ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ VÀ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM KĨ THUẬT TỔNG HỢP –
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ PHƯƠNG THẢO
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ VÀ TƯ VẤN
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI TRUNG TÂM KĨ THUẬT TỔNG HỢP – HƯỚNG NGHIỆP
QUẬN PHÚ NHUẬN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ NGỌC THẠCH
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu, khảo sát thực hiện đề tài: “Quản lý hoạt hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở tại Trung tâm kĩ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Quận Phú Nhuận”, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm và có hiệu quả của các thầy giáo, cô giáo khoa quản lý giáo dục trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, đến nay tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và tạo điều kiện của Ban giám đốc Trung tâm KTTH - HN, phòng GD & ĐT, ban giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THCS trong Quận Phú Nhuận cùng bạn bè đồng nghiệp… đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ và cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá cho đề tài nghiên cứu giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo Tiến sĩ – Giảng Viên Chính Lê Ngọc Thạch, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Mặc dù có rất nhiều cố gắng trong suốt quá trình nghiên cứu song bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Phương Thảo
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ x
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4.1 Khách thể nghiên cứu 3
4.2 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Câu hỏi nghiên cứu 4
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
8.1 Ý nghĩa lí luận: 4
8.2 Ý nghĩa thực tiễn: 4
9 Phương pháp nghiên cứu 4
9.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 5
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
9.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng 5
10 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Những quan điểm về hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 8
Trang 51.2 Những khái niệm cơ bản 12
1.2.1 Hướng nghiệp 12
1.2.2 Nghề nghiệp 13
1.2.3 Tư vấn nghề 14
1.2.4 Dạy nghề 17
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động TVHN và DNPT 19
1.2.6 Đặc điểm của quản lý hoạt động TVHN và DNPT tại các trung tâm KTTH-HN 25
Kết luận Chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y NGHỀ VÀ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP T ẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 31
2.1 Tình hình chung của trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp quận Phú Nhuận 31
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm 31
2.1.2 Nhiệm vụ chính trị được giao 32
2.2 Thực trạng hoạt động tư vấn hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông tại trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp quận Phú Nhuận 32
2.2.1 Những thuận lợi và khó khăn 32
2.2.2 Những kết quả đạt được 33
2.3 Thực trạng công tác quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông tại trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp quận Phú Nhuận 37
2.3.1 Về học tập và quản lý sĩ số học sinh 38
2.3.2 Về chương trình đào tạo 41
2.3.3 Về đội ngũ giáo viên 42
2.3.4 Về cơ sở vật chất kĩ thuật 43
2.3.5 Về vấn đề môi trường đào tạo 43
2.4 Kết quả khảo sát thực tế học sinh trung học cơ sở, cán bộ quản lý và giáo viên về tư vấn hướng nghiệp và nghề phổ thông 44
2.4.1 Kết quả khảo sát học sinh trung học cơ sở 44
2.4.2 Kết quả khảo sát chung của giáo viên và cán bộ quản lý 52
2.4.3 Kết quả khảo sát giáo viên 61
Trang 6Kết luận Chương 2 64
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP VÀ DẠY NGHỀ PHỔ THÔNG CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP QUẬN PHÚ NHUẬN 65
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Đảm bảo tính đồng bộ hệ thống 65
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 66
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 66
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý HĐTVHN và DNPT tại TT KTTH-HN quận Phú Nhuận 67
3.2.1 Tích cực tuyên truyền về hoạt động TVHN và dạy NPT nhằm nâng cao nhận thức của cấp quản lý, giáo viên, học sinh và dư luận xã hội 67
3.2.2 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa trung tâm và các trường phổ thông trong hoạt động TVHN và DNPT 67
3.2.3 Tổ chức phân công lao động hợp lý, củng cố và phát triển đội ngũ 72
3.2.4 Thường xuyên tổ chức nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình, đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TVHN và DNPT 76
3.2.5 Khai thác và sử dụng hợp lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học 78
3.2.6 Tăng cường xã hội hóa hoạt động TVHN và DNPT 80
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.3 Khảo nghiệm tính khả thi của một số biện pháp 85
3.3.1 Mục đích 85
3.3.2 Nội dung 85
Kết luận Chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Khuyến nghị 93
2.1 Đối với Bộ GD & ĐT 93
2.2 Đối với Sở GD & ĐT 94
Trang 72.3 Đối với Giám đốc TT KTTH HN 94 TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1: Số học sinh học nghề và đạt chứng chỉ nghề qua các
năm tại Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp quận Phú Nhuận (2010 - 2015) 34 Bảng 2 2: Thông tin cá nhân của học sinh tham gia trả lời
nghiên cứu 45 Bảng 2 3: Định hướng chọn nghề tương lai của học sinh trung
học cơ sở 46 Bảng 2 4: Tiêu chí chọn nghề và khối thi của học sinh trung học
cơ sở qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 48 Bảng 2 5: Nhu nhu cầu tìm hiểu thông tin cho việc chọn nghề
nghiệp trong 50 Bảng 2 6: Tổng hợp các kết quả khảo sát học sinh về nghề phổ
thông 51 Bảng 2 7: Thông tin cá nhân của CBQL và Giáo viên tham gia
trả lời nghiên cứu 53 Bảng 2 8: Đánh giá mức độ sử dụng các phương pháp dạy học
của CBQL và giáo viên tại Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M)
và độ lệch chuẩn (SD) 54 Bảng 2 9: Đánh giá mức độ sử dụng các kỹ thuật dạy học trong
dạy NPT của CBQL và giáo viên tại Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 55 Bảng 2 10: Đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp chỉ đạo của
lãnh đạo Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 56 Bảng 2 11: Đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp quản lý
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học tại Trung tâm
Trang 9KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 57 Bảng 2 12: Đánh giá mức độ thực hiện công tác quản lý học sinh
học tại Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 58 Bảng 2 13: Đánh giá mức độ thực hiện công tác quản lý cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học tại Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình (M)
và độ lệch chuẩn (SD) 59 Bảng 2 14: Hệ số tương quan Pearson giữa các biện pháp và sự
hài lòng của CBQL và Giáo viên trong việc thực hiện biện pháp đổi mới quản lý tại Trung tâm KTTH-HN quận Phú Nhuận (N = 33) 61 Bảng 2 15: Thông tin cá nhân của giáo viên tham gia trả lời
nghiên cứu 62 Bảng 2 16: Đánh giá thực trạng chung về việc dạy và học nghề
trung học cơ sở của giáo viên qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 63 Bảng 2 17: Đánh giá chung về thực trạng công tác TVHN cho
học sinh trung học cơ sở của giáo viên qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 63
Bảng 3 1: Sự liên thông nội dung chương trình kĩ thuật với dạy
nghề phổ thông 71 Bảng 3 2: Mối quan hệ giữa hệ thống mục tiêu quản lý với một
số biện pháp quản lý hoạt động TVHN và dạy NPT 83 Bảng 3 3: Thông tin cá nhân của CBQL tham gia trả lời nghiên
cứu 85
Trang 10Bảng 3 4: Kết quả đánh giá về sự cần thiết những biện pháp để
nâng cao hiệu quả của hoạt động TVHN và DNPT của CBQL qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 86 Bảng 3 5: Kết quả đánh giá về hiệu quả của các biện pháp của
CBQL qua phân tích điểm trung bình (M) và độ lệch chuẩn (SD) 88
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2 1: Sơ đồ tổ chức TT KTTH-HN quận Phú Nhuận 31 Hình 2 2: Tham gia SHHN và tư vấn nghề 48 Hình 2 3: Nguồn thông tin học sinh tìm hiểu về nghề trong
tương lai 49 Hình 2 4: Sự hiểu biết của học sinh về hướng nghiệp nghề 49 Hình 2 5: So sánh các biện pháp đổi mới quản lý tại Trung tâm
KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình 5 point-Likert 60 Hình 2 6: So sánh các biện pháp đổi mới quản lý tại Trung tâm
KTTH-HN quận Phú Nhuận qua phân tích điểm trung bình 5 point-Likert 60
Hình 3 1: Mô hình hoạt động của Trung tâm Kĩ thuật tổng hợp -
hướng nghiệp Quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh 66 Hình 3 2: Sơ đồ tổ chức của Trung tâm Kĩ thuật Tổng hợp -
Hướng nghiệp 68 Hình 3 3: Sơ đồ các hoạt động trong phát triển chuyên môn liên
tục 74 Hình 3 4: Sơ đồ nội dung bồi dưỡng giáo viên TT KTTH HN 75 Hình 3 5: Sơ đồ kết hợp phương tiện dạy học, khả năng của giáo
viên và học sinh 80 Hình 3 6: Mức độ cần thiết, hiệu quả và tính khả thi của các
biện pháp quản lý 90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục hướng nghiê ̣p phổ thông - một bộ phận quan trọng trong hệ
thống giáo dục quốc dân có vai trò là cơ sở ban đầu, đặt nền tảng cho sự phát triển nguồn nhân lực Mỗi con người có những phẩm chất, đặc điểm tâm sinh lí tương đối
ổn định phù hợp với những nhóm nghề nhất định Nếu con người chọn được nghề phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu của xã hội, họ sẽ có khả năng phát huy năng lực của mình và cống hiến được nhiều cho đất nước (VVOB Việt Nam, 2013) Nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường và hội nhập với nền kinh
tế thế giới, cơ cấu kinh tế có sự thay đổi nên đã xuất hiện nhiều ngành nghề mới Do vậy yêu cầu về phẩm chất và năng lực người lao động trong điều kiện mới cũng thay đổi Điều này dẫn đến việc chọn nghề của học sinh phổ thông sao cho phù hợp với năng lực của bản thân và nhu cầu của xã hội là một thách thức lớn Đây cũng là một trong những vấn đề bức xúc của giáo dục Việt Nam hiện nay
Tư vấn hướng nghiê ̣p cho học sinh trung học cơ sở là hướng dẫn cho học
sinh hiểu biết khái quát về ngành nghề và cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai
một cách khoa học thông qua các bài kiểm tra tư vấn, trên cơ sở hình thành những
hứng thú nghề nghiệp vững chắc phù hợp với những phẩm chất, năng lực của cá nhân và yêu cầu của nghề cũng như nhu cầu của xã hội (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, 2001) Việc định hướng nghề nghiệp được xem là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Vì vậy, công tác hướng nghiệp giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất, phù hợp với sự phát triển năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lí, sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, từ đó
kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân Tư vấn hướng nghiê ̣p đúng đắn sẽ
làm cho học sinh có được tính chủ động trong lựa chọn nghề, có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội bền vững cho đất nước
Trang 13Với ý nghĩa quan trọng như vậy, công tác tư vấn hướng nghiệp nói chung và
tư vấn hướng nghiê ̣p cho học sinh trung học cơ sở nói riêng, những năm qua, Đảng
và Nhà nước ta đã hết sức coi trọng, khuyến khích đẩy mạnh những hoạt động này Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định 126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lí học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường” Ngày 17/11/1981, Bộ giáo dục đã ra Thông
tư số 33/TT hướng dẫn các cơ quan, các trường trong ngành thực hiện quyết định này Sau đó, ngày 27/4/1982 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã kịp thời ban hành Thông tư số 48/BT qui định rõ nhiệm vụ của các ngành, các cấp và Bộ Giáo dục trong việc thực hiện quyết định 126/CP Văn kiện Đại hội Đảng IX, Nghị quyết 40/2000/QH10, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT, Luật giáo dục năm 2005, Quyết định số 630/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ : Phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 –
2020, Luật giáo dục nghề nghiệp (số 74/2014/QH13) đều nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cường tư vấn hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng học sinh, chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực bản thân và nhu cầu về nhân lực của xã hội Những văn bản này đã cho thấy vai trò tư vấn hướng nghiệp có tầm rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới nền giáo dục nước nhà
Tuy nhiên, công tác tư vấn hướng nghiệp nói chung và tư vấn hướng nghiệp nói riêng ở nước ta chưa được quan tâm đúng mức Nhiều nơi chưa triển khai công tác tư vấn hướng nghiệp (TVHN) hoặc hiệu quả của triển khai còn hạn chế do chưa được đầu tư đúng mức Vì vậy, học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo những kiến thức về nghề nghiệp để chọn ngành nghề phù hợp với bản thân đồng thời đáp ứng nhu cầu việc làm sau khi ra trường
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp (TT KTTH HN) Quâ ̣n Phú Nhuâ ̣n phấn đấu là đơn vi ̣ đi đầu tr ong công tác da ̣y nghề , tư vấn hướng nghiệp cho ho ̣c sinh trung học cơ sở (đối với khối lớp 8) Song, nguồn nhân lực của Trung tâm chưa đáp ứng cho tiến trình công nghiệp hóa , hiện đại hóa Trung tâm hiện còn thiếu giáo viên có chuyên môn kĩ thuật trình độ cao Bên cạnh đó, học sinh hầu như không quan tâm đến nhu cầu lao
Trang 14động ở địa phương cũng như chưa hiểu hết tầm quan tro ̣ng của viê ̣c đi ̣nh hướng nghề nghiê ̣p cho tương lai , các em học chủ yếu vì muốn được điểm c ộng thêm khi thi vào lớp 10 (nếu học sinh đạt loại giỏi sẽ được cộng 1.5 điểm, loại khá được cộng
1 điểm, và loại trung bình được cộng 0.5 điểm) Thực trạng về chất lượng của công tác TVHN còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được vai trò trong việc phân luồng học sinh để đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Nguyên nhân khách quan thì đây là lĩnh vực phức tạp, song cũng có nguyên nhân chủ quan thuộc về công tác quản lí , trong
đó các cơ quan quản lí nhà nước chưa quan tâm đầy đủ về vấn đề này , nên chưa có
sự chỉ đạo , đầu tư hợp lí c ho đơn vi ̣ Việc tổ chức tư vấn hướng nghiê ̣p còn thiếu thốn về mă ̣t cơ sở vâ ̣t chất , cán bộ tư vấn là giáo viên kiêm nhiệm còn hạn chế về chuyên môn nghiê ̣p vu ̣, kinh phí hoạt động hạn hẹp (Theo Báo cáo tổng kết các năm học từ 2013-2014 đến nay của TT KTTH HN Quận Phú Nhuận)
Xuất phát từ những lí do trên , tôi chọn đề tài: “Quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở tại Trung tâm Kĩ thuật tổng hợp - Hướng nghiê ̣p Quận Phú Nhuận , Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm nâng
cao chất lượng quản lí tại đơn vị
2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận thông qua đề xuất một số biện pháp quản lí hiệu quả
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động quản lí dạy nghề và tư vấn hướng
nghiệp ở TT KTTH HN Quận Phú Nhuận
- Khảo sát thực trạng hoạt động quản lí dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp ở
TT KTTH HN Quận Phú Nhuận trong những năm qua
- Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số biện pháp quản lí khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở (khối lớp 8) ở TT KTTH HN Quận Phú Nhuận
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Trang 15Hoạt động giáo du ̣c hướng nghiê ̣p và da ̣y nghề phổ thông bậc trung học cơ sở (khối lớp 8) tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động tư vấn hướng nghi ệp và dạy nghề phổ thông bậc trung học
cơ sở (khối lớp 8) tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ đề cập tới chức năng tổ chức quản lí hoa ̣t đô ̣ng da ̣y nghề và tư
vấn hướng nghiê ̣p cho học sinh khối lớp 8 Việc khảo nghiệm được tập trung xem
xét những biện pháp quản lí hoa ̣t đô ̣ng da ̣y nghề và tư vấn hướng nghiê ̣p tại trung tâm Khảo sát thu thập thông tin (ý kiến) của học sinh, giáo viên và cán bộ quản lí tại trung tâm và mô ̣t số trường THCS trên địa bàn Quâ ̣n
6 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu là: Vai trò của công tác quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp như thế nào? Thực trạng ra sao? Cần những biện pháp quản lí gì để nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận?
7 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả của hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học cơ sở (khối lớp 8) tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận có thể được nâng cao nếu như thực hiện một cách đồng bộ một số biện pháp quản lí mà nghiên cứu đề xuất
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1 Ý nghĩa lí luận:
Tổng kết lí luận về công tác quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp hiện nay ở TT KTTH HN Quận Phú Nhuận chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp quản lí hiệu quả cho hoạt động này
8.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp tại TT KTTH HN Quận Phú Nhuận và những trung tâm khác
9 Phương pháp nghiên cứu
Trang 169.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về quản lí các hoạt động chuyên môn về dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh; phân tích, phân loại, xác định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan để hình thành cơ sở lí luận cho đề tài
9.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng câu hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về
vấn đề hoạt động dạy nghề, tư vấn hướng nghiệp, quản lí hoạt động dạy nghề THCS nói chung và tư vấn hướng nghiệp nói riêng Ba nhóm đối tượng khảo sát sẽ là học sinh, giáo viên , cán bộ quản lí tại Trung tâm Kĩ thuâ ̣t tổng hơ ̣p - Hướ ng nghiê ̣p Quận Phú Nhuận và một số trường trong Quận Phú Nhuận
- Phỏng vấn chuyên sâu: Kĩ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những
thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài Hai nhóm đối tượng phỏng vấn chính sẽ được tập trung vào là giáo viên và cán bộ quản lí
9.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm để đánh giá chất lượng
Dựa trên các số liệu thống kê được về chất lượng học lực của học sinh qua các năm học gần đây; về thực trạng quản lí hoạt động giảng dạy môn nghề của cán bộ quản lí qua các nguồn số liệu, nhằm đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp quản lí hoạt động dạy nghề và tư vấn hướng nghiệp tại đơn vị
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 Chương như sau:
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÍ HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y
NGHỀ VÀ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ
Chương 2: THỰC TRẠNG HOA ̣T ĐỘNG DA ̣Y NGHỀ VÀ TƯ VẤN
HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM KTTH - HN QUẬN PHÚ NHUẬN
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ
VÀ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM KTTH - HN QUẬN PHÚ NHUẬN
Trang 17CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Những quan điểm về hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông
1.1.1 Ở nước ngoài
1.1.1.1 Giáo dục trung học cơ sở
Giáo dục trung học (tiếng Anh: secondary education) là giai đoạn giáo dục diễn ra trong các trường trung học, theo sau giáo dục tiểu học Ở hầu hết các quốc gia, giáo dục trung học thuộc giai đoạn giáo dục bắt buộc, trong khi ở một
số quốc gia khác thì chỉ có giáo dục tiểu học hay giáo dục cơ bản mới mang tính chất bắt buộc
Theo Phạm Tất Dong (1996), vào giữa thế kỉ 19 ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp Ngay khi đó, người ta đã nhận thấy tính đa dạng, phức tạp của hệ thống nghề nghiệp, tính chuyên môn hoá vượt lên hẳn so với giai đoạn sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi Đến năm 1975, nước Pháp tiến hành cải cách giáo dục nhằm vào hướng: tăng cường giáo dục tự nhiên
và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kĩ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trường học và đời sống, đồng thời vẫn giữa vững ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn, giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỷ trọng các kiến thức có ý nghĩa thực dụng và ý nghĩa hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị đi vào đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp
1.1.1.2 Lao động nghề nghiệp
Theo truyền thống, hệ thống trường phổ thông của Đức quán triệt quan điểm nguyên tắc hướng nghiệp, để chuẩn bị cho học sinh đi vào trường đào tạo nghề tuỳ theo trình độ học tập của mỗi em (OECD, 2007) Trẻ được phân loại ngay từ bậc Tiểu học, sau lớp 5, căn cứ vào thành tích học tập của từng em, trường phân loại học sinh thành hai loại: Loại học hết lớp 10 rồi đi học công nhân lành nghề tại các trung tâm
Trang 18dạy nghề và loại học hết trung học (lớp 12) Đến đây lại phân loại lần nữa, chỉ cho những học sinh học khá lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần và vào học các trường đại học, số còn lại sẽ vào học các cơ sở đào tạo nghề Trung cấp Sự phân loại sơ bộ được tiến hành từ khi học hết tiểu học, nhưng sẽ phúc tra đưa ra quyết định chính xác vào sau lớp 9 Tới lớp 10, ngay từ học kì 1, giáo viên chủ nhiệm liên hệ với nhiều cơ
sở hướng nghiệp, những trường dạy nghề của các công ty tư nhân và nhà nước để đưa học sinh đến tìm hiểu nghề nghiệp mình muốn học Những học sinh có nhu cầu hay năng lực học lên đại học buộc phải học lực khá, và từ khi lớp 11 được vào học tại trường phổ thông hệ học lên đại học Xu hướng hiện đại hoá ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh
1.1.1.3 Tư vấn hướng nghiệp
Hệ thống giáo dục đào tạo và dạy nghề của Úc, gọi tắt là VET (Vocational Education and Training) thường được gọi là hệ thống giáo dục dạy nghề và chuyên nghiệp (Technical and Vocational Education - TVE) Ðây là hệ thống đào tạo mang
tính thực tiễn và hướng nghiệp cao, bao gồm các khóa học về quản trị kinh doanh, tiếp thị, du lịch… Các trường trung học phổ thông cũng có các lớp dạy nghề Trọng tâm của VET là hướng nghiệp cho học viên sau khi học xong khóa học có thể trực tiếp áp dụng những điều họ học vào thực tiễn (Future Unlimited, 2015)
Vấn đề TVHN và lập nghiệp ở các trường học Úc không chỉ dạy lý thuyết đơn thuần, mà còn cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có
sự bình đẳng trong tất cả các học sinh, làm cho học sinh vừa có kĩ năng lao động, vừa có tri thức Việc giáo dục này giúp cho học sinh biết tự đưa ra được những quyết định về việc lựa chọn có tính hướng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trường và tham gia có hiệu quả vào đời sống lao động
1.1.1.4 Bồi dưỡng kỹ năng nghề cho học sinh
Magumi Nishino ở Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông.Theo tác giả, học sinh trung học phải được: “Bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối
Trang 19với lao động và có khả năng lựa chọn nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân” (Magami Nishino, 1995) Dù từ lâu, giáo dục Nhật Bản đã chú ý đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kĩ thuật nhằm cung cấp tri thức, rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh phổ thông Chính
vì vậy, ở Nhật, trong vòng 30 năm từ 1952 - 1982 nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước Trong đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng
để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và trung học cơ sở
1.1.1.5 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (viết tắt UNESCO)
Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại", đó là 4 trụ cột mà Uỷ ban
đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục (Jacques Dolors, 1986) Theo tác giả vấn đề TVHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức
Nhìn chung những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học, lao động chuẩn bị nghề nghiệp ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất- kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới hoạt động TVHN và dạy nghề phổ thông Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó còn chưa chú ý tới cách tổ chức, quản lý hoạt động TVHN và dạy nghề phổ thông
1.1.2 Ở trong nước
Trường trung học là cơ sở giáo dục của bậc trung học nối tiếp bậc học tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học được chia thành: (1) Trường trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9; (2) Trường trung học phổ thông từ lớp 10 đến lớp 12 Ngoài trường tiểu học, trung học
cơ sở và trường trung học phổ thông, ở Việt Nam hiện nay còn có hai loại trường
Trang 20phổ thông khác là: (1) Trường phổ thông cơ sở là trường ghép giữa tiểu học và trung học cơ sở từ lớp 1 đến lớp 9; (2) Trường trung học là trường ghép giữa trung học cơ sở và trung học phổ thông từ lớp 6 đến lớp 12 (Mạng giáo dục, 2015)
Trung học cơ sở là một bậc trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam và hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay còn được gọi là cấp II, trên Tiểu học và dưới Trung học phổ thông Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) hay
3 năm (từ lớp 7 đến lớp 9) Thông thường, độ tuổi học sinh ở trường Trung học cơ
sở là từ 11 (hoặc 12) tuổi đến 15 tuổi Trước đây, để tốt nghiệp Trung học cơ sở, học sinh phải vượt qua một kì thi tốt nghiệp vào cuối lớp 9 nhưng kể từ năm học
2005 - 2006 thì kì thi đã chính thức bị bãi bỏ
Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh củng cố, phát triển những kết quả của giáo dục Tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học Trung học phổ thông, trung cấp học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Công tác đào tạo hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm từ rất sớm
1.1.2.1 Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Ở nước ta, trước hết phải kể đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, rất coi trọng và vận dụng sáng tạo quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp người lao động mới Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm chỉ ra: “Nhà trường
xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; Lí luận đi với thực hành; Cần
cù đi với tiết kiệm” (Hồ Chí Minh, 1962)
1.1.2.2 Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết TW2 (Trung Ương 2) khoá VIII đã đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Tới Đại hội XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên
cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ THCS
Trang 211.1.2.3 Luật pháp về giáo dục
Vấn đề này được xác định trong Luật giáo dục năm 2005, điều 27 đã nêu rõ:
“Giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân
để lựa chọn những hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Điều 6 Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 xác định rõ: “Nhà nước có chính sách phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ
sở, trung học phổ thông vào giáo dục nghề nghiệp phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội”
1.1.2.4 Một số các nghiên cứu khoa học về hướng nghiệp dạy nghề
Trong những năm gần đây các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh
tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy NPT và hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau
- Trong công trình khoa học của mình, GS TS Phạm Tất Dong đã điều tra:
“Trong những người không kiếm ra việc làm có đến 85% là thanh niên Trong tổng
số thanh niên đứng ngoài việc làm thì 67,4% là không biết nghề” (Phạm Tất Dong, 1992) Trên cơ sở đó, tác giả đã xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”
- Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả Hoàng Đức Nhuận (1995) làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội” Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác TVHN và dạy nghề phổ thông được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
Trang 22Sơ đồ 1 1: Sự giao thoa giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp (Nguồn: Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ
thông, Hoàng Đức Nhuận, 1995)
- Công trình nghiên cứu của GS TSKH Nguyễn Văn Hộ đề cập vấn đề:
“Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” (Nguyễn Văn Hộ, 1984) Trong đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp
và dạy NPT trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất hướng nghiệp - dạy nghề, các lực lượng khác tham gia vào công tác TVHN và dạy NPT cho học sinh phổ thông
- Theo nghiên cứu xu hướng chọn nghề nghiệp của học sinh cuối cấp trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (Huỳnh Văn Sơn, 2011), đối với bậc THCS, khoảng 68% học sinh xác định sẽ tiếp tục học để thi vào các trường cao đẳng - đại học hoặc trung học chuyên nghiệp Ngoài ra, 51,4% học sinh cho rằng, việc hướng nghiệp cho học sinh nên thực hiện ở giai đoạn cuối cấp THCS là rất cần thiết và đáng được quan tâm Với 51,4% học sinh cho rằng, việc hướng nghiệp cho học sinh nên thực hiện ở giai đoạn cuối cấp THCS cũng như 17% học sinh đồng ý với việc nên bắt đầu hoạt động hướng nghiệp vào những năm đầu cấp THCS có thể khẳng định: hoạt động hướng nghiệp đưa vào trường trung học càng sớm càng tốt
Đó là điều mà học sinh đang mong mỏi
Các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau ở trong nước và ngoài nước, những quan điểm, những Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng của Thủ tướng Chính phủ, cũng như Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo rất có giá trị về phương
Trang 23pháp luận và lý luận đối với việc thực hiện luận án này Các nội dung này đề cập tới các vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ sở vật chất - kĩ thuật
… phục vụ cho hoạt động dạy NPT và TVHN cho học sinh phổ thông Trong khi
đó, việc tổ chức, quản lý hoạt động TVHN và DNPT cho học sinh phổ thông trung học cơ sở nói chung và trong các TT KTTH HN còn nhiều vấn đề cần phải được giải quyết, đây là chủ đề chính được đề cập tới trong luận án này
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1 Hướng nghiệp
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp
độ địa phương và quốc gia (Hướng Nghiệp Việt, 2015)
Lâu nay chúng ta vẫn tưởng rằng hướng nghiệp chỉ là sự lựa chọn một nghề nghiệp mà mình yêu thích, chọn một trường đại học phù hợp với mình, tuy nhiên đây chỉ là phần ngọn của một quá trình, một hoạt động trong số rất nhiều các hoạt động của hướng nghiệp Thuật ngữ hướng nghiệp (career mentoring) nếu được hiểu chính xác nó là sự kết hợp của nhiều lĩnh vực như: đánh giá nghề nghiệp (career assessment), quản lý nghề nghiệp (career management), phát triển nghề nghiệp (career development)
Trong đó lựa chọn nghề nghiệp chỉ là một giai đoạn đầu trong tiến trình hướng nghiệp của mỗi người Hướng nghiệp là một quá trình liên tục tác động từ khi người học còn ngồi học ở bậc phổ thông, qua quá trình trao dồi chuyên môn nghề nghiệp và tìm được nơi lao động phù hợp
TVHN ở nước ta đã được tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ
đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác HN, nhất là HN cho học sinh PT (Bùi Việt Phú, 2011) Tiếp theo đó, Trong văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
Trang 24Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông là giúp HS “có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có khả năng phát huy năng lực cá nhân hoặc để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” Với tầm quan trọng như vậy, tháng 10 năm 2005, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành văn bản số 9971/BGD&ĐT-HSSV nhấn mạnh nội dung tư vấn hướng vào “hướng nghiệp, chọn nghề và thông tin tuyển sinh” Chiến lược Phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020
đề ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó chú trọng đến việc phát triển đội ngũ giáo viên làm công tác TVHN: “Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện… giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp…” (Hoàng Gia Trang, 2014)
Công tác hướng nghiệp sớm cho học sinh THCS là cần thiết Hiện nay Ngay
từ học kỳ II lớp 8, mỗi tháng học sinh được học 2 tiết hướng nghiệp để định hướng sau khi tốt nghiệp THCS Năm 2006, Chương trình tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông được ban hành, bắt đầu từ lớp 9 với 27 tiết trên năm học, tức cứ 1 tháng, học sinh được học 3 tiết Đến năm 2008, thời lượng cắt xuống còn 1 tiết 1 tháng, bù lại tích hợp vào các môn học khác có liên quan
Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức
mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người
Ở một khía cạnh khác:
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con
người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Trang 25Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng
năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội
Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000
Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp” Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng - đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau
Những yêu cầu của chuyên viên tư vấn: am tường sâu lĩnh vực chuyên môn,
có khả năng góp ý, trả lời những câu hỏi được hỏi đến bằng nghệ thuật diễn đạt dễ hiểu, điều quan trọng là hiểu được tâm lý người được tư vấn mang hướng tích cực (Việc Làm Việt Nam, 2013)
b Tư vấn nghề nghiệp:
Tư vấn nghề nghiệp là hoạt động giúp đỡ người lao động tham gia làm việc trong điều kiện phù hợp yêu cầu khả năng của họ Quá trình bao gồm từ lúc người lao động chọn nghề, giới thiệu việc làm chuẩn bị thích ứng với môi trường làm việc,
Trang 26thay đổi việc làm cho đến khi về hưu
Tư vấn nghề nghiệp tuy là hoạt động góp ý chọn nghề giới thiệu việc làm, sau đó tùy quyến quyết định của người được tư vấn Nhưng nhân viên tư vấn luôn mang một tinh thần trách nhiệm cao sẳn sàng tham gia đàm phán góp ý giải quyết đến nơi đến chốn để bảo vệ những điều mà mình đã tư vấn cho người lao động (Việc Làm Việt Nam, 2013)
c Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh:
Tư vấn nghề là một hệ thống những biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực
đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn
trong khi chọn nghề (Phan Thị Tố Oanh, 2008)
1.2.3.2 Vị trí của tư vấn nghề trong việc chọn nghề tương lai của học sinh
Trong quyết định 126 CP ngày 19 tháng 3 năm 1981của Hội đồng Chính phủ: Công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông gồm các nhiệm vụ sau:
+ Giáo dục thái độ lao động đúng đắn
+ Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề
+ Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
Như vậy, tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học có 3 nhiệm vụ cơ bản Định hướng nghề nghiệp cho học sinh Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh Tạo điều kiện cho tuyển chọn nghề nghiệp Ba nhiệm vụ và các mối quan hệ giữa các nhiệm
vụ này được thể hiện qua sơ đồ ba khâu liên hoàn của công tác hướng nghiệp như sau (xem Sơ đồ 1.2):
Trang 27Sơ đồ 1 2: Tam giác hướng nghiệp của K.K Platonov
(Nguồn: Phan Thị Tố Oanh, 2008)
Tư vấn chọn nghề cho học sinh phổ thông có hai loại: tư vấn sơ bộ và tư vấn chuyên sâu (VVOB, 2013)
Tư vấn sơ bộ: Loại này đơn giản có thể thực hiện ở nhiều trường vì không
đòi hỏi phải có thiết bị, các phương tiện kĩ thuật Chuẩn đoán những phẩm chất, nhân cách của học sinh cũng không cần đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn
có tay nghề cao, am hiểu sâu sắc các lĩnh vực tâm - sinh lý, giáo dục học, y học, kinh tế học Ở đây có thể là giáo viên chủ nhiệm hoặc bộ môn hay tổ chức đoàn thanh niên có thể đóng vai trò nhà tư vấn Để đạt hiệu quả tư vấn, yêu cầu các nhà
tư vấn cần có những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trường hoặc ở địa phương, về nhu cầu nhân lực, về năng lực của học sinh, từ đó cho học sinh lời khuyên nên học nghề gì và ở đâu Hoặc là qua những điều giảng dạy của thầy để học sinh tự trả lời được 3 câu hỏi: Em có muốn học nghề đó không? Em có khả năng làm nghề đó không? Và xã hội, địa phương có cần nghề đó không?
Tư vấn chuyên sâu: Loại này phức tạp vì việc tư vấn được tiến hành trên cơ
sở khoa học thực sự, đảm bảo độ chính xác cao nhờ một số máy móc hiện đại (ví dụ máy đo độ chính xác của các cử động, sự khéo léo vận động của tay, đo cảm giác, thị giác ), trắc nghiệm thần kinh khí chất và các chỉ số thông minh, định hướng nghề, tuyển chọn nghề, tư vấn nghề khác, hiện nay có phần mềm hỗ trợ tư vấn của
Trang 28Trung tâm hướng nghiệp Nghệ An đã được Bộ nghiệm thu và đưa vào sử dụng
Như vậy, mục đích của tư vấn nghề là giúp thanh thiếu niên, học sinh tìm hiểu bản thân, “phát hiện” ra mình, tạo điều kiện cho họ phát huy cao độ các sở trường đích thực của mình trong thời gian học lao động kĩ thuật, học nghề tại các Trung tâm KTTH - HN, cũng như trong bước đường hoạt động nghề nghiệp tương lai
Định hướng nghề: Định hướng nghề là một khái niệm bao gồm hai yếu tố liên kết với nhau chặt chẽ: Yếu tố thứ nhất chỉ trạng thái động của khái niệm đó là việc xác định cho mình một hướng đi, hướng phấn đấu, hướng rèn luyện, yếu tố thứ hai chỉ sự cần thiết phải thực hiện hoạt động của bản thân theo hướng đã được xác định (Hà Thế Truyền, 1996)
Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, các lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõ định hướng nghề của học sinh với các yếu tố tạo thành như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và quyết định nghề
Tuyển chọn nghề: Tuyển chọn nghề chính là quá trình đánh giá sự phù hợp ban đầu về phẩm chất, nhân cách, năng lực của cá nhân đối với những yêu cầu do nghề đặt ra Trong công tác này, phẩm chất, năng lực, trình độ nhận thức, kĩ năng lao động của học sinh trở thành đối tượng xem xét của quá trình tuyển chọn nghề Tuyển chọn nghề và thích ứng nghề được tiến hành thông qua quá trình người lao động tham gia vào làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy Thông qua đó, người lao động có thể tự quyết định nghề tương lai của mình (Hà Thế Truyền, 1996)
1.2.4 Dạy nghề
1.2.4.1 Dạy nghề phổ thông
Để thực hiện được các nhiệm vụ TVHN, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các địa phương đưa “những nghề phổ biến, thông dụng đang cần phát triển ở địa phương; những nghề có kĩ thuật tương đối đơn giản, quá trình dạy nghề không đòi hỏi phải
có trang thiết bị phức tạp; nguyên liệu dùng cho dạy nghề dễ kiếm, phù hợp với điều kiện kinh tế, khả năng đầu tư của địa phương, nhà trường, thời gian học nghề ngắn” 1 vào dạy cho HS phổ thông cuối cấp THCS, THPT Những nghề này được gọi chung là NGHỀ PHỔ THÔNG Theo chương trình giáo dục phổ thông do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2006, NPT được gọi là HĐGDNPT
Trang 29Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Dạy nghề cho học sinh phổ thông với tư cách là dạy tri thức, kĩ năng lao động, hướng nghiệp là chính” (Trần Hồng Quân, 1993) Nhiệm vụ dạy nghề của giáo dục phổ thông là: “Giúp học sinh có được năng lực tìm được việc làm, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị trường, đó là những con người có tri thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ sáng tạo và có kỉ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội” (Nguyễn Sinh Huy, 1995)
Xuất phát từ những điều phân tích trên, chúng tôi quan niệm rằng NPT là một môn học nằm trong kế hoạch dạy học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề cho học sinh bậc trung học cơ sở Thông qua tổ chức hoạt động dạy NPT nhằm không chỉ cung cấp cho học sinh những tri thức, kĩ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kĩ thuật mà còn giáo dục học sinh thái độ, tác phong lao động nghề nghiệp thích ứng những yêu cầu của nền kinh tế - xã hội, đồng thời tạo điều kiện để dịch chuyển lao động nghề nghiệp phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm
1.2.4.2 Dạy nghề xã hội
Dạy nghề xã hội được tổ chức dạy ở các Trung tâm dạy nghề, các trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề nhằm đạo tạo những người lao động có kiến thức,
kĩ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp,
có ý thức tổ chức kỉ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm và hành nghề kiếm sống, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Nghề xã hội đòi hỏi trình độ kĩ thuật cao, quá trình dạy học cần đến những trang thiết bị hiện đại, thời gian đào tạo dài, có chương trình dạy nghề ngắn hạn 3 đến 6 tháng, có chương trình dạy nghề đài hạn từ 1 đến 3 năm, học sinh tốt nghiệp được cấp bằng nghề (bậc thợ 3/7)
Khái niệm NPT của gíáo dục phổ thông khác với khái niệm nghề được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp - dạy nghề Giữa NPT và nghề được đào tạo có mối quan hệ hữu cơ và hỗ trợ nhau trong giáo dục - đào tạo Mối quan hệ đó được thể hiện qua Sơ đồ 1.3 như sau:
Trang 30Sơ đồ 1 3: Mối quan hệ của giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục
(Nguồn: Luật giáo dục nghề nghiệp 2014)
Nghề được đào tạo có nhiệm vụ cung cấp cho người học hệ thống các tri thức về văn hoá - xã hội nói chung, khoa học - công nghệ nói riêng và hình thành các kĩ năng lao động chung và chuyên biệt cơ bản, nhằm hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất nghề nghiệp tương ứng với một dạng lao động nghề nghiệp nhất định
Như vậy nghề được đào tạo khác NPT ở chỗ, đòi hỏi người học nghề sau khi được đào tạo nghề phải có trình độ nghề nghiệp nhất định (tay nghề - bậc nghề) để
có thể hành nghề và gắn bó lâu dài với hoạt động đó như là một phương thức sinh sống trong xã hội, còn nghề phổ thông, sau khi học xong chương trình quy định, học sinh nắm vững được những kiến thức cơ bản về một lĩnh vực nghề nào đó, thông qua đó rèn luyện kĩ năng, giáo dục ý thức lao động, định hướng giúp cho học sinh chọn nghề có cơ sở khoa học
1.2.5 Khái niệm quản lý hoạt động TVHN và DNPT
1.2.5.1 Lý luận quản lý
1.2.5.1.1 Quản lý và các chức năng cơ bản trong quản lý
Quản lý: là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc
Trang 31của các thành viên thuộc một hệ thống /đơn vi ̣ và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã đi ̣nh
Các chức năng cơ bản của quản lý: Theo Trần Khánh Đức (2010), quản lý có
04 chức năng cơ bản là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức thực hiện; Chỉ đạo/lãnh đạo; Kiểm tra/đánh giá Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý được thể hiện qua sơ đồ 1.4
Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý
(Nguồn: Trần Khánh Đức 2010) 1.2.5.1.2 Phát triển và qua ̉n lý phát triển
Phát triển: là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, cái hoàn thiện, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai
Quản lý phát triển nhà trường: là tất cả các tác động vào các thành tố của mạng lưới nhà trường và hoạt động dạy nhà trường nhằm phát triển quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng nhu cầu của xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
1.2.5.1.3 Quản lý theo mục tiêu (Management By Objectives - MBO)
MBO là một phương pháp quản tri ̣, trong đó mỗi cá nhân /bộ phận luôn đề ra mục tiêu phấn đấu cho cá nhân /bộ phận mình và cam kết thực hiện các mục tiêu đã
đề ra MBO giúp cho vai trò và cơ cấu tổ chức của nhà trường được phân đi ̣nh rõ , khuyến khích mọi người đi ̣nh hướng được công việc và theo đuổi mục tiêu đến cùng MBO cũng giúp cho vai trò kiểm tra, theo dõi công việc đạt hiệu quả
1.2.5.1.4 Quản lý dựa vào nhà trường (School Based Management - SBM)
SBM là một mô hình phân cấp, phân quyền quản lý giáo dục , trong đó nhà trường được thực hiện quyền tự chủ , tự chi ̣u trách nhiệm về những công việc của
Trang 32chính mình với sự tham gia và phát huy trí tuệ của toàn bộ đội ngũ cán bộ giáo viên, phụ huynh, học sinh, cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục và công bằng xã hội
1.2.5.1.5 Phân cấp qua ̉n lý và các cấp độ quản lý phát triển nhà trường
Phân cấp quản lý trong quản lý phát triển nhà trường là sự phân đi ̣nh thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp quản lý trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp quản
lý nhằm tăng cường chất lượng , hiệu lực và hiệu quả hoạt động quản lý Mục tiêu phân cấp quản lý nhằm tạo tính sáng tạo , độc lập , tự chủ , tính chi ̣u trách nhiệm; khai phóng cho nhà trường trong các chính sách đào tạo, nghiên cứu khoa học, tuyển và sử dụng người, tạo nguồn thu, chi tài chính, giao lưu hợp tác quốc tế theo chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước
1.2.5.2 Lý luận quản lý giáo dục nói chung
Giáo dục phổ thông NPT Giáo dục trung học chuyên nghiệp - dạy nghề Nghề được đào tạo Giáo dục đào tạo Chuẩn bị một thế hệ lao động mới có trình độ cao Phân luồng Trường phổ thông Trung tâm KTTH - HN Nghề nghiệp Hướng nghiệp Trong các nước XHCN (xã hội chủ nghĩa) thì lý luận quản lý giáo dục được bắt nguồn từ quản lý xã hội Trong cuốn sách nổi tiếng “Con người trong quản lý xã hội” của Viện sĩ Liên Xô (cũ) Afanaxép thì ông đã phân chia xã hội thành 3 lĩnh vực: “Chính trị - xã hội; văn hoá - tư tưởng và kinh tế” và từ đó có 3 loại quản lý:
“Quản lý chính trị - xã hội, quản lý văn hoá - tư tưởng và quản lý kinh tế, quản lý giáo dục nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá - tư tưởng” (Afanaxep, 1979)
Ở nước ta vào cuối thập kỉ 70 của thế kỉ trước, với sự phát triển giáo dục mạnh mẽ sau khi miền nam được hoàn toàn giải phóng, nhất là từ khi có trường cán
bộ quản lý giáo dục TW và các trường cán bộ quản lý giáo dục ở các tỉnh ra đời, thì việc nghiên cứu lý luận quản lý giáo dục phát triển mạnh mẽ Vào cuối thập kỉ 80 nhiều sách, tài liệu chuyên khảo về quản lý giáo dục đã ra đời từ một số trung tâm nghiên cứu như: Viên khoa học giáo dục Việt Nam, khoa Tâm lý - giáo dục của trường Đại học sư phạm Hà Nội I, các trường cán bộ quản lý TW (nay là Học viện quản lý cán bộ), cục đào tạo và bồi dưỡng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Để có thể đưa ra được khái niệm quản lý giáo dục, trước hết cần tìm hiểu
Trang 33quan niệm về quản lý giáo dục của các tác giả Liên Xô (cũ)
Theo Khuđôminski, trong cuốn “Quản lý giáo dục ở địa bàn huyện (quận)”
đã viết: “Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ sở giáo dục khác ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên” (Kon Da Cop, 1984)
Còn trong cuốn sách “Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” thì M.j.Kondakov, đã từng là chủ tịch Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô (cũ) đã viết: “ Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý lên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu xã hội - kinh
tế và tổ chức - sư phạm của quá trình dạy - học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” (Kon Da Cop, 1984)
Qua hai định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra những ý chính sau:
- Quản lý là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cở giáo dục (hệ thống giáo dục)
- Quản lý giáo dục được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục, đó có thể là một trường học, một trung tâm KTTH - HN, một tập hợp các cơ sở giáo dục phân bố trên một địa bàn dân cư
- Và muốn quản lý một cách khoa học (hoặc tối ưu) thì chủ thể quản lý phải nắm được các quy luật khách quan đang chi phối vận hành của đối tượng quản lý
Trong phần trên chúng ta đã đề cập đến các tác động của hoạt động quản lý,
đó là các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm thực hiện một mục đích đã định Nếu sắp xếp các tác động quản lý này thành từng nhóm, mỗi nhóm tương ứng với một giai đoạn nào đó trong quá trình quản lý và tương ứng với một nội dung công việc xác định, thì chúng ta đã hình thành chức năng quản lý
Trang 34Ngày nay đa số các nhà nghiên cứu khoa học quản lý gần như thống nhất nêu ra 4 chức năng cơ bản sau: Chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2013)
Thực tiễn trong quá trình quản lý, người quản lý thường ghép chức năng tổ chức và chức năng chỉ đạo thành một chức năng đó là chức năng tổ chức chỉ đạo
1.2.5.3 Quản lý hoạt động TVHN và DNPT
Hoạt động TVHN và DNPT được thực hiện trong các trường phổ thông và trong các trung tâm KTTH - HN, nằm trong chương trình giáo dục phổ thông, nên việc quản lý hoạt động TVHN và DNPT cũng tuân theo 4 chức năng quản lý cơ bản, đó là: Xây dựng kế hoạch hoạt động TVHN - DNPT, Tổ chức hoạt động TVHN - DNPT, Chỉ đạo hoạt động TVHN - DNPT và kiểm tra đánh giá hoạt động TVHN - DNPT
Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành tố như: mục đích và nhiệm vụ dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, kết quả dạy học… Quá trình này diễn ra và tác động qua lại với môi trường kinh tế - xã hội, môi trường khoa học - công nghệ, môi trường quốc tế hoá… Có thể khái quát cấu trúc của QTDH ở TT KTTT HN DN gồm các thành tố
cơ bản sau:
- Mục đích giáo dục và nhiệm vụ dạy học nghề: phản ánh một cách tập trung nhấtnhững yêu cầu của xã hội (được thể hiện ở những yêu cầu của từng ngành nghề) đối với quá trình dạy học
- Nội dung dạy học ở trường THCN-DN: bao gồm hệ thống những tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến một ngành nghề cụ thể mà người học cần phải nắm vững trong quá trình dạy học Nội dung dạy học là một nhân tố cơ bản của quá trình dạy học ở trường THCN-DH Nội dung dạy học bị chi phối bởi mục đích và nhiệm
vụ dạy học, đồng thời nó lại quy định việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện dạy học
- Phương pháp và phương tiện dạy học: là hệ thống những cách thức, phương tiệnhoạt động phối hợp của người dạy và người học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
- GV với hoạt động dạy và HS với hoạt động học: Trong quá trình dạy học,
Trang 35giáo viênvới hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động học tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất lượng những yêu cầu đã được quy định bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học Trong quá trình dạy học, người học vừa là khách thể (của quá trình dạy), vừa là chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của hoạt động học Thầy và trò cũng như hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ mối quan hệ này ở các phần tiếp theo
- Các môi trường có ảnh hưởng đến QTDH: Quá trình dạy học với tư cách là một hệthống tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế - xã hội, môi trường khoa học - công nghệ và những xu thế của thời đại Nếu các thành tố: mục đích - nhiệm
vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, giáo viên - học sinh, kết quả… là các thành tố bên trong quá trình dạy học thì thành tố môi trường được xem là thành tố bên ngoài của QTDH Các môi trường này không chỉ tác động đến hoạt động dạy học nói chúng mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thành tố cấu trúc bên trong QTDH Ngược lại, QTDH phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự vận động đi lên của các môi trường bên ngoài Sơ đồ 1.4 dưới đây mô hình hóa các thành tố của QTDH:
Sơ đồ 1 5: Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy và học
(Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn, 2009)
Mối quan hệ giữa QTDH với các môi trường bên ngoài là mối quan hệ biện chứng Mối quan hệ này phản ánh vai trò của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp
và sâu sắc của nền kinh tế thị trường tới từng nhân tố của quá trình giáo dục, tới chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo Và ngược lại, sản phẩm giáo dục - những người có tri thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức
Trang 36và thái độ đúng đắn… sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nền kinh tế -
xã hội… Với ý nghĩa đó, giáo dục có vai trò là động lực, là điều kiện cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã xác định:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội…
- Giáo dục và đào tạo phải đi trước sự phát triển kinh tế - xã hội…
- Biện pháp tổng quát là phải coi đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư phát triển…
- Phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng trong giáo dục
- Giáo dục và đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát triển của đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại…
1.2.5.4 Vai trò của quản lý hoạt động TVHN và DNPT
Việc xem “Quá trình dạy học là một hệ thống” còn đem đến cho ta nhiều lý tưởng mới mẻ và sâu sắc Theo lý thuyết hệ thống thì “Hệ thống là các phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, có sự tác động chi phối đến nhau theo các quy luật nào đó để trở thành một chỉnh thể, nhờ đó nó sẽ xuất hiện những thuộc tính mới gọi
là Tính trồi của hệ thống mà từng phần tử riêng lẻ không có, hoặc có nhưng không đáng kể” (Nguyễn Văn Toàn, 2002)
Ta có thể nhận thấy “Tính trồi” của quá trình dạy học nó thể hiện ở kết quả của giáo dục - đào tạo, do vậy ta có thể đặt câu hỏi: “Tính trồi” của của quá trình dạy học do đâu mà có? Tất nhiên không phải tự nhiên sinh ra, mà theo như định nghĩa trên, nó do các mối quan hệ giữa các phân tử của hệ thống, do sự tác động lẫn nhau của các phân tử mà có được Vậy một lần nữa ta lại thấy vai trò của các tác động quản lý vào “Quá trình dạy học” là một quá trình nhân tạo, một quá trình
xã hội
Cái ý nghĩa triết học sâu xa mà lý thuyết hệ thống đem lại có thể gói gọn trong bất đẳng thức: 1 + 1 > 2, nghĩa là “chỉnh thể lớn hơn tổng các bộ phận” Điều này có nghĩa là: 1 + 1 = 2 (nếu chưa có hệ thống), nhưng lại trở thành 1 + 1 > 2 khi kết lại thành hệ thống
1.2.6 Đặc điểm của quản lý hoạt động TVHN và DNPT tại các trung tâm KTTH-HN
Trang 371.2.6.1 Đặc điểm
- Đó là quản lý hoạt động của người học, thông qua hoạt động này người học nắm được những thông tin về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, nhu cầu nguồn nhân lực, tình hình phát triển kinh tế của địa phương và đất nước, thông qua hoạt động đó người học được rèn luyện kĩ năng nghề và được tư vấn giúp cho việc chọn nghề nghiệp sau này
- Quản lý hoạt động nối tiếp các hoạt động trên lớp, được tổ chức ngoài các buổi học chính khoá theo quy định mỗi tuần 3 tiết học NPT và tháng 3 tiết đối với hoạt động TVHN
- Quản lý hoạt động đa mục tiêu, nội dung phong phú vì số nghề luôn thay đổi theo nhu cầu người học và hoạt động TVHN theo các chủ đề từng tháng Phương pháp giảng dạy phong phú đa dạng (tập trung vào toạ đàm và giao lưu kết hợp tham quan ), hình thức tổ chức không gò bó (có thể tổ chức theo khối, lớp, nhóm )
1.2.6.2 Chức năng - nhiệm vụ
a Chức năng
- Xây dựng kế hoạch cho hoạt động TVHN và DNPT được xác định trên cơ
sở nhiệm vụ TVHN và DNPT của đơn vị; căn cứ vào những Chỉ thị, các văn bản hướng dẫn đầu năm của Bộ, của Trung tâm lao động Bộ và của Sở giáo dục - đào tạo; căn cứ vào những kết quả đã đạt được trong năm học trước, và căn cứ vào tình hình thực tế của đơn vị
- Tổ chức thực hiện hoạt động TVHN và DNPT được giao cho một bộ phận chức năng của Trung tâm, thông thường là giao cho phó giám đốc phụ trách; thông qua các môn nghề học tại Trung tâm; thông qua các giờ tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp
- Chỉ đạo việc tổ chức hoạt động TVHN và DNPT được tiến hành theo lớp học nghề (tối đa 30 học sinh/lớp), chỉ đạo thực hiện theo đúng chương trình của Bộ giáo dục - đào tạo
- Kiểm tra đánh giá kết quả được tiến hành thường xuyên, đánh giá kết quả cuối năm và cả khoá học thông qua thi tốt nghiệp nghề và việc nhận biết thông tin nghề nghiệp thông qua hoạt động TVHN
b Nhiệm vụ
- Cung cấp cho học sinh phổ thông những tri thức, kiến thức, kĩ năng kĩ thuật
Trang 38tổng hợp và kĩ năng cơ bản trong lao động nghề nghiệp, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng tri thức trong hoạt động nghề nghiệp tương lai, qua đó củng cố, mở rộng
và khắc sâu tri thức, hình thành thói quen kết hợp lao động trí óc và lao động chân tay, thói quen lao động và tư duy ngay trong quá trình học tập ở nhà trường
- Hình thành kĩ năng và thói quen thực hiện một số nhiệm vụ sản xuất cụ thể (một số công đoạn trong lao động nghề nghiệp) thuộc những nghề cơ bản, phổ biến trong sản xuất và trong sinh hoạt Đó là những cơ sở ban đầu để hình thành kĩ năng lao động của một nghề cụ thể liên quan đến các ngành, nghề đang phát triển ở địa phương; phát triển tính độc lập, sáng tạo, nhạy bén trong lao động và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tiếp tục học tại các trường chuyên nghiệp
- Định hướng chú ý của học sinh vào học những ngành, nghề mà Nhà nước
và địa phương đang cần phát triển, tìm hiểu thị trường lao động có nhu cầu nhân lực, giúp học sinh có thêm kiến thức để lựa chọn nghề tương lai
- Bồi dưỡng học sinh ý thức, thái độ và niềm tin đối với lao động; đạo đức nghề nghiệp và phẩm chất của người lao động Đồng thời chống những biểu hiện tiêu cực, dối trá trong lao động, thiếu lương tâm nghề nghiệp
1.2.6.3 So sánh hoạt động TVHN tại các trung tâm với dạy các môn văn hoá
ở các trường THPT
Hoạt động TVHN và DNPT tại các trung tâm KTTH - HN không chỉ là một quá trình dạy học lý thuyết NPT, mà còn là quá trình thực hành NPT hay thực tập, tham quan các cơ sở sản xuất kinh doanh, thông qua dạy nghề phổ thông thực hiện chức năng hướng nghiệp nghề cho học sinh, ngoài ra còn tổ chức hoạt động TVHN với các chủ đề theo quy định của Bộ giáo dục
Mục đích của hoạt động TVHN và DNPT không chỉ là giáo dục (cung cấp kiến thức) mà còn nặng về đào tạo kỹ năng Vì nó phải đạt được những “kiến thức
kĩ năng lao động nghề nghiệp” nhất định nào đó và ít ra nó cũng phải “chuẩn bị nghề” cho học sinh, nghĩa là sau này khi ra trường học sinh có thể “hành nghề” được ngay hoặc nếu có học tiếp một nghề thì thời gian học nghề rất nhanh Nói tóm lại học sinh phải có được những kĩ năng lao động nghề nghiệp nhất định
Xét riêng việc tổ chức DNPT tại các trung tâm KTTH - HN thì phải đảm bảo những mặt tri thức, kĩ năng lao động nghề nghiệp, nó là sự cụ thể hoá chương trình
Trang 39thành những chuẩn tri thức kĩ thuật và chuẩn kĩ năng lao động nghề nghiệp Thông qua hoạt động TVHN phải cung cấp cho học sinh nắm được những thông tin về thị trường lao động, thông tin về thế giới nghề nghiệp, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương của đất nước, thông tin về các ngành nghề, nhu cầu nguồn nhân lực , qua đó tạo hứng thú, nhu cầu trong việc tiếp nhận, xử lý và khai thác thông tin, từ đó giúp các em trong việc định hướng và chọn nghề sau này
Phương pháp dạy NPT và hoạt động TVHN là phương pháp giảng dạy lý thuyết, phương pháp hướng dẫn học sinh và luyện các kĩ năng lao động nghề nghiệp, phương pháp hướng dẫn học sinh tìm kiếm và sử lý thông tin, phương pháp giáo dục học sinh ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức bảo vệ của công và an toàn trong lao động công nghiệp So với các môn văn hoá ở trường phổ thông thì các phương pháp trên đều có khía cạnh khác biệt nhiều hay ít, song phương pháp hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng lao động nghề nghiệp là khác biệt hơn cả
Cùng với phương pháp thì hình thức tổ chức, sự kết hợp các hoạt động của giáo viên và học sinh cần phải linh hoạt, sinh động cho phù hợp với nội dung và điều kiện của trung tâm Thường có các hình thức sau đây: Lên lớp, thực hành nghề
và thực hành sản xuất, thăm quan cơ sở sản xuất kinh doanh.Thực hành sản xuất khác thực hành nghề ở chỗ sản phẩm làm ra có thể trở thành hàng hoá, còn thực hành nghề nhằm mục đích chính là rèn luyện tay nghề Thực hành sản xuất chưa hẳn đã giúp học sinh rèn luyện đầy đủ mọi kĩ năng song nó lại có nhiều ý nghĩa quan trọng đó là: gây hứng thú cho việc dạy học nhiều hơn, tiết kiệm hơn, có thể tạo thu nhập cho trung tâm nếu sản phẩm làm ra đảm bảo chất lượng và phù hợp với nhu cầu sử dụng
Giáo viên: Đối với việc tổ chức hoạt động TVHN và dạy NPT, đội ngũ giáo viên phải vừa giỏi lý thuyết vừa giỏi tay nghề, có nhiều kiến thức thực tiễn, nắm bắt được nhiều thông tin về các ngành nghề, là người hiểu được tâm lý lứa tuổi học sinh, là người có khả năng thuyết trình, nói có sức thu hút và thuyết phục học sinh
và là người tâm huyết với nghề Trên thực tế đó là điều mơ ước, vì họ chưa được đào tạo chuẩn, ngoài ra có cả những công nhân với tay nghề cao nhưng hạn chế về năng lực sư phạm
Học sinh từ các trường phổ thông tới học NPT và tham gia các hoạt động
Trang 40TVHN, môi trường học tập thay đổi sẽ tác động đến tâm tư, nguyện vọng, ý thích, nhu cầu của học sinh, điều đó ảnh hưởng đến tâm lý, đó là điều khác biệt so với học các môn văn hoá tại trường phổ thông Người cán bộ quản lý phải đi sâu tìm hiểu học sinh thì mới làm tốt công tác quản lý của mình
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là những điều kiện vật chất - kĩ thuật không thể thiếu được, nếu không có chúng thì không thể dạy và học NPT được Các điều kiện cơ sở vật chất - kĩ thuật này bao gồm đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng
cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy học cần thiết cho giảng dạy, học tập, đặc biệt các thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học, thực tập đến các phương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng chống cháy nổ, dụng cụ thuốc men y tế cho việc cấp cứu Cơ sở vật chất - kĩ thuật quả thật là một “gánh nặng” cho người cán bộ quản lý trung tâm KTTH - HN
Tập thể sư phạm: khác với trường phổ thông, tập thể sư phạm của các trung tâm do tính đặc thù riêng, nên thường có số lượng giáo viên ít hơn nhiều so với các trường phổ thông, số học sinh ở các môn nghề hàng năm có sự biến động Mặt khác trình độ giáo viên không đồng đều, từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tâm tư tình cảm, mà trực tiếp là công việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc sử dụng và điều phối nhân lực của người quản lý Để làm tốt công việc của mình, người quản lý phải am hiểu và nhạy bén với nhiều yếu tố của môi trường bên ngoài như các yếu tố về kinh tế, kĩ thuật - công nghệ, xã hội, chính trị và đạo lý, đó là những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của mình