Về mặt thực hành, u tân sinh ở dạ dày bao gồm políp có cuống, políp không cuống, ung thư giai đoạn sớm và u biểu mô loạn sản… Cắt niêm mạc qua nội soi CNMQNS được tiến hành từ năm 1973..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-0 0 0 -
LÊ QUANG NHÂN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CẮT NIÊM MẠC QUA NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TỔN TÂN SINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-0 0 0 -
LÊ QUANG NHÂN
NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP CẮT NIÊM MẠC QUA NỘI SOI ĐIỀU TRỊ THƯƠNG TỔN TÂN SINH
Ở NIÊM MẠC DẠ DÀY LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Chuyên ngành: NGOẠI - TIÊU HÓA
Mã số: 62.72.07.01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN THÚY OANH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
LÊ QUANG NHÂN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan Mục lục Bảng đối chiếu thuật ngữ Việt - Anh Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Danh mục các hình ảnh ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 4
1.1 Ung thư dạ dày giai đoạn sớm……… 4
1.2 Políp dạ dày……… 11
1.3 Loạn sản ……… 19
1.4 Phương pháp điều trị các thương tổn tân sinh qua nội soi… 20
1.5 Chỉ định và chống chỉ định của CNMQNS trong điều trị u tân sinh ở dạ dày……… …
1.6 Các biến chứng của CNMQNS………
26
30
Trang 5Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 32
2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 32
2.3 Phương pháp đánh giá kết quả và xử lý số liệu……… 41
2.4 Địa điểm và thời gian nghiên cứu……… 46
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 47
3.1 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu……… 47
3.2 Tỉ lệ thành công của CNMQNS……… 55
3.3 Biến chứng thủng và chảy máu sau CNMQNS……… 59
3.4 Khả năng còn sót políp sau CNMQNS ……… 62
3.5 Khả năng tái phát tại chỗ và di căn hạch sau CNMQNS điều trị ung thư giai đoạn sớm và loạn sản dạ dày.……… ……… 62
Chương 4: BÀN LUẬN……… 64
4.1 Lịch sử của cắt niêm mạc qua nội soi (CNMQNS)………… 64
4.2 Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu……… 64
4.3 Tỉ lệ thành công của CNMQNS……….……… 69
4.4 Vai trò của siêu âm qua nội soi trước khi CNMQNS 83
4.5 Vai trò của tiệt trừ vi trùng Helicobacter pylori 84
Trang 64.6 Săn sóc sau CNMQNS 84 4.7 Biến chứng thủng và chảy máu khi CNMQNS……….…… 85 4.8 Tái phát tại chỗ và di căn hạch sau CNMQNS điều trị ung thư
giai đoạn sớm và loạn sản dạ dày……… 94
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phiếu thu thập số liệu
Danh sách bệnh nhân
Trang 7BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH
Điều trị ít xâm hại Minimally invasive treatment
Định giai đoạn ung thư Staging
Hydroxyethyl starch Hydroxyethyl starch
Hydroxypropyl methylxelulô Hydroxypropyl methylxelulose
Trang 8Lớp cơ Muscularis propria
Nhánh tuyến môn vị Pyloric glandular branch
Phân loại tình trạng đẩy phồng lên
của sang thương
Classification of the lesion-lifted condition
Polyethylen glycol Polyethylen glycol
Thuốc ức chế bơm proton Proton Pump Inhibitor (PPI)
Siêu âm qua nội soi Endoscopic ultrasound (EUS)
Trang 9Simethicon Simethicone
Ung thư tại chỗ (Tis) Carcinoma in situ (Tis)
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 113.4 Giải phẫu bệnh trước khi CNMQNS điều trị ung thư
3.5 Giải phẫu bệnh sau khi CNMQNS điều trị ung thư giai
3.6 Kích thước trung bình của thương tổn 56
3.7 Kích thước trung bình của mảnh niêm mạc sau
CNMQNS
56
3.8 Mối liên quan giữa thể tích của dung dịch chích dưới
niêm mạc với kích thước của thương tổn 57
Trang 123.9 Biến chứng chảy máu sau CNMQNS và xử trí 59
3.10 Liên quan giữa biến chứng chảy máu với mảnh niêm
mạc đã được cắt và thương tổn tân sinh ở niêm mạc dạ dày
60
4.11 Thời gian trung bình kéo dài sự đẩy phồng niêm mạc
của các dung dịch
78
4.12 Liên quan giữa biến chứng thủng dạ dày và vị trí, kích
thước kèm có loét khi CDNMQNS
Trang 13DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 Tỉ lệ nam và nữ có políp, ung thư giai đoạn sớm và
