1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh

118 676 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, Trường Trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định TP.HCM tập trung đào tạo những môn thể thao mũi nhọn như: môn điền kinh; bơi lội; bóng đá; bóng ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ QUỐC TRÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục

Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa ho ̣c: GS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện đề tài luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy (cô) và anh (chị) công tác tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới Cô giáo hướng dẫn tôi: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới các Thầy, Cô giáo đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức quý giá trong 2 năm học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ đã dành thời gian đọc và góp ý cho luận văn này

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả bạn bè đồng nghiệp và người thân đã động viên, giúp đỡ tôi có được luận văn này

Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

LÊ QUỐC TRÍ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu và dẫn chứng đưa ra trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không sao chép từ bất kì một công trình nào

Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2015

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

3.1 Khách thể nghiên cứu 2

3.2 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ: 4

8 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN NĂNG KHIẾU THỂ DỤC THỂ THAO 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Một số vấn đề lý luận về thiết bị giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 7

1.2.1 Khái niệm “Thiết bị giáo dục”; “Trường PTTH chuyên năng khiếu TDTT” 7

1.2.2 Vai trò của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 11

1.3 Một số vấn đề lý luận về Quản lý thiết bị giáo dục trong trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 17

Trang 5

1.3.1 Khái niệm Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường, Quản lý thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục

thể thao 17

1.3.2 Mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc quản lý thiết bị giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 23

1.3.3 Nội dung quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 25

1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao 26

1.4.1 Nhận thức và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên kỹ thuật về thiết bị giáo dục trong đào tạo chuyên năng khiếu thể dục thể thao 26

1.4.2 Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương 27

1.4.3 Môi trường hoạt động thể dục thể thao và sự phát triển thể dục thể thao 27

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂNG KHIẾU THỂ DỤC THỂ THAO NGUYỄN THỊ ĐỊNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 30

2.1 Vài nét khái quát về trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định thành phố Hồ Chí Minh 30

2.2 Giới thiệu về điều tra khảo sát 34

2.2.1 Mục đích khảo sát 34

2.2.2 Nội dung khảo sát 34

2.2.3 Phương pháp khảo sát 35

2.2.4 Đối tượng khảo sát 35

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh 35

2.3.1 Thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.3.2 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh về tác dụng của thiết bị giáo dục trong dạy học của nhà trường 40

2.3.3 Thực trạng quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định 43

Trang 6

2.4 Đánh giá chung 55

2.4.1 Những ưu điểm và hạn chế 55

2.4.2 Nguyên nhân của tình hình yếu kém 58

Tiểu kết chương 2 60

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN NĂNG KHIẾU THỂ DỤC THỂ THAO NGUYỄN THỊ ĐỊNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 62

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 62

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 62

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 62

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và phát triển 62

3.1.4 Nguyên tắc tuân thủ chu trình quản lý 63

3.2 Biện pháp quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh 63

3.2.1 Ban hành hệ thống văn bản quy định đối với hoạt động quản lý thiết bị giáo dục 64

3.2.2 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên về sử dụng và bảo quản thiết bị giáo dục66 3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ khai thác sử dụng hiệu quả thiết bị giáo dục cho đội ngũ giáo viên, nhân viên 69

3.2.4 Đổi mới đầu tư mua sắm thiết bị giáo dục để đảm bảo về chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học 73

3.2.5 Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động quản lý thiết bị giáo dục 76

3.2.6 Xã hội hóa, huy động cộng đồng, các tổ chức xã hội tham gia, đống góp cho môi trường GD TDTT nói chung và thiết bị GDTDTT nói riêng 78

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 79

3.4 Khảo nghiệm tính chất cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 80

3.4.1 Tính cấp thiết của các biện pháp: 81

3.4.2 Tính khả thi của các biện pháp 83

3.4.3 Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý thiết bị giáo dục 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88

Trang 7

1 Kết luận 88

2 Khuyến nghị 90

2.1 Đối với Bộ GD&ĐT 90

2.2 Đối với Sở GD&ĐT, Sở VHTT-TDTT, với lãnh đạo Thành phố 90

2.3 Đối với trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 96

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1: Kết quả học tập học sinh THPT năng khiếu thể dục

thể thao Nguyễn Thị Định từ 2011->2015 33

Bảng 2 2: Số huy chương học sinh trường giành được THPT năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định từ 2010 ->2015 34

Bảng 2 3: Cơ sở vật chất của trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định 36

Bảng 2 4: Loại hình TBGD được trang bị của trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định 37

Bảng 2 5: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc đổi mới phương pháp dạy học 40

Bảng 2 6: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc đối mới phương pháp dạy học 42

Bảng 2 7: Thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục và thiết bị giáo dục thể thao 48

Bảng 2 8: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD 51

Bảng 2 9: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD 53

Bảng 3 1: Tính cấp thiết của các biện pháp 81

Bảng 3 2: Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp 83

Bảng 3 3: Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp phát triển ĐNGV 85

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2 1: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc đổi

mới phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined.

Biểu đồ 2 2: Nhận thức về sự cấp thiết của thiết bị giáo dục trong

việc đối mới phương pháp dạy học Error! Bookmark not defined.

Biểu đồ 3 1: So sánh mức độ cấp thiết của các biện pháp phát

triển TBGD 82Biểu đồ 3 2: So sánh mức độ khả thi của các biện pháp phát triển

ĐNGV 84Biểu đồ 3 3: Mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả

thi 86

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, tài chính là những nguồn lực mà bất

cứ nhà trường nào cũng cần phải có, đó là những nguồn lực quan trọng góp phần tạo nên sự thành công của bất kỳ nhà trường nào Trong các cơ sở đào tạo lực lượng lao động có kỹ thuật cao đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục phục vụ đào tạo càng thể hiện rõ vai trò quan trọng Việc quản lý, sử dụng thiết bị giáo dục phục vụ đào tạo một cách khoa học, hiệu quả là một trong các nhân tố quyết định chất lượng của đào tạo, đặc biệt là trong cơ sở đào tạo nghề kỹ thuật cao hiện nay

Đảng và nhà nước nhận thấy rõ vai trò quan trọng của phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh đào tạo nghề cho người lao động Điều này được thể hiện trong việc hoạch định các chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước, đó là luôn đặt con người và vấn đề giải quyết việc làm ở vị trí trọng tâm, lấy lợi ích của người lao động làm điểm xuất phát của mọi chương trình,

kế hoạch phát triển của mình

Đại hội toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã khẳng định “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao nhằm đào tạo những con người khỏe mạnh, có trí tuệ, có năng khiếu thể dục thể thao phát huy tối

đa năng lực riêng bản thân về thể thao và trình độ văn hóa đạt chuẩn THPT Đối với một trường chuyên về lĩnh vực thể dục thể thao thì vấn đề thiết bị, cơ

sở vật chất là sự sống còn của nhà trường Những năm gần đây, nhà trường đã

có những chuyển biến mạnh mẽ cả về quy mô đào tạo, loại hình đào tạo kéo theo số lượng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục bao gồm các thiết bị, máy móc,

Trang 12

vật tư phục vụ cho đào tạo tăng lên rất lớn, việc quản lý và khai thác sử dụng các tài sản này đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tuy nhiên tới nay công tác quản lý thiết bị giáo dục có một số điểm không còn phù hợp với quy

mô của nhà trường, chưa phát huy được tối đa hiệu quả việc sử dụng tài sản phục vụ nhiệm vụ đào tạo đáp ứng yêu cầu của xã hội

