1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị của thành phố hồ chí minh thời kỳ đổi mới

202 295 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 758,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta hiện nay, một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong sự phát triển xã hội Việt Nam là đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình do tôi nghiên cứu Kết quả nghiên cứu công trình khoa học này là trung thực và chưa được công bố

Người thực hiện

HUỲNH THÀNH LẬP

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 2

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH QUYỀN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính quyền và hệ thống chính trị 12

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính quyền và hệ thống chính trị ở Việt Nam 37

Kết luận chương 1 61

Chương 2 SỰ THỐNG NHẤT BIỆN CHỨNG GIỮA CHÍNH QUYỀN VỚI CÁC THÀNH TỐ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tổ chức, nhiệm vụ và đặc điểm của các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh 64

2.2 Sự tác động qua lại giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh 95

Kết luận chương 2 122

Chương 3 VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỜI KỲ ĐỔI MỚI 3.1 Những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh 125

3.2 Những phương hướng và giải pháp mang tính định hướng tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền và hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 154

Kết luận chương 3 177

KẾT LUẬN 180

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 185

PHỤ LỤC 186

TÀI LIỆU THAM KHẢO 194

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay thì hòa bình, hợp tác phát triển đang là xu hướng lớn trên thế giới Điều đó đã tạo ra những điều kiện và thời cơ phát triển cho các quốc gia nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố thách thức lớn đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển Khoa học và công nghệ trên thế giới có những bước nhảy vọt và những đột phá lớn nhất là trong lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ sinh học Sự cạnh tranh về kinh tế, thương mại cũng như những vấn đề sở hữu tài nguyên, năng lượng tranh giành thị trường, nguồn vốn, công nghệ,… giữa các nước có phần gay gắt Các

“cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn gay gắt Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nước giàu và nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị phá hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp Các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng gia tăng”[30,tr.74]

Quá trình giao lưu, hội nhập không những đã dẫn đến những tranh chấp về ảnh hưởng quyền lực, biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên giữa các quốc gia mà còn gây ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội

Trang 4

ở một số nước Chủ nghĩa đế quốc vẫn tiếp tục thực hiện những âm mưu

“diễn biến hoà bình”, gây bạo loạn lật đổ và chúng còn sử dụng các chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở một số nước trên thế giới Mỗi quốc gia tự tìm cho được phương thức giữ vững độc lập dân tộc mình và xây dựng chính quyền để giữ vững an ninh chính trị, chống được sự xâm lược từ bên ngoài là yêu cầu tất yếu

Ở nước ta hiện nay, một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong sự phát triển xã hội Việt Nam là đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp; chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì thế vai trò của chính quyền nhà nước là vô cùng lớn lao không chỉ nhằm mục đích tổ chức quản lý xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nói chung mà còn nhằøm mục đích lớn hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân lao động Vì thế, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật Xây dựng hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”[30,tr.126]

Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như ở các nước xã hội chủ nghĩa khác, Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa được quan niệm lúc bấy giờ Theo đó, chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất và cơ chế kế

Trang 5

hoạch hóa tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủ đạo của mô hình phát triển Việc thực hiện mô hình này đã mang lại những kết quả to lớn, nó đảm bảo và quyết định để giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu giải phóng đất nước, bảo vệ và xây dựng tổ quốc, tạo lập những cơ sở vật chất

- kỹ thuật ban đầu rất quan trọng của chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, mô hình phát triển này có những khiếm khuyết lớn trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, dẫn đến tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng, nhiệt tình của người lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưa được khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn, nguy cơ bất ổn định trong đời sống kinh tế - xã hội Lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước bị giảm sút Vì vậy, Đảng ta đã quyết định tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi và hình thức thích hợp

Từ những bài học về công cuộc cải tổ ở Liên Xô, sự sụp đổ ở Đông Âu và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã đề ra kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, việc đổi mới kinh tế hài hòa với đổi mới chính trị Đồng thời với đổi mới kinh tế phải từng bước đối mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị Trong đó việc chúng ta chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề chưa có tiền lệ Trước tình hình đó, công tác tổng kết thực tiễn việc giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phát triển lý luận làm cơ sở cho quá trình đổi mới tiếp theo đối với Đảng Cộâng sản Việt Nam trở nên rất quan trọng cấp thiết

Trang 6

Thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm kinh tế, chính trị lớn của cả nước và khu vực, nơi đề xuất nhiều chủ trương làm cơ sở cho chính sách đổi mới của Đảng, nơi thể hiện rất sinh động phong phú đường lối chính sách của Đảng thì việc đổi mới hệ thống chính trị đáp ứng với yêu cầu đổi mới kinh tế – xã hội là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp

bách Do đó tôi chọn đề tài: “Quan hệ biện chứng giữa chính quyền với

các thành tố trong hệ thống chính trị của Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chính quyền và hệ thống chính trị là vấn đề rộng lớn, nó liên quan đến tất cả các lĩnh vức khác nhau của đời sống Do đó, vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu khá công phu, nghiêm túc, phong phú trên nhiều góc độ và chủ đề khác nhau Tất cả những công trình đã công bố có thể khái quát thành ba chủ đề sau:

Chủ đề thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về các quan điểm chính trị trên thế giới Trong chủ đề này có các công trình nghiên cứu

khoa học đã công bố như: tác phẩm Mô – thức chính – trị thế – giới của

Lewis M Alexander do trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và

xuất bản năm 1963; Andrew Heywood, Politics, Third edition published

2007 by Palgrave Macmillan, New York; Stephen d Tansey and Nigel

Jackson, The Basics politics, Fourth edition published 2008 by Routledge, New York; tác phẩm Mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị

một số nước trên thế giới (sách tham khảo) do PGS.TS Tô Huy Rứa (chủ

biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 2008; tác

phẩm “Đại cương lịch sử các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế

giới”, do PGS,TS Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học

Trang 7

xã hội, Hà Nội, xuất bản năm 2002… Trong tác phẩm Mô hình tổ chức và

hoạt động của chính trị một số nước trên thế giới thì các tác giả tập trung

nghiên cứu lý thuyết chính trị, khảo sát mô hình hệ thống chính trị Nội dung tác phẩm đã làm rõ bản chất tự nhiên của con người trong hoạt động chính trị, các thể chế chính trị phù hợp với bản chất tự nhiên của con người cũng như sự biến đổi của các thể chế; phân tích mô hình hệ thống chính trị tại các nước bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng dân chủ tự do và các mô hình hệ thống chính trị tại các nước chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố tư tưởng xã hội chủ nghĩa Trong đó, tác giả đã khẳng định: “quan điểm của những người dân chủ xã hội, việc thiết lập một nền chính trị là tiền đề quan trọng nhất và tiên quyết của chủ nghĩa xã hội dân chủ Đối với họ, không có tự do không thể có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội không thể đạt được bằng cách nào khác mà không thông qua dân chủ Dân chủ là sự cầm quyền của nhân dân Dân chủ chính trị có nghĩa là phải đảm bảo cho mỗi công dân tất cả các quyền dân chủ về chính trị như: tự do suy nghĩ, tự do sáng tạo, tự do ngôn luận, tự do tổ chức, lập hội, tự do tôn giáo; bầu cử tự do, bầu cử phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín, bình đẳng trước pháp luật không phụ thuộc vào giới tính, đảng phái, ngôn ngữ, chủng tộc, tôn giáo, sự cầm quyền của đa số và tôn trọng quyền đối lập của thiểu số, quyền độc lập của văn hóa, ngôn ngữ, tư pháp độc lập…”[81,tr.137-138]

Chủ đề thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng và quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác về chính quyền và hệ thống chính trị Trong chủ đề thứ hai này có các tác phẩm như: Quan điểm chính trị trong một số tác phẩm kinh điển Mác – Lênin, PGS.TS Nguyễn Thanh

Tuấn, PGS.TS Tần Ngọc Linh, PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên (đồng

chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Cơ sở lý luận

Trang 8

về hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do PGS.TS Lê Minh Thông (chủ biên), Nhà xuất bản

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Trong tác phẩm Quan điểm chính trị

trong một số tác phẩm kinh điển Mác – Lênin, các tác giả đã phân tích vai

trò, ý nghĩa của của việc nghiên cứu, giới thiệu tác phẩm kinh điển Mác – Lênin trên lĩnh vực chính trị; tìm hiểu nội dung quan điểm cơ bản của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác về chính trị qua các phẩm kinh điển Mác – Lênin và nêu ý nghĩa của yêu cầu, phương hướng vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về chính trị ở Việt Nam hiện nay Trong đó, nội dung tác phẩm này đã khẳng định “Chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm chính trị và kinh tế là những loại hình quan hệ xã hội: một bên là quan hệ giữa các tập đoàn xã hội (nhóm xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia) xung quanh việc giành, giữ chính quyền, xây dựng thể chế (tổ chức, cơ chế, chính sách) hoạt động của nhà nước đối với toàn bộ của đời sống xã hội cũng như quan hệ với các quốc gia khác; một bên là quan hệ giữa người với người trong sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng, dựa trên mô trình độ nhất định của lực lượng sản xuất; được biểu hiện một cách cụ thể qua quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, tổ chức, quản lý lao động và phân phối; trong đó quan hệ sở hữu đóng vai trò có tính quyết định đối với toàn bộ các quan hệ kinh tế nói chung”[85,tr.57]