3.4 Triệu chứng của bệnh nhân có políp, ung thư giai
đoạn sớm và loạn sản dạ dày
49
3.5 Triệu chứng của bệnh nhân có ung thư giai đoạn
sớm và loạn sản dạ dày
50
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
1.1 Hình minh họa sang thương 0 – I của ung thư ống
1.2 Hình minh họa sang thương 0 – IIa của ung thư ống
1.3 Hình minh họa sang thương 0 – IIb của ung thư ống
1.4 Hình minh họa sang thương 0 – IIc của ung thư ống
1.5 Hình minh họa sang thương 0 – III của ung thư ống
1.6 Hình minh họa sang thương 0 – IIa + IIc của ung
1.7 Hình minh họa sang thương 0 – IIa + IIc của ung
Trang 151.8 Hình vẽ minh họa phân loại ung thư ống tiêu hóa
giai đoạn sớm
8 1.9 Sự phát triển của ung thư dạ dày giai đoạn sớm 9 1.10 Hình vẽ minh họa “cắt niêm mạc có chích và cắt” 23
1.11 Hình vẽ minh họa “cắt niêm mạc có chích, nâng và
cắt”
24
1.12 Hình vẽ minh họa “cắt niêm mạc có dùng sợi thun” 24 1.13 Hình vẽ minh họa “cắt niêm mạc có dùng mũ chụp” 25 2.14 Mũ chụp nhựa trong suốt gắn ở đầu ống soi 34
2.16 Thòng lọng hình bán nguyệt và mũ chụp nhựa trong
2.17 Đo kích thước thương tổn bằng kềm sinh thiết 36
2.18 Vết cắt có màu xanh giống nhau sau khi thực hiện
Trang 162.21 Mảnh niêm mạc được cố định trong lọ có chứa
Phocmol 10%
40
2.22 Giải phẫu bệnh sau CNMQNS giúp đánh giá bờ cắt
của mảnh niêm mạc còn tế bào políp, ung thư hoặc
2.23 Đo kích thước ổ loét được tạo ra sau CNMQNS
bằng kìm sinh thiết
42 2.24 Hình minh họa “dấu hiệu nâng lên” âm tính 42 2.25 Hình minh họa “dấu hiệu nâng lên” dương tính 43
3.26 Giải phẫu bệnh sau CNMQNS là políp tăng sản (HE
4.30 Hình “dấu hiệu nâng lên” dương tính 74
4.31 Dung dịch xanh mêthylen được dùng để chích dưới
Trang 174.32 Hình vẽ minh họa mũi kim chích vào lớp dưới
4.33 Chích dưới niêm mạc với dung dịch xanh mêthylen
4.34 Siêu âm qua nội soi đánh giá khoảng cách giữa
niêm mạc và lớp cơ sau khi chích dưới niêm mạc dạ dày
79
4.38 Thòng lọng được xiết quá sâu vào vách ống tiêu hóa 87
4.40 Không hạch di căn khi kiểm tra bằng siêu âm qua
4.41 Không hạch di căn khi kiểm tra bằng MRI sau 33
Trang 18ĐẶT VẤN ĐỀ
U tân sinh (neoplasia) được định nghĩa là một khối mô bất thường phát triển nhanh và vô tổ chức so với mô bình thường và vẫn phát triển tiếp tục sau
khi tác nhân kích thích sự bất thường này đã mất [31], [72]
Các u tân sinh được định danh theo nguồn gốc mô học: từ biểu mô (epithelial) hay từ trung mô (mesenchymal)
Về mặt sinh học tùy theo mức độ sinh sản của tế bào mà có u lành hay
u ác tính Về mặt thực hành, u tân sinh ở dạ dày bao gồm políp có cuống, políp không cuống, ung thư giai đoạn sớm và u biểu mô loạn sản…
Cắt niêm mạc qua nội soi (CNMQNS) được tiến hành từ năm 1973 Lúc đầu, phương pháp này được xem như là “sinh thiết trọn” Vào thập niên 1990, các tác giả Nhật là những người đi tiên phong phát triển các phương pháp này để điều trị các thương tổn tân sinh của ống tiêu hóa Bác sĩ nội soi là người đầu tiên áp dụng thành công phương pháp này trong điều trị ung thư thực quản giai đoạn sớm [23], [44], [67]
Cùng với CNMQNS, phương pháp cắt dưới niêm mạc qua nội soi (CDNMQNS) được nghiên cứu áp dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt tại Nhật và Hàn Quốc [63], [65], [66], [74], [76]
Ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm được định nghĩa là thương tổn khu trú ở niêm mạc hoặc dưới niêm mạc chưa xâm lấn đến lớp cơ (muscularis propria) có tỉ lệ di căn hạch rất thấp [12], [35], [71]
Mặc dù diễn tiến tự nhiên của loại bệnh lý này tương tự nhau trên toàn thế giới nhưng cách xử lý giữa các tác giả phương Đông và phương Tây rất
Trang 19khác nhau Cắt bỏ rộng là quan điểm của các tác giả phương Tây trong khi các tác giả phương Đông chuộng phương pháp điều trị ít xâm hại hơn
CNMQNS và CDNMQNS được nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới để điều trị các thương tổn tân sinh của ống tiêu hóa trong đó có các thương tổn tiền ung thư và các ung thư giai đoạn sớm của ống tiêu hóa [10], [18], [19], [22], 36], [37], [44], [45], 46], [47], [48], [49], [55], [57], [59]
Nhiều nghiên cứu cho thấy ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm có tỉ lệ
di căn hạch rất thấp Gotoda [35] ghi nhận tỉ lệ di căn hạch 0% nếu ung thư khu trú ở niêm mạc dạ dày có kích thước 20 mm dù có hoặc không có biệt hóa ở tế bào ung thư
Kỹ thuật CNMQNS và CDNMQNS đang được thực hiện tại Nhật và Hàn Quốc như là một phương pháp chẩn đoán giai đoạn vừa là phương pháp điều trị các thương tổn tân sinh và ung thư dạ dày giai đoạn sớm
Nhiều nghiên cứu cho thấy CNMQNS có thể điều trị triệt để ung thư giai đoạn sớm với kết quả ban đầu tương đương với phẫu thuật với nhiều ưu điểm như thời gian nằm viện ngắn, ít đau [57], [59]
Ở Việt Nam, kỹ thuật này đã được thực hiện tại BV Bạch Mai và BV Chợ Rẫy tuy nhiên chưa mang tính phổ biến Hiện tại, ngành nội soi tiêu hóa
đã phát triển mạnh nên tỉ lệ chẩn đoán được các thương tổn tân sinh ngày càng nhiều Nhận thấy CNMQNS có thể áp dụng ở Việt Nam nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu áp dụng phương pháp điều trị này với mục tiêu nghiên cứu như sau:
1 Khảo sát tỉ lệ thành công của CNMQNS trong điều trị các thương tổn tân sinh ở dạ dày như políp không cuống, ung thư giai đoạn sớm hoặc thương tổn loạn sản
Trang 202 Khảo sát tỉ lệ biến chứng thủng và chảy máu sau CNMQNS trong điều trị các thương tổn tân sinh ở dạ dày như políp không cuống, ung thư giai đoạn sớm hoặc thương tổn loạn sản
3 Đánh giá kết quả sớm khi theo dõi tái khám trong thời gian thực hiện nghiên cứu này đối với điều trị các thương tổn tân sinh ở dạ dày
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 UNG THƯ DẠ DÀY GIAI ĐOẠN SỚM
1.1.2 Phân loại ung thư dạ dày giai đoạn sớm theo các tác giả Nhật
Trang 22Theo các bác sĩ nội soi Nhật, ung thư giai đoạn sớm của ống tiêu hóa nói chung và của dạ dày nói riêng được gọi là những ung thư týp 0 để phân biệt với những ung thư tiến triển theo phân loại của Borrmann [12], [86], [89]
Týp 0 - I: Thương tổn nhô cao hơn 2 lần niêm mạc bình thường hoặc thương tổn cao hơn chiều cao của kìm sinh thiết nội soi, chiều cao của kìm sinh thiết này là 2,5 mm (hình 1.1)
Týp 0 - II: Chia làm 3 týp như sau:
* Týp 0 - IIa: Thương tổn hơi nhô cao bằng hoặc nhỏ hơn 2 lần niêm mạc bình thường, hoặc thương tổn thấp hơn chiều cao của kìm sinh thiết, các
tế bào ác tính nằm trên bề mặt thương tổn (hình 1.2)
* Týp 0 - IIb: Thương tổn phẳng, tế bào ác tính nằm trên bề mặt thương tổn (hình 1.3)
* Týp 0 - IIc: Thương tổn hơi lõm, tế bào ác tính nằm ở đáy thương tổn (hình 1.4)
Týp 0 - III: Thương tổn lõm sâu, là týp giống ổ loét với các tế bào ác tính hiện diện ở bờ thương tổn (hình 1.5)
Týp 0 - IIa và 0 - IIc là các týp thường gặp của ung thư sớm Týp 0 - IIa thường gặp ở hang vị và thường là carcinôm có biệt hóa Týp 0 - IIc thường gặp ở phình vị và là carcinôm không biệt hóa
Carcinôm có biệt hóa có đặc điểm là lan rộng bề mặt niêm mạc và dưới niêm mạc, trong khi đó carcinôm không biệt hóa là týp xâm nhập Carcinôm
có biệt hóa phát triển từ chuyển sản ruột, trong khi đó carcinôm không biệt hóa phát triển từ biểu mô tuyến
Trang 23Týp 0 - IIb khó chẩn đoán nhất, thường chỉ chẩn đoán dựa vào sự thay đổi màu sắc niêm mạc so với xung quanh Ngoài ra còn có các týp phối hợp
như: 0 - IIa + IIc (hình 1.6), 0 – IIc + IIa (hình 1.7)…
Týp 0 - I và 0 - IIa phát triển thành týp Borrmann 1 và 2 theo phân loại ung thư tiến triển của Borrmann Týp 0 - IIc và 0 - III phát triển thành týp
Borrmann 3 và 4
Hình 1.1 Hình minh họa thương tổn 0 – I của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
2,5 mm
Trang 24Hình 1.2 Hình minh họa thương tổn 0 – IIa của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Hình 1.3 Hình minh họa thương tổn 0 – IIb của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Trang 25Hình 1.4 Hình minh họa thương tổn 0 – IIc của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Hình 1.5 Hình minh họa thương tổn 0 – III của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Hình 1.6 Hình minh họa thương tổn 0 – IIa + IIc
Trang 26của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Hình 1.7 Hình minh họa thương tổn 0 – IIc + IIa của ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm [12]
Phân loại theo mức độ xâm lấn trên mô học đối với ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm:
- Ung thư trong niêm mạc được chia như sau (hình 1.8):
* m1: ung thư tại biểu mô tuyến
* m2: ung thư đến lớp mô đệm
* m3: ung thư đến lớp cơ niêm
- Ung thư dưới niêm mạc cũng được chia như sau (hình 1.8):
* sm1: ung thư giới hạn đến 1/3 trên của lớp dưới niêm mạc
* sm2: ung thư đến 1/3 giữa của lớp dưới niêm mạc
Trang 27* sm3: ung thư đến 1/3 sâu của lớp dưới niêm mạc
Hình 1.8 Hình vẽ minh họa phân loại ung thư ống tiêu hóa
giai đoạn sớm [89]
1.1.3 Diễn tiến tự nhiên của ung thư dạ dày giai đoạn sớm
Theo Fujita [31] trong niêm mạc dạ dày bình thường, tất cả các tế bào biểu mô tuyến đều được thay thế bởi các tế bào mới, vì vậy một vài tế bào ung thư nếu có xuất hiện cũng sẽ bị thay thế bởi các tế bào mới theo quy luật
tự nhiên trước khi chúng phát triển thành ung thư thật sự
Trang 28Khi có viêm teo niêm mạc hoặc có viêm dạ dày kèm chuyển sản ruột, các nhánh tuyến môn vị bị tách ra khỏi nhánh chính và dần dần di chuyển vào sâu trong niêm mạc, sự di chuyển này do quá trình viêm kéo dài và do sự tái tạo tuyến tạo thành
Nếu có tế bào ung thư ở các nhánh tuyến này, các tế bào ung thư không còn bị thay thế bởi các tế bào mới nữa, lúc này tế bào ung thư có thể phát triển thành ung thư thật sự
Hình 1.9 Sự phát triển của ung thư dạ dày giai đoạn sớm [31]
Hình A và B: trong ống tuyến bình thường, tế bào ung thư sẽ bị thay thế bởi
tế bào bình thường theo quy luật tự nhiên
Hình B, C, D và E: nếu có viêm teo hoặc viêm dạ dày kèm chuyển sản ruột, tế bào ung thư bị giam giữ trong các nhánh tuyến môn vị, sau đó phân chia
nhanh chóng và không bị thay thế bởi các tế bào bình thường trong nhánh
chính như đã nêu ở trên
Trang 29Các tế bào ung thư xuất phát từ lớp giữa hoặc lớp sâu hơn trong niêm mạc dạ dày, các tế bào này tăng sinh về số lượng rất nhanh và ăn lan đến bề mặt niêm mạc dạ dày khi ung thư có đường kính 2 mm (hình 1.9) Sau khi ung thư ăn lan đến bề mặt niêm mạc dạ dày, do sự tác động của dịch vị và thức ăn, tốc độ phát triển của ung thư trở nên rất chậm
Fujita [31] ước tính tổng thời gian xuất hiện ung thư trong niêm mạc dạ dày từ 14 đến 21 năm Khi ung thư niêm mạc dạ dày có đường kính trung bình là 3 cm thì ung thư từ niêm mạc xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc
Sau khi ung thư xâm lấn xuống đến lớp sâu hơn niêm mạc, ung thư không còn chịu sự tác động của dịch vị và thức ăn nữa Lúc này ung thư phát triển với tốc độ nhanh trở lại, tạo ra xâm lấn và di căn
Sau đó bệnh nhân sẽ tử vong khi ung thư đạt được kích thước trung bình là 10 cm Thời gian tính từ lúc ung thư ăn lan xuống lớp dưới niêm mạc đến lúc tử vong là khoảng 1,5 đến 8 năm Do đó, Fujita nhận thấy rằng diễn tiến tự nhiên của ung thư dạ dày kéo dài gần 29 năm
Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra bằng chứng đáng tin cậy về tốc độ phát triển của ung thư ở trong niêm mạc dạ dày
Fujita [31] nhận thấy rằng ung thư phát triển chậm trong niêm mạc dạ dày nhờ đó bác sĩ nội soi có nhiều cơ hội để phát hiện các ung thư trong niêm mạc này
Các ung thư nhỏ hơn 2 cm có thể được điều trị khỏi hoàn toàn với tỉ lệ thành công rất cao, trong khi đó các ung thư có đường kính 3 cm thường đã
có xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc [31]
Trang 301.1.4 Tỉ lệ di căn hạch của ung thư dạ dày giai đoạn sớm
Năm 2000, tại Nhật, Gotoda [35] đã nghiên cứu trên 5265 bệnh nhân có ung thư dạ dày giai đoạn sớm được mổ cắt dạ dày và nạo hạch tại hai bệnh viện lớn đó là trung tâm ung thư quốc gia và viện ung thư
Trong nghiên cứu của Gotoda [35], 57,2% bệnh nhân có ung thư khu trú trong niêm mạc dạ dày và 42,8% bệnh nhân có ung thư xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc
Kết quả giải phẫu bệnh sau mổ cho thấy các ung thư niêm mạc có tỉ lệ
di căn hạch thấp hơn so với các ung thư đã xâm lấn dưới niêm mạc, chỉ có 2,2% ung thư niêm mạc có di căn hạch vùng, trong khi đó có đến 17,9% ung thư xâm lấn dưới niêm mạc có di căn hạch vùng [35]
Tỉ lệ di căn hạch của các ung thư niêm mạc có loét cao hơn so với các ung thư không có loét Tỉ lệ di căn hạch của ung thư niêm mạc có biệt hóa và không có loét với bất kỳ kích thước nào kể cả > 31 mm là 0%
Tỉ lệ di căn hạch của ung thư niêm mạc có đường kính 20 mm, không biệt hóa và không có loét là 0%
Trong khi đó, ung thư niêm mạc có biệt hóa và có loét có tỉ lệ di căn hạch là 0% nếu có đường kính 20 mm, nếu thương tổn có loét và không biệt hóa thì tỉ lệ di căn hạch tăng lên ≥ 1,3% [35]
1.2 POLÍP DẠ DÀY
1.2.1 Políp dạ dày lành tính
Políp là một u lành ở niêm mạc của ống tiêu hóa do những thương tổn tái tạo không tân sinh
Trang 31Theo Nakamura [72] políp dạ dày là những thương tổn nhô lên của niêm mạc dạ dày, thương tổn này có ranh giới rõ, có hình dạng khác nhau
Năm 1911, Heinz là người đầu tiên phát hiện políp qua x quang dạ dày
có cản quang Đến năm 1922 Schendler trở thành người đầu tiên phát hiện políp qua nội soi dạ dày Borrmann và Konjetzny là hai người đầu tiên mô tả políp dạ dày có nhiều loại khác nhau Sau đó Merkel, Reifferscheid và Gieseler đã dựa vào các mô tả này để đưa ra phân loại políp
Năm 1951 Walk ghi nhận có 2 trường hợp u nhung mao dạ dày có dạng sùi
Sau khi phân tích 153 políp dạ dày, Monaco phát hiện có 3 políp không cuống giống u tuyến của đại tràng và 10 políp có loạn sản nặng
Políp biểu mô tuyến dạ dày được chia thành hai nhóm là políp tăng sản
và u tuyến [2], [5], [68], [101], [111] Về mô học, cũng giống như viêm dạ dày phì đại hoặc tăng sản dạng políp, políp tăng sản có dãn dạng nang của các tuyến, phản ứng viêm và các tuyến phát triển xuống lớp cơ niêm
Theo Hattori [38] u tuyến ở dạ dày gồm có các u tuyến, ung thư dạ dày dạng políp
Phân loại như đã nêu ở trên được chấp nhận rộng rãi tại Nhật, Mỹ và Châu Âu Sau đó có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng políp dạ dày còn có nhiều loại khác nhau
Qua nghiên cứu mô bệnh học của 611 políp dạ dày, Nakamura [72] nhận thấy các loại políp hoàn toàn khác nhau và không có biến đổi qua lại giữa các loại políp
Trang 32Políp dạ dày là những thương tổn nhỏ và đa số không có triệu chứng, các políp này có thể bị bỏ sót khi nội soi dạ dày Políp thường gặp ở dạ dày với xuất độ 0,6% – 3% các trường hợp nội soi dạ dày [68]
Kích thước políp có thể thay đổi từ vài mm đến vài cm, nhìn chung políp dạ dày thường nhỏ, có đường kính < 1 cm, bờ rõ, nhô lên so với niêm mạc xung quanh Vì qua nội soi dạ dày bác sĩ nội soi có thể chẩn đoán và cắt políp nên nội soi là lựa chọn đầu tiên để phát hiện và điều trị políp dạ dày
Políp dạ dày có thể được chia thành nhóm thương tổn xuất phát từ biểu
mô tuyến và nhóm thương tổn không xuất phát từ biểu mô tuyến Nhóm thương tổn xuất phát từ biểu mô tuyến gồm políp tăng sản, políp tuyến ống phình vị, u tuyến Ngược lại với políp đại tràng, đa số políp dạ dày thuộc nhóm políp xuất phát từ biểu mô tuyến, chiếm 80 – 90% políp dạ dày
Nhóm thương tổn không xuất phát từ biểu mô tuyến gồm các u dưới niêm mạc Một số tác giả chỉ chia políp thành hai loại: políp tăng sản và u tuyến [73], [101]
Políp tăng sản là políp thường gặp nhất trong các políp dạ dày, chiếm
28 – 75% các trường hợp, sau đó là políp tuyến ống phình vị và u tuyến [68], [72] Theo Zea-Iriarte [113] políp tăng sản ở dạ dày chiếm đa số khoảng
85 – 91%
Qua khảo sát 153 bệnh nhân trong 5 năm, Morais [68] ghi nhận có 71,3% políp tăng sản Năm 2006, qua nghiên cứu hồi cứu 74 bệnh nhân, Yoon [111] ghi nhận tỉ lệ políp tăng sản là 31,8%
Theo Chi [20] tần suất thay đổi lớn giữa các tác giả có lẽ do quan điểm khác nhau về políp tăng sản Políp tăng sản có ở cả nam giới và nữ giới với tỉ
lệ như nhau và thường gặp ở các bệnh nhân trên 60 tuổi Trước đây políp này
Trang 33được xem là políp lành tính, không có ung thư hóa, nhưng hiện nay nhiều báo cáo ghi nhận có ung thư hoặc loạn sản xảy ra ở políp này [27], [38], [39], [40], [42], [64], [73], [111], [113]
Vào năm 2003, Alper [11] và Gencosmanoglu [32] cùng ghi nhận có trường hợp bị hẹp môn vị do políp tăng sản ở hang vị Đến năm 2004, Focht [26] đã mô tả 1 bé gái 7 tuổi có políp hang vị gây hẹp Políp có thể thấy
ở khắp nơi trong dạ dày, theo Morais [68] políp tăng sản thường gặp nhất ở hang vị, sau đó là thân vị, phình vị và miệng nối vị – tràng, các políp này đa
số là đơn độc và khoảng 8,2% là đa políp
Trước đây các políp tăng sản được xem như không liên quan đến ung thư nhưng đã có một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chuyển thành loạn sản hoặc ung thư gia tăng, khoảng 1,9 - 19% có loạn sản và ≤ 13,5% chuyển thành ung thư [38],[72]
Khi quan sát qua nội soi dạ dày, đó là những políp tròn mềm láng có cuống hoặc không, políp có thể chảy máu hoặc loét, có thể có một hoặc nhiều políp ở bất kỳ vị trí nào trong dạ dày, kích thước políp có thể từ vài mm đến vài cm, khi políp to có loét bề mặt dễ bị chẩn đoán lầm với ung thư
Políp tăng sản được phủ bởi niêm mạc bình thường, nhưng các políp to thường được phủ bởi niêm mạc hơi đỏ Về vi thể, Chi [20] nhận thấy políp tăng sản có phù nề mô dưới niêm mạc và có viêm mô đệm, điều này khác so với políp tăng sản ở đại - trực tràng
Políp tăng sản gồm những tuyến tăng sản được lót bởi các tế bào giống
tế bào ở phần sâu của niêm mạc, các tế bào này xếp thành một lớp đều đặn, phần mô đệm có thấm nhập viêm, phù nề lớp dưới niêm mạc [72]
Trang 34Políp tuyến ống phình vị còn được gọi là nang ống tuyến Elster Theo Chi [20] políp này chiếm đến 47% các políp dạ dày, không rõ cơ chế bệnh sinh nhưng thường xuất hiện ở đa políp gia đình Thường gặp políp này ở phụ
nữ tuổi từ 40 đến 69, các políp này thường xuất hiện ở phình vị và thân
vị [51], [68]
Theo Chi [20] các políp này có thể riêng lẻ nhưng thường là đa políp tập trung thành đám chứ không rãi rác, qua nội soi trông giống như chùm nho Kích thước políp thường nhỏ từ 2 - 3 mm đường kính và khó phát hiện políp giữa các nếp niêm mạc dạ dày Niêm mạc phủ lên políp có màu sắc giống như niêm mạc bình thường xung quanh nhưng đôi khi có màu tái hơn, do đó cách tốt nhất để quan sát políp là bơm khí làm căng dạ dày khi soi, khi dạ dày căng hơi sẽ không còn nếp niêm mạc, nhờ đó dễ phát hiện políp
Có tác giả cho rằng khó phân biệt políp này với các u carcinoid vì hình dạng và vị trí cũng như số lượng giống nhau Políp tuyến ống phình vị được xem như ít có khả năng ung thư hóa nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy có
sự liên quan giữa políp này và u tuyến cũng như có liên quan với ung thư đại - trực tràng
Theo Jung [51] có 12,5% ung thư đại trực tràng, 28,1% u tuyến ống và 4,7% u tuyến có loạn sản ở những bệnh nhân có políp tuyến ống phình vị Về
mô học, políp tuyến ống phình vị gồm các ống dãn tạo thành các nang nhỏ lót bởi tế bào chính và tế bào thành
Nghiên cứu của Morais [68] cho thấy các políp tuyến ống phình vị chiếm khoảng 16,3% các trường hợp políp dạ dày, đa số là đa políp có đường kính nhỏ hơn 1 cm, không có trường hợp nào políp có ung thư, không có thay
Trang 35đổi cấu trúc mô học và không có mối liên quan giữa việc dùng thuốc ức chế bơm proton và bệnh sinh
U tuyến dạ dày chiếm khoảng 5 – 10 % các trường hợp políp dạ dày U thường thấy ở hang vị và có kích thước to hơn políp tuyến ống và có dạng sùi,
u này thường không có cuống Đôi khi u có bề mặt chia nhiều thùy U tuyến
dạ dày chia làm 3 dạng: dạng tuyến ống, tuyến nhánh và tuyến ống – nhánh [15], [73]
Niêm mạc trên u tuyến thường trơn láng và có màu hơi đỏ U tuyến của
dạ dày được xem như là thương tổn tiền ung thư vì có nguy cơ chuyển thành ung thư tùy theo kích thước và cấu trúc vi thể, u có loạn sản giống như u tuyến nhánh hoặc u tuyến ống của đại tràng
U tuyến nhánh đôi khi khó phát hiện vì u dẹt và không có cuống, u khó phát hiện do giống với nếp niêm mạc dạ dày bình thường Về mô học, u có hình ảnh đặc trưng là u được cấu tạo bởi biểu mô tuyến hình trụ, các tế bào biểu mô này có các nhân dài ra bất thường
