1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tại sao hồ chí minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH

16 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ và kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1.1.Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ 1.2.Lí l

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Họ tên: Phạm Minh Nguyên

Mã SV: CQ522594

Lớp chuyên ngành: Kinh tế Kế hoạch 52A

Trang 2

CÂU HỎI: Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện cơ cấu kinh tế

hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam?

ĐỀ CƯƠNG

1 Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ và kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1.Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ

1.2.Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ

1.2.1.Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ

1.2.2.Các thành phần kinh tế của nền kinh tế trong thời kì quá độ

2 Kinh nghiệm của Liên Xô về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ

Chính sách Kinh tế mới (NEP) 1921 - 1929

2.1 Bối cảnh ra đời chính sách NEP

2.2 Nội dung, biện pháp của chính sách NEP

2.3 Thành tựu đạt được

2.4 Ý nghĩa của chính sách NEP

2.4.1 Ý nghĩa của chính sách NEP với Liên Xô

2.4.2 Ý nghĩa của chính sách NEP với thế giới

3 Thực tiễn Việt Nam

Trang 3

Đặc điểm tình hình Việt Nam thời kỳ miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

4 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

4.1.Thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài và chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

4.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

5 Tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

Chủ trương Đổi mới của Đảng và Nhà nước 1986

5.1.Bối cảnh ra đời (giai đoạn trước năm 1986): thời kì bao cấp

5.2.Nội dung Đổi mới về phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần 5.3.Thành tựu đạt được sau hơn 20 năm Đổi mới

5.4.Tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh

tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

Trang 4

1 Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ và kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1 Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thời kì quá độ

Vận dụng học thuyết Mác vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô trước đây, Lênin đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan, bất cứ quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hội đều phải trải qua, kể cả các nước có nền kinh

tế rất phát triển

Tất nhiên, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thuận lợi hơn, có thể diễn ra ngắn hơn so với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa có nền kinh tế lạc hậu

Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, triệt để, toàn diện từ xã hội cũ thành xã hội mới: chủ nghĩa xã hội Nó diễn ra từ khi giai cấp vô sản giành được chính quyền bắt tay vào xây dựng

xã hội mới và kết thúc khi xây dựng thành công những cơ sở của chủ nghĩa

xã hội cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng

Tính tất yếu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được quy định bởi đặc điểm ra đời, phát triển của cách mạng vô sản và những đặc trưng kinh tế,

xã hội của chủ nghĩa xã hội

Khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa:

Trang 5

Theo Lênin, điều kiện để một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là:

Thứ nhất, điều kiện bên trong, có Đảng cộng sản lãnh đạo giành được chính quyền và sử dụng chính quyền nhà nước công, nông, trí thức liên minh làm điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội

Thứ hai, điều kiện bên ngoài, có sự giúp đỡ của giai cấp vô sản của các nước tiên tiến đã giành thắng lợi trong cách mạng vô sản

Các nước lạc hậu có khả năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế

độ tư bản chủ nghĩa nhưng không phải là quá độ trực tiếp, mà phải qua con đường gián tiếp với một loạt những bước quá độ thích hợp

1.2.Lí luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ

1.2.1.Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kì quá độ

Đặc điểm kinh tế cơ bản nhất của thời kỳ quá độ là sự tồn tại nền kinh

tế nhiều thành phần và tương ứng với nó có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng vị trí, cơ cấu và tính chất của giai cấp trong xã hội đã thay đổi một cách sâu sắc

Sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là khách quan và lâu dài,

có lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế Theo Lênin, mâu thuẫn của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là mâu thuẩn giữa chủ nghĩa xã hội đã giành thắng lợi nhưng còn non yếu với chủ nghĩa tư bản đã

bị đánh bại nhưng vẫn còn khả năng khôi phục Vì vậy, thời kỳ quá độ là thời

kỳ diễn ra cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản quyết liệt, quanh co, khúc khuỷu và phức tạp