Chủ đề thứ ba, là các công trình nghiên cứu về chính quyền và hệ thống chính trị ở Việt Nam Trong chủ đề này có các công trình nghiên

cứu khoa học như: Cải cách thể chế chính trị do Viện thông tin khoa học

thuộc Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giới thiệu bản dịch sách tham khảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà

Nội, xuất bản năm 1995; tác phẩm “Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính

trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội” là đề tài có mã số

Trang 9

KX05.04.1993; hay tác phẩm “Đặc điểm, nội dung, phương thức lãnh đạo

của Đảng với Nhà nước và các đoàn thể, tổ chức xã hội” là đề tài có mã số

KX05.06.1993 thuộc Trung tâm thông tin tư liệu Học viện chính trị quốc

gia Hồ Chí Minh; “Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta

trong giai đoạn mới” do GS Nguyễn Đức Bình, GS.TS Trần Ngọc Hiên,

GS Đoàn Trọng Tuyến, PGS.TS Trần Xuân Sầm viết và được Nhà xuất

bản Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1999; Quan điểm và nguyên

tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 – 2020 do

PGS.TS Trần Đình Hoan chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2008; Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới do GS.VS

Nguyễn Duy Quý chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2008 Trong các công trình nghiên cứu này phải kể đến tác phẩm Quan

điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 –

2020 Nội dung của tác phẩm đã phân tích tính tất yếu khách quan của đổi

mới hệ thống chính trị nước ta hiện nay; làm rõ mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta và đưa ra phương hướng, giải pháp đổi mới hệ thống chính trị trong giai đoạn 2006 – 2020 Nội dung tác phẩm đã khẳng định “Hệ thống chính trị còn là hệ thống các mối quan hệ giữa các tổ chức đó với nhau và đối với xã hội nói chung để cùng thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tất cả các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị đều do đảng lãnh đạo, đều tuân thủ pháp luật do Nhà nước ban hành và quản lý, đều cùng hướng tới dân và phục vụ dân Quan hệ với nhân dân là quan hệ gốc, nền tảng quy định mọi quan hệ trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị”[39,tr.21]

Ngoài ra các công trình đề tài nghiên cứu về chính tri, chính quyền

còn được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Nguyễn Tĩnh Gia “Đặc

Trang 10

trưng hệ thống chính trị nước ta xét từ góc độ kinh tế”, Tạp chí Nghiên cứu

lý luận, tháng 6/1993; Trần Ngọc Hiên, “Vấn đề đổi mới hệ thống chính trị

trước yêu cầu phát triển dân tộc”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận tháng

6/1994; Lê Văn Lựu, “Đổi mới hệ thống chính trị tạo động lực cho phát

triển kinh tế”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận tháng 4/1995 Lê Hữu Nghĩa,

“Giữ vững ổn định chính trị và đổi mới hệ thống chính trị”, Tạp chí Cộng

sản tháng 2/1994

Trong các công trình khoa học trên, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của chính quyền, hệ thống chính trị trên thế giới cũng như các quan điểm của các nhà kinh điển về chính quyền, hệ thống chính trị và hệ thống chính trị trong nền kinh tế thị trường, tính tất yếu phải đổi mới của

các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới Tuy nhiên mối

quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị của thành phố Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu một cách hệ thống

trong bất cứ một công trình khoa học nào đã công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục đích luận án nhằm làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh Đó là làm rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời đề xuất những phương hướng và giải pháp có tính định hướng nhằm góp phần đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Để thực hiện được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, trình bày phân tích cơ sở lý luận chung về chính quyền và

hệ thống chính trị theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 11

Thứ hai, trình bày và phân tích sự thống nhất biện chứng giữa

chính quyền và các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ ba, trình bày, phân tích, đánh giá thực trạng vận hành của hệ

thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp có tính định hướng đối với việc đổi mới hệ thống chính trị

ở Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ đã nêu trên, tác giả đã dựa trên

cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu, trình bày luận án của mình Đồng thời, tác giả còn sử dụng hệ thống các phương pháp như: hệ thống cấu trúc, lôgích và lịch sử, tổng hợp và phân tích, diễn dịch và quy nạp, hệ thống cấu trúc, thống kê, điều tra xã hội học Luận án được tác giả tiếp cận dưới góc độ triết học chính trị và triết học lịch sử

5 Cái mới của luận án

Cái mới của luận án là làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh; hệ thống hóa các đặc điểm của hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh và đồng thời xác định những phương hướng và giải pháp đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Nghiên cứu quan hệ giữa chính quyền với hệ thống chính trị của Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới hệ thống chính trị ở Thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay

Trang 12

Về lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan

điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống chính trị nói chung, hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh nói

riêng Về ý nghĩa thực tiễn, từ những phương hướng và giải pháp có tính

định hướng trong việc kiện toàn chính quyền và hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới mà luận án đề xuất có thể góp phần thiết thực vào việc phát triển, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành khoa học chính trị trong các trường cao đẳng và đại học

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu 3 chương, 6 tiết

Trang 13

Chương 1

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH QUYỀN

VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ CHÍNH QUYỀN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Chính quyền và hệ thống chính trị thuộc lĩnh vực kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế – xã hội quyết định Nhưng chính quyền và hệ thống chính trị cũng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế Nếu sự tác động đó phù hợp thì nó thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, ngược lại nếu sự tác động ấy không phù hợp thì nó kìm hãm sự phát kinh tế – xã hội Trong các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị thì chính quyền tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tế còn các thành tố khác trong hệ thống chính trị tác động gián tiếp đến cơ cấu kinh tế thông qua chính quyền Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề hệ thống chính trị không thể không tìm hiểu vấn đề chính quyền

Thứ nhất là vấn đề chính quyền, nhà nước Chính quyền, theo nghĩa

chung nhất là quyền xử lý việc chính trị hay quyền lực chính trị, tức quyền quyết định mà các giai cấp của xã hội theo đuổi trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp mình; phương tiện để gìn giữ và bảo vệ những quyền lợi đó; đó chính là quyền lực của nhà nước “Vấn đề chính quyền là vấn đề người ta không thể lẩn tránh được, cũng không thể gác lại

vì đó chính là vấn đề cơ bản, vấn đề quyết định tất cả mọi cái trong sự phát triển của cách mạng”[46,tr.268] Giai cấp cách mạng giành chính quyền để xác lập chuyên chính mới bảo đảm được quyền và lợi ích cho

Trang 14

giai cấp mình Chính quyền là quyền lực của tổ chức nhà nước (quyền lực công cộng) được “hợp pháp hóa” trên cơ sở của hiến pháp và pháp luật, còn nhà nước là tổ chức chính trị cao nhất trong cơ cấu hệ thống chính trị, có sức mạnh bạo lực trong tay sẵn sàng thực hiện chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế nhằm duy trì trật tự hiện hành và đàn áp sự phản kháng, nổi dậy của giai cấp khác

Giai cấp tiến bộ làm cách mạng xóa bỏ nhà nước cũ thiết lập nhà nước mới, công cụ chuyên chính của giai cấp mới được hình thành Khi nhà nước về tay giai cấp mình và sẵn có công cụ bạo lực trong tay, giai cấp thống trị từng bước thiết lập xây dựng chính quyền và bắt đầu áp đặt

ý chí của mình đối với các giai cấp khác Cuộc cách mạng xã hội là việc làm, hành động của một tổ chức từ “bất hợp pháp” đến tổ chức “được hợp pháp hóa” Điều này đã được V.I.Lênin chỉ rõ rằng: “xã hội phân chia thành những giai cấp đối địch không thể điều hòa được… sự vũ trang “tự động” của những giai cấp ấy sẽ dẫn tới một cuộc xung đột vũ trang giữa họ với nhau Nhà nước hình thành, một lực lượng đặc biệt, tức là những đội vũ trang đặc biệt được tạo ra, và mỗi cuộc cách mạng, khi phá hủy bộ máy nhà nước, đã chỉ ra cho ta thấy cuộc đấu tranh giai cấp lộ liễu, đã chỉ

ra hết sức rõ ràng cho ta thấy giai cấp thống trị có dựng lại những đội vũ trang đặc biệt phục vụ nó, còn giai cấp bị áp bức cố tạo ra một tổ chức mới, cùng một loại như thế, có thể phục vụ những người bị bóc lột, chứ không phục vụ bọn bóc lột”[47,tr.13]

Chính quyền và nhà nước có sự thống nhất với nhau trong quá trình thực hiện công cụ chuyên chính của một giai cấp Nếu không có nhà nước thì không có chính quyền và nếu không có chính quyền thì việc thực hiện công cụ chuyên chính của một giai cấp khó hiệu quả, thậm chí phản tác dụng Hay nói một cách khác, chính quyền là quyền lực được “hợp pháp

