
- Luận án đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở tỉnh Nghệ An giaiđoạn 2010 - 2020 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là nguồn cung cấp thôngtin khoa học về phát triển doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản cho cácnhà nghiên cứu, các cơ quan tham mưu hoạch định chính sách, các doanhnhân trên cả nước nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP, DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT VÀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
1.1 Một số vấn đề lý thuyết về năng lực cạnh tranh
1.1.1 Định nghĩa và quan điểm về năng lực cạnh tranh
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù là trường phái nào đều thừa nhậnrằng: Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung
- cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh
là linh hồn sống của thị trường Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phứctạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
- Theo Đại từ điển tiếng Việt: Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những
cá nhân và tập tể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng
về mình Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hoá cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ (Từ
điển Tiếng Việt)
- Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học: Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa
các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên
cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được (Từ điển thuật ngữ
Kinh tế học, 2001)
- Trong đại từ điển kinh tế thị trường định nghĩa: Cạnh tranh hữu hiệu
là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp, mà mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thoả mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh
Trang 17doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý (Từ điển Kinh tế thị trường, 1998).
- Từ điển Kinh tế Chính trị học định nghĩa: cạnh tranh là cuộc đấu tranh
có tính chất đối kháng giữa những người sản xuất hàng hoá tư nhân nhằm giành các điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Cạnh tranh
là lực lượng cưỡng bức bên ngoài, buộc những người sản xuất hàng hoá tư nhân phải tăng năng suất lao động trong các xí nghiệp của họ, phải mở rộng sản xuất, tăng tích luỹ (Từ điển Kinh tế chính trị học, 1987).
- Nhà kinh tế học A.Marshall cho rằng: "Cạnh tranh là hiện tượng mà
một người này ganh đua với một người khác, đặc biệt là khi bán hoặc mua một thứ gì đó, đồng thời thuật ngữ cạnh tranh gắn liền với cái xấu, nó được hiểu là một phần đáng kể của sự ích kỷ và sự dửng dưng đối với phúc lợi của những người khác" (A.Marshall, 1983).
- PGS Lê Hồng Tiệm: "Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa các chủ thể sản
xuất kinh doanh nhằm giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất trong sản xuất ra sản phẩm, trong tiêu thụ hàng hoá, trong hoạt động dịch vụ để đảm bảo thực hiện lợi ích tốt nhất của mình" (Lê Hồng Tiệm, 2005).
- Trước đây khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản C Mác đã đề cập đến
vấn đề cạnh tranh của các nhà tư bản “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự
ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch” (Nguyễn Thị Hường, 2005)
Như vậy cạnh tranh có thể được hiểu theo một khái niệm chung nhất đó
là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh
doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành giật
Trang 18khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao.
1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong các tài liệu hiện nay liên quan đến vấn đề này chưa có định nghĩa
thống nhất về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên có thể nêu ramột số định nghĩa về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp như sau:
- Khái niệm về năng lực cạnh tranh được nêu ra lần đầu tiên ở Mỹ vào
đầu những năm 1980 Theo Aldington Report “Doanh nghiệp có khả năng
cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc
tế Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”(Nguyễn Hữu Thắng, 2006)
- Theo Fafchamps cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là
khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất ra sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào
có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao (Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005)
- Còn Markasen (1992) lại đưa ra một khái niệm: “Một nhà sản xuất là
cạnh tranh nếu như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí do đơn vị của các nhà cạnh tranh quốc tế” (Nguyễn Vĩnh Thanh,
2005)
- Theo Philip Lasser cho rằng: Năng lực cạnh tranh của một công ty
trong một lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà công ty có hoặc huy động được để có thể cạnh tranh thắng lợi (Nguyễn Vĩnh Thanh, 2005).
- Theo Báo cáo về sức cạnh tranh (1985) của Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 19(WEF) cũng chỉ ra rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực
và cơ hội trong hoàn cảnh riêng trước mắt và tương lai của doanh nghiệp có sức hấp dẫn về giá cả và chất lượng hơn so với đối thủ canh tranh trong và ngoài nước để thiết kế sản xuất, tiêu thụ hàng hoá và cung cấp dịch vụ Đến
năm 1995 WEF lại định nghĩa “Năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh
nghiệp là khả năng của một công ty, một nước trong việc sản xuất ra của cải trên thị trường thế giới nhiều hơn đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp”
- Theo một số nhà nghiên cứu trong nước về cạnh tranh của doanh nghiệp:
+ TS Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp thể hiện ở khă năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng
và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh và trong nước và quốc tế (Vũ Trọng Lâm, 2006). Quan niệm này cho thấy nếudoanh nghiệp có khả năng duy trì và sáng tạo liên tục các lợi thế cạnh tranhcủa mình, doanh nghiệp sẽ luôn đi trước các đối thủ và giành phần thắngtrong cuộc cạnh tranh để đạt được mục đích duy trì và mở rộng thị trường, giatăng lợi nhuận
+ Theo TS.Nguyễn Hữu Thắng (2006): Năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững Quan niệm này đã
phần nào bao quát được mục đích và chiến lược trong quá trình hình thành vàphát triển của doanh nghiệp
Nếu hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt và quyết liệt của các chủthể kinh doanh trên thị trường thì chỉ có cạnh tranh giữa các cá nhân, cácdoanh nghiệp và cạnh tranh giữa các nền kinh tế, thông qua cạnh tranh hànghoá Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để giành được lợi thế về
Trang 20mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì vàphát triển vị thế của mình trên thị trường Các biện pháp này thể hiện một sứcmạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể,được gọi là là năng lực cạnh tranh của chủ thể đó
Hiện nay, vẫn còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnhtranh (nhiều tài liệu gọi là sức cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh) của doanhnghiệp Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm màdoanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan niệm lại gắn năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp theo thị phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồng nghĩa nănglực cạnh tranh với hiệu quả của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuynhiên nếu năng lực cạnh tranh chỉ là thực lực và lợi thế của bản thân doanhnghiệp thì chưa đủ bởi vì doanh nghiệp cạnh tranh có thắng lợi hay không lại
bị tác động của rất nhiều nhân tố, trong đó có sự tác động của ngoại lực, của
sự vay mượn tạm thời để duy trì vị trí của nó trên thị trường bằng rất nhiềucách khác nhau Trong thực tế có nhiều doanh nghiệp thực lực rất nhỏ nhưngvẫn duy trì được vị trí của nó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranhkhác Do vậy, nếu chỉ hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực
và lợi thế của doanh nghiệp sẽ làm giảm những suy nghĩ sáng tạo, dám nghĩdám làm, dám huy động thực lực hoặc những lợi thế của doanh nghiệp khácvào việc duy trì vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Theo chúng tôi: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là nguồn nội lực
và những thế mạnh mà doanh nghiệp có thể huy động được để duy trì, cải thiện và nâng cao thứ hạng của doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị trường nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp.
