Bài tiểu luận về các loại vi sinh vật trong ngành nông nghiệp về ảnh hưởng có lợi và cả tác hại của chúng đối với nông nghiệp. Bài tiểu luận có nhiều hình ảnh sinh động giúp bạn dể hiểu các bạn có thể dùng để báo cáo tiểu luận sinh học đại cương.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
GVHD: Phan Thị Thanh Nga
Trang 2Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ……….………….3
1.1 Tính cấp thiết của đề tài……….…….3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……….…… 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài……….……3.4 Phần II : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU……….…….5
2.1 Một số khái niệm liên quan……….… 5
Phần III: KẾT QUẢ NGHIỆN CỨU ………6
3.1 Vai trò của công nghệ sinh học trong Nông nghiệp nông thôn……….6
3.2 Những thành tựa công nghệ sinh học trong nông nghiệp………6.7.8 3.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp nước ta hiện nay………9.10 PHẦN IV: TRANG BỊ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC – MỘT HƯỚNG ĐI CẦN THIẾT CHO NỀN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ……….11.12 Phần V : KẾT LUẬN……… 13
Tài liệu tham khảo………14
Phần I:đặt vấn đề
Trang 31.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, khai thác lợi thế lớn nhất của một nước nông nghiệp đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Làm thế nào để Việt Nam trở thành một quốc gia biết khai thác tốt nhất các thành tựu của công nghệ sinh học luôn là câu hỏi lớn Công nghệ sinh học và vấn đề phát triển nông nghiệp của Việt Nam là một hướng tiếp cận đáng trân trọng
Từ đầu những năm 1980, nhiều nước phát triển, đặc biệt là Mỹ, đã dùng công nghệ sinh học (CNSH)
để giành được ưu thế cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp: đạt chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ
Ngày nay các nhà khoa học đều nhất trí cho rằng CNSH là "sự may mắn" và là yếu tố quan trọng bậc nhất để các nước đang phát triển tranh thủ đón bắt, đuổi kịp trình độ tiên tiến của thế giới Với đà phát triển này, chỉ trong vòng thập niên thứ nhất của thế kỷ XXI, nhiều thách đố lớn về khoa học và kỹ thuật sẽ được giải đáp và trở thành hiện thực Người ta dự đoán rằng khoảng 10-15 năm nữa, nhân loại
sẽ đạt được đỉnh cao về CNSH và vi điện tử Vì vậy chúng ta phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết để cùng tham gia nghiên cứu, tiếp thu, ứng dụng những thành quả của CNSH, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, một lợi thế của nước ta tiến vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về công nghê sinh học
- đánh giá thực trạng nông nghiệp nước ta hiện nay khi áp dụng công nghệ sinh học
- Đề ra một số phương pháp để ứng dụng công nghệ sinh học ở các miền vũng núi
1.3 Phương pháp nghiện cứu của đề tài
* Phương pháp thu thập số liệu
Trang 4Do điều kiện hạn chế, nên chúng tôi chủ yếu tiến hành thu thập số liệu thứ cấp từ các nguồn:
+ Những thông tin, số liệu được thu thập từ các báo, tạp chí, luận văn có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu tại thư viện trường Đại học Nông nghiệp Hà Nộ và thư viện khoa Kinh tế và phát triển nông thôn Từ đó chọn lọc những kiến thức, những kết quả có thể sử dụng được
+ Thu thập từ các trang web có liên quan trên mạng Internet
* Phương pháp xử lý số liệu
Căn cứ vào mục đích của đề tài, tôi tiến hành thu thập những số liệu cần có bên trên và phân tích các số liệu đó Tuy nhiên, để phân tích được, tôi sẽ phân tích các số liệu đó ra theo thời gian, sau đó sắp xếp chúng lại để tạo thành một chuỗi thời gian nhằm cho thấy sự thay đổi qua từng năm trong lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn Việt Nam khi áp dụng công nghệ sinh học Từ đó có thể nhận biết được những thành tựu đã đạt được và những hạn chế cần khắc phục để đưa Nông nghiệp nông thôn Việt Nam phát triển theo hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Tuy nhiên, để định lượng chính xác được một số những thành tựu và hạn chế Một phương pháp nữa phục vụ tôi trong quá trình phân tích và xử
lý số liệu là phương pháp so sánh, nhằm so sánh giữa các năm với nhau và so sánh giữa Nông nghiệp với các ngành khác cũng như giữa Nông nghiệp với tổng thể nền kinh tế
Trang 5Phần II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm liên quan
- Công nghệ sinh học là công nghệ dựa trên sinh học, đặc biệt được ứng dụng trong nông nghiệp, khoa học thực phẩm, và dược phẩm
- Khái niệm công nghệ sinh học bao trùm nhiều quy trình hai công đoạn trong việc làm thay đổi các sinh vật sống theo các mục đích của con người, trở về với sự thuần hóa động vật, trồng trọt, và cải tạo những sinh vật này thông qua các hoạt động sinh sản như chọn lọc có điều kiện và lai ghép Khái niệm này trong thời hiện đại bao gồm kỹ thuật gen cũng như các công nghệ nuôi cấy mô và tế bào
- Hiệp hội Hóa học Hoa Kỳ định nghĩa công nghệ sinh học là việc ứng dụng khía cạnh sinh học của sinh vật, hệ thống hoặc các quá trình vào nhiều ngành công nghiệp khác nhau để hiểu biết về khoa học sự sống và cải tiến giá trị của vật liệu và sinh vật như dược, cây trồng và chăn nuôi
- Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vật để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của con người đồng thời phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường
- Công nghệ sinh học lam là một thuật ngữ đã được sử dụng để mô tả các ứng dụng hàng hải và
Trang 6thủy sản của công nghệ sinh học, nhưng ứng dụng của nó là tương đối hiếm.
- Công nghệ sinh học xanh được áp dụng công nghệ sinh học nông nghiệp Một ví dụ là việc lựa chọn và thuần hóa thực vật thông qua vi nhân giống Một ví dụ khác là thiết kế chuyển gene thực vật để phát triển trong môi trường cụ thể trong sự hiện diện (hoặc không) của các hóa chất Một hy vọng là công nghệ sinh học xanh có thể sản xuất các giải pháp thân thiện với môi trường hơn so với truyền thống công nghiệpnông nghiệp Một ví dụ của việc này là kỹ thuật chuyển gen kháng sâu bệnh vào thực vật, do đó không cần phải sử dụng chất bảo vệ thực vất quá nhiều như hiện nay Một ví dụ này sẽ là bắp chuyển gene
- Công nghệ sinh học đỏ được áp dụng trong lĩnh vực y dược Một số ví dụ thiết kế của các sinh vật để sản xuất kháng sinh, và các kỹ thuật chữa các căn bệnh di truyền qua kỹ thuật di truyền
- Công nghệ sinh học trắng, còn được gọi là công nghệ sinh học công nghiệp, công nghệ sinh học áp dụng trong công nghiệp Một ví dụ là nuôi cấy vi sinh vật để sản xuất một hóa chất hữu ích Dùng enzyme như mộtchất xúc tác trong công nghiệp để sản xuất hóa chất có giá trị tránh gây ô nhiễm môi trường Công nghệ sinh học trắng có xu hướng tiêu thụ ít tài nguyên hơn so với các quy trình truyền thống được sử dụng để sản xuất hàng công nghiệp
Phần III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 73.1 Vai trò của công nghệ sinh học trong Nông nghiệp nông thôn
Ngày 4-3-2005 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 50-CT/TƯ về việc đẩy mạnh phát triển
và ứng dụng Công nghệ sinh học phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mở
đầu bản Chỉ thị đã nhấn mạnh "Công nghệ sinh học là một lĩnh vực công nghệ cao dựa trên nền tảng
khoa học về sự sống, kết hợp với quy trình và thiết bị kỹ thuật nhằm tạo ra các công nghệ khai thác các hoạt động sống của vi sinh vật, tế bào thực vật và động vât để sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm sinh học có chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường".
Đó là một nhận định chính xác và có tính chỉ đạo cao đối với sự nghiệp phát triển Công nghệ sinh học
ở nước ta Trong một lần trao đổi gần đây với cán bộ khoa học, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã
cho rằng: cần đưa Công nghệ sinh học phát triển nhanh như Công nghệ thông tin hoặc cao hơn thì
càng tốt.
Chúng ta biết rằng Công nghệ sinh học (Biotechnology) và Công nghệ thông tin (Informatic
technology) được coi là làn sóng thứ năm trong lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ Vậy mà
đúng như nhận định được nêu lên trong Chỉ thị 50 nói trên: Công nghệ sinh học hiện đại của nước ta
vẫn đang ở tình trạng lạc hậu so với một số nước trong khu vực và nhiều nước trên thế giới, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao mức sống của nhân dân Công nghiệp sinh học chậm phát triển, chưa tạo ra được các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế quốc dân.
Chúng ta cần nhớ rằng Công nghệ sinh học (CNSH) có 3 cấp độ khác nhau: CNSH truyền thống như
các hoạt động chế biến thực phẩm (rượu, giấm , sữa chua, dưa chua, cà muối, pho-mát, tương, nước
mắm, men bánh mỳ ),ủ phân , phơi ải đất, diệt khuẩn và ức chế vi sinh vật có hại CNSH cận đại với
Trang 8việc sản xuất ở quy mô công nghiệp các sản phẩm của công nghệ lên men, công nghệ vi sinh vật (cồn, bia, dung môi hữu cơ, bột ngọt và các axít amin khác, axit xitric và các axit hữu cơ khác, chất kháng sinh, nhiều vitamin, các loại văcxin, kháng độc tố, các kit chẩn đoán bệnh truyền nhiễm, thuốc trừ sâu
sinh học, phân bón sinh học ) CNSH hiện đại chỉ mới xuất hiện trong vài thập kỷ gần đây CNSH
hiện đại sử dụng các kỹ thuật trao đổi, sửa chữa, tổ hợp hoặc cải tạo vật chất di truyền ở mức độ phân
tử để tạo ra những loại sinh vật mới hoặc bắt các sinh vật này tạo ra các protein hay các sản phẩm khác
mà vốn dĩ chúng không tạo ra được
3.2 Những thành tựa của công nghệ sinh học trong công nghiệp
CNSH là một ngành khoa học mũi nhọn không giống với vi sinh vật công nghiệp đã có từ
xa xưa với kỹ nghệ sản xuất rượu, bia, sữa chua, phomát, nước chấm Theo liên đoàn CNSH châu Âu (EFB) thì CNSH là sự kết hợp của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ nhằm ứng dụng các vi sinh vật, các tế bào, một số thành phần của tế bào hoặc các phân tử tương tự tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người
CNSH đạt được những thành tựu to lớn và có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong những năm tới là do đã thừa hưởng được một cách tổng hợp những kết quả của các ngành khoa học cơ bản như vi sinh vật học, di truyền học, sinh hóa học, sinh lý học, sinh học phân tử, miễn dịch học, vi sinh vật học ứng dụng, công nghệ sinh hóa học (Biochemical engineering)
CNSH đang phát triển trên cơ sở các kỹ thuật mới mẻ: kỹ thuật di truyền; kỹ thuật dung hợp
tế bào; kỹ thuật phản ứng sinh học (bao gồm kỹ thuật lên men, kỹ thuật enzym, thiết bị phản ứng sinh học); kỹ thuật nuôi cấy mô; kỹ thuật nuôi cấy tế bào; kỹ thuật cấy chuyển phôi
(embryotransplan-tation); kỹ thuật cấy chuyển nhân (nucleustransplan-tation) v.v Những
Trang 9thành tựu này đang chuẩn bị cho một cuộc cách mạng sinh học trong các ngành kinh tế - kỹ thuật Trong phạm vi bài này chúng tôi chỉ đề cập đến những ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp.
1 Kỹ thuật cấy mô
Phương pháp cấy mô đã được áp dụng từ lâu bởi các nhà trồng hoa và các nhà chọn giống muốn nhân nhanh những giống đặc cấp, cải thiện hiệu quả của từng thời kỳ chọn lọc
Ngày nay với tiến bộ kỹ thuật nuôi cấy mô người ta có thể sản xuất giống trong phòng thí nghiệm để đưa ra sản xuất nhanh chóng hơn nhiều lần phương pháp cổ điển Nhờ kết quả này
mà một người có thể sản xuất ra 130.000 cây hồng trong một năm và chỉ cần có một cây hồng gốc, so với phương pháp cũ như dâm cành thì người đó chỉ có thể sản xuất được tối đa 50 cây
mà thôi Như vậy, với công nghệ mới này năng suất của người công nhân nông nghiệp đã tăng lên 2.500 lần - không có lĩnh vực kỹ nghệ nào có thể sánh nổi Kỹ thuật sản xuất giống trong phòng thí nghiệm còn là biện pháp hữu hiệu để xây dựng những chương trình chọn lọc tối ưu
Kỹ thuật nuôi cấy mô còn cho phép với một quy trình dài có được những sản phẩm có tính di truyền hoàn hảo như nhau và như thế có thể sử dụng như "bố mẹ lai" và cũng dùng để tạo ra những dòng mới
2 Kỹ thuật sinh học phân tử
Trang 10Kỹ thuật sinh học phân tử có phạm vi ứng dụng rộng rãi, cho phép chúng ta phát hiện những độc hại trong quá trình sản xuất, trong thức ăn hay trong hệ sinh thái (trong đất, các nôi vi sinh ) Kỹ thuật sinh học phân tử còn giúp cho việc chọn lọc ở giai đoạn rất sớm từ phôi hay mầm non của những cá thể mang những đặc tính có lợi như giới tính, sức chống chịu bệnh, sức kháng trong những điều kiện đặc biệt Chẳng hạn phôi của bê 6 ngày tuổi đã xác định được là
bê đực hay bê cái Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp
Những "ống thăm dò phân tử" cũng được dùng để xác định cấu trúc của các tổ chức, các bộ phận, cho phép tách rời được AND đặc thù của một bộ phận hay một tính năng cụ thể, đánh giá được chính xác chất lượng tinh dịch và sự phát triển của phôi Với kỹ thuật sinh học phân tử người ta đã sản xuất ra được chất kháng thể monoclinaux có tác dụng rất đa dạng trong việc chẩn đoán Vì vậy ứng dụng đặc biệt nổi bật của sinh học phân tử được thực hiện trong lĩnh vực chẩn đoán (bệnh dịch cây trồng và gia súc) và trong chọn giống
3 Kỹ thuật di truyền
Cho đến nay, cách mạng chính về CNSH là kỹ thuật di truyền (hay kỹ thuật tái tổ hợp gen) Giờ đây người ta có thể thực hiện đưa 1 gen lạ vào bất cứ bộ phận nào chỉ cần kiểm tra "sự đồng ý" của tế bào tiếp nhận gen mới Thành công này có ý nghĩa đặc biệt lớn lao bởi nó cho phép tách rời quy trình sinh học phức tạp thành những phần đơn giản, từ đó dễ dàng xác định được nhiệm vụ và kiểu hoạt động của từng gen, cho phép xác định được mối tương quan giữa cấu trúc với nhiệm vụ của những phân tử
Kỹ thuật di truyền đã mở ra những triển vọng, viễn cảnh mới về lý thuyết thì thật không có
Trang 11giới hạn: con người có thể thiết kế và chế tạo ra những vi sinh vật, những tế bào mà trước đây chưa hề có Những vi sinh vật nhân tạo này có thể tổng hợp ra ở quy mô công nghiệp những sản phẩm có giá trị phục vụ đắc lực cho việc bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng sống của con người Đương nhiên, nông nghiệp và y tế ứng dụng thành quả kỹ thuật di truyền nhiều nhất, đây là những lĩnh vực đột phá thực hiện cuộc cách mạng CNSH