Trang 15

hóa”, được xã hội chấp nhận và phục tùng Quyền lực nhà nước phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước, tương quan lực lượng cơ cấu xã hội – hệ thống chính trị Nhưng trên phạm vi bao quát, chính quyền và nhà nước là một vì sự tồn tại của nhà nước mới có chính quyền và chính quyền là để thực thi “công cụ chuyên chính” của một giai cấp đối với toàn xã hội C Mác đã viết: “Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một hời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp”[57,tr.47] tiến bộ Kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác về chính quyền và nhà nước vào thực tiễn cách mạng ở nước Nga, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Chỉ những người đã hiểu rằng chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho mọi xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi lật đổ giai cấp tư sản, mà còn cho suốt cả thời kỳ lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa, chỉ những người đó mới thấm nhuần được thực chất của học thuyết của Mác về nhà nước”[47,tr.43-44] Và, V.I Lênin đã khẳng định: “Khái niệm khoa học về chuyên chính không phải cái gì khác hơn là một chính quyền không bị cái gì hạn chế, hoàn toàn không bị một quy tắc nào hạn chế cả, và trực tiếp dựa vào bạo lực”[51,tr.454]

Một trong những yếu tố làm cho chính quyền trở thành lực lượng trung tâm của hoạt động chính trị là quyền lực chính trị Quyền lực chính trị là khả năng nắm giữ, sử dụng hệ tư tưởng thống trị, biện pháp, nghệ thuật, thiết chế thực hiện các nhiệm vụ chính trị, ý chí của giai cấp mình Quyền lực luôn gắn biền với bản chất giai cấp của chủ thể hoạt động chính trị và luôn bảo vệ lợi ích giai cấp Như thế không có nghĩa là quyền

Trang 16

lực chính trị tách rời khỏi cộng đồng xã hội mà nó luôn gắn liền với cộng đồng xã hội, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của quá trình xã hội nhằm duy trì quyền lực và lợi ích giai cấp vững hơn Nhưng để giai cấp thống trị bảo vệ được quyền lợi của mình thì họ luôn nhân danh xã hội làm những công việc theo ý chí của giai cấp mình Quyền lực chính trị được thể hiện rõ nhất là bộ máy nhà nước Đó là quyền lực nhà nước có hiệu lực trên lãnh thổ, dân cư, bộ máy chính quyền, chủ quyền quốc gia, lực lượng được pháp luật hóa với những cơ sở kinh tế tương ứng Quyền lực chính trị là một phạm trù lịch sử, là một hiện tượng của xã hội Nó gắn liền với nhà nước, luôn biến đổi và vận động trong suốt thời kỳ lịch sử xã hội có giai cấp Thực tế “lịch sử đã chứng kiến rất nhiều thay đổi trong đời sống chính trị, sự sụp đổ của một chế độ chính trị này, sự thay thế bởi một chế độ chính trị khác, sự thất bại của một lực lượng chính trị này và thắng lợi của một lực lượng chính trị khác, sự chuyển đổi vị trí thống trị, vị trí cầm quyền của các lực lượng chính trị trong xã hội luôn là biểu hiện có tính quy luật của chính trị”[85,tr.179] Quyền lực chính trị – quyền lực nhà nước là nguồn sức mạnh to lớn, có ý nghĩa quyết định đối với tiến trình vận động, biến đổi, phát triển theo những xu hướng nhất định của một quốc gia dân tộc

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề chính quyền, quyền lực chính trị, nhà nước là một trong vấn đề cơ bản của xã hội có giai cấp Những vấn đề đó là một hiện tượng lịch sử, nó gắn liền với những điều kiện nhất định của lịch sử xã hội Nếu các điều kiện cho sự tồn tại của nó không còn, tất yếu chính quyền và nhà nước cũng bị tiêu vong Bằng những luận cứ khoa học và quan điểm đúng đắn về sự vận động, phát triển của lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin

Trang 17

đã làm sáng tỏ về nguồn gốc, bản chất, chức năng và đặc trưng của nhà

nước, chính quyền

Về nguồn gốc nhà nước, xã hội đầu tiên trong lịch sử là xã hội công

xã nguyên thủy Xã hội công xã nguyên thủy chưa xuất hiện chế độ sở hữu tư nhân, xã hội chưa phân hóa giai cấp và sự xuất hiện nhà nước Hình thức cộng đồng người nguyên thủy lần đầu tiên trong lịch sử là thị tộc, bộ lạc Các thành viên trong thị tộc có chung tiếng nói; mỗi thị tộc có tục lệ, tập quán và nghi thức tín ngưỡng chung và tên gọi riêng Cộng đồng người nguyên thủy chưa xuất hiện người thống trị người, chưa xuất hiện áp bức mang tính cưỡng chế của quyền lực Quan hệ giữa người với người trong đời sống xã hội chưa mang tính chất của quan hệ chính trị Quyền lực của người đứng đầu thị tộc, bộ lạc chủ yếu dựa vào uy tín, đạo đức Đạo đức được xem như chuẩn mực, tiêu chí để quản lý xã hội

Thị tộc là “một thiết chế chung cho tất cả các dân dã man, cho tận đến khi họ bước vào thời đại văn minh, và thậm chí còn sau hơn nữa”[59,tr.130] Các thành viên trong thị tộc có chung một nguồn gốc về huyết thống Hình thức quan hệ trong cộng đồng giản đơn nhưng lại hết sức bền vững phù hợp với đều kiện sản xuất thấp kém Quan hệ giữa người với người trong xã hội công xã nguyên thủy tuy có sự chuyển biến nhưng chưa mang tính chất quyền lực mà chỉ thể hiện trên phương diện vị trí, vai trò và uy tín trong cộng đồng xã hội Về tổ chức quản lý, xã hội của cộng đồng người nguyên thủy do hội nghị toàn thể thành viên của thị tộc bầu ra tù trưởng, thủ lĩnh quân sự và bãi miễn các chức vụ ấy khi thấy không xứng đáng Tù trưởng được các thành viên tôn kính, phục tùng trên

cơ sở tự nguyện Cộng đồng xã hội thị tộc là hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử

Trang 18

Quá trình phát triển của thị tộc dẫn đến sự hình thành bộ lạc Bộ lạc hình thành trên cơ sở của những thị tộc có quan hệ huyết thống, hoặc quan hệ hôn nhân Thị tộc làm gốc trong quan hệ liên kết bộ lạc gọi là bào tộc Trong đó, “một thị tộc đã được coi là một đơn vị cơ sở của xã hội, thì toàn bộ chế độ thị tộc, bào tộc và bộ lạc đều phát triển từ đơn vị ấy với một sự tất yếu hầu như không thể ngăn cản nổi – bởi vì đó là điều hoàn toàn tự nhiên”[59,tr.146] Giống như thị tộc, các thành viên trong tổ chức bộ lạc có chung ngôn ngữ, tục lệ, tập quán, tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa và do tính chất phát triển chăn nuôi, đặc biệt là trồng trọt dẫn đến từng bước xác lập vùng lãnh thổ Vùng lãnh thổ tương đối ổn định là đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc Một hội đồng đứng đầu bộ lạc bao gồm những người đứng đầu các thị tộc trong liên minh bộ lạc ấy Các vấn đề quan trọng được đưa ra bàn bạc công khai trong hội nghị bộ lạc Tất cả các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự trong bộ lạc đều có vị trí vai trò quan trong trọng hội nghị bộ lạc Bộ lạc có vị đứng đầu là thủ lĩnh tối cao nhưng chưa mang ý nghĩa chính trị

Có thể nói trong thị tộc, bộ lạc, “mọi thành viên nam giới đến tuổi thành niên đều là chiến binh thì vẫn chưa có một quyền lực công cộng tách ra khỏi nhân dân và có thể đứng đối lập với nhân dân”[59,tr.159] Và

do nhu cầu bản năng sinh tồn, thị tộc và bộ lạc đã bầu ra thủ lĩnh quân sự nhưng ngoài “chức năng quân sự của mình ra, ngoài thủ lĩnh quân sự còn có những chức năng tế lễ và tư pháp nữa; những chức năng tế lễ và tư pháp này không được quy định một cách thật chính xác, còn những chức năng quân sự thì người thủ lĩnh quân sự thực hành với tư cách là đại biểu tối cao của bộ lạc, hay của liên minh bộ lạc”[59,tr.162] Các thủ lĩnh quân sự không có đặc quyền, đặc lợi cá nhân, không cai trị và thống trị xã hội; không bắt nhân dân phục vụ lợi ích riêng và hoàn toàn thực hiện ý chí

Trang 19

nguyện vọng của nhân dân Tổ chức xã hội thời công xã nguyên thủy là hình thức tổ chức tự quản dù nhà nước chưa xuất hiện nhưng xã hội vẫn nằm trong vòng trật tự Sau này Ph.Ăngghen nhận xét, “tất cả tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không có quân đội, hiến binh và cảnh sát, không có quý tộc, vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, thế mà mọi việc đều trôi chảy”[59,tr.147]

Khi trình độ lực lượng sản xuất từng bước được phát triển dẫn đến quá trình phân công lao động, chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt, lao động trí óc tách ra khỏi lao động chân tay, nông nghiệp với thủ công Điều đó tạo điều kiện cho sự thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển nhanh hơn Lực lượng sản xuất phát triển dẫn đến chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội bắt đầu có sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình đẳng về tài sản xuất hiện, sự phân chia giai cấp cũng bắt đầu được diễn ra trong lòng xã hội công xã nguyên thủy, đưa xã hội ấy đến tan rã, diệt vong và bị thay thế bằng một xã hội có giai cấp Sự tan rã của xã hội công xã nguyên thủy dẫn đến sự xuất hiện của xã hội có nhà nước Sự xuất hiện nhà nước là một tất yếu của lịch sử trong sự phát triển của xã hội loài người Nguyên nhân của sự xuất hiện nhà nước là do xã hội xuất hiện chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự phân hóa giai cấp và sự mâu thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt, sâu sắc hơn; sự xuất hiện chiến tranh làm tăng vị thế quyền lực của thủ lĩnh quân sự và các tổ chức lãnh đạo thị tộc, bộ lạc bắt đầu tha hóa và tách ra khỏi nhân dân, từ chỗ là công cụ của nhân dân trở thành đối lập với nhân dân

Mâu thuẫn giai cấp lần đầu tiên trong lịch sử xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ Mâu thuẫn giai cấp ấy không ngừng phát triển dẫn đến nguy cơ các giai cấp không những thủ tiêu lẫn nhau mà còn

Trang 20

dẫn đến diệt vong luôn cả xã hội Việc tránh nguy cơ diệt vong của xã hội, các giai cấp đã “thương lượng, thỏa hiệp” để thiết lập một quyền lực công cộng nhằm duy trì xã hội nằm trong vòng trật tự Kẻ có ưu thế, có sức mạnh về kinh tế, và quân sự sẽ đặt điều kiện trong “thương lượng, thỏa hiệp” trong việc thiết lập quyền lực nhà nước Sự xuất hiện của nhà nước không phải là giải quyết mâu thuẫn triệt để, cũng không phải để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà là duy trì mâu thuẫn, áp đặt ý chí của kẻ mạnh lên kẻ yếu V.I.Lênin nhận định: “Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Bất cứ ở đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện Và ngược lại: sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”[47,tr.9]

Về bản chất nhà nước, qua nghiên cứu nguồn gốc của nhà nước cho

thấy, nhà nước luôn mang bản chất của giai cấp nhất định Nhà nước mang bản chất của một giai cấp nhất định do đó, không có nhà nước của toàn xã hội Không có và không bao giờ có nhà nước đứng trên các giai cấp mà nhà nước luôn thuộc về giai cấp có ưu thế, đủ sức mạnh về kinh tế và quân sự Nhà nước là nhà nước của một giai cấp nhất định Không có nhà nước – cơ quan thực hiện chuyên chính thì giai cấp thống trị không thể duy trì được sự áp bức, bóc lột của mình với giai cấp bị trị Sự xuất hiện của nhà nước là hiện tượng lịch sử, phù hợp với xu thế phát triển của xã hội có giai cấp Sự tồn tại của nhà nước làm cho sự xung đột ấy diễn ra trong khuôn khổ trật tự xã hội Đối với V.I.Lênin, “nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác; đó là sự kiến lập ra một “trật tự”, trật tự này hợp

Trang 21

pháp hóa và củng cố sự áp bức kia bằng cách làm dịu xung đột giai cấp”[47,tr.10]

Trong lịch sử, nhà nước luôn mang bản chất giai cấp Nhà nước chiếm hữu nô lệ là nhà nước của giai cấp chủ nô Nhà nước phong kiến là nhà nước của giai cấp địa chủ phong kiến Nhà nước tư sản là nhà nước của giai cấp tư sản Các kiểu nhà nước này tồn tại trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định và những hình thức biểu hiện khác nhau nhưng đều có chung một bản chất, đó là nhà nước của thiểu số Nhà nước thiểu số thực hiện chuyên chính với đa số, và về mặt hình thức pháp luật bảo vệ mọi người như nhau nhưng thực chất “nó bảo vệ tài sản của những người có của chống lại sự xâm phạm của cái khối lớn những người không có của, không có gì cả ngoài hai bàn tay, và dần dần bị bần cùng hóa, bị phá sản và biến thành vô sản”[50,tr.90] Vì vậy, sự tồn tại nhà nước của giai cấp thiểu số tất yếu xã hội có bất công, áp bức Việc xây dựng xã hội công bằng, thật sự lợi ích thuộc về số đông tất yếu phải xây dựng nhà nước của đa số chuyên chính với thiểu số Đó là nhà nước vô sản, nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Quyền lực nhà nước luôn mang bản chất giai cấp

Về chức năng, nhà nước thực hiện nhiều chức năng khác nhau Chức

năng trước hết và cơ bản là thực hiện nhiệm vụ công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị Lịch sử cho thấy mọi nhà nước đều thực hiện chức năng thống trị “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác”, “điều đó, trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”[60,tr.290-291] Các nhà nước dù được che đậy dưới hình thức nào trong xã hội có giai cấp đối kháng cũng chỉ là công cụ chuyên chính của một giai cấp Chức năng thống trị của nhà nước có nguyên nhân sâu xa từ bản chất giai cấp của nhà nước Đó là nhà nước thực hiện chức năng công cụ chuyên chính của

Trang 22

giai cấp, sẵn sàng sử dụng mọi công cụ, biện pháp có thể để bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó Chức năng thống trị có nguồn gốc sâu xa từ bản chất của nhà nước

Chức năng thứ hai của nhà nước là chức năng quản lý xã hội Chức năng quản lý xã hội của nhà nước xuất phát từ mức độ điều kiện “thương lượng, thỏa hiệp tạm thời”, tương quan lực lượng giữa các giai cấp mà nhà nước giữ được mức độ độc lập tương đối với cả hai giai cấp đối lập Trong xã hội có đối kháng giai cấp, nhà nước nhân danh xã hội để quản lý những công việc chung vì sự tồn tại xã hội Nhưng chức năng quản lý xã hội phục vụ cho chức năng thống trị, vì “ở khắp mọi nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó”[58,tr.253] Ngoài chức năng thống trị và quản lý xã hội, nhà nước còn chức năng đối nội và đối ngoại Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại cũng chẳng qua bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị Có thể nói nhà nước có nhiều chức năng khác nhau nhưng xét cho cùng thì nhà nước chỉ có một chức năng là phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị

Tóm lại, theo C Mác và Ph.Ănghen, đặc biệt là V.I.Lênin thì nhà nước có chức năng cơ bản: chuyên chính, đàn áp kẻ thù và tổ chức quản lý, xây dựng xã hội mới Trong hai chức năng đó, đặc biệt là chức năng trấn áp chuyên chính với kẻ thù được V.I lênin nhấn mạnh xuất phát từ điều kiện lịch sử lúc đó quy định Đó là do xã hội còn tồn tại áp bức, bóc lột giai cấp, và nước Nga có thù trong giặc ngoài Nhưng V.I Lênin rất chú ý đến chức năng tổ chức và xây dựng của chính quyền Đó là điều kiện để đảm bảo sự thắng lợi của chế độ mới với chế độ cũ Điều đó rất có ý nghĩa với việc xây dựng chính quyền hiện nay

Trang 23

Về đặc trưng của nhà nước, qua nguồn gốc, bản chất, chức năng của

nhà nước cho thấy, nhà nước có đặc trưng là nhà nước quản lý dân cư theo vùng lãnh thổ nhất định; có hệ thống cơ quan quyền lực chuyên nghiệp cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xã hội như “quân đội thường trực và cảnh sát là những công cụ vũ lực chủ yếu của quyền lực nhà nước”[47,tr.12] và xây dựng hệ thống chế độ thuế để nuôi bộ máy nhà nước, khi nắm được “quyền thu thuế, bọn quan lại, với tư cách là những

cơ quan của xã hội, được đặt lên trên xã hội”[59,tr.254] Những đặc trưng này đã làm cho xã hội có nhà nước khác với xã hội công xã nguyên thủy không có nhà nước

Qua việc nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, chức năng và đặc trưng của nhà nước cho thấy chính quyền, nhà nước được xây dựng trên cơ sở tương quan lực lượng các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau và trở thành công cụ chuyên chính của giai cấp nhất định Có thể nói, chính quyền, nhà nước được thiết lập trên cơ sở của kết cấu giai cấp, các tầng lớp xã hội khác nhau Thông qua các tổ chức, đoàn thể, các đảng phái đại diện cho mỗi giai cấp, tầng lớp khác nhau mà mỗi giai cấp vừa đấu tranh vừa thương lượng, thỏa hiệp, nhân nhượng trong quá trình thực hiện quyền lực và lợi ích của mình

Nội dung cơ bản thứ hai là vấn đề hệ thống chính trị trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Từ những luận chứng sâu sắc của chủ nghĩa

duy vật lịch sử về nhà nước, chính quyền cho thấy, “Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước; là biểu hiện của tập trung kinh tế, là những phương hướng, mục tiêu được quy định bởi các lợi ích cơ bản của giai cấp, các đảng phái, các nhà nước nhằm hiện thực hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị

Trang 24

khác”[85,tr.173] Hệ thống chính trị là một chỉnh thể có sự thống nhất hữu

cơ giữa các bộ phận, các thành tố tác động qua lại nhau tạo thành hệ thống Để tiếp cận vấn đề chính quyền, quyền lực chính trị, nhà nước cần phải nghiên cứu bằng lý thuyết hệ thống

Theo lý thuyết hệ thống, một hệ thống – chỉnh thể bao gồm được cấu tạo bởi những thành tố và các mối tương tác giữa các thành tố ấy; phức hợp các mối quan hệ tạo thành cấu trúc hệ thống; mỗi yếu tố lại là một hệ thống – hệ thống con – tiểu hệ và mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với hoạt động thực tiễn Khi tiếp cận cơ cấu hệ thống chính trị với các quan hệ giữa các thành tố hoạt động chính trị thì hệ thống chính trị là một chỉnh thể có cấu trúc phức tạp, đa dạng trong quan hệ giữa công dân với nhà nước; giữa các tập đoàn, giai cấp, tộc người khác nhau với nhà nước,… nhưng khi tiếp cận chính trị dưới góc độ phổ biến mà người ta thường quan niệm, hệ thống chính trị là một chỉnh thể được cấu trúc giữa

ba thành tố: các thiết chế, tổ chức chính trị; quan điểm, hệ tư tưởng chính trị và những mối quan hệ giữa chúng Các thiết chế, tổ chức chính trị xã hội và quan điểm, hệ tư tưởng chính trị có vị trí, vai trò khác nhau trong hệ thống chính trị nhưng đều có một điểm chung là xây dựng, thiết lập một chính quyền, nhà nước của giai cấp thống trị

Thứ nhất, trong hệ thống chính trị thì các thiết chế, tổ chức chính trị

phải luôn đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đặt ra do đó, nó phải luôn được xây dựng, đổi mới và hoàn thiện Đây là yếu tố động nhất của cả hệ thống chính trị, là công cụ vật chất sống động để điều chỉnh các quan hệ giữa chủ thể chính trị, hiện thực hóa mục tiêu chính trị và giữ vững lợi ích của giai cấp mình

Thứ hai, trong hệ thống chính trị thì quan hệ giữa các thành tố trong

hệ thống chính trị là những hoạt động của chủ thể chính trị trong thực tiễn

Trang 25

bảo vệ quyền và lợi ích Chủ thể hoạt động chính trị không phải là những cá nhân riêng lẻ, giản đơn, thủ đoạn mà chủ thể hoạt động chính trị là số đông, đa số như tầng lớp, giai cấp, tộc người bởi hoạt động chính trị là vì lợi ích của một giai cấp nhất định

Thứ ba, trong hệ thống chính trị thì quan điểm, hệ tư tưởng chính trị

là hệ thống lý luận của một giai cấp có tính chất định hướng đối với nhà nước và các thiết chế trong hệ thống nhà nước Hệ tư tưởng chính trị phản ánh được tâm tư nguyện vọng của một giai cấp, luôn mang bản chất giai cấp và nó xuất hiện, tồn tại trong xã hội có giai cấp Các thiết chế, tổ chức chính trị là những thành tố quan trọng, quyết định đến việc thực thi quyền lực nhà nước trong cấu trúc hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị là cơ cấu tổ chức giữa các thành tố trên cơ sở những quan điểm về chính trị, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại Những quan hệ nội tại trong hệ thống chính trị là quan hệ chính trị Quan hệ chính trị là quan hệ, tác động, quy định, ràng buộc lẫn nhau giữa thiết chế, chủ thể và quan điểm trong cơ cấu hệ thống chính trị, làm cho hệ thống chính trị vận động, phát triển Điều đó quy định đặc điểm của hệ thống chính trị Đặc điểm của hệ thống chính trị được thể hiện ở những đặc điểm sau:

Đặc điểm thứ nhất của hệ thống chính trị là tính tương thích Tính

thích nghi của hệ thống chính trị thể hiện ở sự đổi mới, cải tổ nhưng đồng thời bảo đảm tính ổn định của toàn hệ thống Hệ thống chính trị thuộc lĩnh vực kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định Quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, thực chất quan hệ ấy

bị quy định bởi quan hệ lợi ích, quan hệ kinh tế Khi quan hệ kinh tế, quan hệ sản xuất thay đổi thì các quan hệ trong hệ thống chính trị phải thay đổi theo cho phù hợp Trong hệ thống chính trị nếu các thành tố,

Trang 26

quan điểm và các quan hệ giữa các thành tố không phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội thì tất yếu bị thay đổi cho phù hợp với quy luật khách quan của sự phát triểân

Đặc điểm thứ hai trong hệ thống chính trị là tính đa dạng, phong phú Tính chất này thể hiện tính đa dạng, phong phú, phức tạp của các

thành tố trong hệ thống chính trị Các thành tố này không phải là những thực thể vật chất thụ động mà là những thành tố năng động, sáng tạo lại có nhu cầu, mục đích, lợi ích khác nhau Tính đa dạng, phong phú, phức tạp trong cơ cấu hệ thống chính trị không chỉ thể hiện

ở những chủ thể năng động, sáng tạo mà còn ở tính chất, điều kiện mối quan hệ giữa các thành tố

Đặc điểm thứ ba trong hệ thống chính trị là tính không đồng cấp trong quan hệ giữa các thành tố Sự không đồng cấp bị quy định bởi tính

đặc thù về vị trí, vai trò khác nhau của các thành tố trong cấu trúc của hệ thống chính trị Quan hệ thứ bậc trong hệ thống chính trị còn bị quy định bởi tương quan lực lượng, đại diện trong hệ thống chính trị, phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể hoạt động chính trị Có thành tố thì giữ vai trò lãnh đạo, có thành tố khác lại giữ vai trò thực thi quyền lực, có thành tố khác lại giữ vai trò, giám sát, phản biện xã hội Quan hệ thứ bậc trong hệ thống chính trị không chỉ theo chiều ngang (quan hệ giữa các thành tố với nhau) mà còn quan hệ thứ bậc theo chiều dọc (cấp trên, cấp dưới trong cùng một thành tố)

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin không dùng thuật ngữ “hệ thống chính trị” nhưng nội hàm của nó được thể hiện qua các thuật ngữ như “hình thức chính trị”, “cơ cấu chính trị”, “cơ cấu chính quyền”, “thể chế nhà nước”… Để thống nhất về mặt thuật ngữ, tác giả dùng khái niệm “hệ thống chính trị” để trình bày nội hàm các thuật ngữ

Trang 27

trên của các nhà kinh điển Có thể nói, hệ thống chính trị mà các nhà kinh điển quan tâm xây dựng có nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản là hướng đến giải phóng giai cấp, giải phóng con người Hệ thống chính trị ấy là hệ thống chính trị chuyên chính vô sản Hệ thống chính trị chuyên chính vô sản là

“cơ chế xã hội mà nhờ đó nhân dân lao động do giai cấp công nhân và đảng của nó lãnh đạo, thực hiện quyền lực của mình trong xã hội Hệ thống này bao trùm và điều chỉnh mọi quan hệ hình thành giữa các giai cấp, giữa các tầng lớp xã hội, giữa các dân tộc và sắc tộc, giữa xã hội, tập thể và cá nhân về vấn đề quyền lực, về việc đề ra và thực hiện chính sách quy định phương hướng, nội dung và mục tiêu phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa”[91,tr.160]

Khái niệm hệ thống chính trị chưa được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đề cập một cách đầy đủ, do điều kiện lịch sử quy định nhưng qua nội dung hệ thống chuyên chính vô sản đã phản ánh được nội hàm khái niệm hệ thống chính trị Theo V.I.Lênin, “trong hệ thống chuyên chính vô sản công đoàn có vị trí ở giữa đảng và chính quyền nhà nước, nếu ta có thể nói như vậy”[52,tr.250] Qua đó cho thấy, cấu trúc của hệ thống chính trị bao gồm một tổ chức tiên tiến nhất – Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo; chính quyền nhà nước là yếu tố cơ bản giữ vai trò quản lý xã hội và tổ chức quần chúng nhân dân là nền tảng của hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị chuyên chính vô sản là sự liên minh giữa các giai cấp, các tầng lớp lao động trong xã hội Liên minh giữa giai cấp công nhân với nhân dân lao động chân chính là thực hiện được và cần thiết vì có chung mục đích và lợi ích Lênin khẳng định: “Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước”[53,tr.57] Vì “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc biệt

Trang 28

của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ, nông dân, trí thức.v.v ) hoặc với phần lớn những tầng lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản, liên minh nhằm lật đổ hoàn toàn tư bản, tiêu diệt hoàn toàn sự chống cự của giai cấp tư sản và những mưu toan khôi phục của giai cấp ấy, nhằm thiết lập và củng cố vĩnh viễn chủ nghĩa xã hội”[49,tr.452]

Nhưng xét trong tổng thể cơ cấu xã hội cho thấy, nét đặc trưng hệ thống chính trị chuyên chính vô sản là sự củng cố và mở rộng tính chất xã hội trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ Xã hội dân chủ nhân dân phát triển là giai đoạn phát triển hợp với quy luật trong khuôn khổ giai đoạn đầu của hình thái cộng sản chủ nghĩa Đây là một chế độ hoàn chỉnh, thực hiện đầy đủ các quy luật khách quan, giải quyết một cách trực tiếp các nhiệm vụ xây dựng chế độ xã hội công bằng Đỉnh cao của xã hội xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở sự trưởng thành của những mối liên hệ qua lại giữa các nước với nhau Cùng với sự chuyển biến của nền chuyên chính vô sản thành chính quyền của toàn thể nhân dân do giai cấp công nhân nhận sứ mệnh lãnh đạo Hệ thống chính trị xét về mặt bình diện xã hội tất yếu sẽ trở thành đồng nhất và thuần nhất trong các quan hệ xã hội

Trong hệ thống chính trị, trước hết là thành tố đảng cầm quyền và nắm chính quyền Nếu không có đảng với tư cách là lực lượng tiên phong

dẫn đường, chỉ lối của toàn hệ thống chính trị thì cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội không thể thành công Đảng phối hợp với tất cả các thiết chế trong hệ thống chính trị nhằm bảo đảm sự đồng bộ trong việc quản lý các công việc xã hội Đảng Cộng sản đưa ra đường lối, chủ trương nhằm đạt được những mục đích và nhiệm vụ cơ bản của sự phát triển xã hội Sự phối hợp nhịp nhàng, hài hòa trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo

Trang 29

bảo đảm tính thống nhất được tăng cường Hệ thống chính trị chuyên chính vô sản không chỉ đơn thuần là tổng số các thiết chế chính trị – xã hội công lại mà là một tổ hợp hoàn chỉnh mang đặc trưng mới, nó phản ánh được quyền lực chính trị thuộc về đa số, mà bản chất của nó luôn hướng về lợi ích cho người lao động

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, “về mặt thực tiễn những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận cổ vũ tất cả những bộ phận khác; về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”[56,tr.558] Họ cùng chung mục đích với những người vô sản và tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản để giành lấy chính quyền Nhưng do hoàn cảnh và điều kiện lịch sử lúc đó các đảng vô sản chưa phát triển và trưởng thành, Mác và Ăngghen chưa có điều kiện nghiên cứu, xây dựng một học thuyết hoàn thiện về xây dựng đảng Tuy nhiên hai ông cũng đã nêu những điểm nhấn có tính nguyên tắc đặt nền móng cho việc xây dựng đảng Đó là xây dựng nền tảng lý luận tư tưởng của đảng về một tổ chức thống nhất, đoàn kết chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm, có sự lãnh đạo tập trung Trong đó, Đảng Cộng sản có đặc điểm là: “Tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản, và lợi ích của toàn bộ giai cấp vô sản không tách rời khỏi toàn bộ lợi ích của dân tộc; phải có lý luận tiên phong chỉ đạo; phải có tổ chức thống nhất; phải gương mẫu về dân chủ trong đảng; phải hoạt động trong phong trào quần chúng và được quần chúng tin cậy; phải gồm những đảng viên tuyển chọn trong quần chúng đã được thử thách về lập trường quan điểm, về ý chí cách mạng”[85,tr.42-43]

Trang 30

V.I.Lênin đã kế thừa, phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về vai trò của đảng trong hệ thống chính trị vào thực tiễn cách mạng Nga Theo V.I.Lênin, “về nguyên tắc, đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn nghi ngờ gì được nữa”[51,tr.479] Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, bằng sự gương mẫu và các đường lối, chính sách ấy được cụ thể hóa, thể chế hóa cuộc sống thông qua nhà nước V.I.Lênin đã chỉ rõ cần phân định rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của đảng với nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền, tăng trách nhiệm và tính chủ động cho cán bộ, cơ quan, “còn Đảng thì giành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt”[54,tr.75] Vấn đề này được xem là tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa đảng và nhà nước trong hệ thống chính trị Trong đó, “nhà nước chịu sự lãnh đạo của đảng, phải tổ chức thực hiện đường lối, nghị quyết của đảng, về nguyên tắc bộ máy nhà nước không phải là một tổ chức ngang hàng với đảng, mặc dù có nhiệm vụ tương đối độc lập, vấn đề là đảng lãnh đạo như thế nào để phát huy được vai trò của nhà nước, khiến cho đảng không ôm đồm làm thay bộ máy nhà nước”[85,tr.46-47]

Mối liên hệ lẫn nhau giữa các thiết chế trong hệ thống chính trị là thống nhất và hoàn thiện nhằm bảo đảm sự thống nhất trong các mối quan hệ tồn tại nội bộ của toàn hệ thống Đó là quan hệ giữa Đảng lãnh đạo chính trị; giữa Đảng với các tổ chức xã hội và các cơ quan quản lý nhà nước và những quan hệ hợp tác, tác động qua lại với nhau trong hệ thống chính trị Trình độ chính trị của đông đảo quần chúng được giác ngộ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ thống chính trị Trên cơ sở đó, Đảng phát huy và mở rộng dân chủ nhân dân Vai trò của Đảng được

Trang 31

khẳng định trong việc xây dựng nhà nước kiểu mới Chế độ dân chủ được sự lãnh đạo của Đảng xuất phát từ chính bản chất chế độ dân chủ nhân dân là giải phóng người lao động khỏi áp bức, bóc lột Xóa bỏ áp bức, bóc lột là điều kiện cơ bản của tự do cá nhân, còn việc mọi người phải tham gia lao động và có quyền nhận lương theo lao động là điều kiện cơ bản của sự bình đẳng Cơ cấu kinh tế - xã hội được xây dựng trên cơ sở chế độ sở hữu công hữu về tư liệu sản xuất là điều kiện của quyền lực dân chủ thật sự Việc đạt đến sự bình đẳng, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích lịch sử của xã hội dân chủ nhân dân Dân chủ nhân dân đồng nghĩa với việc phát huy tính sáng tạo, sự chủ động của nhân dân Nó được xem là mục đích và phương tiện để thực hiện giải phóng con ngườiù

Trong quan hệ với các đảng phái khác, các nhà kinh điển cũng chỉ

ra rằng “người cộng sản chiến đấu cho lợi ích và những mục đích trước mắt của giai cấp công nhân, nhưng đồng thời trong phong trào hiện tại, họ cũng bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào Trong quan hệ hệ ấy, những người cộng sản liên hiệp với Đảng dân chủ – xã hội chủ nghĩa chống giai cấp tư sản bảo thủ và cấp tiến, đồng thời vẫn dành cho mình cái quyền phê phán những lời nói suông và những ảo tưởng do truyền thống cách mạng để lại; những người cộng sản ủng hộ chính đảng đã coi cách mạng ruộng đất là điều kiện để giải phóng dân tộc và Đảng cộng sản đấu tranh chung cho giai cấp tư sản mỗi khi giai cấp này hành động cách mạng chống chế độ quân chủ chuyên chế, chống chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến và giai cấp tiểu tư sản phản động”[56,584-585] Ngoài các hệ thống tổ chức xã hội ra, trong “hệ thống chính trị chủ nghĩa xã hội bao gồm các chính đảng không phải là cộng sản, đại diện cho lợi ích của những tầng lớp nhân dân phi vô sản, đã chấp nhận cương lĩnh xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội, đã chấp nhận sự lãnh đạo của giai cấp công

Trang 32

nhân và đảng của nó Tình hình có nhiều đảng trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội là kết quả của những truyền thống, của sự phát triển lịch sử đặc thù Các đảng không phải là cộng sản có đại diện trong các cơ quan nhà nước, đã tích cực tham gia vào toàn bộ đời sống chính – trị xã hội của đất nước”[91,tr.162] Nhưng hạt nhân lãnh đạo của toàn hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội phải là Đảng Cộng sản

Thành tố thứ hai trong hệ thống chính trị là chính quyền nhà nước, yếu tố giữ vai trò chủ yếu tổ chức quản lý xã hội bằng quyền lực và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Theo C.Mác, “Giữa xã hội tư bản chủ

nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ

chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền

chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”[57,tr.47] Sự cần thiết phải

xác lập chuyên chính vô sản để tiến tới xã hội không có giai cấp là do thời kỳ quá độ còn tồn tại giai cấp bóc lột, các thế lực chống lại sự nghiệp do giai cấp công nhân và nhân dân thực hiện Điều này được V.I.Lênin chỉ rõ là phải “hiểu rằng chuyên chính của một giai cấp là tất yếu không những cho xã hội có giai cấp nói chung, không những cho giai cấp vô sản sau khi lật độ giai cấp tư sản, mà còn cho suốt cả thời lịch sử từ chế độ tư bản chủ nghĩa đến “xã hội không có giai cấp”, đến chế độ cộng sản chủ nghĩa, chỉ những người đó mới thấm nhuần được thực chất của học thuyết Mác về nhà nước”[47,tr.43-44] Để đạt được địa vị thống trị, tất cả các giai cấp trong lịch sử cũng đã phải trải qua thời kỳ chuyên chính Giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến, tư sản đã giành lấy chính quyền và dùng bạo lực đè bẹp sự phản kháng tuyệt vọng nhất, điên cuồng nhất, chẳng từ bất cứ một phương pháp nào Còn giai cấp vô sản sau khi giành chính quyền phải nắm vững công cụ chuyên chính, kiên quyết trấn áp các thế lực đi ngược