1.2.2 Khả năng ung thư hóa của políp dạ dày
Theo Nakamura [72] políp dạ dày là những thương tổn lành tính nhưng
có thể chuyển thành ác tính
Morais [68] nhận thấy rằng 0,9% políp tăng sản có ung thư vị trí trung tâm políp, các políp này có kích thước 4 cm và có cuống Những nghiên cứu trước đây ghi nhận tỉ lệ ung thư ở trung tâm của políp tăng sản < 1% [72]
Những políp tăng sản phát triển nhanh, to ra và trở thành những políp
to có cuống hoặc không cuống kèm xuất hiện loạn sản hoặc u tuyến và có thể chuyển thành ung thư, đa số ung thư xuất hiện ở políp tăng sản là ung thư có
Trang 36biệt hóa Hirasaki [40] khuyến cáo nên sinh thiết dù đó là những políp tăng sản có kích thước nhỏ vì không thể nhận ra được có hay không có ung thư ở những políp này
Nếu u tuyến lớn hơn 2 cm, u có nguy cơ xuất hiện ung thư hóa hơn các
u nhỏ hơn, nhưng ung thư vẫn có thể xảy ra ở các políp có kích thước to nhỏ bất kỳ, đặc biệt nếu có u tuyến kèm có viêm teo niêm mạc dạ dày xung quanh,
do đó cần sinh thiết khi phát hiện được u qua nội soi dạ dày
U tuyến dạ dày có thể xảy ra ở bệnh đa u tuyến gia đình nhưng ít gặp hơn so với políp tuyến ống phình vị Qua khảo sát 153 bệnh nhân trong 5 năm, Morais [68] ghi nhận có 12,4% u tuyến, đa số là políp không cuống ở hang vị, tỉ lệ này chiếm 50% trường hợp
U tuyến dạ dày có thể chuyển thành ung thư, Berg [15] nhận thấy 35%
u tuyến sẽ chuyển thành ung thư U tuyến nhánh và u tuyến ống - nhánh có nguy cơ ung thư cao hơn u tuyến ống [72], [73]
Nếu u có kích thước càng lớn thì khả năng ung thư càng cao, theo Morais [68] có 10,5 % u tuyến kích thước từ 1,5 đến 2 cm có ung thư trung tâm políp, đó là những u có cuống ngắn và có lõm trung tâm u, những u có kích thước nhỏ hơn 1,5 cm không có ung thư
Tương tự như vậy, Nakamura [72] cũng nhận thấy u tuyến càng to càng
có khả năng ung thư, ông thống kê thấy rằng 24% políp này với kích thước từ
2 cm trở lên có ung thư
Có rất nhiều báo cáo về việc phát hiện políp ung thư hóa ở dạ dày Năm 1953, Stout đã mô tả hai trường hợp u tuyến dạ dày có ung thư,
và cũng trong năm này có 2 báo cáo khác cũng mô tả có ung thư ở các políp
Trang 37Năm 1961, Bowden [17] báo cáo phát hiện ung thư ở políp dạ dày có đường kính 1 cm Năm 1978, Remmele và Kolb nhận thấy có một số trường hợp xuất hiện ung thư ở políp tăng sản
Sau đó có vài báo cáo về khả năng có ung thư ở những políp tăng sản
có kích thước lớn hơn 2 cm, nhưng một số tác giả nhận thấy những políp nhỏ khoảng 5 mm vẫn có thể xuất hiện ung thư
Qua nội soi dạ dày, Hirasaki [40] tình cờ phát hiện có ung thư tế bào nhẫn ở políp tăng sản kích thước nhỏ 5 mm, từ đó tác giả khuyên nên sinh thiết các políp dạ dày bất kể kích thước to hay nhỏ
Năm 1985, Hattori [38] thống kê có 4,4% políp tăng sản có ung thư Theo Tomasulo [101] tỉ lệ này thay đổi trong khoảng 2 – 6% Qua khảo sát
153 bệnh nhân trong 5 năm, Morais [68] ghi nhận có 0,9% políp tăng sản có ung thư và 10,5% u tuyến có ung thư
Năm 1995, Hizawa [42] thống kê 263 trường hợp cắt políp dạ dày và ghi nhận có 1,3% políp tăng sản có ung thư Năm 2005, Fry [27] báo cáo có trường hợp ung thư tế bào nhẫn ở políp tăng sản được phát hiện qua nội soi dạ dày
Năm 2007, Hirano [39] phát hiện có ung thư tế bào nhẫn ở políp tăng sản qua nội soi dạ dày ở những bệnh nhân đi khám sức khỏe định kỳ hàng năm ở Nhật
Cùng năm 2007, ở Mỹ, Mishra [64] cũng phát hiện có ung thư biệt hóa kém ở políp tăng sản Vài nghiên cứu cho thấy políp tăng sản cũng có nguy
cơ ung thư nhưng hiếm xảy ra với tỉ lệ ≤ 4,5% các trường hợp
Trang 38Về mặt vi thể, políp chia thành políp tăng sản và u tuyến, trong đó chỉ
có u tuyến có liên quan đến ung thư, đa số trường hợp chỉ cần cắt políp qua nội soi với diện cắt không còn políp
Theo Tomasulo [101] políp tăng sản có nguy cơ ung thư với tần suất 28%, trong khi đó u tuyến có tần suất ung thư cao hơn chiếm đến 59% Tác giả nhận thấy có mối liên quan giữa políp và ung thư dạ dày, 35% các truờng hợp có ung thư dạ dày và políp kèm theo, có ung thư tại chổ ở u tuyến
dạ dày, có mô u tuyến ở bờ của thương tổn ung thư dạ dày
Trong 2 loại políp, 59% u tuyến dạ dày có ung thư và 28% políp tăng sản dạ dày có ung thư [101] Không có bằng chứng rõ ràng về việc políp tăng sản có nguy cơ ung thư như u tuyến, nhưng có vài trường hợp políp tăng sản
có các tế bào u tuyến ở bề mặt, điều này có thể do biểu mô tuyến ở đỉnh políp thường xuyên bị kích thích dẫn đến viêm mạn tính và có thể chuyển thành ung thư
Theo Tomasulo [101] cắt políp qua nội soi với diện cắt không có políp
là đủ, chỉ chuyển mổ khi có kết quả là u tuyến hoặc políp lớn hơn 2 cm hoặc
đa políp Vấn đề ung thư có thể xảy ra ở políp dạ dày hay không và bệnh sinh vẫn còn đang được bàn cãi [38]
Theo Muehldorfer [69] qua nghiên cứu gần 222 políp ở 28 trung tâm y khoa, ông nhận thấy ung thư ở políp tăng sản chiếm 3,1%, trong đó tỉ lệ phát hiện được ung thư qua sinh thiết políp là 25%, có thể bỏ sót ung thư ở políp qua sinh thiết đơn thuần
Năm 2008, Wu [107] phát hiện có ung thư tế bào nhẫn khi tình cờ sinh thiết 1 políp không cuống nhỏ có đường kính 5 mm, políp này có bề mặt trơn
Trang 39láng Do đó Wu [107] khuyên nên sinh thiết hoặc cắt políp dạ dày khi phát hiện políp dạ dày
1.3 LOẠN SẢN
Hiện nay vẫn còn nhiều mâu thuẫn giữa các tác giả phương Đông và các tác giả phương Tây về vấn đề “loạn sản” Một câu hỏi lớn được nêu ra: phải chăng loạn sản là thương tổn tiền ung thư hay là thương tổn ung thư giai đoạn sớm ?
Thuật ngữ “loạn sản” thường được các tác giả phương Tây sử dụng nhiều hơn các tác giả Nhật Theo các tác giả phương Tây, loạn sản được xem như đồng nghĩa với u trong biểu mô tuyến Giống như u trong biểu mô tuyến, loạn sản có thể chia ra nhiều độ
Loạn sản nhẹ hơi khác so với bình thường [94], trong khi đó loạn sản nặng được xem tương đương với ung thư giai đoạn sớm [60], [85], [86], [95]
Theo Yamada [108] qua theo dõi gần 5 năm các thương tổn loạn sản nặng, 10% trường hợp xuất hiện ung thư sau khi theo dõi liên tục 4 năm 6 tháng, do đó tác giả khuyên nên CNMQNS các thương tổn loạn sản nặng
Tuy nhiên các tác giả Mỹ chưa đồng ý với việc xếp loạn sản nặng cùng nhóm với ung thư giai đoạn sớm, hội nội soi tiêu hóa Mỹ (ASGE) [41] đưa ra phác đồ đề nghị cắt loạn sản qua nội soi vì đây là một thương tổn tiền ung thư
Trừ ở thực quản, các bác sĩ giải phẫu bệnh Nhật không dùng hoặc ít dùng đến thuật ngữ “loạn sản” Đối với những thương tổn loạn sản theo các tác giả phương Tây, các bác sĩ giải phẫu bệnh Nhật thường xếp thành 3 nhóm: phản ứng viêm, u tuyến hoặc ung thư
Trang 40Các bác sĩ giải phẫu bệnh Nhật dựa vào các tiêu chuẩn về tế bào học và cấu trúc mô học, họ đưa ra giả thuyết rằng ung thư phải xuất hiện trong lớp biểu mô tuyến trước rồi sau đó mới bắt đầu xâm lấn
Từ đó có rất nhiều hội nghị bàn về sự khác biệt giữa các tác giả Nhật và các tác giả phương Tây trong chẩn đoán ung thư ống tiêu hóa giai đoạn sớm
Genta [33] cho rằng có sự khác biệt trong chẩn đoán là do các bác sĩ phương Tây dựa vào sự xâm lấn là tiêu chuẩn chính để chẩn đoán ung thư, trong khi đó các bác sĩ Nhật dựa vào sự thay đổi trong cấu trúc của nhân tế bào và hình thái của ống tuyến
Năm 1998, Stolte [95] đã tổ chức hội nghị tương tự tại Munich, Đức, với sự tham gia của 7 bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bệnh có kinh nghiệm, trong đó có 2 bác sĩ Đức, 1 bác sĩ Anh, 1 bác sĩ Mỹ và 3 bác sĩ Nhật
Stolte [95] rút ra được kết luận là vẫn có sự khác biệt trong chẩn đoán u tuyến ống hoặc loạn sản và ung thư biệt hóa tốt của dạ dày giữa các bác sĩ Nhật và các bác sĩ phương Tây
Ở Vienna, Áo, vào năm 1998 có 31 bác sĩ chuyên khoa giải phẫu bệnh tham dự hội nghị Tất cả thống nhất đưa ra phân loại theo Vienna về u biểu
mô tuyến ống tiêu hóa, trong đó xếp loại loạn sản nặng thuộc cùng nhóm với ung thư giai đoạn sớm [86]
Năm 2005, Sarela [85] báo cáo có 67% loạn sản nặng ở dạ dày có ung thư khi khảo sát trong vòng 7 năm ở 22 bệnh nhân
Theo phân loại của tổ chức y tế thế giới (WHO) [50] loạn sản ở dạ dày được xem như là một thương tổn tiền ung thư