Về trồng trọt, việc chuyển vào tế bào thực vật một gen lạ của vi khuẩn (chẳng hạn gen cố định nitơ, gen kháng thuốc diệt cỏ, gen kháng côn trùng, gen kháng bệnh ) sẽ khiến cho cây trồng có được những phẩm chất đặc biệt Mới đây Mỹ đã chế tạo được loại ngô kháng sâu bệnh
do từng tế bào của loại ngô này đã mang gen sản sinh tinh thể diệt côn trùng của loài vi khuẩn trừ sâu Bacillus thuringiensis Việc tạo ra cây khoai - cà (pomato) nhờ quá trình dung hợp tế bào của cây khoai tây với tế bào của cây cà chua là một thành tựu độc đáo Cây khoai - cà mọc
ra củ khoai tây ở bộ rễ dưới đất và sinh ra quả cà chua ở trên cây
Cho đến nay gần 20 loại cây trồng đã được nghiên cứu thay đổi mật mã di truyền, trong đó thêm 20 loại cây đã đạt được những lợi ích như các nhà tạo giống mong muốn và được đưa ra sản xuất
Đối với chăn nuôi, kết quả có phần hạn chế hơn do việc thực hiện khá tốn kém và thời gian theo dõi rất dài Tuy vậy đã có trên 10 loài bao gồm bò, heo, dê, cừu, thỏ, gà, cá được chú ý nghiên cứu Hướng nghiên cứu nhằm tạo ra được những giống gia súc và vật nuôi có sức đề kháng bệnh tật, có khả năng cải thiện đáng kể về chất lượng của thịt, sữa và trứng Người ta hy vọng trong thời gian không xa sẽ tạo được loại thịt heo có tỷ lệ nạc rất cao, giống như thịt bò,
Trang 12sữa bò có tỷ lệ đạm cao, trứng gà có lòng đỏ to, màu đỏ đậm hơn, tỷ lệ lecithine cao và vỏ cứng.
Với kỹ thuật cấy ghép gen, cấy ghép hợp tử, nuôi cấy tế bào, việc chọn lọc nhân giống gia súc đã đạt được bước tiến có ý nghĩa rất quan trọng Từ một con bò giống tốt được chọn lọc cho thụ tinh nhân tạo với một giống tốt khác sẽ tạo được hợp tử lai mang đặc tính chọn lọc cần thiết, có thể dễ dàng lấy được hợp tử này ra và vận chuyển từ nước này sang nước khác để cấy vào tử cung của các con bò địa phương bắt chúng mang thai để đẻ ra những bê con có những đặc tính ưu việt được chọn lọc Hơn thế nữa, người ta còn có thể tạo ra được rất nhiều phôi bằng cách tách từng tế bào ra khi hợp tử bắt đầu phân chia Các phôi này được kiểm tra nhiễm sắc thể (để giữ lại toàn những phôi tạo ra bê cái), những phôi này được bảo quản lâu dài bằng
kỹ thuật đông lạnh để có thể vận chuyển đến khắp mọi nơi trên trái đất
Kỹ thuật di truyền còn cho phép các nhà tạo giống lấy bỏ nhân từ trứng đã thụ tinh của một con bò bình thường rồi cấy thay thế vào đó nhân của tế bào một con bò có những đặc tính tốt được chọn lọc, tạo ra được trứng thụ tinh có nhân mới Đến đây có thể đưa trở lại trứng này vào tử cung của con bò bình thường để cho nó mang thai và đẻ ra bê con có được những đặc tính như các chuyên gia tạo giống mong muốn
3.3 Thực trạng ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp nước ta hiện nay
CNSH ở nước ta đang được chú trọng và có được bước phát triển khá nhanh, triển vọng có bước tiến khả quan hơn trong những năm tới Chúng ta đã thực hiện hợp tác với các nhà khoa học của nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế và tích cực ứng dụng nhiều thành quả CNSH trong sản xuất nông nghiệp