Hiện nay, Trường Trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định TP.HCM tập trung đào tạo những môn thể thao mũi nhọn như: môn điền kinh; bơi lội; bóng đá; bóng chuyền; võ Vovinam; võ taekwondo thiết bị giáo dục sẽ đa dạng hơn, nhiều hơn và việc sử dụng có hiệu quả hệ thống thiết bị này là vấn đề đối với các nhà quản lý của nhà trường Bản thân học viên là cán bộ quản lý chuyên môn huấn luyện năng khiếu thể dục thể thao và cơ sở vật chất thiết bị thể thao….nên có nhiều trăn trở, suy nghĩ về vấn đề này

Chính vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Quản lý thiết bị giáo dục tại trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh” là việc cấp thiết để nguồn lực của nhà trường được sử dụng một cách hiệu quả, nhà trường hoàn thành được sứ mạng cao cả của mình đối với xã hội

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng quản lý thiết bị giáo dục của trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Thiết bị phục vụ dạy học tại trường Trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý thiết bị giáo dục tại trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục

Trang 13

thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay việc quản lý trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD tại trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điểm mạnh nhưng còn có những hạn chế nên dẫn đến hiệu quả sử dụng TBGD chưa cao

Nếu nghiên cứu đề xuất được những biện pháp quản lý việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục THPT và thực trạng nhà trường thì sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng của TBGD và góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý thiết bị giáo dục tại trường THPT

chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.2. Khảo sát thực trạng các biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản

và sử dụng TBGD tại trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục thể thao

Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

1.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý việc trang bị, bảo quản và sử dụng TBGD tại Trường THPT chuyên năng khiếu Thể dục thể thao Nguyễn

Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Các số liệu sử dụng trong luận văn từ năm 2011 đến 2015

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Tổng hợp, phân tích, so sánh các văn bản, nghị quyết của Đảng, các văn bản của Nhà nước, các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục

và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh về công tác quản lý việc bảo quản và sử dụng TBGD Các công trình nghiên cứu về lý luận về trang bị, bảo quản và sử

Trang 14

dụng TBGD

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát việc bảo quản và sử dụng TBGD

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi tìm hiểu việc trang bị, sử dụng

và bảo quản TBGD và các biện pháp quản lý việc trang bị, sử dụng và bảo quản TBGD

- Phương pháp phỏng vấn

7.3 Nhóm phương pháp bổ trợ:

Sử dụng toán thống kê để phân tích và xử lí số liệu khảo sát

8 Cấu trúc luận văn

Trong luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung

học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thiết bị giáo dục tại trường

THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3: Biện pháp quản lý thiết bị giáo dục của trường THPT

chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, thành phố Hồ Chí Minh

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN NĂNG KHIẾU

THỂ DỤC THỂ THAO

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Thiết bị giáo dục là một thành tố của quá trình dạy học, được hình thành và phát triển cùng với lịch sử hình thành và phát triển của quá trình dạy học Lúc đầu khi xã hội còn ở trình độ phát triển thấp nhà trường ở trạng thái đơn giản, cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục có nội hàm đơn giản Khi kinh tế,

xã hội và giáo dục ngày càng phát triển thì thiết bị giáo dục ngày càng phát triển nhiều về số lượng, đa dạng về mẫu mã và chủng loại, thì vấn đề đặt ra là làm sao để tổ chức quản lý việc sử dụng TBGD cho hiệu quả Đây là nhiệm

vụ nặng nề đối với các cấp quản lý giáo dục, mà trực tiếp là những nhà quản

lý ở các cơ sở giáo dục

Chính vì vậy, vấn đề quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và quản lý việc sử dụng TBGD nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu

Trần Quốc Bảo với đề tài: “Các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học ở trường THPT công lập Thành phố Hồ Chí Minh” [1] qua đề tài tác giả khảo sát và phân tích thực trạng quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trường tại thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất – kỹ thuật phục

vụ cho việc dạy và học ở trường THPT công lập tại thành phố Hồ Chí Minh

Tô Xuân Giáp với công trình: “Phương tiện dạy học hướng dẫn chế tạo

và sử dụng”[15] Tác giả đã đưa ra những cơ sở phân loại và phân loại phương tiện dạy học, cách thức lựa chọn, thiết kế, chế tạo, sử dụng phương tiện dạy học và các điều kiện để đảm bảo sử dụng có hiệu quả phương tiện

Trang 16

dạy học Theo tác giả: “Phương tiện dạy học được sử dụng đúng, có tác dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều”[14, tr.43] Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng đa phương tiện trong dạy học và xây dựng quy trình sử dụng đa phương tiện trong dạy học môn Giáo dục học cho sinh viên cao đẳng sư phạm khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Trong cuốn: “Một số vấn đề lí luận và thực tiễn của việc xây dựng sử dụng cơ sở vật chất và TBGD ở trường phổ thông Việt Nam”[13] tác giả Trần Quốc Đắc chủ biên, đã đưa ra các quan điểm làm cơ sở cho việc sử dụng TBGD, xác định vị trí, vai trò của cơ sở vật chất TBGD ở trường phổ thông Các tác giả trong công trình nghiên cứu trên đã nhận định: “TBGD phải được

sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học Sử dụng có hiệu quả TBGD là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo Điều này đòi hỏi người thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBGD Người GV không những cần hiểu biết về TBGD, về kỹ thuật sử dụng chúng

mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBGD: sử dụng TBGD với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lí

HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBGD, sử dụng TBGD như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi dưỡng nhân cách cho HS” [13, tr.29] Trong cuốn: “Quản lý giáo dục” [19] do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 đã đề cập đến các vấn đề lí luận về vai trò của TBGD trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm TBGD mà người quản

lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp quản lý TBGD ở nhà trường THPT trong giai đoạn hiện nay

Ở Việt Nam, việc đầu tư, mua sắm TBGD còn hạn hẹp Theo qui định của Thông tư số 30 Liên bộ Tài chính - GD&ĐT, ngày 24-7-1990 thì kinh phí dành cho mua sắm sách và thiết bị giáo dục là 6-10% ngân sách giáo dục,

Trang 17

nhưng theo số liệu mới nhất, trong thực tế bình quân cả nước chỉ đạt 3,7%; trong đó dành cho mua sắm TBGD là 1,5% Điều đó cho thấy TBGD còn thiếu nhiều so với yêu cầu, vì vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý giáo dục nói chung là cần phải nghiên cứu thực trạng đơn vị mình, có kế hoạch đầu tư, mua sắm TBGD phù hợp với điều kiện vùng miền và địa phương mình; công tác quản lý sử dụng TBGD cũng cần được tăng cường, nâng cao hơn nữa

Nhận thức được vai trò của TBGD đối với đổi mới giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục, Sở GD&ĐT đã quan tâm chỉ đạo cho trường thực hiện các yêu cầu về quản lý, bảo quản, sử dụng TBGD, quy định trách nhiệm của Hiệu trưởng trường phổ thông trong việc: Tổ chức nghiệm thu và tiếp nhận TBGD; sử dụng phòng tốt nhất trong trường làm phòng chứa TBGD; cán bộ quản lý TBGD phải là người có năng lực được đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý và sử dụng TBGD, phải có nội quy phòng TBGD; phải có các loại sổ quản lý và sử dụng TBGD; việc sắp xếp TBGD phải đảm bảo tính khoa học thuận tiện cho việc sử dụng, quản lý và kiểm kê; phải coi trọng đúng mức việc bào quản, bảo dưỡng TBGD; Phải mua sắm bổ sung các TBGD đã tiêu hao hàng năm; Xây dựng phòng học bộ môn; Kiểm

kê thiết bị cuối năm Những quy định này đã phản ánh phần nào nội dụng quản lý TBGD tại trường THPT mà tác giả luận văn có thể dựa vào đó để làm sáng tỏ hơn nữa khái niệm “Quản lý thiết bị giáo dục tại trường THPT”

Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý TBGD tại trường THPT chuyên năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định Do đó đề tài nghiên cứu

về “Quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định-Thành phố Hồ Chí Minh” là hết sức cấp thiết

1.2 Một số vấn đề lý luận về thiết bị giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.2.1 Khái niệm “Thiết bị giáo dục”; “Trường PTTH chuyên năng khiếu TDTT”

Trang 18

1.2.1.1 Thiết bị giáo dục

Nói đến TBGD là nói đến mặt cơ sở vật chất của kết cấu nhà trường

Theo Phạm Văn Thuần: “Cơ sở vật chất – TBGD là những hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện học sinh trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục

[32, tr.2]

Nó vận động, phát triển cùng với nhịp biến đổi của cơ sở vật chất toàn

xã hội nói chung trong từng thời kỳ tiến hoá Khi xã hội còn ở trình độ phát triển thấp tương ứng với sự tồn tại của nhà trường ở trạng thái giản đơn, sơ khai thì nội hàm của TBGD trong nhà trường rất nhỏ, khi cần hiểu là dụng cụ

sơ khai sử dụng trong quá trình dạy học Nhưng khi xã hội phát triển ở trình

độ cao, sự tham gia sâu rộng của công nghệ khoa học kỹ thuật vào mọi lĩnh vực của xã hội thì kết cấu vật chất của nhà trường đã phong phú hơn rất nhiều, kéo theo sự đa dạng trong phạm vi TBGD Chính sự tác động mạnh

mẽ, mang tính quyết liệt đó đã nảy sinh hiện tượng nhà trường hiện đại với sự xuất hiện của quá trình đào tạo hiện đại bao gồm nội dung, phương pháp mới

và cơ sở vật chất tiên tiến, bắt kịp thời đại nhằm chuyển tải hiệu quả nhất những thay đổi trong bản chất nội dung, phương pháp đó Bởi vậy, TBGD đóng vai trò như cầu nối các yếu tố trong quá trình chuyển tải nội dung đào tạo

TBGD còn có những cách gọi khác nhau như công cụ dạy học, phương tiện dạy học, học cụ, đồ dùng dạy học, nhưng cách gọi thống nhất và phổ biến nhất vẫn là TBGD

TBGD là một trong những thành tố của quá trình dạy học, có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động dạy học Nó là tập hợp những vật mang tin và truyền tin, đóng vai trò hỗ trợ để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ cũng như nội dung của quá trình dạy học Hay nói cách khác, TBGD chính là tập hợp toàn bộ những trang thiết bị đồ dùng, dụng cụ phục

vụ cho việc giảng dạy và học tập

Trang 19

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang nhìn nhận: “Phương tiện dạy học bao gồm mọi thiết bị kỹ thuật từ đơn giản đến phức tạp được dùng trong quá trình dạy học làm dễ dàng cho sự truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kỹ xảo”[27]

Trần Doãn Quế cho rằng: “Phương tiện dạy học là tất cả phương tiện cấp thiết giúp đỡ GV hay học sinh tổ chức và tiến hành hợp lý, hiệu quả quá trình giáo dục và giáo dưỡng ở các cấp học, ở các lĩnh vực các môn học để có thể thực hiện những yêu cầu của chương trình giảng dạy.”

Có thể thấy, quan điểm của các nhà khoa học khi nói đến phương tiện dạy học chính là nói đến TBGD, thường trọng tâm vào hai ý chính:

- TBGD là bộ phận xuất hiện trong quá trình dạy học

- TBGD được sử dụng nhằm mục đích truyền tải thông tin của quá trình dạy học tới người học

Theo quan điểm người viết, cách hiểu đơn giản, ngắn gọn và cơ bản nhất về TBGD như sau:

“Thiết bị giáo dục là bộ phận của cơ sở vật chất nhà trường, bao gồm toàn bộ những dụng cụ, phương tiện được sử dụng nhằm truyền đạt hiệu quả nội dụng của quá trình dạy học.”

1.2.1.2 Phân loại thiết bị giáo dục

Hiện nay trong danh mục TBGD cho bậc học phổ thông Việt Nam (kể

cả giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy) mà Bộ GD&ĐT đã ban hành bao gồm các loại hình chính như sau:

- Tranh ảnh sách giáo khoa, bản đồ giáo khoa, mô hình mẫu vật, dụng

cụ phim đèn chiếu, máy đo nhịp tim, máy đo tốc độ.v.v

- Bản trong dùng cho máy chiếu qua đầu, băng, đĩa ghi âm bằng hình, đĩa hình

- Phần mềm dạy học (mô hình mô phỏng, thí nghiệm ảo, thí nghiệm mô phỏng )

- Giáo án điện tử, bài giảng điện tử, giáo án kỹ thuật số

- Website học tập Phòng thí nghiệm ảo mô hình dạy học điện tử

Trang 20

1.2.1.3 Thiết bị giáo dục thể dục thể thao

Thiết bị giáo dục thể dục thể thao là một bộ phận cơ sở vật chất của nhà trường, bao gồm toàn bộ dụng cụ, phương tiện giúp việc truyền đạt tốt các môn học thể dục thể thao

Vậy có thể thấy TBGD thể thao chứa những đặc điểm cốt yếu, nổi bật sau:

Một là, TBGD thể thao là công cụ thống nhất, biện chứng trong quá trình sử dụng giữa người dạy và người học Người dạy sử dụng TBGD thể thao như phương tiện khai thác thông tin trong quá trình truyền đạt, còn người học tiến hành những thao tác với TBGD thể thao để lĩnh hội kiến thức, luyện tập kỹ năng Nói cách khác, người dạy và người học đều là chủ thể của quá trình tác động lên TBGD thể thao, cùng nhau hành động tương hợp để chiếm lĩnh nội dung đào tạo, thực hiện mục tiêu đào tạo và sử dụng phương pháp đào tạo

Hai là, TBGD thể thao có tính sư phạm định hướng cao, có tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm và độ tin cậy, tự tin trong quá trình truyền đạt, lĩnh hội kiến thức giữa người dạy và người học

Ba là, bản thân TBGD thể thao không chỉ đơn thuần tồn tại ở dạng tĩnh mang thông tin mà nó còn thể hiện ở dạng động là vật truyền đạt thông tin

Bốn là, TBGD thể thao là công cụ để giám sát, đánh giá, kiểm tra định tính, định lượng kết quả của quá trình lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, có tác động quan trọng giúp cho người dạy nâng cao khả năng tổ chức, điều khiển quá trình dạy học thúc đẩy người học biết cách điều chỉnh khả năng tự học của bản thân

1.2.1.4 Trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

Trường THPT chuyên Năng khiếu thể dục thể thao có sứ mạng đào tạo học sinh vừa có trình độ văn hóa phổ thông vững vàng, vừa có điều kiện phát triển tài năng thể dục thể thao Điểm đáng lưu ý là bên cạnh việc học tập các

Trang 21

nội dụng chuyên thể dục thể thao, học sinh khối chuyên của trường vẫn được học văn hóa theo chương trình phổ thông và được chuyển qua học khối không chuyên của trường nếu trong quá trình học không phát triển được năng khiếu thể dục thể thao