Trang 33

lại với lợi ích của nhân dân, giữ vững thành quả cách mạng, hướng đến xây dựng xã hội không còn giai cấp Nhưng như thế không có nghĩa tập trung vào chuyên chính, dùng bạo lực để đàn áp các giai cấp khác mà cơ bản của nhà nước chuyên chính vô sản là tổ chức, xây dựng và hoàn thiệän xã hội mới Giai cấp công nhân cần có sự liên minh, cộng tác với những người lao động khác trong việc xây dựng chính quyền là nhà nước của nhân dân lao động

Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhà nước của giai cấp vô sản là kiểu nhà nước bảo vệ thể hiện lợi ích và ý chí của nhân dân lao động Nhà nước đó là “một trong những giai đoạn phát triển của tổ chức chính trị của xã hội sau khi chính quyền của bọn bóc lột đã bị đánh đổ Đặc điểm cơ bản của nhà nước này là ở chỗ nó không phải là công cụ đàn áp một giai cấp nào đó Do các giai cấp bóc lột không còn nữa cho nên nó biểu hiện những lợi ích căn bản của mọi người lao động”[91,tr.218] Những chức năng nhất định của nhà nước đó “còn duy trì, không mang tính chất đàn áp giai cấp Sự cưỡng bức được áp dụng không phải đối với các giai cấp, mà đối với các cá nhân cá biệt vi phạm các tiêu chuẩn sinh hoạt công cộng xã hội chủ nghĩa Kiểu cưỡng bức sẽ tồn tại cho đến khi xã hội không cần bất cứ phương thức cưỡng bức nào khác ngoài dư luận xã hội”[91,tr.218] Các nhà kinh điển của chủa nghĩa Mác – Lênin cũng chỉ rõ “Nhà nước là đại biểu chính thức của toàn thể xã hội, là sự tập hợp toàn thể xã hội vào trong tập đoàn có vẻ thống nhất, nhưng nhà nước chỉ là đại biểu chính thức trong chừng mực nhà nước đó là nhà nước của giai cấp duy nhất đại diện cho toàn thể xã hội trong thời đại nó,… Cuối cùng nhà nước thật sự trở thành đại diện cho toàn thể xã hội thì nó tự làm cho nó trở nên thừa”[47,tr.427], nhà nước tự tiêu vong

Trang 34

Một trong những đặc trưng cơ bản trong chính quyền của nhà nước mới là “việc hoàn thiện các hình thức đại diện nhân dân nhằm đảm bảo cho mọi công dân đều tham gia vào việc quản lý xã hội Quá trình này bao gồm việc dân chủ hóa hơn nữa chế độ bầu cử, bãi miễn và chế độ báo cáo công tác của các cơ quan quyền lực và quản lý, tăng cường nguyên tắc tập thể trong lĩnh vực quản lý, phát triển các cơ quan quản lý vừa có tính chất nhà nước vừa có tính chất xã hội”[91,tr.219] Qua đó cho thấy, tất yếu công tác quản lý các công việc xã hội sẽ thu hút ngày càng nhiều người, khiến cho công tác này không còn là một nghề chuyên nghiệp nữa Nhà nước do nhân dân lao động làm chủ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là công cụ cơ bản của những cuộc cải cách, đổi mới xã hội Sự hoàn thiện tổ chức và quản lý hoạt động của hệ thống chính quyền, sự phát triển các cơ sở dân chủ gắn chặt với việc nâng cao vai trò của chính quyền nhân dân trong hệ thống chính trị chuyên chính vô sản

Nhà nước do nhân dân làm chủ nhằm chống lại các giai cấp bóc lột và bảo vệ những lợi ích thiết thực của đông đảo quần chúng nhân dân đang xây dựng xã hội mới Nền dân chủ nhân dân là hiện tượng lịch sử Nó luôn được bổ sung bằng những nội dung mới, được cải biến và hoàn thiện để đáp ứng được đầy đủ, toàn diện, triệt để các yêu cầu, nhiệm vụ

cơ bản là xác lập và phát triển quyền lực nhân dân rộng rãi và hiệu quả Xã hội tiến bộ không giới hạn ở phạm vi kinh nghiệm mà được tạo nên những hình thức dân chủ mới phù hợp với điều kiện kinh tế, cho phép mở rộng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, từng bước tiến đến sự tiêu vong của nhà nước V.I.Lênin nhắc lại quan điểm của Ph.Ăngghen là:

“Giai cấp vô sản chiếm lấy chính quyền nhà nước và biến những tư liệu sản xuất trước hết thành sở hữu nhà nước Nhưng như vậy, giai cấp vô sản cũng tự thủ tiêu mình với tư cách là giai cấp vô sản, thủ tiêu hết thảy mọi

Trang 35

sự khác biệt giai cấp và mọi sự đối lập giai cấp, đồng thời thủ tiêu nhà nước với tư cách là nhà nước”[47,tr.20]

Trên cơ sở quyền lực nhân dân, tất cả công dân tham gia vào quản lý công việc của nhà nước thực hiện quyền lực của mình Các cơ quan chính quyền được bầu ra thông qua đầu phiếu phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín Hiến pháp phải quy định quyền lực chính trị, quyền tự do cá nhân, ngôn luận, báo chí, hội họp biểu tình, míting, tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhà ở, đi lại và bảo đảm cho họ được hưởng các quyền đó, giao cho họ những phương tiện vật chất cần thiết; trao cho họ nghĩa vụ công dân như lao động trung thực, công tâm, tuân thủ kỷ luật, thực hiện nghĩa vụ yêu nước, Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân tạo điều kiện cho công dân bày tỏ nguyện vọng, trình bày ý kiến và cương quyết ngăn chặn bất kỳ mưu toan nào sử dụng tự do ngôn luận, tự

do chính trị để xâm hại đến lợi ích của nhân dân Luật pháp ngăn cấm tuyên truyền chiến tranh, thù hằn chủng tộc, thành kiến dân tộc và những quan điểm phản nhân đạo, phi nhân tính Thành quả lớn của nền dân chủ nhân dân là việc thực hiện quyền lao động, nghỉ ngơi, học hành, bảo đảm vật chất và tinh thần khi về già, khi không còn khả năng lao động

Thành tố thứ ba trong hệ thống chính trị là các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể Các tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ đối với xã

hội thông qua “các tổ chức hợp tác xã và các tổ chức xã hội khác tham gia quản lý các công việc nhà nước và xã hội, giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội phù hợp với những nhiệm vụ được đề ra trong điều lệ của mình”[91,tr.161] Nhưng ở đây cần lưu ý là không phải tất cả các tổ chức ở trong một quốc gia đều thuộc hệ thống chính trị mà chỉ có những tổ chức, những phong trào tham gia vào đời sống chính trị mới thuộc hệ thống chính trị Các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội là

Trang 36

quan hệ hợp tác, giúp đỡ và ủng hộ lẫn nhau Một trong những hình thức tổ chức thì công đoàn là tổ chức chính trị nòng cốt Bởi “phương thức hoạt động chủ yếu của công đoàn là thuyết phục, giáo dục; mặt khác, với tư cách là người tham gia chính quyền nhà nước, công đoàn không thể không tham gia cưỡng bức”[53,tr.427] Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, “công đoàn phải là người cộng tác gần nhất, cần thiết nhất của chính quyền nhà nước, do đội tiền phong giác ngộ nhất của giai cấp công nhân, tức là đảng cộng sản lãnh đạo toàn bộ sự hoạt động chính trị và kinh tế của nó”[53,tr.423]

Tùy theo mức độ, tính chất chín muồi của các tiền đề xã hội và chức năng của công đoàn sẽ chuyển dần sang các tổ chức dân lập Tổ chức dân lập là hình thức tham gia của nhân dân trong việc quản lý công việc địa phương, công tác sinh hoạt - văn hóa Thông thường tổ chức này được thành lập trực tiếp theo sáng kiến của công dân có chung mục đích về lợi ích và nhu cầu như cùng sống chung một khu phố, nghề nghiệp,… Tất cả các tổ chức này hoạt động không thù lao, không hưởng lương xuất phát từ động cơ phục vụ lợi ích xã hội Tổ chức này khác với tổ chức xã hội của quần chúng ở chỗ không có điều lệ cho đoàn viên, không có hình thức đóng góp vật chất và không có hệ thống tổ chức tập trung Có tổ chức mang tính chất ngành, ban đường phố, ban phụ huynh học sinh, sinh viên, câu lạc bộ văn hóa và thư viện, đội dân cảnh, hội phụ nữ hội người về hưu,… tất cả được cuốn hút vào sinh hoạt chính trị Các tổ chức dân lập trở thành đòn bẩy mạnh mẽ để thu hút quần chúng lao động đông đảo nhất tham gia sự nghiệp quản lý và lãnh đạo Việc động viên toàn dân tham gia vào quản lý nhà nước cũng được các nhà kinh điển làm rõ Theo V.I.Lênin, “điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai, tham gia việc quản lý nhà

Trang 37

nước”[48,tr.67] Các tổ chức ấy đấu tranh khắc phục tình trạng tách rời nhau giữa mọi người do chế độ tư bản chủ nghĩa để lại, xây dựng sự hợp tác chặt chẽ, thân thiện, bình đẳng giữa mọi người nhằm phát triển các hình thức sinh hoạt tập thể

Như vậy, hệ thống chính trị bao gồm chính quyền, đảng phái và các đoàn thể nhân dân Ba thành tố cấu thành hệ thống chính trị nhưng lại hết sức linh hoạt, mền dẻo bảo đảm tính ổn định của hệ thống chính trị Đặc điểm nổi bật của hệ thống chính trị này là “tính ổn định, vững chắc trong các nguyên tắc cơ bản của nó, và điều này là do tính cùng loại hình của xã hội xã hội chủ nghĩa trong mọi giai đoạn phát triển của nó, do tính có căn cứ khoa học của lý luận Mác – Lênin về quản lý xã hội, quyết định”[91,tr.162] nhưng vẫn bảo đảm tính năng động của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị không ngừng được hoàn thiện, phản ánh những biến đổi xảy ra trong đời sống xã hội và những thành tựu của lý luận Sự phát triển của hệ thống chính trị là “kết quả hợp quy luật của việc mở rộng khối lượng và tăng thêm tính phức tạp của các nhiệm vụ cải tạo xã hội, của nhân dân lao động ngày càng tích cực và có ý thức tham gia xây dựng và thi hành chính sách đối nội và đối ngoại”[91,tr.163] Có thể nói, tiến trình, nhịp độ cải tạo xã hội phụ thuộc vào hệ thống chính trị Việc hoàn thiện và nâng cao tổ chức của hệ thống chính trị được xem là đòn bẩy thúc đẩy tiến trình phát triển xã hội nhanh hơn Sự phát triển của hệ thống chính trị đòi hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu của văn minh nhân loại; phải tổng kết các hiện tượng mới của đời sống xã hội và kiên quyết đấu tranh lại những quan điểm đối lập giữa các tổ chức chính trị của xã hội Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề chính quyền và hệ thống chính trị luôn là những bài học bổ ích đối với việc tiếp thu, kế thừa trong việc xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị ở Việt Nam

Trang 38

1.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH QUYỀN VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo và phê phán những tiền đề lý luận về chính quyền và nhà nước như truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trong lịch sử; triết lý chính trị – xã hội của phương Đông, đặc biệt là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước, chính quyền, cách mạng, giai cấp, đấu tranh giai cấp,… và quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú của mình, Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm về chính quyền và hệ thống chính trị sâu sắc, toàn diện nhưng hết sức cụ thể, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam

Trước hết là tư tưởng của Hồ Chí Minh về chính quyền và về nhà nước Với sự tiếp thu một cách sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác –

Lênin về vấn đề giai cấp và nhà nước, Hồ Chí Minh cho rằng: “Từ khi có chế độ tư hữu, người giàu thành giai cấp bóc lột, người nghèo thành giai cấp bị bóc lột Giai cấp người giàu xây dựng bộ máy thống trị gồm có chính phủ, quân đội, tòa án, cảnh sát,v.v Bộ máy ấy gọi là nhà nước để thống trị giai cấp bị bóc lột”[67,tr.216]

Khái niệm nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm thống nhất với khái niệm chính quyền Chính quyền là quyền lực nhà nước mà giai cấp làm cách mạng phải giành và giữ quyền ấy Theo Hồ Chí Minh,

“nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập lên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”[64,tr.3]; “chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”[62,tr.270] Chính

Trang 39

quyền mà Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng là chính quyền, nhà nước dân chủ Người khẳng định: “NHÀ NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[65,tr.698] Như vậy, nhà nước mà Hồ Chí Minh quan tâm xây dựng là nhà nước của dân, do dân và vì dân

Nhà nước của dân, do dân, vì dân là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân có quyền quyết định, quyền định đoạt và quyền sử dụng nhà nước làm công cụ thực thi quyền và lợi ích của mình Nhà nước ấy do dân cử ra và được dân ủy quyền thông qua bầu cử Nhân dân ủy quyền cho các đại diện thông qua bầu cử, nhưng “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”[69,tr.591] Nhân dân có quyền nhưng đồng thời phải có nghĩa vụ với chính quyền Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện chỗ dân được làm tất cả những gì không bị pháp luật cấm đoán Nghĩa vụ của dân không chỉ thể hiện ở sống và làm việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật mà còn là người đóng góp xây dựng, giám sát chính quyền thực hiện chức năng thống trị và quản lý nhà nước Có thể nói nhà nước đó là nhà nước có một thiết chế mạnh mẽ, trong sạch đủ khả năng thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Người cho rằng:

Trang 40

“Chính phủ của nhân dân bao giờ cũng đặt quyền lợi dân lên hết thảy Việc

gì có lợi cho dân thì làm Việc gì hại cho dân thì tránh”[64,tr.22]

Nhà nước của dân, do dân, vì dân là nhà nước mà mọi quyền lực do dân xây dựng, thiết lập Nhà nước ấy phải lấy dân làm gốc, phải dựa vào dân, do dân lựa chọn, ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế; liên hệ mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Thậm chí “Nếu Chính phủ làm hại nhân dân thì nhân dân có quyền đuổi chính phủ”[65,tr.60] Các cơ quan công quyền không phục vụ được quyền và lợi ích của nhân tất yếu bị bãi miễn Các cơ quan công quyền tồn tại với mục đích là vì cuộc sống được “thưởng thức”, sáng tạo và phát triển toàn diện; vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Khi cách mạng thành công, chính quyền về tay nhân dân thì nhân dân ủy thác quyền lực cho những người đại diện chính phủ Chính phủ có mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân Tất cả cán bộ là công bộc, là đầy tớ của nhân dân Có thể nói, Nhà nước của dân, do dân, vì dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh là nhà nước dân chủ Người khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ Đảng ta là Đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào – đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân”[70,tr.323]

Mối quan hệ giữa cán bộ với nhân dân là quan hệ công bộc với người chủ Công bộc đó do dân bầu ra và dân ủy quyền Có thể nói, nhà nước dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh lấy người dân làm trung tâm cho mối quan hệ giữa bộ máy chính quyền với nhân dân Nhà nước phải thực sự trở thành công cụ quyền lực của nhân dân Nhà nước ấy khác với nhà nước dân chủ đối với thiểu số – nhà nước của giai cấp bóc lột Quan hệ giữa chính quyền với nhân dân trong nhà nước dân chủ là quan hệ dân

Ngày đăng: 13/05/2016, 10:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết của Bộ Chính trị, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010, số 20-NQ/TW, ngày 18/11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010
2. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1975), Chủ tịch Hồ Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuû tòch Hoà Chí Minh – tiểu sử và sự nghiệp
Tác giả: Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1975
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1997), Tài liệu nghiên cứu nghị quyết trung ương hai (khóa VIII) của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu nghị quyết trung ương hai (khóa VIII) của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
4. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2002), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập các Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khoá IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập các Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khoá IX
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
5. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2002), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng khóa IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
6. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (1997), Tài liệu học tập nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) của Đảng, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) của Đảng
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
7. Hoàng Chí Bảo (chủ biên, 2004), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
8. Phan Xuân Biên (chủ biên, 2007), Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
9. Phan Xuân Biên (chủ biên, 2005), Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
10. K. Bubl, R. Kruege, H. Marienburg (2002), Toàn cầu hóa với các nước đang phát triển, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa với các nước đang phát triển
Tác giả: K. Bubl, R. Kruege, H. Marienburg
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
11. Doãn Chính (chủ biên, 1997), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
12. Doãn Chính (1997), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
13. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế nghĩa, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ bieân, 2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
14. Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn (đồng chủ biện, 2002), Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
15. Vũ Hy Chương (2002), Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tạo nguồn nhân lực tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Vũ Hy Chương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
16. Cục thống kê TP. Hồ Chí Minh (2008), Niên giám thống kê 2007, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2007
Tác giả: Cục thống kê TP. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
17. Nguyễn Văn Dân (chủ biên, 2001), Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế
Nhà XB: Nxb. Khoa học Xã hội
18. Hoàng Ngọc Di (1962), Học tập quan điểm giáo dục của Hồ Chí Minh, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập quan điểm giáo dục của Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Ngọc Di
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1962
19. Nguyễn Đăng Dung (2002), Hiến pháp và bộ máy nhà nước, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và bộ máy nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2002
20. Lê Tâm Dũng (chủ biên, 2002) Xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Văn phòng Thành ủy phát hành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị của thành phố hồ chí minh thời kỳ đổi mới
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Trang 193)
SƠ ĐỒ ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH  TRỊ - XÃ HỘI THÔNG QUA BAN CÁN SỰ ĐẢNG, ĐẢNG ĐOÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Quan hệ biện chứng giữa chính quyền với các thành tố trong hệ thống chính trị của thành phố hồ chí minh thời kỳ đổi mới
SƠ ĐỒ ĐẢNG BỘ LÃNH ĐẠO CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN TỔ QUỐC, CÁC ĐOÀN THỂ CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THÔNG QUA BAN CÁN SỰ ĐẢNG, ĐẢNG ĐOÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Trang 194)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm