1. Tính cấp thiết của đề tài Ở nước ta hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện. Bởi, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong những năm qua hoạt động của UBND cấp huyện đã được đổi mới đáng kể, mang lại hiệu quả tích cực, đời sống của nhân dân được nâng cao, quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy... Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động UBND cấp huyện vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: Bộ máy chính quyền chậm được sắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân. Công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ. Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao. Còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính quyền chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.…đang minh chứng sự kém hiệu lực, hiệu quả của UBND cấp huyện. Bên cạnh đó mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của UBND huyện còn chịu ảnh hưởng của quá trình thay đổi nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển. Đây là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay. Điều này đã đặt ra yêu cầu tất yếu và cần thiết phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấp huyện, tức là phải xây dựng bộ máy chính quyền gọn nhẹ, ít tầng nấc trung gian, hoạt động thông suốt, sát nhân dân, tập trung vào chức năng quản lý nhà nước. Ngoài ra, căn cứ vào sự chuyển đổi cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, căn cứ vào xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa diễn ra trên toàn thế giới. Chính những căn cứ trên đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấp huyện ở nước ta. Từ thực trạng chung đó, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện một cách rõ rằng, cụ thể, để đưa ra những giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện là vấn đề cấp thiết trong điều kiện nước ta hiện nay. Vì vậy, với phạm vi nhất định, việc nghiên cứu đề tài: Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành Chính trị học có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta hiện nay, một trong những yêu cầu cấp thiết là phải đổimới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) cấphuyện Bởi, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong những năm quahoạt động của UBND cấp huyện đã được đổi mới đáng kể, mang lại hiệuquả tích cực, đời sống của nhân dân được nâng cao, quyền làm chủ củanhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởngđược phát huy Tuy nhiên, trong tổ chức và hoạt động UBND cấp huyệnvẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém: Bộ máy chính quyền chậm đượcsắp xếp lại cho tinh giản và nâng cao chất lượng, còn nhiều biểu hiệnquan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân Công tác tuyển chọn, bồidưỡng, thay thế, trẻ hoá, chuẩn bị cán bộ kế cận còn lúng túng, chậm trễ.Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ chưa tương xứng với yêu cầucủa nhiệm vụ Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cáchmạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ
sở Đảng chưa cao Còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnhđạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng Tình trạng thamnhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ củadân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, cónhững nơi nghiêm trọng Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong hệthống chính quyền chưa được xác định rành mạch, tránh nhiệm không rõ;nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiệncủa cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp.…đang minh chứng sự kém hiệulực, hiệu quả của UBND cấp huyện
Trang 2Bên cạnh đó mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của UBNDhuyện còn chịu ảnh hưởng của quá trình thay đổi nền hành chính truyền thốngsang nền hành chính phát triển Đây là xu thế tất yếu của quá trình đổi mới ởnước ta hiện nay Điều này đã đặt ra yêu cầu tất yếu và cần thiết phải đổi mới
tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấp huyện, tức là phải xâydựng bộ máy chính quyền gọn nhẹ, ít tầng nấc trung gian, hoạt động thôngsuốt, sát nhân dân, tập trung vào chức năng quản lý nhà nước Ngoài ra,căn cứ vào sự chuyển đổi cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, căn cứ vào xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế và toàn cầu hóa diễn ra trên toàn thế giới Chính những căn cứ trên đãđặt ra yêu cầu phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBNDcấp huyện ở nước ta
Từ thực trạng chung đó, việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động của cơquan hành chính nhà nước cấp huyện một cách rõ rằng, cụ thể, để đưa ranhững giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức và hoạt độngcủa UBND cấp huyện là vấn đề cấp thiết trong điều kiện nước ta hiện nay Vì
vậy, với phạm vi nhất định, việc nghiên cứu đề tài: "Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp chuyên nghành Chính trị học
có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói việc nghiên cứu về tổ chức và phương thức hoạt động củachính quyền địa phương nói chung và UBND cấp huyện nói riêng đã được
nhiều công trình khoa học nghiên cứu đề cập Các công trình như: “Cải cách
tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” của PGS.TS
Trang 3Lê Minh Thông; “Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm, xu hướng và giải pháp” củaTS Vũ Hoàng Công; “Quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2020” của PGS TS Trần Đình Hoan (chủ biên); “Nội dung và phương thức hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước trong thời kỳ quá độ” của GS Đoàn Trọng Tuyến; “Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc Tây nguyên”
của GS TS Lê Hữu Nghĩa… Các công trình nghiên cứu nêu trên đều đề cậpđến những khía cạnh, phạm vi khác nhau liên quan đến tổ chức và hoạt độngcủa UBND cấp huyện, tuy nhiên việc nghiên cứu tổ chức và phương thứchoạt động của một UBND một cách cụ thể thì chưa được quan tâm đúng mức
Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng tổ chức và phương thức hoạt động củaUBND huyện Đan Phượng trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính(CCHC), đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế theo cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng và trong điều kiện xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay là vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn qua đó có những phương hướng, giải pháp hữuhiệu để đổi mới, nâng cao vai trò của UBND huyện Đan Phượng nói riêng vàcác cơ quan chính quyền địa phương trên cả nước nói chung hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá đúng thựctrạng tổ chức, phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng, khoáluận đề xuất một số quan điểm và giải pháp quan trọng nhằm đổi mới tổchức và phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng trong giaiđoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Làm rõ quan niệm, vai trò, đặc điểm tổ chức và phương thức hoạtđộng của UBND cấp huyện nói chung
Trang 4- Phân tích những yêu cầu đổi mới tổ chức và phương thức hoạt độngcủa UBND cấp huyện nói chung.
- Phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức và phương thức hoạt độngcủa UBND huyện Đan Phượng
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp quan trọng nhằm đổi mới tổchức và phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng
4 Phạm vi nghiên cứu
Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBND huyện ĐanPhượng có thể đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, trong phạm vi củamột khóa luận, tác giả chỉ đề cập vào một số nội dung cơ bản về tổ chức vàphương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng (qua khảo sát thực tếtrong hai nhiệm kỳ 1999 - 2004 và 2004 - 2011)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về tổ chức vàphương thức hoạt động của bộ máy nhà nước đồng thời khóa luận còn kết hợpvới các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phântích, tổng hợp, logic, lịch sử, so sánh, nghiên cứu tài liệu, tổng kết thực tiễn
6 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa khóa luận gồm 3 chương 9 tiết
Trang 5Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
Trang 61.1 Khái niệm, đặc điểm tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong hệ thống chính quyền địa phương
1.1.1 Khái niệm Ủy ban nhân dân cấp huyện
Ở nước ta khái niệm chính quyền địa phương được sử dụng thông dụng
kể từ sau khi thành lập chính quyền nhân dân Trong khái niệm này thườngbao hàm hai cơ quan là Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND (Ủy ban hànhchính (UBHC) trước Hiến pháp 1980) Khác với nhiều nước trên thế giới hiệnnay đang thực hiện mô hình chính quyền tự quản tại địa phương, bộ máychính quyền địa phương ở nước ta là một hệ thống thống nhất các cơ quannhà nước và được thành lập hầu như giống nhau ở tất cả các đơn vị hànhchính, không có các cơ quan tự quản
HĐND và UBND đều có cùng chức năng chấp hành pháp luật tại địaphương theo quy định của pháp luật HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương Quy định này đã tạo ra sự nhận thức không thống nhất về HĐND
và UBND trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước ở trung ương Theoquy định của pháp luật, UBND các cấp luôn nằm trong mối quan hệ songtrùng trực thuộc, tức là vừa trực thuộc HĐND cùng cấp, vừa trực thuộc cơquan hành chính nhà nước cấp trên Trong lúc ấy mối quan hệ giữa HĐNDvới các cơ quan cấp trên lại không được xác định cụ thể
Trang 7Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, căn cứ Điều 2 luật tổ chức HĐND và UBND năm 2004, có thể nói:
“UBND do HĐND bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chínhNhà nước ở địa phương UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật,các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùngcấp nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội,củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần đảmbảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từtrung ương tới cơ sở” [15, tr.6-7]
Theo Điều 4, luật tổ chức HĐND và UBND năm 2004 HĐND vàUBND được tổ chức ở các đơn vị hành chính sau đây:
- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, thành phố trực thuộc tỉnh, quận và thị xã (gọi chung là cấphuyện);
- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
Như vậy, chính quyền địa phương được chia thành ba cấp theo đơn vịhành chính lãnh thổ và các cấp đó được chia thành hai loại: nông thôn và đôthị Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc tổ chức và hoạt động của cáccấp chính quyền địa phương và nhằm khai thác tốt những lợi thế, tiềm năngcủa mỗi cấp chính quyền địa phương theo những đặc điểm riêng
Từ những qui định chung trong luật tổ chức HĐND và UBND có thể
hiểu: UBND cấp huyện là cơ quan do HĐND cấp huyện bầu ra, cơ quan chấp hành của HĐND cấp huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện.
Trang 8Từ khái niệm UBND cấp huyện như trên, ta thấy chính chính quyền địaphương tại mỗi cấp hành chính lãnh thổ bao gồm: HĐND và UBND UBNDcấp huyện vừa là cơ quan chấp hành và hành chính, vừa là cơ quan nhà nướccấp huyện Điều đó phản ánh mối quan hệ giữa tính đại diện và thực thi quyềnlực nhà nước; giữa quyền uy và phục tùng trong quản lý hành chính nhà nước.Đồng thời, cũng chỉ ra mối quan hệ giữa UBND cấp huyện với các cơ quankhác là: UBND cấp tỉnh, HĐND cấp huyện, các cơ quan chuyên môn củaUBND cấp tỉnh, HĐND và UBND cấp xã và những mối quan hệ với các cơquan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị trên địa bàn huyện Trong đóUBND cấp huyện là khâu trung gian quan trọng trong sự liên kết đó (UBNDcấp huyện là một cơ quan chính quyền trung gian giữa cấp tỉnh và cấp xã)
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình UBND cấp huyện quản
lý địa phương theo Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nướccấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, háchdịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong cơquan, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và trong bộ máy chínhquyền ở địa phương
1.1.2 Đặc điểm tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Theo Mục II, Điều 46 luật tổ chức và hoạt động của UBND thì UBND cấphuyện có những đặc điểm về tổ chức và phương thức hoạt động như sau: “UBNDhuyện do HĐND cùng cấp bầu ra gồm có Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Ủy viên.Chủ tịch UBND là đại biểu HĐND Các thành viên khác không nhất thiếtphải là đại biểu HĐND Kết quả bầu các thành viên của UBND cấp huyệnphải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn UBND cấp huyện có
từ 7 đến 9 thành viên Số Phó Chủ tịch UBND huyện do Chính phủ quyđịnh” [16, Tr.37]
Trang 9UBND cấp huyện mỗi tháng họp ít nhất một lần, các quyết định củaUBND phải được quá nửa tổng số thành viên UBND biểu quyết tán thành.HĐND và UBND các cấp nói chung và UBND cấp huyện nói riêng được tổchức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Xét từ góc độ tổ chức
và phương thức hoạt động có thể thấy UBND cấp huyện có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
- Sự thống nhất giữa tính chất quyền lực nhà nước và tính tự quản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
Ở nước ta chính quyền địa phương được chia thành ba cấp theo đơn vịhành chính lãnh thổ (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) Và các cấp đó được chiathành hai loại: nông thôn và đô thị Việc phân chia như vậy là cơ sở cho việc
tổ chức và hoạt động của các cấp chính quyền địa phương và nhằm khai tháctốt những lợi thế của mỗi cấp chính quyền địa phương theo những đặc điểmvốn có Bộ máy Nhà nước ta có cấu tạo là bộ máy nhà nước ở Trung ương và
bộ máy Nhà nước ở địa phương, và việc tổ chức và hoạt động của bộ máyNhà nước trong toàn hệ thống phải đảm bảo tính liên thông của quyền lựcNhà nước từ Trung ương xuống địa phương, thể hiện cơ chế quyền lực vừađộc lập, vừa phụ thuộc, đảm bảo tính liên hệ và kiểm soát lẫn nhau Thứ nhấttính chất quyền lực nhà nước thể hiện trong việc tổ chức bộ máy nhà nước,quan hệ quyền lực theo chiều ngang là sự phân công và phối hợp giữa các cơquan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư phápthì trong quan hệ theo chiều dọc theo các đơn vị hành chính lãnh thổ thìquyền lực nhà nước được xác định theo sự phân cấp, phân quyền giữa trungương và địa phương và giữa các cấp trong hệ thống chính quyền địa phươngnhằm đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước Như vậy, rõ rằng UBND cấp huyện mang tính chất quyềnlực nhà nước Bên cạnh đó nó còn thể hiện tính chất tự quản trong việc thực
Trang 10hiện quyền lực nhà nước Điều này thể hiện ở chỗ hoạt động của UBND cấphuyện còn là thực hiện ý chí, nguyện vọng của cộng đồng dân cư phù hợp vớiđặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội và mức độ thực hành dân chủ của ngườidân trên địa bàn huyện và chịu sự giám sát của nhân dân Việc tự chủ củaUBND cấp huyện được thông qua việc quyết định, tổ chức và hoạt động thựctiễn hàng ngày của địa phương đối với những vấn đề của riêng địa phương,bằng các nguồn lực của địa phương Do đó, có thể nói về phương diện tổ chức
và phương thức hoạt động UBND cấp huyện là cấp cơ quan quan trọng trongviệc đại diện cho quyền lực nhà nước thống nhất, đại diện cho lợi ích củaquốc gia, dân tộc song cũng đại diện cho ý chí nguyện vọng và phục vụ lợiích chính đáng của nhân dân trên địa bàn huyện
- Tính chất phụ thuộc trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
UBND cấp huyện là cơ quan do HĐND cấp huyện bầu ra, cơ quan chấphành của HĐND cấp huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịutrách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nướccấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện Từ khái niệm UBND cấp huyệntrên cho ta thấy hoạt động của UBND cấp huyện là hoạt động chấp hành -hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là một bộ phậntrong guồng máy hành chính nhà nước thống nhất do Chính phủ chỉ đạo,điều hành Điều đó phản ánh mối quan hệ giữa tính đại diện và thực thi quyềnlực nhà nước; giữa quyền uy và cụ thể là tính phục tùng trong việc thực hiệnchức năng quản lý hành chính nhà nước Với đặc điểm này UBND cấp huyệnchịu sự lãnh đạo của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, phải phục tùngcác quyết định cũng như chịu sự điều hành của cơ quan hành chính nhà nướccấp trên trong phạm vi và mức độ được phân cấp theo qui định của phápluật
Trang 111.2 Khái lược về lịch sử tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện ở nước ta qua các bản Hiến pháp
Trong mỗi thời kỳ, từ thời kỳ phong kiến đến thời kỳ sau cách mạngtháng Tám năm 1945 cho tới thời kỳ sau khi tuyên bố thành lập Nhà nướcViệt Nam dân chủ cộng hòa, việc tổ chức và phương thức hoạt động củaUBND cấp huyện đều có sự khác nhau và đều thể hiện một sự phát triển rõrệt Vị trí, vai trò của UBND nói chung, UBND cấp huyện nói riêng đượckhẳng định từng bước trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước ta
Cùng với quá trình xây dựng và củng cố chính quyền, vị trí, vai trò củaUBND cấp huyện với tư cách là cơ quan thực hiện quản lý hành chính ở địaphương tiếp tục được khẳng định và có những bước phát triển cơ bản qua cácHiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992
Hiến pháp 1946 qui định về việc thành lập HĐND và UBHC ở các đơn
vị hành chính trong cả nước; chế độ bầu cử HĐND, nhiệm vụ, quyền hạn củaHĐND, việc bãi miễn đại biểu HĐND và quan hệ của HĐND và UBHC cùngcấp, đặc biệt là chế độ chịu trách nhiệm của UBHC
Theo Hiến pháp 1946, về phương diện hành chính, nước ta được chiathành ba bộ: Bắc, Trung, Nam Mỗi bộ được chia thành các tỉnh; mỗi tỉnhđược chia thành các huyện; mỗi huyện được chia thành các xã (Điều 57) Tuynhiên, phù hợp với điều kiện lịch sử lúc đó và có sự kế thừa lịch sử, Hiếnpháp 1946 qui định: ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã có HĐND và UBHC; ở bộ
và huyện chỉ có UBHC (Điều 58) Như vậy, có thể thấy rằng, thời kỳ này,UBND các cấp (được gọi là UBHC) được thành lập ở tất cả các bộ, tỉnh,thành phố, thị xã, xã, nhưng ở bộ và huyện không có HĐND Điều này chothấy tính đặc thù trong tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấphuyện, đó là cùng là cấp huyện nhưng đối với thị xã thì có HĐND, còn ở
Trang 12huyện thì không có HĐND mà chỉ có UBHC Hay nói cách khác, việc thànhlập HĐND tùy thuộc vào điều kiện, yêu cầu quản lý đối với từng cấp
Theo Hiến pháp 1946, HĐND tỉnh, thành phố, thị xã, xã do nhân trựctiếp bầu ra theo lối phổ thông đầu phiếu Ở cấp có HĐND thì UBHC doHĐND cử ra Còn đối với cấp không có HĐND thì UBHC bộ do HĐND cáctỉnh, thành phố bầu ra; UBHC huyện do HĐND các xã bầu ra Như vậy, cùng
là UBHC cấp huyện nhưng trong thời kỳ này có sự khác biệt về cách thức cử
và bầu, đó là UBHC thị xã do HĐND thị xã cử ra, còn UBHC huyện doHĐND các xã bầu ra
Theo Hiến pháp 1959, chính quyền địa phương bao gồm ba cấp hànhchính: tỉnh, huyện, xã Các đơn vị hành chính trên đều thành lập HĐND vàUBHC Như vậy, so với Hiến pháp 1946, điểm mới của Hiến pháp 1959 làcấp huyện có cả HĐND và UBHC; HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ởđịa phương và UBHC các cấp là cơ quan chấp hành của HĐND địa phương,
là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương UBHC gồm có Chủ tịch, mộthoặc nhiều Phó Chủ tịch, Ủy viên Thư ký và các Ủy viên khác
Theo Hiến pháp 1980, vị trí, vai trò của UBND cấp huyện vẫn đượcxác định là cơ quan chấp hành của HĐND huyện, là cơ quan hành chính nhànước UBND gồm có Chủ tịch, một hoặc nhiều Phó Chủ tịch, Ủy viên Thư ký
và các Ủy viên khác
Tiếp tục kế thừa những qui định về UBND cấp huyện trong các văn bảnpháp luật đã có, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm2001) tiếp tục khẳng định UBND cấp huyện do HĐND cấp huyện bầu ra, là
cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương,chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhànước cấp trên và nghị quyết của HĐND
Trang 13UBND cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cóquyền ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành những văn bản đó Chủtịch UBND lãnh đạo, điều hành hoạt động của UBND Khi quyết định nhữngvấn đề quan trọng của địa phương, UBND huyện phải thảo luận tập thể vàquyết định theo đa số.
UBND cấp huyện là cơ quan quản lý thẩm quyền chung ở địa phương,thực hiện quản lý nhà nước trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội Trongthực tế, ở phạm vi cấp huyện, có thể thấy những việc của người dân hầu nhưphần nhiều được giải quyết tại UBND cấp huyện với những cơ quan có thẩmquyền riêng là các phòng, ban thuộc UBND huyện, do đó, việc luôn đổi mới,kiện toàn tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện là yếu tố cơ bản nângcao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của UBND cấp huyện ở nước tahiện nay Việc đổi mới tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện phảiđược thực hiện đồng bộ trên các phương diện đổi mới cơ cấu tổ chức; mốiquan hệ giữa UBND cấp huyện với các cơ quan, tổ chức hữu quan; vấn đềcán bộ, công chức; vấn đề thể chế pháp lý và cơ chế, phương thức hoạt động
Chủ tịch UBND huyện có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏnhững văn bản sai trái của cơ quan thuộc UBND cấp xã; đình chỉ thi hànhnghị quyết sai trái của HĐND cấp xã đồng thời đề nghị HĐND huyện bãi bỏnhững nghị quyết đó Thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địaphương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến,kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế
xã hội ở địa phương; phối hợp với các đoàn thể nhân dân động viên nhân dâncùng nhà nước thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ởđịa phương
Như vậy, qua những qui định của các hiến pháp về vị trí, chức năng,nhiệm vụ của UBND cấp huyện cho thấy, cho dù về tên gọi có sự thay đổi
Trang 14qua các thời kỳ (UBHC, UBND), nhưng về bản chất, UBND cấp huyện là cơquan hành chính nhà nước ở địa phương, thực hiện quản lý hành chính đốivới các vấn đề trên địa bàn huyện về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, anninh, quốc phòng
Từ khái lược lịch sử tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện vànhững qui định pháp luật hiện hành cho thấy, UBND cấp huyện là cơ quanquản lý hành chính nhà nước có vai trò quan trọng nhất ở địa phương, là cấpchuyển tải, thực tế hóa đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nướctrong thực tế tại địa bàn cấp huyện, giải quyết số lượng lớn các công việchàng ngày trong quản lý nhà nước phù hợp với tình hình địa phương Xét vềthứ bậc trong hệ thống các cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địaphương, UBND cấp huyện là cấp quản lý hành chính trung gian để thực hiệnnhững chính sách, quyết định từ Trung ương tại cơ sở, trong nhân dân Có thểnói, so với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện là cấp trực tiếp hơn, sát dân hơnkhi thực thi, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước trên phạm vi địa bànquận, huyện
Hiện nay, UBND là cơ quan do HĐND bầu, là cơ quan chấp hành củaHĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trướcHĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên UBND chịu trách nhiệm chấphành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghịquyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện phápphát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện cácchính sách khác trên địa bàn UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ởđịa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máyhành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở
1.3 Tính tất yếu khách quan của đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trang 15Việc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của UBND cấp huyện làmột yêu cầu khách quan và cấp bách trong điều kiện nước ta hiện nay, muốnlàm được như vậy thì một yêu cầu tất yếu đặt ra đó là phải đổi mới tổ chức vàphương thức hoạt động của UBND cấp huyện ở nước ta Yêu cầu này xuấtphát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn sau:
UBND cấp huyện là cơ quan do HĐND cấp huyện bầu ra, cơ quan chấphành của HĐND cấp huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện, chịutrách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan nhà nướccấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện UBND thực hiện chức năngquản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thốngnhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở
Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề Bản thân bộ máynhà nước, mà UBND cấp huyện là một bộ phận không đổi mới tổ chức vàhoạt động theo hướng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thì không thể hoànthành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó
Thực tiễn tổ chức và hoạt động của UBND cấp huyện cho thấy bêncạnh những ưu điểm, những thành tựu đã đạt được trong quá trình thực hiệnchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình vẫn còn những yếu kém cần phảikhắc phục kịp thời như bệnh quan liêu, mệnh lệnh, vi phạm dân chủ, quản lýthiếu tập trung, thống nhất, thiếu trật tự kỷ cương, bộ máy cồng kềnh, làmviệc kém năng suất… những khuyết điểm, tồn tại đó đã làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thi nhệm vụ, quyền hạncủa UBND cấp huyện
Tình hình kinh tế, chính trị và tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệtrên thế giới thay đổi về cơ bản đòi hỏi chúng ta phải đổi mới về tổ chức vàphương thức hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và của UBND cấp
Trang 16huyện nói riêng để có thể đáp ứng kịp với diễn biến của tình hình và tốc độphát triển của thời đại.
Là một cấp cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương trong
hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, việc đổi mới tổ chức và phươngthức hoạt động của UBND cấp huyện không thể nằm ngoài những yêu cầu,mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của bộmáy nhà nước, yêu cầu CCHC và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở nước ta hiện nay
Việc đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBND cấp huyện
là một tất yếu khách quan Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động củaUBND cấp huyện phải tiết kiệm chi phí hành chính, đảm bảo tăng cường hiệulực, hiệu quả trong hoạt động của UBND cấp huyện Phải đề cao trách nhiệmcủa đội ngũ cán bộ, công chức UBND cấp huyện, nhiệm vụ, quyền hạn tươngxứng với nghĩa vụ, coi trọng đánh giá công bằng thông qua “chất lượng côngviệc” và coi chất lượng công việc là một tiêu chuẩn quan trọng trong thangbậc đánh giá Tích cực trong việc cung ứng dịch vụ công với chất lượng theoyêu cầu, phù hợp với thực tế xã hội đòi hỏi để đảm bảo cho UBND cấp huyệnthực hiện tốt vai trò là người cầm lái trong quản lý nhà nước ở địa phương
Trang 17Chương 2
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
(QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ GIAI ĐOẠN 1999 - 2011)
2.1 Khái quát chung về huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Đan Phượng là một huyện có lịch sử lâu đời ở Việt Nam Vốn là đấtPhong Châu xưa, sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triềunguyễn chép: “Huyện Đan Phượng ở cách Phủ (Quốc Oai) 35 dặm về phíađông; đông tây cách nhau 20 dặm, nam bắc cách nhau 25 dặm; phía đông đếnđịa giới huyện Yên Sơn 8 dặm, phía nam đến địa giới huyện Từ Liêm tỉnh HàNội 13 dặm, phía bắc đến địa giới huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai 12 dặm”
Huyện được đặt từ thời Trần, đến thời Minh chiếm đóng thì huyện tên
là Đan Sơn thuộc Châu Từ Liêm, phủ Giao Châu Năm 1888 sau khi vuaĐồng Khánh cắt Hà Nội cho Pháp Huyện được nhập về phủ Hoài Đức tỉnh
Từ ngày 01/8/2008 đến nay huyện Đan Phượng thuộc thành phố HàNội theo Nghị quyết 15 - NQ/QH
Từ ngày thành lập đến nay, gắn bó chặt chẽ với vận mệnh của Tổ quốcqua những chặng đường lịch sử từ đấu tranh chống thực dân Pháp, đế quốc
Mỹ, đến hoà bình lập lại và hiện nay trong thời kỳ đổi mới của đất nước,
Trang 18UBND huyện Đan Phượng đã chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã,thị trấn trong huyện thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảmbảo an ninh, trật tự mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, Nghị quyếtHĐND huyện đã đề ra trong từng thời kỳ, góp phần vào việc thực hiện thắnglợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố nói riêng và cảnước nói chung Đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan thuộc UBND huyệnngày càng được tuyển chọn chặt chẽ, đảm bảo về chất lượng và số lượng;được đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn nhằm tham mưu giúp việc kịpthời, chính xác cho HĐND, UBND huyện.
2.1.2 Điều kiện tự nhiên.
Đan Phượng (theo Hán ngữ có nghĩa là “chim phượng đỏ”) là một huyện nằmtrong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng có vẻ đẹp trù phú với những ruộng lúa,nương dâu xanh biếc, khí hậu ôn hòa, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp Bên cạnh đó, với vị trí địa lý phía Bắc giáp huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), phíanam giáp huyện Hoài Đức, phía Tây giáp huyện Phúc Thọ, phía Đông giáp huyện TừLiêm, Đan Phượng có rất nhiều lợi thế để giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Với diện tích tự nhiên 76,8 km2 Đan Phượng có diện tích tự nhiên nhỏnhất so với các huyện trong thành phố Tuy nhiên, với lợi thế của một huyệnven đô “nhất cận thị, nhị cận giang” Đan Phượng đã không ngừng tận dụng,phát huy tối đa tiền năng, thế mạnh này cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Hiện nay, toàn huyện Đan phượng có 16 đơn vị hành chính với 15 xã
và 1 thị trấn Dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy và ủy ban nhân dân huyện, các xã
và thị trấn đều thực hiện tốt nhiệm vụ của mình góp phần vào sự tăng trưởngcủa các huyện, nhiều cụm công nghiệp đã và đang được xây dựng, tạo thêmnhiều công ăn việc làm cho nhân dân trong huyện
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội.
Có thể nói sau gần 10 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bộmặt đô thị nơi đây đã có sự thay đổi ngày càng rõ nét, đời sống vật chất tinh
Trang 19thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt Bộ máy của Đảng bộ,Đảng uỷ, HĐND, UBND, các đoàn thể quần chúng được củng cố vững mạnh.
Về kinh tế: Đan Phượng là huyện có diện tích tự nhiên nhỏ nhất so với
các huyện trong tỉnh Nhưng với lợi thế của một huyện ven đô “nhất cận thị,nhị cận giang”, những năm qua, Đan Phượng không ngừng tận dụng, phát huytối đa những tiềm năng, thế mạnh này cho phát triển kinh tế - xã hội Tốc độtăng trưởng kinh tế khá cao (13,3%/năm, mức tăng bình quân của tỉnh là9,8%/năm), cơ cấu kinh tế chuyển dịch ngày càng hợp lý và toàn diện, đờisống của người dân được cải thiện rõ rệt
Huyện Đan Phượng là một vùng đất nông nghiệp với lợi thế là khí hậu
ôn hoà, ruộng vườn phì nhiêu, có truyền thống sản xuất nông nghiệp với trình
độ thâm canh cao Những năm gần đây, huyện đã có xu hướng giảm diện tíchđất lúa chuyển sang phát triển trang trại, vườn trại, vườn ruộng, dành quỹ đấtcho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ Mặc
dù diện tích đất có giảm nhưng năng suất và sản lượng luôn ổn định, giá trịsản xuất trên một đơn vị diện tích không ngừng tăng lên Hiện nay, đây là mộttrong những địa phương cung cấp rau, quả cho thị trường Hà Nội và các thịtrường lân cận, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân
Đan Phượng cũng đã xây dựng được các vùng sản xuất cây con tậptrung như vùng sản xuất lúa chất lượng cao Đan Phương, Song Phượng; vùngsản xuất rau Phương Đình, Song Phượng, Đan Phượng; vùng trồng ngô ngọtSong Phượng, Trung Châu; vùng trồng dưa chuột Phương Đình; vùng trồngcây ăn quả Thượng Mỗ, Phương Đình…
Huyện Đan Phượng cũng là vùng đất bãi và có diện tích đồng cỏ lớnnên thích hợp cho ngành chăn nuôi Mô hình chăn nuôi ruộng - vườn - trạingày càng phát triển trên địa bàn, cho thu nhập từ 50 -100 triệu đồng/ha, thậmchí có vùng lên đến 300 triệu đồng/ha
Trang 20Đan Phượng cũng là địa phương phát triển mạnh về công nghiệp,thương mại và dịch vụ, với tốc độ phát triển gần 30%/năm, tập trung vào cácngành chế biến lâm sản, thực phẩm, đồ uống, dệt may và sản xuất vật liệu xâydựng Để đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển công nghiệp, Đan Phượng đã vàđang tích cực triển khai xây dựng các cụm, điểm công nghiệp: Cụm côngnghiệp Tân Lập, cụm công nghiệp thị trấn Phùng, điểm công nghiệp ĐanPhượng, Phương Đình, Liên Hà, Liên Trung, Tân Hội…
Huyện lị Phùng cách trung tâm Hà Nội 22 km trên quốc lộ 32, gần sôngĐáy, là vị trí thuận lợi cho Đan Phượng trong việc giao lưu, trao đổi hàng hoávới các vùng miền lân cận