Trường chuyên năng khiếu thể dục thể thao nhằm đào tạo HS từ lớp 6 đến lớp 12 có trình độ văn hóa phổ thông vững vàng, song song đó phát huy năng khiếu thể dục thể thao vốn có của HS để đào tạo bổ sung cho lực lượng vận động viên, huấn luyện viên thể dục thể thao Trường nào đào tạo nhân tài thì cũng đóng góp cho sự nghiệp thể dục thể thao chung của Thành phố và cả nước Tuy nhiên trường năng khiếu thể dục thể thao trước đây do lệ thuộc nhiều về thời gian luyện tập thi đấu nên học sinh phải theo học chương trình văn hóa bổ túc Chính điều này đã khiến nhiều HS có năng khiếu tốt nhưng gia đình không muốn con em phải theo chương trình bổ túc đã bỏ hẳn con đường thể dục thể thao, làm thiệt thòi cho nền thể dục thể thao thành phố Do đó, hiện nay ở trường chuyên thể dục thể thao ngoài các nội dung chuyên thể dục thể thao, HS được học chương trình văn hóa phổ thông như những trường THPT khác Như vậy, trường đã được chuẩn bị cơ sở vật chất có thể đáp ứng tốt việc học văn hoá và cả năng khiếu tại trường, nên có

thể chủ động sắp xếp thời gian, lịch học tập và luyện tập cũng như thi đấu

1.2.2 Vai trò của thiết bị giáo dục trong quá trình dạy học trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

Như đã biết, mục tiêu đào tạo, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, quy trình đào tạo là các yếu tố quyết định TBGD về các mặt: Trang bị cái gì? Trang bị cho môn nào? Sử dụng nó như thế nào? Ai là người quản lý? Muốn vậy để trang bị và quản lý TBGD được tốt trước hết ta phải nghiên cứu kỹ mục tiêu, chương trình đào tạo thì công tác quản lý TBGD mới đạt kết quả cao

Ngược lại, TBGD là nhân tố thuộc cơ sở vật chất trường học, TBGD có

ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng

Trang 22

và Nhà nước Cụ thể nó là cầu nối để người học, người dạy cùng hành động tương hợp với nhau, sử dụng phương pháp đào tạo chiếm lĩnh được nội dung

và mục tiêu đào tạo góp phần quyết định chất lượng đào tạo, hỗ trợ đắc lực cho thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

Mặt khác, TBGD là đối tượng của công tác QLGD Một mâu thuẫn lớn hiện nay là điều kiện để dạy học còn thấp nhưng xã hội đòi hỏi ngày càng cao

về chất lượng dạy học Những thí nghiệm chứng minh còn thiếu và những thí nghiệm thực hành lại càng thiếu hơn Trường vẫn còn tình trạng “dạy chay”, phương pháp dạy học “đọc - chép” là phổ biến Những lý luận về lấy người học làm trung tâm xem ra không dễ thực hiện

1.2.2.1 Thiết bị giáo dục nâng cao năng lực nhận thức và rèn kỹ năng của học sinh

TBGD là công cụ nhận thức của học sinh, là sự cụ thể hoá nội dung dạy học và rèn luyện kỹ năng (Nó có thể trở thành nguồn tri thức quan trọng cho người học, nó có vai trò là đối tượng của nhận thức và rèn luyện kỹ năng)

TBGD là công cụ hoạt động học, là điều kiện chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng kỹ xảo một cách dễ dàng Nó không chỉ tham gia xây dựng biểu tượng phương thức hành động mà còn tham gia kiểm tra, kiểm soát, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động, vì thế người học có thể điều chỉnh hoạt động cho phù hợp Nhờ nó mà hoạt động học trở nên đa dạng và hấp dẫn hơn tạo sự say

mê, hứng thú trong học tập Nó giúp cho người học nhớ lâu các kiến thức, các

ấn tượng, khắc sâu trong trí nhớ người học

Thực hiện chức năng trực quan hoá hoạt động nhận thức của người học

Để thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực hiện

mà người dạy cũng như người học không thể tiếp cận trực tiếp Ngoài ra, nó còn giúp người học làm quen các yếu tố các mối quan hệ bên ngoài, bên trong của đối tượng học tập Có thể hiểu sâu sắc nội dung vấn đề đồng thời còn biết cách tiến hành nghiên cứu tìm hiểu chuyên môn mà mình yêu thích

Chúng ta biết rằng, nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con

Trang 23

người, con người nhận thức được thế giới bên ngoài là nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai mà hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở Người ta không thể hiểu được khi dùng ngôn ngữ để mô tả khái niệm, một hiện tượng nếu không

có biểu tượng ban đầu nào đó Vì vậy, trong nhiều trường hợp phải xây dựng các khái niệm, các thuyết từ sự quan sát thực tiễn Để quan sát thực tiễn người

ta tạo ra các hiện tượng tự nhiên bằng phương pháp nhân tạo Hoặc cho học sinh quan sát hình ảnh các hiện tượng ấy nghĩa là sử dụng các TBGD Chúng chẳng những cung cấp kiến thức bền vững chính xác mà còn giúp kiểm tra lại tính đúng đắn của các kiến thức lý thuyết, sửa chữa, bổ sung, đánh giá lại kiến thức lí thuyết nếu không phù hợp với thực tiễn

Trong quá trình nhận thức thế giới vĩ mô, vai trò của TBGD vô cùng quan trọng, với các cơ quan cảm giác thông thường lúc này ta không thể quan sát được các hiện tượng thực tiễn mà phải dùng công cụ để cho phép con người đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan

Do đó nhờ công cụ con người có khả năng phát hiện ra một số tính chất của vật chất lớn hơn nhiều so với khi không sử dụng nó Sự nghiên cứu lịch sử khoa học hiện đại cũng cho thấy rằng, mỗi lần có những công cụ mới lại có những tiến bộ mới trong quá trình nhận thức thế giới, vì vậy có thể nói rằng:

“Việc nhận thức thế giới vi mô luôn gắn với công cụ, hay cụ thể hơn việc nhận thức thế giới của học sinh với TBGD”

Ngoài ra, trong quá trình đào tạo chúng ta không những cần đào tạo những con người nắm vững các kiến thức khoa học mà còn cần giỏi thực hành, có bàn tay khéo léo thực hiện những điều mà bộ óc suy nghĩ Nếu không có điều đó thì những hiểu biết của con người chỉ dừng lại ở mức nhận thức lý thuyết chưa thể tác động vào thực tiễn để tái tạo lại thế giới và cải tạo nó

Nhận thức lí luận và vận dụng nó vào thực tiễn là hai mặt của quá trình nhận thức nhưng giữa chúng có một khoảng cách rất xa mà chúng ta không thể vượt qua được nếu không thông qua những hoạt động thực hành Qua hoạt

Trang 24

động thực tiễn, cấu trúc của các vật và phương pháp hoạt động đối với chúng dần dần chuyển vào vỏ não biến thành nhận thức cấu trúc của các vật và phương pháp hoạt động trí tuệ đối với chúng, logic hoạt động thực tiễn chuyển vào vỏ não và biến thành logic tư duy Do đó qua công tác thực hành với TBGD năng lực nhận thức của học sinh tăng lên

Trong quá trình làm việc với các thiết bị giáo dục, các kiến thức lý thuyết mà học sinh tiếp thu trên lớp thường ở dạng tĩnh và cô lập với kiến thức khác, sẽ tác động tương hỗ làm cho chúng trở nên sinh động, làm lộ rõ bản chất và khả năng của chúng

Trong quá trình làm việc với các TBGD, hứng thú nhận thức của học sinh được kích thích, vì tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn được đặt trước những tình huống mới, mỗi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ phát triển trí sáng tạo

Qua làm việc với các TBGD, tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ luật được rèn luyện, đó là những phẩm chất rất cấp thiết đối với người lao động và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng

1.2.2.2 Thiết bị giáo dục vật chất hoá phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh

TBGD là công cụ lao động của GV và học sinh, vật chất hoá phương pháp đào tạo Góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy trò tạo điều kiện cho hoạt động dạy học diễn ra hợp lý, đúng quy luật Nó cung cấp cho người học thông tin chính xác chắc chắn về các quá trình diễn ra phức tạp

và trừu tượng mà bình thường bằng ngôn ngữ người dạy diễn đạt rất khó khăn Nó kích thích, tích cực hóa các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp làm cho tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ hơn Lao động của người dạy sẽ được giảm nhẹ, từ đó họ có thời gian phân tích các vấn đề trong bài dạy và huy động người học trực tiếp tham gia phát hiện và lĩnh hội các tri thức mới Người học được giảm thiểu sự đầu tư sức lực và thời gian khi tiếp

