1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

khảo sát trường từ vựng tình mẫu tử trong 20 bài hát tiếng anh

13 1,9K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 29,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình cảm cao quý nhất của mỗi người chúng ta có lẽ là tình mẫu tử hay còn gọi là tình mẹ con. Tình mẹ con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng, cao quý. Mẹ là người mang nặng đẻ đau, tảo tần nuôi con khôn lớn. Tất cả mọi người mẹ trên cõi đời này đều thương yêu con của mình, đấy là bản tính, là thiên tư của người phụ nữ.

Trang 1

1.Lý do chọn đề tài

Tình cảm cao quý nhất của mỗi người chúng ta có lẽ là tình mẫu tử hay còn gọi là tình mẹ con Tình mẹ con là một tình cảm vô cùng thiêng liêng, cao quý

Mẹ là người mang nặng đẻ đau, tảo tần nuôi con khôn lớn Tất cả mọi người mẹ trên cõi đời này đều thương yêu con của mình, đấy là bản tính, là thiên tư của người phụ nữ Chính nhờ tình thương của mẹ mà người con được lớn lên, được

trưởng thành Và trong cuộc sống này không ai có thể sẵn sàng ở bên mình mọi

lúc, mọi nơi và yêu thương, che chở mình vô điều kiện cả “Mẹ”-một chữ mà thiêng liêng, cao cả Tình mẫu tử là một trong những nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều nhạc sĩ Hệ thống trường từ vựng về tình mẫu tử vô cùng đa dạng và phong phú Để hiểu và cảm nhận hết nét nghĩa của từ thuộc trường từ vựng tình mẫu tử là một vấn đề của nhiều người khi học ngôn ngữ quan tâm Với xu thế mở cửa như ngày nay, việc giao lưu ngôn ngữ giữa các nước là rất cần thiết Tuy nhiên, do nền văn hóa cũng như hệ thống từ vựng của mỗi nước khác nhau đã tạo nên sự khó khăn cho người học Chính vì điều đó, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài

“Khảo sát trường từ vựng tình mẫu tử trong những bài hát tiếng Việt và tiếng Anh giai đoạn đầu thế kỷ XX đến nay” để nghiên cứu Để có thể giúp người học

có cái nhìn khái quát về trường từ vựng tình mẫu tử, trên cơ sở đó có thể nhìn tổng quan về ngôn ngữ trong việc tìm hiểu các trường từ vựng khác

2 Mục đích nghiên cứu

Bài nghiên cứu được thực hiện với mục đích tìm hiểu trường từ vựng về tình mẫu tử trong những bài hát tiếng Việt giai đoạn đầu thế kỷ XX đến nay Đồng thời

so sánh, đối chiếu với những bài hát tiếng Anh cùng thời nhằm giúp cho người học ngôn ngữ nắm vững được sắc thái, ý nghĩa và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ cho người học ngôn ngữ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu ở đây là trường từ vựng về tình mẫu tử trong những bài hát tiếng Việt và tiếng Anh giai đoạn đầu thế kỷ XX đến nay Những từ vựng

về tình mẫu tử được đề cập trong bài không phải là tất cả từ vựng về tình mẫu tử

mà chỉ là những từ vựng về tình mẫu tử trong 6 bài hát tiếng Việt và 6 bài hát tiếng Anh được khảo sát

4 Lịch sử nghiên cứu

“Trường từ vựng” là một vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều, đến nay vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về việc xác định các trường từ vựng cũng như về khái niệm trường từ vựng Ngay đến tên gọi cũng thể hiện sự không thống nhất, có người gọi là trường nghĩa nhưng có người lại gọi là trường từ vựng, trường từ vựng - ngữ nghĩa…

- Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” (1998), Nguyễn Thiện Giáp đã sử dụng khái niệm trường nghĩa và ông cho rằng: xoay quanh vấn đề trường nghĩa, có hai khuynh hướng chủ yếu:

 Khuynh hướng thứ nhất quan niệm: “Trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện”

 Khuynh hướng thứ hai là “cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên

cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi các khái niệm nào đó nữa mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa.”

- Tác giả Đỗ Hữu Châu trong công trình “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” (1987) thì lại sử dụng khái niệm “Trường từ vựng ngữ - nghĩa” Trước hết, ông đi vào làm rõ và xác định đối tượng, tiêu chí ứng với thuật ngữ

“trường”, từ đó khái quát đối tượng của “trường từ vựng – ngữ nghĩa” mà ông sẽ bàn đến

Trang 3

- Trong quyển Nhập môn ngôn ngữ học, Mai Ngọc Chừ đã đưa ra khái niệm

về trường nghĩa, đồng thời cũng chấp nhận vấn đề trường nghĩa có nhiều cách gọi khác nhau: trường từ vựng, trường từ vựng – ngữ nghĩa,…

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài nghiên cứu đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp tìm kiếm, tổng hợp, chọn lọc, xử lý và phân tích thông tin, khái quát tài liệu, thông tin sau đó đưa ra sự so sánh khách quan giữa hai ngôn ngữ Đồng thời, tham khảo qua sách báo và thông tin trên Internet

Trang 4

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

1.1 Khái quát về từ vựng

Từ vựng là tập hợp vốn từ của một ngôn ngữ Vốn từ bao gồm toàn bộ các

từ và bộ phận tương đương với từ, tức thành ngữ Trong đó, từ là đơn vị cơ bản nhất

Từ vựng là một trong ba bộ phận cấu thành của một ngôn ngữ, giữ vai trò quan trọng nhất và chiếm số lượng phong phú nhất Hơn bộ phận nào hết, từ vựng phản ánh trực tiếp và rộng rãi thực tế khách quan, nền văn hóa của dân tộc, nhanh chóng hưởng ứng mọi sự thay đổi của xã hội trong mọi sinh hoạt của đời sống

1.2 Trường từ vựng tình mẫu tử

1.2.1 Khái niệm trường từ vựng Trường từ vựng (hay còn gọi là trường nghĩa, trường từ vựng ngữ nghĩa) là một phạm trù chưa được nghiên cứu nhiều và đang còn nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề xác định các trường từ vựng

Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét nghĩa đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa

Các nhà ngôn ngữ thường chia trường từ vựng thành các loại: trường biểu vật, trường biểu niệm, trường nghĩa tuyến tình và trường liên tưởng dựa trên ý nghĩa của từ (ý nghĩa ngôn ngữ)

1.2.2 Khái niệm trường từ vựng về tình mẫu tử

Là tập hợp các đơn vị từ đồng nhất với nhau về một nét nghĩa nào đó

có liên quan đến tình mẫu tử

Có thể xác lập trường từ vựng về tình mẫu tử qua ba phương diện như sau:

- Đối tương: mẹ, má, u, bầm, …

- Hoạt động: đi, ôm, khóc, trông ngóng,…

Trang 5

- Cảm xúc: hạnh phúc, vui, … 1.2.3 Quan niệm về tình mẫu tử Tình mẫu tử là một điều vô cùng thiêng liêng và cao quý Mỗi người chúng ta luôn dành một góc trong tim để lưu giữ nó như một báu vật quý Với mỗi người thì tình mẫu tử lại được quan niệm theo những phương thức khác nhau

Bernard Shaw cho rằng: “Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ”

Hay Mitch Albom: “Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ biết được tình yêu tinh khiết nhất mà mình có thể tìm thấy trên trái đất

Và Gaspard Mermillod : “Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác nhưng không ai có thể thay thế được mẹ”

Tình mẫu tử, với nhà thơ Lăng Kim Thanh:

“… Mẹ là tia nắng ban mai Sưởi con ấm lại đêm dài giá băng Lòng con vui sường nào bằng

Mẹ luôn bên cạnh nhọc nhằn trôi đi…”

Hay với nhà thơ Lê Trọng Tuyên

“Một người vất vả đau thương Sớm hôm làm lụng nuôi con thành người

Đó là hình ảnh mẹ tôi Tình thương bát ngát bao la bằng trời Tình mẫu tử là một thứ tình yêu thiêng liêng không có gì sánh bằng, mỗi người đều có những quan niệm riêng về tình mẫu tử không ai giống ai, nhưng với mỗi người luôn dành trọn một tình yêu đặc biệt với tình cảm này – tình mẫu tử

2 Kết quả khảo sát trường từ vựng về tình mẫu tử trong các bài hát tiếng Anh

và tiếng Việt từ nữa sau thế kỉ XX đến nay

Trang 6

Trong quá trình học tiếng Anh, người Việt thường gặp khó khăn trong Việt dịch

từ tiếng Anh sang tiếng Việt bởi sự khác nhau về các sắc thái ý nghĩa và cách sử dụng từ bởi chúng thuộc hai nền văn hóa khác nhau Chính vì vậy việc hiểu rõ về điểm giống và khác nhau trong các vấn đề nêu trên sẽ giúp ích cho việc học hai ngôn ngữ này

Có thể khác nhau về văn hóa nhưng tình mẫu tử thì duy chỉ có một Đó là tình yêu cao quý nhất Sáu bài hát tiếng Anh mà chúng tôi chọn để khảo sát đó là:

Mama, A song for Mama, I turn to you, Thanks to you, In my daunghter’eyes, A little more time on you và sáu bài hát tiếng Việt đó là: Nhật ký của mẹ, Mẹ yêu, Gặp mẹ trong mơ, Lòng mẹ, Bầm ơi, Tình mẹ Qua quá trình khảo sát và phân loại,

chúng tôi đã đưa ra được những điểm giống và khác nhau trong hệ thống trường từ vựng về tình mẫu tử của những bài hát trên

2.1 Tần suất các từ thường xuyên suất hiện khi diễn đạt tình mẫu tử

Có thể nói khi viết về tình mẫu tử thì các từ ngữ chỉ ngôi xưng hoặc những hình ảnh so sánh xuất hiện với tần suất tương đối cao:

- Trong tiếng Việt có các từ sau:

hiện

10 Hình ảnh so sánh tình mẫu

tử

20

Trang 7

- Trong tiếng Anh có:

hiện

10 Noun denoting the parts of the body 10

2.2 Trường từ vựng về tình mẫu tử trong các bài hát tiếng Anh và tiếng Việt 2.2.1 Cách xưng hô giữa mẹ và con:

2.2.2 Hình ảnh biểu tượng trong tình mẫu tử:

Ánh sao đêm, cánh chim, nắng

mai, sao sáng, biển Thái Bình,

dòng suối hiền, đồng lúa chiều,

vầng trăng tròn mùa thu, làn gió,

sáo diều, những tiếng hát ấm áp,

ánh nắng lấp lánh, biển trời

Driving force, the queen of my heart, tears from the stars, food to

my soul, the light to light my way, a friend, wings, angel, diamond, pearl

2.2.3 Từ ngữ chỉ thiên nhiên:

Trang 8

Tiếng Việt Tiếng Anh

Mặt đất, cơn mưa, nắng, biển rộng,

mây, ánh sao, bầu trời, dòng suối, cánh

đồng, trăng ngàn, làn gió, núi đồi, suối

rừng, rặng tre, sóng, mưa gió, mưa phùn

Sky, stars, the rain, the storm, darkness, the light, a river

2.2.4 Động từ thể hiện sự yêu thương:

Ngóng, trông, mong, ấp, khóc,

yêu, thương, chờ, sưởi ấm, nhớ, ôm,

ru, hy sinh

Love, think, see, care, have, give, keep, feel, cry, fly, hope, wrap, smile

2.2.5 Tính từ thể hiện cung bậc cảm xúc:

Vui, buồn, xót xa, hạnh phúc, khó

nhọc, tha thiết, bao la, ấm áp, rạt rào,

ngọt ngào, êm ái, man mác, thao thức,

êm đềm, chan chứa, xao xuyến, tái tê,

khó nhọc

Sad, comfort, bad, afraid, scared, safe, warm, amzing, strong, wise, happy

2.2.6 Những hình ảnh chỉ sự vất vả, khó khăn, sự hy sinh:

Ôm con trong tay khóc ướt vai, trăng tà

soi bóng, thao thức bao đêm trường, lặn

lội gieo neo, mưa gió không quản thân

gầy, một sương hai nắng, bạc mái đầu,

thức trắng đêm, nước mắt như suối nguồn,

heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn, chân

lội dưới bùn, tay cấy mạ non, tóc rối một

Skies was grey, I was down, I was bad, I was so afraid, lost in the rain, losing ground, my world is going crazy, lose the will to win