1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Các nhân tố nội tại doanh nghiệp
Sự lựa chọn phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 21+ Phạm vi kinh doanh, một nội dung quan trọng trong tuyên bố sứmệnh của doanh nghiệp, được Derek Abell (1980) luận giải là sự kết hợp của
ba khía cạnh mà doanh nghiệp cần phải làm rõ:
- Khách hàng là ai? Hay doanh nghiệp đang phục vụ cho đối tượngkhách hàng nào, phân đoạn thị trường nào?
- Nhu cầu nào của khách hàng được thỏa mãn? Theo quan điểm của cácnhà kinh tế, sở dĩ khách hàng khi tiêu dùng sản phẩm thu được lợi ích là do hànghóa, dịch vụ đó có những đặc tính giúp thỏa mãn nhu cầu của họ Do vậy, câuhỏi trên dẫn đến một vấn đề là doanh nghiệp cần thiết kế, chế tạo và cung ứngsản phẩm với những đặc tính cụ thể nào để thỏa mãn nhu cầu khách hàng
- Doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu khách hàng bằng cách nào? Câu hỏi nàyliên quan đến việc xác định các năng lực đặc biệt của doanh nghiệp Đó là nhữnglợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp được xây dựng dựa trên hai yếu tốmang tính bổ sung và hỗ trợ cho nhau là các nguồn lực và khả năng
Xác định đúng sự kết hợp của ba khía cạnh trên là tối quan trọng đốivới việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Xác định đúng phạm
vi kinh doanh cho doanh nghiệp biết cần đưa ra thị trường những sản phẩm gì,nhằm vào đối tượng khách hàng mục tiêu nào, đối thủ cạnh tranh trực tiếp là
ai, vũ khí và cách thức cạnh tranh là gì (năng lực đặc biệt của doanh nghiệp)
Trong quá trình phát triển kinh doanh, doanh nghiệp cũng thườngxuyên tìm cách mở rộng phạm vi kinh doanh thông qua tác động vào "bachiều" của mô hình Abell Doanh nghiệp có thể mở rộng thị trường bằng cáchthu hút các đối tượng khách hàng mới hoặc tiêu thụ sản phẩm trên cácđoạn/khu vực thị trường mới, mở rộng danh mục sản phẩm với những đặctính khác nhau hoặc phát triển những sản phẩm hoàn toàn mới, sáng tạonhững năng lực mới cho phép cạnh tranh có hiệu quả hơn so với đối thủ Tất
cả những điều đó đều làm thay đổi phạm vi kinh doanh theo cách mà doanh
Trang 22nghiệp mong muốn.
Năng lực quản lý, quyết tâm và cam kết của lãnh đạo doanh nghiệpđối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực lãnh đạo thể hiện trong các công việc "đối nội" và "đối ngoại"của nhà lãnh đạo doanh nghiệp Về hoạt động đối nội, năng lực này thể hiện ởchỗ biết phát huy sở trường của từng người và từng tập thể, gắn lợi ích của cánhân với lợi ích tập thể và của cả toàn doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêuchung của toàn doanh nghiệp, Về quan hệ đối ngoại, người lãnh đạo cónăng lực là người biết nhìn xa trông rộng, có óc quan sát và phân tích, phánđoán chính xác các cơ hội, nguy cơ từ môi trường, có khả năng xử lý tốt cácmối quan hệ với các đối tượng hữu quan bên ngoài (như khách hàng, ngườicung ứng, cơ quan nhà nước, cộng đồng địa phương, ) để tận dụng thời cơ vàtránh nguy cơ cho doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được quan niệm là khảnăng tạo dựng, duy trì và phát triển liên tục các lợi thế cạnh tranh một cáchbền vững Bản thân cách quan niệm này đã hàm ý năng lực cạnh tranh là mộtvấn đề mang tính dài hạn Không thể bằng lối kinh doanh "chụp giật", "bócngắn cắn dài", "chỉ thấy cái lợi trước mắt" mà doanh nghiệp có thể đạt đượckhả năng cạnh tranh mạnh Điều này có nghĩa, nâng cao năng lực cạnh tranhcần sự quyết tâm và cam kết dài hạn họ mới luôn tìm mọi cách phát huynhững lợi thế hiện có, lãnh đạo toàn bộ tổ chức sáng tạo những lợi thế mới vànâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nếu ban lãnh đạo của doanh nghiệp không quyết tâm nâng cao lợi thếcạnh tranh, sẽ dẫn đến tình trạng "nửa đường đứt gánh", thiếu tâm huyết trongviệc tìm kiếm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,nhân viên cấp dưới cũng không có động lực để phát huy tài năng đóng gópcác sáng kiến cải thiện kết quả và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hậu
Trang 23quả tất yếu là doanh nghiệp bị mất dần các lợi thế cạnh tranh hiện tại, suygiảm khả năng cạnh tranh và dẫn đến tiêu vong Do vậy, có thể nói sự tâmhuyết và cam kết của lãnh đạo doanh nghiệp là một yếu tố rất quan trọng ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Chiến lược kinh doanh ảnh hưởng đến việc tạo dựng và nâng cao nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp Một mặt, chiến lược được xây dựng dựatrên các lợi thế năng lực cạnh tranh, phát huy yếu tố "sở trường" của doanhnghiệp nhằm cạnh tranh với các yếu tố "sở đoản" của các đối thủ qua đó màgiành thắng lợi trong cạnh tranh Mặt khác, thông qua các chiến lược, doanhnghiệp có thể tạo dựng, duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh mới, và do
đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao Vấn đề mấu chốt ởđây là doanh nghiệp phải xây dựng, lựa chọn, và thực hiện có hiệu quả cácchiến lược thích hợp để có thể khai thác tốt nhất các điều kiện môi trườngkinh doanh bên ngoài và nội bộ doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp vì yếu tố này tác động đến cách thức cá nhân,nhóm, bộ phận tương tác với nhau và khả năng sáng tạo của họ Nếu doanhnghiệp xây dựng được truyền thống văn hóa thích hợp sẽ là nhân tố thuận lợikhai thông mọi ý tưởng sáng tạo, tìm ra những cách thực hiện tốt hơn nhữngnhiệm vụ thông thường, nhạy cảm hơn với những thay đổi của môi trường,đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, Ngược lại, nếu văn hóa doanhnghiệp đề cao cách làm việc mang tính "rập khuôn" máy móc, thụ động,không khuyến khích những ý tưởng mới sẽ làm hạn chế khả năng đối mới củadoanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Trang 24Năng lực tài chính của doanh nghiệp không chỉ thể hiện ở quy mô vốnkinh doanh Có những doanh nghiệp quy mô vốn "lớn" nhưng "không mạnh",
đó là do cơ cấu tài sản, nguồn vốn không hợp lý, doanh nghiệp chưa biết cáchkhai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của mình Ngược lại, cónhững doanh nghiệp quy mô nhỏ nhưng vẫn được coi là mạnh vì doanhnghiệp đã duy trì tình trạng tài chính tốt, biết cách huy động những nguồn tàichính thích hợp để sản xuất kinh doanh những sản phẩm hàng hóa có sứccạnh tranh phục vụ tốt thị trường mục tiêu
Vấn đề không nằm ở chỗ quy mô vốn của doanh nghiệp là bao nhiêu
mà là doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả như thế nào để phục vụ tốt đến đâunhu cầu của đối tượng khách hàng mục tiêu trong phạm vi kinh doanh củadoanh nghiệp Doanh nghiệp có số vốn càng nhỏ thì càng cần chú trọng đápứng nhu cầu đặc thù của đối tượng khách hàng mục tiêu, điều mà các doanhnghiệp lớn không làm được hoặc không hiệu quả Doanh nghiệp có năng lựctài chính mạnh sẽ là điều kiện cần thiết và quan trọng để nâng cao nặng lựccạnh tranh
Năng lực công nghệ của doanh nghiệp
Năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở trình độ trang bị công nghệ
mà còn thể hiện ở trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo của người lao độngtrong doanh nghiệp Một doanh nghiệp có trình độ trang bị công nghệ caonhưng không có đội ngũ lao động sử dụng có hiệu quả công nghệ ấy thì cũngkhông thể có khả năng cạnh tranh mạnh được Công nghệ thích hợp, hiện đại
là điều kiện cần thiết để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành
hạ, có nhiều tính năng ưu việt hơn các sản phẩm cùng loại trên thị trường, và
do đó giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
1.1.2.2 Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Khả năng phản ứng nhanh và linh hoạt của đối thủ cạnh tranh
Trang 25Nếu đối thủ có khả năng nhanh chóng điều chỉnh chiến lược, từ bỏ các
"cam kết" đối với chiến lược "cũ" để chuyển sang chiến lược mới nhằm bắtchước bài học thành công của doanh nghiệp thì lợi thế cạnh tranh của doanhnghiệp có xu hướng tồn tại nhất thời, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
là không bền vững Nếu ngược lại, doanh nghiệp có nhiều khả năng duy trì lợithế cạnh tranh của mình và có năng lực cạnh tranh mạnh và bền vững hơn
Tốc độ đổi mới công nghệ trong ngành
Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong ngành có tốc độ đổi mới công nghệnhanh chóng (như ngành điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin, ) chu kỳsống của sản phẩm rút ngắn thì các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có xuhướng chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn trước khi bị các công nghệ mớithay thế Trong khi đó, doanh nghiệp hoạt động trong những ngành có tốc độđổi mới công nghệ chậm hơn (như ngành khai thác lâm sản, ngành dệt) có xuhướng kéo dài thời gian tồn tại của các lợi thế và năng lực cạnh tranh cũngtương đối bền vững
Môi trường thể chế và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội là điều kiện cần thiết yêntâm đầu tư, phát triển sản xuất - kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Sự ổn định chính trị và đảm bảo trật tự an toàn xã hội làm giảmrủi ro trong kinh doanh, hấp dẫn đầu tư nước ngoài
Hệ thống pháp luật đồng bộ, nhất quán và ổn định cần hướng tới tạo lậpmôi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phầnkinh tế Với vai trò là người "nhạc trưởng" điều tiết các hoạt động trong nềnkinh tế thị trường Nhà nước cần xác định việc tạo lập môi trường pháp lýđồng bộ, thông thoáng và ổn định cho hoạt động sản xuất - kinh doanh củacác doanh nghiệp là một nhiệm vụ ưu tiên
Hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước cũng
Trang 26nhằm hình thành đồng bộ các loại thị trường (thị trường yếu tố đầu vào, thịtrường đầu ra) Các loại thị trường được hình thành đồng bộ và thông thoáng
sẽ làm tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực và tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp Nếu cho rằng làm như vậy là "dễ người, dễ ta" không dẫn đến nângcao năng lực cạnh tranh cho một doanh nghiệp riêng lẻ nào đó thì điều đó làkhông chính xác Mỗi doanh nghiệp có những điều kiện đặc thù riêng, cónăng lực khai thác cơ hội khác nhau và có thể được hưởng lợi ở những mức
độ không giống nhau từ sự đồng bộ và thông thoáng của các loại thị trường.Doanh nghiệp nào khai thác cơ hội tốt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh mạnhhơn trên thương trường
Hơn nữa, việc hình thành đồng bộ các thị trường còn giúp nâng caonăng lực cạnh tranh quốc tế của sản phẩm, doanh nghiệp, ngành và của cảquốc gia nói chung Khía cạnh này có thể được nghiên cứu sâu sắc dựa theo
mô hình kim cương của M Porter
chế biến nông sản
1.2.1 Khái niệm
Doanh nghiệp là một phạm trù đa nghĩa, vì thế khi nói đến doanhnghiệp, có rất nhiều cách hiểu khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau:
Theo kinh tế học vi mô, "Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường và xã hội để đạt lợi nhuận tối đa và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất" (Trang Thị Tuyết, 2006).
Từ điển thuật ngữ kinh tế học năm 2001 của Nhà xuất bản Từ điển
thuật ngữ Bách khoa lại đưa ra định nghĩa như sau: "Doanh nghiệp là đơn vị
kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành" (Từ điển thuật ngữ kinh tế học, 2001).
Trang 27Ở Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp cũng đã có nhiều thay đổi theo từnggiai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước Trong Khoản 1, Điều 4, Luật
Doanh nghiệp 2005 ghi rõ: "Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng,
có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh" (Luật Doanh
nghiệp, 2005)
Đến nay, vẫn chưa có một văn bản pháp lý hay tài liệu nào đưa ra kháiniệm cụ thể về doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản Nói đến doanhnghiệp sản xuất và chế biến nông sản là để phân biệt với doanh nghiệp nhànước, với hợp tác xã và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cho đến naycòn có nhiều quan niệm khác nhau
Có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sảnđồng nghĩa với khái niệm doanh nghiệp nông nghiệp Đó là những doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài Có thể hiểu doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản là tất cả các
loại hình doanh nghiệp được thành lập và sản xuất kinh doanh dựa trên sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể trong nước về tư liệu sản xuất, trong đó bao gồm các hình thức sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu hỗn hợp Đặc trưng
mang tính bản chất của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản là sửdụng đồng vốn của các chủ thể cá nhân, tập thể với mục đích được hưởng kếtquả kinh doanh
Về hình thức pháp lý, doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản cũng
có những hình thức pháp lý chung như các doanh nghiệp khu vực khác, đó làcông ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có sự đóng
Trang 28góp quan trọng của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản Về cơbản, vai trò của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản thể hiện ở cáckhía cạnh sau:
1.2.2.1 Doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản có đóng góp ngày càng
nhiều vào tăng trưởng kinh tế của quốc gia
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế nhiềuthành phần đã tạo điều kiện thuận lợi để phát huy mọi nguồn lực trong xã hội Đặcbiệt từ khi Luật Doanh nghiệp (1999) ra đời, số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạtđộng kinh doanh tăng lên nhanh chóng, trong đó phần lớn là doanh nghiệp sảnxuất và chế biến nông sản Với số lượng ngày càng đông đảo, doanh nghiệp sảnxuất và chế biến nông sản đã tạo ra một khối lượng hàng hóa, dịch vụ hết sứcphong phú, đóng góp đáng kể cho GDP của cả nước.Nhìn chung sự đóng góp củakhu vực kinh tế tư nhân nói chung, doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sảnnói riêng ngày càng tăng, chứng tỏ tính ưu thế và hiệu quả của khu vực này đãđược cải thiện đáng kể
1.2.2.2 Sản xuất và chế biến nông sản đã góp phần quan trọng trong việc huy
động các nguồn lực để phát triển kinh tế ở Việt Nam
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nông sảnkhông chỉ huy động có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội mà còn huy động cácnguồn lực khác của đất nước Trước hết, khối doanh nghiệp này khai thác cóhiệu quả nguồn lực đất đai, mặt nước, nông sản, diện tích rừng, khoáng sản ởngay tại địa phương Đây là những tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nướcthống nhất quản lý Khi Nhà nước giao cho các tổ chức, cá nhân, trong đó códoanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản phục vụ hoạt động sản xuất kinhdoanh thì các nguồn lực này sẽ phát huy được tác dụng của nó Nhờ có sự pháttriển của doanh nghiệp này, kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông - lâm - thủysản phát triển nhanh chóng, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa phong phú,
Trang 29phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra thị trường thế giới
Theo dự báo của các nhà nghiên cứu, với sự ra đời của Luật Doanhnghiệp, Luật Đầu tư mới (có hiệu lực từ 1-7-2006) cùng với việc Việt Namtrở thành thành viên chính thức của của WTO sẽ tạo động lực mạnh mẽ chocác doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản mở rộng quy mô đầu tư trongnhững năm tới
1.2.2.3 Doanh nghiệp sản xuất và chế biến góp phần quan trọng giải quyết việc
làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế di dân vào đô thị
Theo số liệu thống kê chính thức, năm 2006 tổng số lao động làm việctại các doanh nghiệp sản xuất và chế biến là 277.562 người, chiếm 7,06% tổng
số lao động trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; năm 2007 là339.638 người, chiếm 7,29%; năm 2009 là 1,6-2 triệu lao động Như vậy, laođộng trong các doanh nghiệp sản xuất và chế biến có xu hướng tăng lên quacác năm (Trịnh Thị Mai Hoa, 2005) Sự phát triển của các doanh nghiệp sảnxuất và chế biến không chỉ tạo ra công ăn việc làm mới cho người lao động màcòn thu hút số lượng lớn lao động thời vụ trong thời gian nông nhàn vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh, rút dần lực lượng lao động nông nghiệp sang làmcông nghiệp và dịch vụ, góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế Quá trình
đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở các vùng nông thôn, theo hướng từlao động nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ nhưng số lao động này vẫnlàm việc ngay tại quê hương, giảm bớt lượng người di cư từ các huyện ngoạithành vào các quận, huyện nội thành và từ các tỉnh vào thành phố lớn
Ngoài ra, doanh nghiệp sản xuất và chế biến còn có vai trò quan trọngtrong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động
Bộ phận lớn lao động trước khi vào làm việc tại cơ sở tư nhân là những laođộng phổ thông, tay nghề thấp, chưa quen với tác phong lao động công nghiệp,còn mang nặng tư duy sản xuất tự cung, tự cấp, chưa quen với cơ chế thịtrường Nhiều doanh nghiệp đã liên kết, phối hợp với các cơ sở dạy nghề để
Trang 30đào tạo nghề cho người lao động "theo địa chỉ" Một số doanh nghiệp tự xâydựng các xưởng đào tạo nghề, hoặc giao cho những người có tay nghề cao kèmcặp, hướng dẫn những người có tay nghề thấp Những hình thức đào tạo nhưvậy vừa phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và người lao động vừa manglại hiệu quả thiết thực.
1.2.2.4 Doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản tạo ra khả năng khai
thác có hiệu quả và giữ gìn, phát triển các ngành nghề truyền thống của địa phương
Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực sản xuất và chế biến nông sản
cơ bản được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ cá thể Các hộ sảnxuất kinh doanh cá thể thường gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanhngành nghề truyền thống như nghề gốm sứ, nghề thủ công mỹ nghệ, sản xuấthàng cơ khí nhỏ Khi các doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản hìnhthành, quy mô đầu tư sản xuất tăng lên, đặc biệt là việc ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất đã góp phần làm cho các nghề truyền thống ở địaphương ngày càng phong phú, phù hợp với xu thế phát triển sản xuất hàng hóa
1.2.2.5 Doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất và chế biến nông sản góp phần hình
thành và phát triển đội ngũ các nhà doanh nghiệp Việt Nam có trình độ
Trong khi một số nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước được đào tạo trong
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp tỏ ra bất cập trước đòi hỏi của cơ chế thịtrường, trước yêu cầu CNH, HĐH và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế thì các nhàquản lý khu vực dân doanh tỏ ra hết sức năng động và tự chủ cao do không bịràng buộc bởi các quy chế chung như khu vực doanh nghiệp nhà nước Khu vựckinh tế nông thôn đã tạo điều kiện môi trường cho sự phát triển năng lực của mỗi
cá nhân Nhờ đó đã hình thành được một đội ngũ các nhà doanh nghiệp tư nhânhoạt động trong hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề của nền kinh tế với số lượng
và trình độ không ngừng được nâng lên Nếu so sánh số lượng giám đốc doanh
Trang 31nghiệp nhà nước được đào tạo trong nhiều thập kỷ trước đây thì số lượng các nhàquản lý doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động trong thời gian qua lớn hơn nhiều.
Có thể nói rằng doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản là nơi đào tạo và sànglọc các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua thực tiễn kinh doanh, góp phần vàoviệc đào tạo lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp có chất lượng cao cho đấtnước
1.2.3 Phân loại doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản
1.2.3.1 Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoánnào (Luật Doanh nghiệp, 2005)
1.2.3.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó thànhviên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá nămmươi Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Công
ty TNHH không được phép phát hành cổ phần (Trịnh Thị Mai Hoa, 2005)
Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặcmột cá nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty), chủ sở hữu công tychịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trongphạm vi số vốn điều lệ của công ty Công ty TNHH một thành viên khôngđược phép phát hành cổ phiếu (Luật Doanh nghiệp, 2005)
1.2.3.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được chia thànhnhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức; cá nhân, sốlượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; cổ đông chỉ
Trang 32chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; cổ đông có quyền tự dochuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác Công ty cổ phần có quyềnphát hành chứng khoán các loại để huy động vốn (Luật Doanh nghiệp, 2005).
1.2.3.4 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó, phải có ít nhất hai thành viên
là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung;ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợpdanh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về cácnghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợcủa công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh khôngđược phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào (Luật Doanh nghiệp, 2005)
1.3 Các vấn đề thực tiễn về kinh nghiệm trong nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản
1.3.1 Các chính sách phát triển doanh nghiệp
1.3.1.1 Các chính sách chung có tác động tới các doanh nghiệp
Từ năm 1986 và đặc biệt là từ khi chuyển sang cơ chế thị trường (1989)đến nay, thể chế chung về kinh doanh, tài chính, đầu tư, đất đai được hìnhthành và từng bước hoàn thiện
- Khung khổ pháp luật kinh doanh được hình thành với nhiều luật quantrọng như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (ban hành năm 1987 và đượcsửa đổi nhiều lần sau đó), Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty(1990), Luật Doanh nghiệp Nhà nước (1995), Luật Hợp tác xã (1996), LuậtDoanh nghiệp (1999) Các văn bản luật này đã được bổ sung, sửa đổi nhiềulần và hiện nay được thay thế bằng các luật tương ứng là: Luật Doanh nghiệp(2005), Luật Hợp tác xã (2003), Luật Đầu tư (2005), Pháp luật kinh doanhquy định rõ về thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, hoạt động của
Trang 33doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp Luật kinh doanh chung đã tạo "sânchơi" bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh, tạo môi trường thông thoáng chohoạt động kinh doanh, tạo bước đột phá về cải cách hành chính, nâng cao đáng
kể tính nhất quán, tính thống nhất, minh bạch và bình đẳng của khung khổ phápluật về kinh doanh ở nước ta Bước đột phá lớn đối với các doanh nghiệp nóichung và đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng là sự ra đời củaLuật Doanh nghiệp năm 1999 với việc đơn giản hóa thủ tục thành lập doanhnghiệp, bãi bỏ hàng trăm giấy phép và quy định pháp luật không còn phù hợp
về điều kiện kinh doanh, chuyển đổi phương thức đăng ký kinh doanh,
Những đổi mới trong pháp luật kinh doanh đã tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp gia nhập thị trường, thực hiện hoạt động kinh doanh dễdàng và hiệu quả hơn Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt đối với cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa khu vực kinh tế tư nhân - vốn bị phân biệt đối xửnặng nề trước đây
- Pháp luật về đất đai cũng được hình thành và từng bước hoàn thiện,trong đó, quy định rõ về sử dụng đất, giao đất, cấp đất Chẳng hạn như LuậtĐất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ số181/2004/NĐ - CP, 182/2004/NĐ - CP, 188/2004/NĐ - CP quy định một sốvấn đề cụ thể nhằm tạo điều kiện giải quyết mặt bằng sản xuất cho doanhnghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng; quy định về việclập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, doanh nghiệp được tự thỏathuận với người có đất về kế hoạch sử dụng đất để làm mặt bằng sản xuất,hình thành tổ chức phát triển quỹ đất có trách nhiệm nhằm giải phóng mặtbằng ngay khi có quy hoạch được duyệt và công bố, giúp doanh nghiệp chủđộng hơn trong việc xin giao đất, thuê đất làm mặt bằng sản xuất
Việc đổi mới pháp luật về đất đai không chỉ tạo điều kiện thuận lợi hơncho các doanh nghiệp thế chấp vay vốn ngân hàng tốt hơn
Trang 34- Pháp luật về tài chính như thuế, ngân sách nhà nước, kế toán đượchình thành từng bước và ngày càng đồng bộ hơn, phù hợp với cơ chế thịtrường và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài việc quy định rõ nghĩa vụthuế, cơ chế tài chính đối với các doanh nghiệp, pháp luật về tài chính còn cónhững biện pháp hỗ trợ về thuế, hỗ trợ về tín dụng đối với các doanh nghiệptrong một số ngành, lĩnh vực, vùng hoặc mới thành lập Ngoài ra, pháp luậttài chính được cải tiến theo hướng thuận lợi hóa, công khai hóa và minh bạchhơn Việc áp dụng cơ chế tự khai tự nộp thuế là một bước tiến, tạo điều kiệnthuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Những nỗ lực đổi mới trong lĩnh vực thểchế tài chính đã góp phần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gia nhập thịtrường và hoạt động thuận lợi hơn.
- Pháp luật về tiền tệ, tín dụng đã tạo lập môi trường bình đẳng hơn,xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế (chẳng hạn, Luật Ngânhàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng năm 2003 đã xóa bỏ ưu tiên và
ưu đãi vay vốn đối với doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã) Chính phủ tạođiều kiện cho một số đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa được vay vốn của
tổ chức tín dụng không phải đảm bảo bằng tài sản (Nghị quyết số 02/2003/NQ
- CP ngày 17/01/2003 của Chính phủ quy định cho vay đến 30 triệu đồng đốivới chủ trang trại; đến 50 triệu đồng đối với đối doanh nghiệp sản xuất, kinhdoanh giống thủy sản; đến 100 triệu đồng đối với Hợp tác xã làm dịch vụcung ứng vật tư, cây, con giống để sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; đến
500 triệu đồng đối với hợp tác xã sản xuất hàng xuất khẩu, làm nghề truyềnthống) Ngoài ra, pháp luật trong lĩnh vực này còn tạo môi trường cạnh tranhtrong lĩnh vực tín dụng và dịch vụ ngân hàng, tự do hóa lãi suất Ngoài cáchình thức cho vay truyền thống, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế vềcác hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu
bộ chứng từ xuất khẩu, chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh
Trang 35toán Nhờ đó, đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng hơnnguồn vốn, hình thành và phát triển thị trường tài chính.