Trang 25

cận lĩnh hội tri thức mới

Sống trong xã hội hiện đại con người phải tư duy và hoạt động chính xác, nhanh chóng, điều đó không thể có được khi sử dụng trong nhà trường những phương tiện thô sơ với lối dạy từ chương và kém hiệu quả, từ việc dạy học bằng miệng như hiện nay Khi nhà trường được trang bị đầu tư TBGD, những phương pháp làm việc của thầy và trò sẽ thay đổi, phong cách tư duy

và hành động do đó cũng được hiện đại hoá TBGD đóng vai trò quan trọng trong việc năng suất lao động không ngừng tăng lên Việc sử dụng các TBGD hiện đại vào nhà trường sẽ cho phép giới thiệu những kiến thức chính xác cho nhiều học sinh hơn Năng suất lao động ở đây thể hiện ở chất lượng kiến thức truyền thụ, khả năng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, điều đó cho phép rút ngắn thời gian học

Các thiết bị hiện đại mở ra khả năng to lớn cho công tác dạy học Chúng không chỉ cho phép thông báo kiến thức đồng thời cho số lớn học sinh

mà còn có thể điều khiển tối ưu hoá quá trình học tập của họ Đó là điều vô cùng quan trọng và là một trong những đặc điểm của nhà trường hiện đại

1.2.2.3 Thiết bị giáo dục góp phần làm cho quá trình đào tạo có chất lượng, hiệu quả

Là nguồn thông tin thể hiện nội dung dạy học gây cảm xúc và tạo biểu tượng về đối tượng học tập: cấu tạo sự vật, hình dáng, kích thước, cắt bổ bên trong, mối liên hệ các yếu tố bộ phận của sự vật, sự biến đổi phát triển của sự vật hiện tượng

Một nền giáo dục tiên tiến đòi hỏi mục tiêu đào tạo phải luôn bắt kịp mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đôi khi nó còn phải đi trước một bước để định hướng lại cho quá trình kinh tế - xã hội Yêu cầu này đặt ra cho mọi nền kinh tế giáo dục phải thường xuyên cải tiến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo Yêu cầu cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi có TBGD đủ mạnh theo sự tiến bộ của nội dung và phương pháp đào tạo

Trang 26

Không có sự tương hợp nhau về nội dung và phương pháp đào tạo với TBGD thì sớm muộn việc thực hiện mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, quá trình đào tạo sẽ bị phá vỡ sự cân đối toàn vẹn và nền giáo dục sẽ bị suy thoái Khi

có nội dụng và phương pháp đào tạo tiên tiến mà TBGD lạc hậu, trình độ GV còn bất cập, thái độ GV còn chưa hăng hái với việc sử dụng TBGD trong công tác giảng dạy thì đều dẫn tới sự suy thoái chất lượng và hiệu quả đào tạo

Nhìn chung, một hệ thống TBGD tốt cho phép chúng ta khai thác những khả năng sư phạm sau:

Nâng cao tốc độ tri giác thông tin mà không làm giảm tốc độ lĩnh hội những thông tin đó

Cho phép thầy và trò tăng khối lượng kiến thức chuyển tải và lĩnh hội đồng thời tiết kiệm thời gian

Cho phép diễn đạt một cách tường minh sâu sắc và sinh động những khái niệm hoặc hiện tượng phức tạp không thể diễn tả bằng cách khác

Góp phần rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo thông qua hoạt động thường xuyên với công cụ, phương tiện kết hợp với trí óc chân tay

Ngoài ra TBGD còn tạo ra môi trường sinh động mà trong đó người học đóng vai trò là chủ thể được hoạt động thực sự với TBGD tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với cả người dạy và người học, phát huy tối đa tính tích cực của hoạt động nhận thức

Như đã biết, trong bất cứ lĩnh vực nào con người tiến bộ, trưởng thành

là nhờ hoạt động, nhờ có sự tương tác khách quan Sự tương tác này càng thường xuyên đa dạng phù hợp với quy luật nhận thức bao nhiêu, hiệu quả nhận thức, kỹ năng hình thành bấy nhiêu Điều kiện giảng dạy tốt đối với việc

áp dụng các phương pháp tiên tiến sẽ tạo ra cơ hội để đạt thành công

Ngày nay, KHKT và công nghệ cho phép mở ra những khả năng sư phạm không giới hạn cho con người trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo Một lần nữa khẳng định mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, nếu không chú ý tới đầu tư

Trang 27

TBGD đúng mức thì việc thực hiện phương pháp dạy học, nội dung dạy học

để đạt được mục tiêu đào tạo sẽ gặp nhiều khó khăn

Chủ trương đầu tư TBGD hiện nay đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Hội nghị TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ hai khóa VIII đã nêu:

“Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất trường học, Sử dụng một phần vốn vay và viện trợ nước ngoài để xây dựng

cơ sở vật chất giáo dục - đào tạo”

Như vậy, xây dựng cơ sở vật chất giáo dục là cấp thiết hiện nay, tuy nhiên làm thế nào để TBGD có mối liên lạc chặt chẽ với GV, với học sinh, với nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng mục tiêu đào tạo đã vạch sẵn là nhờ công tác quản lý TBGD

Động thái của TBGD trong nhà trường là sự phát triển của nó trong mối quan hệ thầy - trò cũng là đối tượng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.3 Một số vấn đề lý luận về Quản lý thiết bị giáo dục trong trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.3.1 Khái niệm Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý nhà trường, Quản lý thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.3.1.1 Quản lý

Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Nói về sự quản lý Các Mác đã viết: “Tất cả hoạt động lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[19]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hiện nay quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [5]

Trang 28

Theo Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.”[23,tr.8]

Ngày nay thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến và chưa có định nghĩa thống nhất Tuy có nhiều định nghĩa về quản lý khác nhau, song chúng đều có những dấu hiệu chủ yếu sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng quản lý và ngược lại

Về mục tiêu của quản lý: là cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi con người có thể hoàn thành mục đích của mình, của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất

Về đối tượng của quản lý: là các quan hệ quản lý, tức là quan hệ giữa người và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý

1.3.1.2 Các chức năng quản lý

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Các chức năng và vai trò trong quản lý là bàn về hoạy động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu ngưới quản lý phải làm gì – cũng chính là tìm hiểu các chức năng quản lý; và họ làm công việc ấy như thế nào; nói cách khác cần xem xét họ phải sắm những vai trò quản lý nào” [6, tr.12]

Trang 29

Quản lý gồm 4 chức năng cơ bản:

- Kế hoạch hóa (planning): Là một chức năng quản lý Kế hoạch hóa

có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích

đó

- Tổ chức (organizing): Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan

hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức

- Lãnh đạo - chỉ đạo (leading): Là bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức

- Kiểm tra (controlling): Là một chức năng quản lý, thông qua đó một

cá nhân, một nhóm, một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cấp thiết

Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong các hoạt động quản lý

đã hình thành nên các chức năng quản lý Đó là chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra Các chức năng quản

lý tạo thành một chu trình quản lý, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại, làm tiền đề cho nhau, khi thực hiện hoạt động quản lý trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra các quyết định quản lý

1.3.1.3 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục tồn tại lâu dài cùng với xã hội loài người Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau và để cho thế hệ đi sau có tính kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng Để đạt được mục đích đó, quản lý được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên Vậy, quản lý giáo

Trang 30

dục là gì ? Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm "Quản lý giáo dục"

"Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội"

Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, QLGD nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu GD-ĐT với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng học sinh"[16]

Khái niệm "Quản lý giáo dục" có nhiều cấp độ khác nhau, ít nhất có hai cấp độ: vĩ mô và vi mô Khi đưa ra quan niệm về quản lý vi mô và quản lý vĩ

mô trong GD, sẽ có hai nhóm khái niệm tương ứng, một cho quản lý một nền (hệ thống) giáo dục (quản lý vĩ mô) và một, cho quản lý một nhà trường (quản

lý vi mô)

* Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, cỏ mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp độ cao nhất đến các

cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đạt ra cho ngành giáo dục" [30, tr.36]

"Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (Emergence )của

hệ thống; sử dụng một cách tối ưu, tiềm năng các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cần bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động" [29, tr.37]

Cũng có thế định nghĩa: "Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh giám sát,một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội"[30, tr.37]

Trang 31

Các khái niệm trên tương ứng với sự phát triển của hệ thống giáo dục trên quy mô giáo dục cả nước hay hệ thống giáo dục của một tỉnh, thành phố hoặc hệ thống giáo dục của một ngành học cấp học cụ thể nào đó Có thể thấy các khái niệm đó không mâu thuẫn nhau, ngược lại bổ xung nhau: Nếu khái niệm thứ nhất và thứ hai đòi hỏi tính định hướng, tính đồng bộ toàn diện đối với tác động quản lý, thì khái niệm thứ ba đòi hỏi tính cụ thể của những tác động quản lý vào các đổi tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý

* Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ỷ thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện

có chất lượng và hiệu quả mục tiêu xác định" [30, tr.38]

QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành từ tập thể GV và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo nhà trường

Các yếu tố trên không tách rời nhau mà ngược lại, chúng có quan hệ tương tác gắn bó với nhau Chủ thể quản lý tạo ra những tác nhân tác động lên đối tượng quản lý, nơi tiếp nhận tác động của chủ thể quản lý và cùng với chủ thể quản lý hoạt động theo một quỹ đạo nhằm cùng thực hiện mục tiêu của tổ chức Khách thể quản lý nằm ngoài hệ thống quản lý giáo dục Nó là hệ thống

khác hoặc các ràng buộc của môi trường v v…nó có thể chịu tác động hoặc

tác động trở lại đến hệ thống giáo dục và hệ thống QLGD Vấn đề đặt ra đối với chủ thể quản lý là làm như thế nào để cho những tác động từ phía khách thể quản lý đến giáo dục là tích cực, cùng nhằm thực hiện mục tiêu chung

1.3.1.4 Quản lý trường học

Quản lý trường học là một trong những nội dụng quan trọng của hệ thống QLGD nói chung, quản lý nhà trường là một trong những cơ sở của ngành giáo dục

Trang 32

Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người CBQL trường học sử dụng chức năng quản lý để thực hiện công tác của mình

Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tới các hoạt động của nhà thường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy học

Trường học là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này Do vậy, quản lý trường học nói chung và quản lý Trường THPT năng khiếu thể dục thể thao nói riêng thực chất là: "Quản lý hoạt động dạy và học, tức là làm sao đưa vào hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dẫn tới mục tiêu giáo dục”

Vậy, "Quản lý trường học là một hệ thống nhũng tác động sư phạm hợp

lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả [32, tr.27]

Như vậy, ta có thế hiểu công tác quản lý trường học bao gồm sự quản

lý các quan hệ nội bộ nhà trường và quan hệ trường học với xã hội bên ngoài nhà trường

Bản chất của công tác quản lý trường học là quá trình chỉ huy, điều khiển, vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố Mối quan hệ đó là quá trình sư phạm trong nhà trường Quản lý nhà trường nói chung và quản lý trường THPT nói riêng là tổ chức chỉ đạo điều hành quá trình giảng dạy của thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện CSVC và tinh thần phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích GD&ĐT

1.3.1.5 Khái niệm quản lý thiết bị giáo dục

Theo Phạm Văn Thuần: “Quản lý cơ sở vật chất - TBGD là tác động có mục đích của người quản lý nhằm xây dựng, phát triển và sử dụng có hiệu

Trang 33

quả hệ thống cơ sở vật chất – TBGD phục vụ đắc lực cho công tác giáo dục

và đào tạo

Nội dung cơ sở vật chất - TBGD mở rộng đến đâu thì tầm quản lý cũng phải rộng và sâu tương ứng Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ ra rằng cơ sở vật chất - TBGD chỉ phát huy được tác dụng tốt trong việc giáo dục và đào tạo khi được quản lý tốt Chính vì vậy cho nên đi đôi với việc đầu tư trang bị, điều quan trọng hơn là phải chú trọng đến việc quản lý cơ sở vật chất - TBGD trong nhà trường Vì cơ sở vật chất - TBGD là một lĩnh vực vừa mang tính kinh tế - giáo dục, vừa mang tính khoa học - giáo dục, cho nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế và quản lý khoa học Mặt khác, cần tuân theo các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục”[32, tr11]

Như vậy, có thể nói quản lý TBGD là một trong những công việc của người cán bộ quản lý, là đối tượng quản lý trong nhà trường

Điều 12 - Quy chế thiết bị giáo dục trong trường mầm non, phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 41/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định: Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm xây dựng kế hoạch mua sắm, trang bị, tiếp nhận, phân phối thiết bị giáo dục theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước, phù hợp với chương trình giáo dục; thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục; lập báo cáo lên cơ quan cấp trên mỗi năm một lần căn cứ vào quy chế, từng trường xây dựng nội quy quản lý thiết bị giáo dục cụ thể thích hợp với trường mình

1.3.2 Mục tiêu, yêu cầu, nguyên tắc quản lý thiết bị giáo dục của trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.3.2.1 Mục tiêu quản lý thiết bị

Mục tiêu quản lý TBGD là xây dựng, sử dụng, bảo quản và huy động tối đa TBGD của nhà trường phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập nhằm đạt được mục tiêu về dạy học, giáo dục đã đề ra

Thực hiện mục tiêu chính là đảm bảo thống nhất giữa yêu cầu về chất

Trang 34

lượng giáo dục và những điều kiện cấp thiết cho việc thực hiện yêu cầu đó

1.3.2.2 Yêu cầu quản lý thiết bị

Điều 10: Quy chế thiết bị giáo dục trong trường Mầm non, phổ thông

ban hành kèm theo Quyết định số 41/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định:

Tất cả thiết bị giáo dục của một cơ sở giáo dục phải được sắp đặt khoa học, dễ sử dụng và có các phương tiện bảo quản (tủ, giá, hòm ), vật che phủ, phương tiện chống ẩm, chống mối mọt, dụng cụ phòng cháy chữa cháy Tuỳ theo tính chất quy mô của thiết bị mà bố trí diện tích và địa điểm thích hợp, bảo đảm cho GV và học sinh thao tác đi lại thuận tiện và an toàn khi sử dụng Các thí nghiệm có độc hại, gây tiếng ồn phải được bố trí và xử lý theo tiêu chuẩn quy định để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường

Thiết bị giáo dục phải được sử dụng có hiệu quả cao nhất, đáp ứng các yêu cầu về nội dung và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục

Thiết bị giáo dục phải được làm sạch và bảo quản ngay sau khi sử dụng; định kỳ bảo dưỡng, bổ sung phụ tùng, linh kiện, vật tư tiêu hao

Hàng năm phải tiến hành kiểm kê theo đúng quy định của Nhà nước về quản lý tài sản Việc kiểm kê bất thường phải được tiến hành trong trường hợp sau:

Khi thay đổi Hiệu trưởng hoặc người phụ trách công tác thiết bị giáo dục

Khi thay đổi địa điểm, sáp nhập, chia tách, đình chỉ hoạt động, giải thể Khi xảy ra thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, trộm cắp

Khi cơ quan quản lý giáo dục cấp trên yêu cầu

Để quản lý TBGD tốt người cán bộ quản lý nhà trường cần nắm vững các yêu cầu sau:

- Nắm vững cơ sở thực tiễn và lý luận về quản lý

- Nắm vững các chức năng và nội dung quản lý biết phân lập và phối

Trang 35

hợp các nội dung quản lý, các mặt quản lý

- Hiểu rõ đòi hỏi của chương trình giáo dục và những điều kiện CSVC

để thực hiện chương trình

- Có ý tưởng đổi mới và thực hiện ý tưởng bằng một kế hoạch khả thi

- Biết huy động mọi tiềm năng có thể của tập thể sư phạm và cộng đồng cho công việc

- Có biện pháp tập trung mọi tiềm năng vật chất vào một hướng thống nhất là đảm bảo CSVC và TBGD để nâng cao chất lượng giáo dục

1.3.2.3 Nguyên tắc quản lý thiết bị

Trang bị đầy đủ và đồng bộ TBGD (đồng bộ giữa trường, sở, phương thức tổ chức dạy học; chương trình, sách giáo khoa và TBGD; trang thiết bị

và điều kiện sử dụng; trang thiết bị và bảo quản; giữa các thiết bị với nhau )

Bố trí hợp lý TBGD trong phòng thiết bị, trong phòng học

Tạo ra môi trường sư phạm thuận lợi cho các hoạt động giáo dục

Bố trí sử dụng và bảo quản tối ưu các phương tiện vật chất, kỹ thuật cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy

1.3.3 Nội dung quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

1.3.3.1 Quản lý việc mua sắm và trang bị

Xuất phát từ nội dung, chương trình và kế hoạch giảng dạy đối với từng môn học, lớp học và đồng thời dựa trên cơ sở các danh mục về TBGD do Bộ Giáo dục ban hành; Công tác quản lý nhà trường cần kiểm kê và lập kế hoạch mua sắm các TBGD (cái gì đã có, cái gì thiếu, cái gì đã lạc hậu cần thanh lý, phải mua cái gì và với số lượng như thể nào, nguồn tài chính ở đâu, thời gian thực hiện và các biện pháp quản lý cấp thiết)

Cập nhật thông tin về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy học; đồng thời cập nhật các thông tin về TBGD mới để thường xuyên có kế hoạch

bổ sung theo hướng chuẩn hoá và hiện đại hoá

1.3.3.2 Quản lý việc sử dụng

Trang 36

Cần đào tạo và bồi dưỡng những cán bộ chuyên trách có khả năng, am hiểu về tính năng và tác dụng của các TBGD

Tổ chức tập huấn cho tất cả đội ngũ người dạy trong trường về tính năng và tác dụng của các TBGD; đồng thời hướng dẫn sử dụng theo hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất

Giám sát chặt chẽ việc sử dụng các TBGD (cụ thể là yêu cầu bắt buộc đối với người dạy sử dụng các TBGD đã có; mặt khác cần thông qua tổ chuyên môn để thảo luận và thống nhất quy định đối với người dạy phải sử dụng các TBGD cấp thiết nào cho từng tiết giảng, từng môn học) Nhất thiết không được dạy chay

1.3.3.3 Quản lý việc bảo quản

Hướng dẫn các thao tác sử dụng đúng qui trình vận hành và thời gian

sử dụng của mỗi loại TBGD cho người sử dụng để tránh hỏng hóc và mất an toàn

Cất giữ các TBGD theo đúng tiêu chuẩn đã định ra của các nhà sản xuất (nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng…)

Thường xuyên bảo dưỡng (lau chùi, tra dầu mỡ, sấy nóng, hút bụi và chạy bảo dưỡng )

1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao

Từ những vấn đề cơ bản nhất về quản lý TBGD nêu trên, chúng tôi thấy một số yếu tố tác động đến hoạt động quản lý TBGD ở trường THPT như sau:

1.4.1 Nhận thức và trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý, giáo viên,nhân viên kỹ thuật về thiết bị giáo dục trong đào tạo chuyên năng khiếu thể dục thể thao

Nhận thức đúng của CBQL, GV, nhân viên kỹ thuật, học sinh và các lực lượng khác tham gia vào vấn đề sản xuất, trang bị TBGD về ý nghĩa ,tác dụng, giá trị của TBGD trong dạy học là yếu tố quyết định đến hiệu quả của thiết bị giáo dục Có nhận thức đúng thì hành động của CBQL, nhất là GV và

Trang 37

học sinh sẽ có tác dụng trong việc tổ chức đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học Như vậy, Hiệu trưởng phải có các biện pháp quản lý nhằm nâng cao nhận thức của lực lượng tham gia giáo dục về TBGD

1.4.2 Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương

Sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương có tác động tới hoạt động quản lý thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Khi kinh tế - xã hội phát triển các điều kiện đầu tư mua các trang thiết

bị có chất lượng cao hơn, đội ngũ giáo viên và quản lý sẽ được bồi dưỡng kiến thức

về sử dụng các thiết bị một cách khoa học

Con người là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động của nhà trường Mặt khác việc quản lý, sử dụng TBGD trong nhà trường phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ GV và nhân viên Như vậy, Hiệu trưởng cần có các biện pháp quản lý nhằm nâng cao năng lực quản lý, sử dụng và bảo quản TBGD

Sử dụng là mục tiêu cơ bản và là mục tiêu cuối cùng của toàn bộ công tác TBGD nhà trường Quan điểm này rất quan trọng và cần được thông suốt trong toàn bộ đội ngũ những người làm công tác TBGD Nếu TBGD không được sử dụng thì việc đầu tư, trang bị, xây dựng hệ thống TBGD cũng trở thành thừa Bản thân TBGD chỉ là vật vô tri, vô giác nếu con người không sử dụng thì không thể phát huy được tác dụng và khả năng sư phạm của nó

1.4.3 Môi trường hoạt động thể dục thể thao và sự phát triển thể dục thể thao

Môi trường hoạt động thể dục thể thao và sự phát triển thể dục thể thao

có tác động không nhỏ tới hoạt động quản lý thiết bị giáo dục ở trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao Yếu tố môi trường xã hội, khi mà xã hội quan tâm chăm sóc đến sự nghiệp phát triển TDTT của địa phương thì việc đầu tư cho các cơ sở đào tạo năng khiếu cả về vật chất và tinh thần sẽ có tác động quan trọng đến hoạt động quản lý nói chung và quản lý TBGD nói riêng ở các cơ sở này Như vậy có mối quan hệ nhân quả giữa quan tâm ,đầu tư cho các cơ sở đào tạo tài năng TDTT với sự phát triển thành

Trang 38

tích TDTT của địa phương Khi đã có thành tích tốt thì sẽ thu hút sự quan tâm đầu tư của các cấp quản lý, của xã hội cho cơ sở giáo dục đào tạo năng khiếu TDTT

Yếu tố môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng mạnh đến quản lý TBGD Với môi trường hoạt động khắc nghiệt sẽ làm cho các thiết bị giáo dục bị hỏng nhanh chóng, công tác bảo quản và sử dụng gặp nhiều khó khăn Vì vậy đối với mỗi môi trường hoạt động thể dục thể thao khác nhau thì thời hạn sử dụng thiết bị và điều kiện đưa ra để quản lý các thiết bị giáo dục khác nhau

Tùy vào sự phát triển của thể dục thể thao mà mức độ đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quả lý cũng như vấn đề thành tra, kiểm tra trong quá trình quản lý sử dụng thiết bị sẽ khác nhau ở mỗi mức độ phát triển Khi sự phát triển thể dục thể thao càng cao thì các vấn để trên sẽ được hoàn thiện tốt hơn dẫn đến việc quản lý sử dụng thiết bị giáo dục sẽ hoàn thiện tốt hơn và ngược lại với sự phát triển thể dục thể thao thấp việc quản lý sử dụng thiết bị thể dục thể thao sẽ kém đi vì không được đầu tư một cách phù hợp