Trang 9

đời, thức trắng cho con bao đêm ngủ say

2.2.7 Những hình ảnh khi hoài niệm trong tình mẫu tử

Tiếng cười, mắt xoe tròn, chiếc

môi, dáng hình, nụ cười, khúc hát

ru, mái tóc

Smile, eyes, face, shoulder, heart, voice

2.3 Kết quả khảo sát

Qua việc khảo sát trường từ vựng về tình mẫu từ trong sáu bài hát tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một số đặc điểm khác biệt cũng như tương đồng sau:

- Không chỉ trong xưng hô giữa mẹ và con mà những mối quan hệ xã hội khác

thì người Anh đều sử dụng hai ngôi xưng đó là “I” và “you” cho mọi vai vế, khi mẹ xưng với con vẫn là “I” và gọi con là “you”, ngược lại cũng vậy.

Trong một số trường hợp để nhấn mạnh tình cảm và đề cao người mẹ thì

người Anh còn gọi mẹ là “mama” Còn người Việt thì khác hoàn toàn, bởi

vai vế được phân định rõ trong cách xưng hô Khi giao tiếp thì người Việt

xưng “mẹ” và gọi “con”, ngược lại cũng như vậy Khi gọi những đứa trẻ con, để thể hiện sự âu yếm, trìu mến thì người Việt còn có thể gọi “bé cưng” hoặc “bé con” Ngoài ra, cách xưng hô giữa mẹ và con của người Việt còn

có sự khác biệt theo vùng miền Ví dụ danh xưng “mẹ” là từ toàn dân và

được phổ biến ở cả ba miền tuy nhiên ở một số vùng nông thôn ở miền Bắc

còn gọi mẹ là “u”, “bầm”; ở miền Trung còn gọi mẹ là “mạ” và miền Nam thì gọi là “má” Đó là do đặc trưng văn hóa và tính chất địa lí của mỗi vùng.

- Trong việc sử dụng những hình ảnh so sánh mang tính trừu tượng thì có thể

thấy khi nói về tình mẫu tử thì cả người Anh và người Việt đều dùng những

Trang 10

hình ảnh mang tính gợi hình cao như ánh sao đêm, sao sáng, biển Thái Bình, dòng suối hiền, vầng trăng tròn mùa thu, làn gió, sáo diều, những tiếng hát ấm áp, ánh nắng lấp lánh, biển trời hoặc the queen of my heart, tears from the stars, food to my soul, the light to light my way, a friend, wings, angel, diamond, pearl Tuy nhiên có thể thấy một điểm khác biệt khá

rõ nét trong việc sử dụng hình ảnh của cả hai ngôn ngữ đó là mức độ gợi hình của hình ảnh Trong khi người Anh sử dụng những hình ảnh cụ thể,

mang tính hiện thực cao như “heart”, “food”, “diamond” hay “pearl” thì

người Việt lại sử dụng những hình ảnh lãng mạn và đậm chất thơ ca hơn như

“dòng suối”, “ánh trăng”, “ánh sao”, điều đó cho thấy người Việt khá trau

chuốt từ ngữ và lựa chọn từ ngữ khá kĩ càng trong việc diễn đạt tình cảm Đặc điểm này cũng thể hiện khá rõ trong việc sử dụng những hình ảnh thể hiện sự khó khăn, vất vả và hy sinh của người mẹ Để diễn đạt hết được công lao và những khó nhọc mà mẹ đã hy sinh cho chúng ta người Việt

thường sử dụng những hình ảnh như Ôm con trong tay khóc ướt vai, thao thức bao đêm trường, bạc mái đầu, thức trắng đêm, nước mắt như suối nguồn, heo heo gió núi, tóc rối một đời, thức trắng cho con bao đêm ngủ say, đôi khi còn dùng cả thành ngữ như “một sương hai nắng” để đạt hiệu quả cao Trong khi đó người Anh chỉ dùng các câu như Skies was grey, lost

in the rain, losing ground, my world is going crazy, lose the will to win, để

ẩn dụ cho sự khó khăn trong cuộc sống và hình ảnh người mẹ chỉ là “by my side”, “You were there for me to love and care for me” hay “when I'm down you're there-pushing me to the top”, điều đó không có nghĩa người Anh

không coi trọng tình mẫu tử mà đó chỉ là sự khác biệt về văn hóa bởi người Việt có truyền thống coi trọng tình cảm gia đình và đề cao vai trò của người

mẹ, người phụ nữ và người phụ nữ việt cũng chịu ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo nên cả đời chỉ sống vì chồng, vì con, hy sinh âm thầm và chịu

Trang 11

đựng nhiều khổ cực Trong khi người Anh lại nghiêng về tính tự do, tự lập

và con cái ngay từ nhỏ đã phải tập sống tự lập Tuy nhiên, dù cách diễn đạt

có sự khác biệt nhưng có thể thấy hình ảnh người mẹ và tình mẫu tử trong cả hai ngôn ngữ đều được sử dụng những hình ảnh và ngôn từ có tính chọn lọc cao nhất

- Khi khảo sát về trường từ vựng về tình cảm nói chung và trường từ vựng về

tình mẫu tử nói riêng thì có thể thấy một đặc điểm khác biệt đó là hệ thống tính từ biểu thị tình cảm của chủ thể Nếu hệ thống hình ảnh mà người Việt

sử dụng mang tính gợi hình khá cao thì hệ thống tính từ mang đậm tính gợi

cảm Những từ như “dạt dào”, “thiết tha”, “xao xuyến”, “ngọt ngào”, càng

làm cho câu hát giàu cảm xúc và tính trữ tình sâu lắng, gợi cho người nghe những cảm xúc, những hoài niệm về người mẹ Trong khi đó, người Anh với

những tính từ “happy”, “safe”, “warm”, lại mang đến hơi thở tươi mới, vui

vẻ, gợi lên những khoảnh khắc hạnh phúc khi được bên cạnh mẹ

III KẾT LUẬN

- Khi nói đến tình mẫu tử, bằng những cách khác nhau, những câu chữ, hình ảnh, ý nghĩa khác nhau, song cả hai ngôn ngữ đều đề cao tình cảm thiêng liêng và quý báu này Nếu người Việt sử dụng nhiều hình ảnh gợi hình, gợi cảm để thể hiện tình cảm của mình đối với tình mẫu tử thì người Anh lại thể hiện tình cảm đó khá trực tiếp và thiết thực Đây có lẽ là điểm khác biệt lớn nhất trong việc diễn đạt tình mẫu tử nói riêng và tình cảm yêu thương nói chung giữa hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa

- Việc khảo sát và đối chiếu trường từ vựng về tình mẫu tử trong các bài hát tiếng Anh và tiếng Việt từ đầu thế kỉ XX đến nay phần nào giúp người học

có thể hiểu rõ hơn về cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh trong diễn đạt tình cảm của cả hai ngôn ngữ Văn hóa khác nhau nên việc sử dụng hình ảnh

Trang 12

cũng như ý nghĩa của hình ảnh đó cũng khác nhau Chính điều này đã tạo những khó khăn nhất định trong việc học và dịch ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia và ngược lại chính vì vậy cần phải hiểu rõ về trường từ vựng trong mỗi ngôn ngữ để việc học trở nên dễ dàng hơn

Ngày đăng: 12/05/2016, 22:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.2.2. Hình ảnh biểu tượng trong tình mẫu tử: - khảo sát trường từ vựng tình mẫu tử trong 20 bài hát tiếng anh
2.2.2. Hình ảnh biểu tượng trong tình mẫu tử: (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w