- Pháp luật về thương mại có vai trò rất quan trọng đối với các doanhnghiệp Từ khi thực hiện đổi mới nền kinh tế đến nay, pháp luật về thươngmại được đổi mới trên các mặt như: thuận lợi hóa, tự do hóa, đảm bảo bìnhđẳng và xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại nội địa vàthương mại quốc tế Với việc bãi bỏ phần lớn thuế nhập khẩu, cắt giảm thuếnhập khẩu, bãi bỏ các biện pháp hành chính như cấm đoán, hạn ngạch đãtạo môi trường thông thoáng cho hoạt động của các doanh nghiệp Đồng thời,các thủ tục hải quan cũng được đơn giản hóa Nhờ đó, các doanh nghiệp nhỏ
và vừa có điều kiện hơn trong việc tiếp cận thị trường trong và ngoài nước
- Pháp luật về lao động, việc làm và đào tạo nhân lực cũng được chútrọng Việc ban hành Bộ luật Lao động với những quy định rõ ràng về quyền
và nghĩa vụ của người lao động cũng như các nguyên tắc sử dụng và quản lýlao động đã tạo động lực to lớn cho người lao động cũng như cho người sửdụng lao động, giúp nâng cao năng suất lao động, tạo hiệu quả cao và thúcđẩy mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh
Pháp luật về giáo dục, đào tạo nghề cũng được chú trọng từ những quyđịnh về hệ thống các trường, nội dung, chương trình, Nhờ đó, nhiều cơ sởđào tạo đã được hình thành và phát triển, số lượng và chất lượng đào tạo đượcnâng cao, góp phần đảm bảo nhu cầu về lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật cho các doanh nghiệp; tỷ lệ lao động được đào tạo nghề cũng được nângcao, từ 18% năm 2000 - 2002 lên khoảng 28% những năm gần đây
- Khung khổ pháp luật khác: Ngoài những thể chế nêu trên, có nhiềuquy định trong các thể chế khác liên quan tới các doanh nghiệp nói chung,trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong số đó có pháp luật về tư vấn.Lĩnh vực này có các văn bản pháp luật quan trọng như: Pháp lệnh Luật sư(2001), Nghị định số 87/2002/NĐ - CP ngày 05/12/2002 của Chính phủ về
Trang 36hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ tư vấn, Nghị định số 87/2003/NĐ
-CP ngày 22/7/2003 của Chính phủ hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài,luật sư nước ngoài tại Việt Nam Các văn bản pháp luật này tương đối đầy đủ,
rõ ràng và thông thoáng về tổ chức và hành nghề tư vấn luật sư Nhờ đó, đãtạo một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới và hoàn thiện thể chế vềluật sư, mở ra triển vọng to lớn cho sự phát triển nghề luật sư ở nước ta Kếtquả đạt được của việc thực hiện Pháp lệnh luật sư làm sự gia tăng về số lượngluật sư, tổ chức hành nghề luật sư, hình thức hành nghề luật sư
Về dịch vụ tư vấn nói chung có Nghị định số 87/2002/NĐ - CP Đây làmột văn bản pháp luật quy định tương đối đầy đủ về hoạt động tư vấn tại ViệtNam Nghị định này được coi như là công cụ pháp lý chính điều chỉnh nhiềuvấn đề liên quan đến tất cả các loại hình dịch vụ tư vấn, trừ dịch vụ pháp lý doPháp lệnh Luật sư quy định Nghị định số 87/2002/NĐ - CP góp phần quantrọng vào việc tạo lập môi trường cho hoạt động tư vấn diễn ra đúng phápluật, tạo niềm tin giữa người cung cấp dịch vụ tư vấn và khách hàng sử dụngdịch vụ tư vấn, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra Nghị định này có nhữngquy định mang tính tích cực như: Xác định rõ các nguyên tắc cung cấp dịch
vụ tư vấn, đảm bảo được sự tin cậy của người sử dụng dịch vụ, đảm bảo tínhđộc lập, đáng tin cậy, khách quan và tinh thần khoa học của hoạt động tư vấn;quy định rõ nghĩa vụ, ràng buộc chặt chẽ đối với người cung cấp dịch vụ tưvấn; hướng dẫn lập hợp đồng tư vấn
Nghị định số 87/2003/NĐ - CP ngày 22/7/2003 của Chính phủ về hànhnghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam đã mởrộng hình thức hành nghề của các đối tượng này Họ được phép tư vấn về phápluật nước ngoài và pháp luật quốc tế trong mọi lĩnh vực, không còn bị hạn chếtrong một số lĩnh vực như trước đây (chỉ được tư vấn pháp luật về mặt đầu tư,kinh doanh, thương mại) Các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp giấyphép, đăng ký hoạt động đều được thực hiện nhanh chóng, đúng thời hạn, giảm
Trang 37bớt yêu cầu về một số loại giấy tờ không cần thiết nhằm tạo thuận lợi cho tổchức hành nghề luật sư nước ngoài sớm ổn định và triển khai hoạt động.
1.3.1.2 Các chính sách riêng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Ngoài các chính sách chung cho các doanh nghiệp, còn một số quyđịnh pháp luật riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Năm 1998, Chính phủ có Công văn 681/CP - KTN ngày 26/6/1998 củaVăn phòng Chính phủ về việc định hướng chiến lược và chính sách phát triểncác doanh nghiệp nhỏ và vừa Đây có thể coi là văn bản đầu tiên của Chínhphủ đưa ra khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở ViệtNam, làm cơ sở để thực hiện các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp này
Văn bản có giá trị pháp lý cao nhất áp dụng riêng cho các doanh nghiệpnhỏ và vừa là Nghị định 90/2001/NĐ - CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ vềtrợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghị định xác định rõ khái niệmdoanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam và khung pháp luật về hỗ trợ các doanhnghiệp này bao gồm các chính sách trợ giúp với các biện pháp về tài chính,tín dụng; cơ quan trợ giúp; tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vềmặt bằng sản xuất, khuyến khích phát triển các khu, cụm công nghiệp cho cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa; thực hiện các chương trình xúc tiến thương mạiquốc gia và trợ giúp xúc tiến xuất khẩu cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; trợgiúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đẩy mạnhviệc cung cấp thông tin về sản xuất, kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ vàvừa; thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa để giúp cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn ngân hàng,
Ngoài ra, Nghị định số 90/2001/NĐ - CP xác định rõ hệ thống các cơquan hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa từ Trung ương đến địa phương, baogồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đại diện các bộ, ngành liên quan và ủy ban nhândân các tỉnh Trong hệ thống các cơ quan hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn
có Cục Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 38Tham gia hỗ trợ các doanh nghiệp này còn có các hội nghề, các tổ chức đoànthể - xã hội.