Tiểu kết chương 1

TBGD có vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện nội dụng, chương trình, trong đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao nhằm nâng cao chất lượng dạy học hiện nay

Từ các khái niệm dẫn xuất như quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học, TBGD, tác giả luận văn đã đưa ra quan niệm về quản lý TBGD

ở trường THPT

Đồng thời tác giả luận văn cũng phân tích những mục tiêu, yêu cầu trong quản lý TBGD để việc quản lý TBGD ở trường THPT chuyên thể dục thể thao được tốt hơn, như: Phải thấu hiểu vai trò của TBGD trong việc nâng cao chất lượng GD, phải nắm được cách phân loại, nguyên tắc sử dụng TBGD,

Trang 39

Quan trọng hơn, muốn quản lý có hiệu quả TBGD để nâng cao chất lượng dạy học, trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao phải quan tâm đến các biện pháp quản lý về các lĩnh vực:

- Những quy chế của ngành và quy định của nhà trường về mua sắm, sử dụng và bảo quản TBGD

- Năng lực của đội ngũ nhân lực trực tiếp quản lý và sử dụng TBGD

- Vấn đề huy động đầu tư cho mua sắm, trang bị TBGD

Chương 1 của luận văn sẽ làm cơ sở cho nghiên cứu thực trạng ở Chương

2 và đề xuất các giải pháp ở Chương 3 nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản

lý thiết bị giáo dục Trường chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định, Tp Hồ Chí Minh và các cơ sở giáo dục đào tạo trên cả nước

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ GIÁO DỤC TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂNG KHIẾU THỂ DỤC THỂ THAO

- Khu dạy và học văn hóa

- Khu huấn luyện và tập luyện thể dục thể thao

Trường thuộc dạng đơn vị sự nghiệp có thu, được nhà nước cấp kinh phí, và được thu các khoản cơ sở vật chất, học phí, tiền dạy hai buổi… theo qui định Tổng các nguồn thu trong nhiều năm chỉ đủ chi trả tiền lương, phụ cấp, phụ trội và các khoản chi thiết yếu phục vụ các hoạt động thường xuyên của nhà trường như: điện, nước, chi phí chuyên môn nghiệp vụ…

Từ năm học 2009-2010 Nghị định số 43/2006/ NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập thật

sự được áp dụng, điều đó tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao

Trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể thao Nguyễn Thị Định khang trang, không gian xanh - sạch - đẹp, hài hoà, cân đối Học sinh ngoan,

lễ phép, có kỷ cương, sống thân ái, học giỏi và luôn có khát vọng vươn lên Thầy cô tận tụy, sáng tạo và đổi mới Phụ huynh có trách nhiệm và quan tâm

Ngày đăng: 13/05/2016, 09:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Đức Chính (2008), Đảnh giá chất lượng trong giáo dục. Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa sư phạm-Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảnh giá chất lượng trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Năm: 2008
10. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
11. Nguyễn Tiến Đạt (2004), Giáo dục so sánh. NXB Đại học Quốc Gia - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục so sánh
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia - Hà Nội
Năm: 2004
13. Điều lệ trường Trung học (2000). Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường Trung học
Tác giả: Điều lệ trường Trung học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
14. Trần Khánh Đức (2002), Sư phạm kỹ thuật. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư phạm kỹ thuật
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
16. Đặng Xuân Hải (2010), Quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý ngành giáo dục nói riêng. Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hành chính nhà nước nói chung và quản lý ngành giáo dục nói riêng
Tác giả: Đặng Xuân Hải
Năm: 2010
17. Phạm Minh Hạc (1986), Một sổ vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sổ vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
18. Phạm Minh Hạc (1996), Mười năm đổi mới giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười năm đổi mới giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
20. Nguyễn Trọng Hậu (2009), Đại cương khoa học quản lý giáo dục. Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Trọng Hậu
Năm: 2009
22. Nguyễn Văn Hộ (2013), Tập bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục môn: Triết lý giáo dục, Chính sách và phát triển GD-ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng cho học viên cao học quản lý giáo dục môn: Triết lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Năm: 2013
23. Lê Ngọc Hùng (2006), Xã hội học giáo dục. NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học giáo dục
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
24. Phạm Việt Hùng (2008), “Công tác quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường hiện nay”, Tạp chí Giáo dục, (188), tr. 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý thiết bị dạy học trong nhà trường hiện nay
Tác giả: Phạm Việt Hùng
Năm: 2008
25. Đặng Thành Hƣng (2007), “ Công nghệ thông tin và thiết bị dạy học ở trường phổ thông”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, tr.44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin và thiết bị dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Năm: 2007
26. Nguyễn Thị Phương Hoa (2005), Lý luận dạy học hiện đại. Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa sư phạm-Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Năm: 2005
27. Trần Kiều, Nguyễn Lan Phương (1997), Tích cực hóa hoạt động của học sinh, Thông tin Khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực hóa hoạt động của học sinh
Tác giả: Trần Kiều, Nguyễn Lan Phương
Năm: 1997
29. Phan Ngọc Liên (2007), “Sử dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí Giáo dục,(159), tr. 23-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông"”, "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Năm: 2007
32. Cao Xuân Nguyên (1984), Một số phương tiện kỹ thuật dạy học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương tiện kỹ thuật dạy học
Tác giả: Cao Xuân Nguyên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
33. Trung Nghĩa (2007), “ Đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục một việc làm không dễ”, Tạp chí Thiết bị Giáo dục, (21), tr.04-05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị giáo dục một việc làm không dễ
Tác giả: Trung Nghĩa
Năm: 2007
35. Những cơ sở của lý luận dạy học, tập 2. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của lý luận dạy học
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. 1: Kết quả học tập học sinh THPT năng khiếu thể dục thể thao - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 1: Kết quả học tập học sinh THPT năng khiếu thể dục thể thao (Trang 43)
Bảng 2. 2: Số huy chương học sinh trường giành được THPT năng khiếu thể - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 2: Số huy chương học sinh trường giành được THPT năng khiếu thể (Trang 44)
Bảng 2. 3:  Cơ sở vật chất của trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 3: Cơ sở vật chất của trường THPT chuyên năng khiếu thể dục thể (Trang 46)
Bảng 2. 4: Loại hình TBGD được trang bị của trường THPT chuyên năng - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 4: Loại hình TBGD được trang bị của trường THPT chuyên năng (Trang 47)
Hình giáo - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Hình gi áo (Trang 48)
Bảng 2. 5: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 5: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc (Trang 50)
Bảng 2. 6: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD   trong việc đối mới phương pháp dạy học - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 6: Nhận thức về sự cấp thiết của TBGD trong việc đối mới phương pháp dạy học (Trang 52)
Bảng 2. 7: Thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục và thiết bị giáo dục thể thao - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 7: Thực trạng sử dụng thiết bị giáo dục và thiết bị giáo dục thể thao (Trang 58)
Bảng 2. 8: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 8: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD (Trang 61)
Bảng 2. 9: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 2. 9: Thực trạng và nguyên nhân sử dụng TBGD (Trang 63)
Bảng 3. 2: Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 3. 2: Kết quả khảo sát về tính khả thi của các biện pháp (Trang 93)
Bảng 3. 3: Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi - Quản lý các thiết bị giáo dục tại trường trung học phổ thông chuyên năng khiếu thể dục thể thao nguyễn thị định thành phố hồ chí minh
Bảng 3. 3: Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm