A. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiTrong các loại giấy tờ tùy thân, Giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Đối với mỗi người sau khi có Giấy khai sinh (giấy tờ hộ tịch gốc) người đó có đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật đối với Nhà nước và xã hội. Tất cả những thông số có liên quan đến cuộc đời cá nhân luôn bắt đầu từ giấy tờ hộ tịch gốc này.Với tầm quan trọng đó, nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót, và đặc biệt sẽ gây ra không ít những phiền hà cho công dân trong việc thống nhất giấy tờ quan trọng khác sau này như: hồ sơ đi học, xin việc làm hay xuất ngoại …Nhận rõ tầm quan trọng của giấy tờ “hộ tịch gốc” đối với công tác quản lý cũng như gắn với quyền lợi chính đáng của mỗi công dân, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong đó có công tác quản lý đăng ký khai sinh như: Nghị định số 1582005NĐCP ngày 27122005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định 1582005NĐCP); Nghị định số 062012NĐCP ngày 02022012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và đặc biệt mới đây nhất là Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 20112014 (có hiệu lực ngày 01012016) thay thế cho Nghị định số 1582005NĐCP ngày 27122005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (hiện vẫn đang còn hiệu lực). Mặc dù tại thời điểm này, Luật Hộ tịch chưa có hiệu lực thi hành và đang áp dụng Nghị định 1582005NĐCP nhưng có thể nói rằng với hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện nên công tác quản lý đăng ký quản lý hộ tịch thời gian qua ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều bất cập từ những quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng cần được tháo gỡ (cụ thể tại xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình mà đề tài xin được đề cập đến).Châu Hóa là một xã miền núi của huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình. Trong thời gian qua đối với xã Châu Hóa về công tác quản lý hộ tịch nhìn chung đã có nhiều cố gắng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý hộ tịch. Vì vậy, quản lý hộ tịch đã dần đi vào nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: Số trẻ em được đăng ký khai sinh đạt tỷ lệ cao, đăng ký kết hôn đúng quy định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý hộ tịch còn có nhiều hạn chế như: Thủ tục quản lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức. Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch.Vì vậy, nghiên cứu về quản lý nhà nước về hộ tịch thực tế của xã Châu Hóa nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý hộ tịch, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế. Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trong đó có công tác quản lý đăng ký khai sinh và góp một phần vào việc tuyên truyền pháp luật để nâng cao hiểu biết cho người dân trên địa bàn xã Châu Hóa. Đây là lý do tôi chọn đề tài “Công tác quản lý đăng ký khai sinh tại xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Thực trạng và giải pháp” để nghiên cứu.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các loại giấy tờ tùy thân, Giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người Đối với mỗi người sau khi có Giấy khai sinh (giấy tờ hộ tịch gốc) người đó có đủ quyền, nghĩa vụ theo pháp luật đối với Nhà nước và xã hội Tất cả những thông số có liên quan đến cuộc đời cá nhân luôn bắt đầu từ giấy tờ hộ tịch gốc này
Với tầm quan trọng đó, nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót, và đặc biệt sẽ gây ra không ít những phiền hà cho công dân trong việc thống nhất giấy tờ quan trọng khác sau này như: hồ sơ đi học, xin việc làm hay xuất ngoại …
Nhận rõ tầm quan trọng của giấy tờ “hộ tịch gốc” đối với công tác quản lý cũng như gắn với quyền lợi chính đáng của mỗi công dân, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liên quan tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trong đó có công tác quản lý đăng ký khai sinh như: Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (sau đây gọi là Nghị định 158/2005/NĐ-CP); Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều các Nghị định về
hộ tịch, hôn nhân và gia đình và đặc biệt mới đây nhất là Luật Hộ tịch được Quốc hội thông qua và ban hành vào ngày 20/11/2014 (có hiệu lực ngày 01/01/2016) thay thế cho Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (hiện vẫn đang còn hiệu lực) Mặc dù tại thời điểm này, Luật Hộ tịch chưa có hiệu lực thi hành và đang áp dụng Nghị định 158/2005/NĐ-CP nhưng có thể nói rằng với hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện nên công tác quản lý đăng ký quản lý hộ tịch thời gian qua ở nước ta
đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu
đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều bất cập từ những quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng cần được tháo gỡ (cụ thể tại xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình mà đề tài xin được đề cập đến)
Trang 2Châu Hóa là một xã miền núi của huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Trong thời gian qua đối với xã Châu Hóa về công tác quản lý hộ tịch nhìn chung
đã có nhiều cố gắng, tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý hộ tịch Vì vậy, quản
lý hộ tịch đã dần đi vào nề nếp, đạt được những kết quả nhất định: Số trẻ em được đăng ký khai sinh đạt tỷ lệ cao, đăng ký kết hôn đúng quy định Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được quản lý hộ tịch còn có nhiều hạn chế như: Thủ tục quản lý hộ tịch chưa khoa học, chưa phù hợp thực tế, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật về hộ tịch chưa được quan tâm đúng mức Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch
Vì vậy, nghiên cứu về quản lý nhà nước về hộ tịch thực tế của xã Châu Hóa nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý hộ tịch, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế Trên cơ sở đó, đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch trong đó
có công tác quản lý đăng ký khai sinh và góp một phần vào việc tuyên truyền pháp luật để nâng cao hiểu biết cho người dân trên địa bàn xã Châu Hóa Đây là
lý do tôi chọn đề tài “Công tác quản lý đăng ký khai sinh tại xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình - Thực trạng và giải pháp” để nghiên
Chương II Thực trạng và giải pháp nâng cao công tác quản
lý đăng ký khai sinh tại xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình
Phần kết luận
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KHAI SINH
CẤP CƠ SỞ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm cấp cơ sở
- Cấp cơ sở là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong hệ thống hành chính bốn
cấp ở nước ta Đây là nơi thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Nghị quyết Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành
Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa IX đã chỉ rõ “cấp cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú, sinh sống Hệ thống chính trị cở sở có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư”.
Từ những nội dung trên có thể khái quát về chính quyền cấp cơ sở như sau:
- Cấp cơ sở là cấp xã, phường, thị trấn, là đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất
- Cấp cơ sở là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống hành chính của nước ta
1.1.2 Quản lý xã hội cấp cơ sở
Quản lý xã hội cấp cơ sở là sự tác động bằng quyền lực nhà nước và bằng
các thiết chế xã hội khác điều chỉnh các quá trình xã hội ở cơ sở và hành vi của con người nhằm duy trì trật tự xã hội ổn định xã hội ở cấp cơ sở
1.1.3 Quyền được khai sinh và đăng ký khai sinh
1.1.3.1 Quyền được khai sinh
- Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quan trọng
của mỗi người được pháp luật quy định và bảo vệ
Trang 4Điều 29, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền được khai sinh:
“Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh”.
Điều 7, Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch
và trong chừng mực có thể, có quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc”.
Nguyên tắc 3 trong Tuyên ngôn của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em năm
1959 ghi nhận: “Trẻ em sinh ra có quyền được khai sinh”.
Ngoài ra quyền được khai sinh của trẻ cũng được quy định trong Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam: “Trẻ em có quyền được khai sinh và
có quốc tịch” (khoản 1, Điều 5).
Có thể nói, quyền được khai sinh là quyền đầu tiên khẳng định mỗi trẻ em
là một công dân một quốc gia, một công dân bình đẳng như mọi công dân khác
1.1.3.2 Đăng ký khai sinh
em quy định về “đăng ký khai sinh cho trẻ em”:
- Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn Việc khai sinh cho trẻ em được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch
- Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn (gọi chung UBND cấp xã) có trách nhiệm thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ; vận động cha mẹ, người giám hộ khai sinh cho trẻ em đúng thời hạn Trong trường hợp thiếu hồ sơ, thủ tục, người có thẩm quyền đăng ký khai sinh phải hướng dẫn, không được gây phiền hà đối với người đi khai sinh
- Công chức Tư pháp - Hộ tịch có trách nhiệm giúp UBND cấp xã tiếp nhận hồ sơ, xác minh, kiểm tra, làm thủ tục đăng ký khai sinh; thường xuyên
Trang 5kiểm tra, đăng ký khai sinh kịp thời; phổ biến, vận động nhân dân chấp hành các quy định của pháp luật về hộ tịch; thực hiện việc báo cáo tình hình; sử dụng biểu mẫu theo quy định, lưu trữ sổ sách, hồ sơ về đăng ký khai sinh Đối với những khu vực có điều kiện đi lại khó khăn, người dân còn bị chi phối bởi những phong tục tập quán, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải có lịch định kỳ đến tận nhà dân để đăng ký khai sinh cho trẻ em.
- Trẻ em của hộ nghèo không phải nộp lệ phí đăng ký khai sinh UBND cấp xã xác định gia đình thuộc diện hộ nghèo theo quy định chuẩn nghèo hiện hành được áp dụng trong từng thời kỳ
- Cơ quan dân số, gia đình và trẻ em các cấp chủ trì, phối hợp với cơ quan
tư pháp cùng cấp tuyên truyền hướng dẫn, giúp đỡ cha mẹ, người giám hộ để họ khai sinh cho trẻ đúng thời hạn
b) Vai trò của Giấy khai sinh và việc đăng ký khai sinh:
* Vai trò của Giấy khai sinh:
- Điều 5 Nghị Định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực từ ngày 1/4/2006 khẳng định “giấy khai sinh là giấy
tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về: họ tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh, giới tính, dân tộc, quốc gia, quê quán, quan hệ cha mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”
- Giấy khai sinh là một “giấy tờ gốc” của con người khi mới sinh ra, làm
cơ sở cho việc cấp các giấy tờ tùy thân khác, xác định các mối quan hệ ràng buộc về mặt pháp lý của con người trong quá trình sống
* Vai trò của việc đăng ký khai sinh:
- Không đăng ký khai sinh thì trẻ khó có thể được hưởng những dịch vụ
thiết yếu như: chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ pháp lý
- Việc không có giấy khai sinh cũng phủ nhận quyền bầu cử, ứng cử, tham gia các tổ chức, đoàn thể xã hội …
- Trẻ em không được ĐKKS rất dễ bị xâm hại và bị đối xử tệ, trở thành nạn nhân của nạn buôn người, mại dâm, cưỡng ép tảo hôn …
1.1.4 Khái niệm quản lý đăng ký khai sinh
Trang 6Đây là công việc quan trọng, diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở mọi nơi mọi lúc.
Là việc chính quyền cấp cơ sở dựa trên quyền lực công quản lý sự kiện pháp lý liên quan sự kiện sinh của các công dân trên địa bàn mình quản lý
1.2 Nội dung đăng ký đăng ký khai sinh và công tác quản lý đăng ký khai sinh cấp cơ sở
1.2.1 Nội dung đăng ký khai sinh
1.2.1.1 Thẩm quyền đăng ký khai sinh của UBND cấp xã
a) Thẩm quyền theo nơi cư trú (Điều 13 - Nghị định số CP):
158/2005/NĐ UBND cấp xã, nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì UBND cấp
xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh
- Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của cả cha lẫn mẹ, thì UBND cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh
- Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND cấp xã, nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó
b) Thẩm quyền theo đối tượng:
UBND cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em sinh ra tại Việt Nam có:
- Cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;
- Cha và mẹ là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, còn người kia là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Cha và mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định lâu dài tại Việt Nam;
Trang 7- Cha hoặc mẹ là người nước ngoài hoặc người không quốc tịch, cư trú ổn định, lâu dài tại Việt Nam, còn người kia là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước;
- Cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam thường trú ở khu vực biên giới, còn người kia là công dân của nước láng giềng thường trú tại khu vực biên giới
1.2.1.2 Về thời hạn đăng ký khai sinh (Điều 14 - Nghị định số
158/2005/NĐ-CP)
Thời hạn đăng ký khai sinh không phân biệt khu vực đồng bằng hay miền núi mà được áp dụng chung thống nhất cho tất cả các vùng miền là 60 ngày, kể
từ khi đứa trẻ được sinh ra
1.2.1.3 Về thủ tục đăng ký khai sinh (Điều 15 - Nghị định số
158/2005/NĐ-CP)
a) Giấy tờ phải nộp và xuất trình:
Người đăng ký khai sinh phải nộp Tờ khai, Giấy chứng sinh theo mẫu quy định và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cah, mẹ trẻ
em có đăng ký kết hôn)
Giấy chứng sinh do cơ sở ý tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở ý tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khia ính phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực
Trong trường hợp công chức Tư pháp - Hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha, mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn
b) Thụ lý giải quyết
Công chức Tư pháp - Hộ tịch sau khi kiểm tra các giấy tờ, nếu thấy hợp
lệ thì tiến hành ghi vào Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh
Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh để trống
Trang 8Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.
c) Xác định họ và quê quán:
Khi đăng ký khai sinh, họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ
Trong trường hợp đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không có quy định công nhận việc nhận cha cho con thi họ và quê quán của người con được xác định theo họ và quê quán của người mẹ
d) Thời gian giải quyết:
Giải quyết trong ngày, nếu nhận hồ sơ sau 15 giờ thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo
1.2.2 Nội dung công tác quản lý đăng ký khai sinh
- Chính quyền cơ sở thực hiện đăng ký khai sinh theo thẩm quyền của cấp
- Cấp bản sao Giấy khai sinh từ sổ đăng ký khai sinh
- Căn cứ vào quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành cải chính, bổ sung, thay đổi những nội dung liên quan tới Giấy khai sinh: họ tên đệm, ngày tháng năm sinh, dân tộc, địa điểm thường trú, cha, mẹ, nghề nghiệp của công dân khi yêu cầu của họ là chính đáng và có căn cứ pháp luật
- Tổng hợp, thống kê số liệu về tình hịnh đăng ký khai sinh ở địa phương cho UBND huyện theo định kỳ (6 tháng một lần)
- Giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, có biện pháp xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm
Trang 91.3 Vai trò của công tác quản lý đăng ký khai sinh
Công tác quản lý đăng ký khai sinh có vai trò to lớn đối với Nhà nước, xã hội và bản thân mỗi cá nhân
1.3.1 Đối với Nhà nước, xã hội
- Hoạt động quản lý đăng ký khai sinh ngày càng khẳng định vị trí, vai trò trong tiến trình xây dựng một xã hội phát triển và được Chính phủ xác định là một trong những lĩnh vực trung tâm trong xây dựng nền hành chính phục vụ
- Thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, các cấp chính quyền tới người dân mà ở đây là những mầm non, chủ nhân tương lai của đất nước
- Đảm bảo quyền được khai sinh của đứa trẻ và nghĩa vụ trách nhiệm phải
đi khai sinh cho con em mình của bậc cha mẹ và những người thân khác
- Tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động quản lý dân cư trên địa bàn cả nước cũng như từng địa phương để từ đó có biện pháp, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội, ổn định dân số, chính sách y tế - giáo dục, an ninh quốc phòng phù hợp đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của cá nhân gia đình
- Phát hiện những sai sót, khó khăn trong công tác đăng ký, quản lý khai sinh của các cấp chính quyền từ đó có giải pháp, phương hướng giải quyết kịp thời
- Là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của một cá nhân với tư cách
là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: xác định tuổi được hưởng những phúc lợi xã hội dành cho trẻ; xác định tuổi đi học; phát sinh quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực đặc biệt quyền được tham gia bầu cử, ứng cử của công dân; thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước và xã hội…
- Tạo trật tự xã hội ổn định hướng tới mục tiêu “xây dựng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
1.3.2 Đối với công dân
- Đây là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ và quy định rõ tại Điều 29 Bộ Luật Dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 10- Công dân được hưởng quyền, lợi ích chính đáng của mình thông qua hệ thống chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước Đồng thời đó cũng là căn cứ làm phát sinh các nghĩa vụ khác của công dân với Nhà nước và xã hội.