1.2.2.Các thành phần kinh tế của nền kinh tế trong thời kì quá độ

Trang 6

Vận dụng tư tưởng về tính tất yếu của sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần vào quá trình chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xôviết, Lênin đã phân tích kết cấu nền kinh tế nước Nga lúc đó với 5 thành phần, được xếp theo trình độ phát triển của chúng từ thấp đến cao trong lịch sử, đó là: kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, kinh tế hàng hóa nhỏ, kinh tế tư bản, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế xã hội chủ nghĩa Các thành phần kinh tế này tồn tại trong mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẫn và đấu tranh với nhau Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế đó chỉ có thể được giải quyết trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

2 Kinh nghiệm của Liên Xô về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ

Chính sách Kinh tế mới (NEP) 1921 - 1929

2.1 Bối cảnh ra đời chính sách NEP

Sau cách mạng tháng 10 Nga năm1917, việc thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của Lênin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến

1918-1920 Trong thời kì này, Lênin đã áp dụng chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ quan hệ hàng hóa tiền tệ, xóa bỏ việc tự do mua bán lương thực trên thị trường ,thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội

và bộ máy nhà nước vào nền kinh tế: cuối giai đoạn nội chiến tiền lương trả cho công nhân còn 7,4%

Tuy nhiên khi hòa bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Hậu quả chiến tranh đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó chính sách trưng thu lương thục thừa đã làm mất động lực đối với nhân dân Việc xóa bỏ quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm mất tính năng động của nền kinh tế vốn

dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển Vì vậy,khủng hoảng kinh tế chính trị

Trang 7

diễn ra rất sâu sắc Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng thay thế Chính sách kinh tế mới (1921 – 1929) được V.I.Lênin khởi xướng để đáp ứng nhu cầu này nhằm tiếp tục xây dựng kế hoạch xây dưng chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới

2.2 Nội dung, biện pháp của chính sách NEP

Thứ nhất, bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa của nông dân và thay vào đó là thuế lương thực

Thứ hai, những xí nghiệp nhỏ trước đây bị quốc hữu hóa, nay cho tư nhân thuê hay mua lại để kinh doanh tự do (chủ yếu là xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng)

Thứ ba, cho phép mở rộng trao đổi hàng hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, cho thương nhân được tự do hoạt động (chủ yếu trên lĩnh vực bán lẻ) để góp phần khôi phục kinh tế, củng cố lại lưu thông tiền tệ trong nước

2.3 Thành tựu đạt được

Chính sách kinh tế mới đã tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất ở

cả thành thị và nông thôn, vì nó đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa còn mang tính chất hàng hóa và có nhiều thành phần Nhờ đó, trong một thời gian ngắn, Nhà nước Xô Viết đã khôi phục được nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, củng cố thêm khối liên minh công nông; thành lập nên Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết (ngày 30 tháng 12 năm 1922)

Về nông nghiệp, chính sách kinh tế mới được quán triệt trong các ngành kinh tế và lấy việc khôi phục nông nghiệp làm nhiệm vụ hàng đầu Đến cuối năm 1922, Liên Xô đã vượt qua được nạn đói Tổng sản lượng lương thực của Liên Xô đã tăng từ 42,2 triệu tấn (năm 1921) đến 74,6 triệu tấn (năm 1925)

Trang 8

Về công nghiệp, tổng sản lượng công nghiệp năm 1925 so với năm

1913 mới đạt 75,5%, đến năm 1926 mới khôi phục 100% Ngành cơ khí chế tạo và điện đã vượt mức trước chiến tranh

Về thương nghiệp, trong việc thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin coi thương nghiệp là “mắt xích” trong chuỗi dây xích các sự biến lịch sử mà Nhà nước phải đem toàn lực ra mà nắm lấy nó Thương nghiệp đã tăng cường mạnh mẽ (về mặt nội thương: tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 1926 đã bằng 2 lần năm 1924; về ngoại thương: mở rộng quan hệ buôn bán với hơn

40 nước)

2.4 Ý nghĩa của chính sách NEP

2.4.1 Ý nghĩa của chính sách NEP với Liên Xô

Chính sách kinh tế mới của Lênin có ý nghĩa vô cùng quan trọng, trước hết nó khôi phục được nền kinh tế Xô Viêt sau chiến tranh Chỉ trong một thời gian ngắn đã tạo ra một bước phát triển quan trọng biến “nước Nga đói” thành một đất nước có nguồn lương thực dồi dào Từ đó đã khắc phục được khủng hoảng kinh tế chính trị, củng cố lòng tin cho nhân dân vào sự thắng lợi tất yếu và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội mà Leenin đã vạch ra

2.4.2 Ý nghĩa của chính sách NEP với thế giới

Chính sách kinh tế mới của Lênin đã mang lại ý nghĩa quốc tế trọng đại,

đã chỉ ra cho các dân tộc trên thế giới con đường đúng đắn để đi lên CNXH, nhất là các nước có nền kinh tế kém phát triển quá độ lên CNXH

Chính sách kinh tế mới của Lênin đánh dấu một bước phát triển mới về

lí luận kinh tế xã hội chủ nghĩa Theo tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan tâm tới lợi ích kinh tế cá nhân trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa

Trang 9

3 Thực tiễn Việt Nam

Đặc điểm tình hình Việt Nam thời kỳ miền Bắc quá độ lên chủ

nghĩa xã hội:

Thứ nhất, là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu dựa trên sản xuất nhỏ cá thể, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản để lại hết sức kém cỏi và non yếu Công nghiệp nhỏ bé, nông nghiệp và thủ công có tính chất phân tán, chiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, miền Bắc chịu sự tàn phá nặng nề của 15 năm chiến tranh, chính sách khai thác thuộc địa nặng nề của thực dân Pháp

Thứ ba, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong khi chủ nghĩa xã hội

đã trở thành một hệ thống trên thế giới

Thứ tư, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc diễn ra khi đất nước ta đang bị chia cách làm hai miền.Đảng và Nhà nước đã chủ trương:

“đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.”

4 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

4.1.Thừa nhận sự tồn tại khách quan, lâu dài và chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, qua nhiều năm chiến tranh lực lượng sản xuất chưa phát triển cần làm kinh tế nhiều thành phần để đảm bảo đời sống nhân dân, cung cấp kịp thời cho kháng chiến Do đó tất yếu phải phát triển kinh tế nhiều thành phần

Năm 1953, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng nước ta còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế vùng tự do, đó là:

+ Kinh tế địa chủ, phong kiến bóc lột địa tô

+ Kinh tế quốc doanh có tính chất XHCN

Trang 10

+ Kinh tế HTX tiêu thụ, HTX cung cấp, các tổ đổi công ở nông thôn có tính chất nửa XHCN

+ Kinh tế cá nhân của nhân dân và thợ thủ công mĩ nghệ

+ Kinh tế tư bản tư nhân

+ Kinh tế tư bản quốc gia (tư bản nhà nước)

Do vậy, mục tiêu ban đầu của 6 thành phần kinh tế đó là làm sao cho dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, làm cho dân được học hành

Để duy trì 6 thành phần kinh tế, Hồ Chí Minh đã đưa ra 6 chính sách mấu chốt:

+ Công tư đều lợi

+ Chủ thợ đều lợi

+ Công nông đều lợi

+ Lưu thông trong ngoài

Khi chế độ dân chủ mới ở nước ta ngày càng phát triển, thành phần kinh tế phong kiến địa chủ bị tiêu diệt Vì vậy trong thời kì quá độ lên CNXH

ở Việt Nam chỉ còn 5 thành phần kinh tế đó là:

+ Kinh tế quốc doanh

+ Các hợp tác xã

+ Kinh tế cá nhân, nông dân, thợ thủ công

+ Tư bản tư nhân

+ Tư bản nhà nước công tư hợp danh

Theo Hồ Chí Minh, nến kinh tế nhiều thành phần tồn tại suốt thời kì quá độ là vì 2 ló do:

Trang 11

- Các thành phần kinh tế cũng là sự biểu hiện của các quan hệ sản xuất khác nhau

- Khi chế độ xã hội đang trong quá trình từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN, việc thực hiện kinh tế nhiều thành phần đảm bảo sợ phù hợp của quan hệ sản xuất cũ với trình độ của lực lượng sản xuất còn manh mún

Những mảnh vụn của xã hội cũ sẽ được cải tạo chuyển dần lên CNXH

4.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

Hồ Chí Minh xác định rõ vị trí và xu hướng vận động của từng thành phần kinh tế Nước ta cần ưu tiên phát triển kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho CNXH, thúc đẩy việc cải tạo XHCN Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, Nhà nước cần đặc biệt

khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ nó phát triển Về tổ chức hợp tác xã, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nguyên tắc dần dần, từ thấp đến cao, tự nguyện, cùng

có lợi, chống chủ quan, gò ép, hình thức Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, ra sức hướng dẫn và giúp cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đường hợp tác Đối với những nhà tư sản công thương, vì họ đã tham gia ủng

hộ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có đóng góp nhất định trong khôi phục kinh tế và sẵn sang tiếp thu, cải tạo để góp phần xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Nhà nước không xóa bỏ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà hướng dẫn họ hoạt động làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kinh tế nhà nước, khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theo CNXH bằng hình thức tư bản nhà nước

5 Tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ ở nước ta

Trang 12

Chủ trương Đổi mới của Đảng và Nhà nước 1986

5.1.Bối cảnh ra đời (giai đoạn trước năm 1986): thời kì bao cấp

Trải qua 10 năm thực hiện hai kế hoạch 5 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976-1980 và 1981-1985), nhân dân ta đã đạt được những thành tựu và tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực kinh tế - xã hội và trong cuộc đấu tranh bảo vệ

Tổ quốc Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn và yếu kém, chủ yếu là do sai lầm khuyết điểm gây nên, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội

Thời gian này, trên thế giới cũng đang diễn ra nhiều thay đổi to lớn, sâu sắc Sau một thời gian dài phát triển, đạt được những thành tựu vĩ đại trong lịch sử nhân loại, đế cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, các nước XHCN đều lần lượt lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng Ở các nước

tư bản chủ nghĩa (TBCN) cũng đang diễn ra những thay đổi to lớn do tác động không thể cưỡng lại và phản ứng dây chuyền của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ

Những diễn biến trên đây của tình hình trong nước và thế giới đã dẫn đến cuộc đổi mới toàn diện ở Đại hội VI (1986) Đổi mới là vấn đề sống còn của CNXH ở nước ta, đồng thời là vấn đề phù hợp với xu thế chung của thời đại Những yếu tố của hoàn cảnh quốc tế là quan trọng, không có nó, không

có đổi mới Nhưng những diễn biến của tình hình trong nước là nguyên nhân

cơ bản, sâu xa nhất buộc chúng ta phải “Đổi mới” Từ sự nắm bắt kịp thời những diễn biến của tình hình thế giới, cảm nhận chính xác hoàn cảnh đất nước, với bản lĩnh chính trị vững vàng, Đảng và nhân dân ta đã chủ động tiến hành công cuộc đổi mới Đảng và nhân dân đã kết hợp làm một như đã từng thống nhất nhận thức, ý chí, thống nhất hành động trong chiến tranh, đã phát huy nguồn nội lực dồi dào của dân tộc, kết hợp với sức mạnh của ngoại lực, của thời đại để phát động và tiến hành công cuộc đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (12 - 1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam là mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển đất nước sang thời kỳ đổi mới

Ngày đăng: 12/05/2016, 19:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w