Để triển khai thực hiện Nghị định số 90/2001/NĐ - CP, Thủ tướngChính phủ ban hành Quyết định số 115/2004/QĐ - TTg ngày 25/6/2004 và BộTài chính đã ban hành Thông tư số 93/2004/TT - BTC ngày 29/9/2004 hướngdẫn một số nội dung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảolãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tiếp đó, ngày 10/8/2004, Thủtướng Chính phủ ban hành Quyết định số 143/2004/QĐ - TTg phê duyệtChương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ vàvừa giai đoạn 2004 - 2008 Để triển khai thực hiện Quyết định số 143/2004/QĐ
- TTg, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ra Quyết định số 1347/2004/QĐ - BKH ngày24/11/2004 về việc ban hành Quy chế về quản lý thực hiện Chương trình trợgiúp đào tạo nguồn lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2004 - 2008
và Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 09/2005/TT - BTC ngày 28/01/2005hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo nguồn nhân lực cho các doanhnghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2004 - 2008
Ngoài ra, chính sách riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn cómột số quy định về chế độ kế toán riêng cho loại hình doanh nghiệp này (gồmcông ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanhnghiệp tư nhân và hợp tác xã phi nông nghiệp) như Quyết định số 1177/TC -CĐKT ngày 23/12/1996 và Quyết định số 144/2001/QĐ - BTC ngày21/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngày 28 tháng 05 năm 2008 Thủtướng Chính phủ ban hành Nghị định số 66/2008/NĐ - CP về hỗ trợ pháp lýcho doanh nghiệp Và mới đây nhất, ngày 04 tháng 11 năm 2011 Thủ tướngChính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 101/2011/NĐ - CP về quy định chitiết ban hành Nghị quyết số 08/2011/QH13 của Quốc hội về ban hành bổ sungmột số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá
Trang 39nhân Đây là một trong những chính sách của Chính phủ tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh.
1.3.2 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông
sản ở các nước ASEAN và ở Việt Nam
1.3.2.1 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp sản xuất và chế biến nông sản ở
các nước ASEAN
* Malaysia
Malaysia có thế mạnh và tiềm năng về sản xuất và chế biến cao su.Chính vì vậy Chính phủ Malaysia đã đưa ra nhiều chương trình hỗ trợ chophát triển như: hỗ trợ tài chính, công nghệ, kỹ thuật, Các vụ chức năng trựcthuộc Bộ Nông nghiệp còn thực hiện các dịch vụ tư vấn cho sản xuất, tư vấntiếp thị cho các nhà quản lý Các cánh rừng trồng cây cao su được tổ chứctheo nhóm có thể được trợ giúp dưới hình thức tín dụng, cung ứng các yếu tốđầu vào và các điều kiện tiếp thị
Ở Malaysia còn có Hội đồng ngành cây cao su được thành lập nhằmmục đích xúc tiến sự liên kết giữa khu vực Nhà nước và tư nhân Mạng lướicủa Hội đồng gồm các đại diện của các Bộ, Cục, các Công ty, các trường đạihọc và các đơn vị tư nhân có liên quan tới sự phát triển của ngành cao su, tạonên sự liên kết có trách nhiệm trong sản xuất - nghiên cứu và xuất khẩu
Malaysia còn thực hiện những chính sách khuyến khích về tài chính vàtiền tệ nhằm phát triển việc trồng, chế biến, xuất khẩu các loại nông sản có lợithế trên qui mô lớn Các công ty (bao gồm các hợp tác xã, các tổ hợp nôngnghiệp, các nông hội, các công ty cổ phần,…) muốn tham gia vào việc trồngcây để bán đều có quyền được hưởng các khuyến khích về thuế (ví dụ: cácđơn vị mới tham gia kinh doanh được khuyến khích miễn giảm thuế trong 5năm kể từ khi bắt đầu thực hiện)
Các dự án nông nghiệp đã được chấp thuận, nghĩa là đã được Bộ Tài
Trang 40chính thông qua, chi phí cơ bản ban đầu cũng được khấu trừ trong trườnghợp: khai hoang, trồng mới, xây dựng đường xá, cầu cống ở nông thôn, xâydựng công trình thuỷ lợi phục vụ tưới tiêu Các dự án này có quyền đượchưởng chính sách thuế đặc biệt Chính phủ cũng qui định đối với từng loạicây, khoảng thời gian và diện tích tối thiểu được hưởng.
Để thúc đẩy xuất khẩu, Chính phủ đã đưa ra những khuyến khích trợgiúp xuất khẩu như: trợ giúp phí tổn khi xúc tiến việc phát triển công nghiệpchế biến nông, lâm sản, trợ giúp các nhà xuất khẩu thâm nhập vào các thịtrường mới, trợ giúp trong việc xây dựng các kho chứa, bảo quản và tín dụngđổi mới công nghệ Đối với lĩnh vực chế biến được áp dụng những khuyếnkhích như: với công ty mới thành lập được hưởng sự giảm thuế trong 5 nămđầu, kể từ ngày bắt đầu sản xuất
Để khuyến khích các dự án tổng hợp trồng trọt và chế biến nông sảntrên qui mô lớn, các doanh nghiệp mới ra đời được hưởng 5 năm giảm thuế.Vấn đề này được Bộ Thương mại và Công nghiệp xác định trên cơ sở các tiêuchuẩn về giá trị của tài sản chung (bao gồm cả đất đai); số nhân công cố địnhtrong thời gian dài và tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - kỹ thuật của đấtnước Các nhà xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến (như các doanh nghiệpchế biến, các doanh nghiệp thương mại) được hưởng chính sách khuyến khíchnhư trợ cấp xuất khẩu, cấp vốn tín dụng xuất khẩu, được các khoản tín dụngvới lãi suất ưu đãi có thể giúp cho họ cạnh tranh hữu hiệu hơn trên thị trườngquốc tế Chính phủ cũng miễn thuế nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ chocông nghiệp chế biến xuất khẩu Những chính sách trợ giúp này đã tạo chongành nông nghiệp và chế biến nông sản phát triển nhanh và có điều kiện đổimới công nghệ cũng như tiếp thị mở rộng thị trường
* Singapore
Sự thành công của Singapore trong phát triển công nghiệp chế biến