- Đánh dấu sự kiện pháp lý về sự sinh của một cá nhân Nếu không có sự quản lý đăng ký khai sinh thì công dân nghiễm nhiên bị tước những quyền chính đáng mà Nhà nước ghi nhận: quyền đi học, khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em tại các cơ sở y tế Nhà nước, quyền bầu cử, ứng cử …
- Đặc biệt với trẻ em cha mẹ mất sớm nếu không có công tác đăng ký và quản lý đăng ký khai sinh thì rất có thể em đó sẽ không biết cha mẹ mình là ai, tên tuổi, năm sinh thế nào, như thế rất thiệt thòi cho đứa trẻ
- Việc quản lý đăng ký khai sinh đó cũng tạo thuận lợi khi cá nhân đánh mất các giấy tờ tùy thân khác hay muốn xin cấp lại Giấy khai sinh bản gốc hay bản sao căn cứ vào hồ sơ lưu trữ của công chức Tư pháp - Hộ tịch sẽ giải quyết đơn giản hơn
Trang 11Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐĂNG KÝ KHAI SINH TẠI XÃ CHÂU HÓA, HUYỆN TUYÊN HÓA,
TỈNH QUẢNG BÌNH 2.1 Khái quát chung về xã Châu Hóa
- Xã Châu Hóa là một xã miền núi nằm về phí Đông Nam của huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Với diện tích đất tự nhiên … (ha), dân số … người
Xã Châu Hóa nằm dọc bên bờ sông Gianh, cách trung tâm hành chính của huyện 30 km và của tỉnh hơn 60km Toàn xã có 5 thôn, trong đó có 1 thôn thiên chúa giáo toàn tòng và sống chủ yếu bằng nghề ngư nghiệp, 4 thôn còn lại chuyên sản xuất nông nghiệp
Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ, chính quyền cũng như các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân trong xã tích cực hưởng ứng, thực thi các quy định của pháp luật trên tất cả mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Tư pháp
mà cụ thể ở đây là công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
2.2 Thực trạng công tác quản lý đăng ký khai sinh tại xã Châu Hóa
2.2.1 Những kết quả đạt được từ năm 2013 đến năm 2014
Quản lý hộ tịch nói chung và quản lý đăng ký khai sinh nói riêng là nhiệm
vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng
và sự biến đổi về dân số, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách kinh tế, an ninh quốc phòng, dân số, kế hoạch hóa gia đình
Việc ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của chính phủ và đặc biệt
là Luật Hộ tịch năm 2014 có hiệu lực ngày 01/01/2016 đã khẳng định quyết tâm thực hiện xây dựng một nền hành chính công gọn nhẹ, một hệ thống quản lý hộ tịch chuyên nghiệp, hiệu quả, đảm bảo đăng ký và quản lý “kịp thời, đầy đủ, chính xác” mọi sự kiện phát sinh trong đời sống
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cũng như tin thần của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước Đảng
Trang 12ủy, UBND xã luôn chú trọng đến công tác này và trong 2 năm (2013 - 2014) công tác quản lý đăng ký khai sinh đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, cụ thể:
- Tư pháp - Hộ tịch xã đã tham mưu cho UBND xã xây dựng kế hoạch thực hiện tổ chức triển khai, quán triệt nội dung các văn bản luật do Nhà nước ban hành liên quan tới công tác đăng ký và quản lý hộ tịch cho các lãnh đạo chủ chốt của Đảng, chính quyền, cán bộ chuyên môn có liên quan, hiệu trưởng các trường đóng trên địa bàn xã, cán bộ các ban ngành, đoàn thể, bí thư chi bộ, trưởng thôn, ban chi ủy các thôn, làng …, đồng thời chỉ đạo, củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch, trang bị phương tiện, kỹ thuật làm việc phục vụ cho công tác hộ tịch nói chung và quản lý đăng ký khai sinh nói riêng, niêm yết công khai các thủ tục và mức lệ phí, bố trí kịp thời cán bộ tiếp dân, giải quyết các yêu cầu về đăng ký khai sinh cho công dân
- Xác định rõ đây là vấn đề liên quan trực tiếp tới đời sống của cán bộ, nhân dân trên địa bàn xã, Tư pháp - Hộ tịch còn phối hợp với Hội Phụ nữ, ngành Công an, cơ sở giáo dục, trạm y tế… đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cán bộ
và nhân dân trong địa bàn xã bằng nhiều hình thức, với nhiều nội dung phong phú đa dạng: phát thanh trên đài truyền thanh xã (2 lần/ tuần vào buổi sáng), tổ chức các cuộc nói chuyện, hội thảo, chuyên đề tuyên truyền quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý đăng ký khai sinh tới người dân
- Nhận thức của người dân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng
ký khai sinh đã được nâng lên, tỷ lệ đăng ký khai sinh tăng cao
Số liệu thống kê đã thực hiện được trong công tác đăng ký khai sinh năm 2013,