Về văn hóa - xã hội: Đan Phượng cũng là vùng đất có nhiều thành
tựu trong các hoạt động văn hoá - xã hội Chất lượng giáo dục toàn diện,đại trà và mũi nhọn được nâng lên Công tác chăm sóc sức khỏe cộngđồng được quan tâm đúng mức Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dânngày càng được cải thiện Toàn huyện có 13 điểm bưu điện - văn hóa.Nhiều nhà văn hóa thôn, cụm dân cư được thành lập, duy trì hoạt độnghiệu quả của các tủ sách, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, nâng cao kiến thứccủa nhân dân Huyện có 7 làng, khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa, hơn70% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hoá
Nét đặc sắc nhất trong văn hoá của vùng đất Đan Phượng là Chèo Tàu.Đây là một loại hình nghệ thuật truyền thống của Hà Tây cũ, có nguồn gốc từlâu đời và phát triển rực rỡ ở thế kỷ XVII và XVIII Hình thức diễn xướngcủa hát Chèo Tàu rất độc đáo, chỉ có phụ nữ tham gia biểu diễn (nếu là đànông phải cải trang thành nữ) vừa hát vừa biểu diễn các động tác bơi chèo trên
mô hình thuyền rồng Trước đây, hội hát Chèo Tàu 30 năm mới được mở mộtlần để tưởng nhớ tướng công Văn Dĩ Thành, người có công đánh giặc vàothời vua Trùng Quang Ngày nay, từ 5 - 7 năm, hội hát được mở một lần vào
Trang 21ngày 15 đến 20 tháng giêng âm lịch tại Lăng Văn Sơn, làng Thượng Hội, xãTân Hội
Đan Phượng là quê hương của nhà thơ Quang Dũng, tác giả bài TâyTiến, cùng nhiều danh nhân khác như: Nguyễn Danh Dự, Tạ Đăng Huấn,Phạm Phi Kiến, Thi Sách, Tô Hiến Thành, Nguyễn Hữu Phúc Từ đời Lê vềtrước, huyện có 30 người đỗ đại khoa
Di tích danh thắng tiêu biểu của huyện là đình Ích Vịnh, đền Nhã Lang,
chùa Liên Trung, đền Yên Sở
2.2 Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
2.2.1 Số lượng, cơ cấu, chất lượng thành viên UBND huyện Đan Phượng
- Số lượng, chất lượng thành viên UBND huyện
Nhiệm kỳ 1999 - 2004: Thực hiện Luật tổ chức HĐND và UBND năm
1994, và Nghị định 174/CP ngày 29/9/1994 của Chính phủ về cơ cấu thànhviên và Phó chủ tịch UBND các cấp; kỳ họp thứ nhất HĐND huyện tháng12/1999 đã bầu 9 thành viên UBND huyện gồm Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch, 6
Ủy viên UBND phụ trách công tác: Tổ chức chính quyền, Văn phòng UBND,Thanh tra, Địa chính, Công an, Quân sự
Do thực hiện luân chuyển cán bộ, trong nhiệm kỳ, HĐNH đã bầu bổxung 1 Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 2 Ủy viên UBND huyện Thành viênUBND huyện hiện có Chủ tịch, 2 Phó chủ tịch và 5 Ủy viên UBND (khuyết
Ủy viên Ủy ban phụ trách Văn phòng HĐND và UBND) [ 21, tr.1]
Trình độ đào tạo:
+ Về chuyên môn: trình độ Đại học có 8/8 người, tăng 3 so với đầu
nhiệm kỳ
Trang 22+ Về trình độ chính trị: Trình độ Cao cấp có 3/8 người, tăng 3; trình độTrung cấp có 5/8 người, tăng 1 so với đầu nhiệm kỳ.
Quy chế làm việc của UBND huyện ngày 8/3/2000 đã quy định nhiệm
vụ cụ thể của mỗi thành viên UBND và quy định quan hệ công tác với các cơquan đoàn thể đơn vị
Hàng năm, UBND huyện đã nghiêm túc kiểm điểm hoạt động của tậpthể và mỗi thành viên, đánh giá những ưu điêm và tồn tại trong quản lý điềuhành thực hiện các Nghị quyết của Huyện ủy, của HĐND huyện, nhiệm vụcấp trên giao và pháp luật của Nhà nước
Sang tới nhiệm kỳ: 2004 - 2011: Thực hiện Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 2003, Nghị định số 107/2004 NĐ-CP của Chính phủ, kỳ họp thứnhất HĐND huyện tháng 5 /2004 đã bầu cử thành viên UBND huyện bao gồmChủ tịch, 2 Phó chủ tịch, 4 Ủy viên UBND phụ trách công tác Công an, Quân
sự, Thanh tra, Tài nguyên Môi trường, sau bổ xung thêm ủy viên UBND phụtrách công tác Tài chính - Kế hoạch và Văn phòng HĐND và UBND [22, tr.1]
Do thực hiện chính sách cán bộ, sự chỉ đạo của UBND thành phố vànhu cầu công tác của địa phương, trong nhiệm kỳ đã bầu bổ xung 1 Chủ tịch,
2 Phó chủ tịch, 2 Ủy viên UBND huyện
Số lượng thành viên UBND huyện trong nhiệm kỳ có 9 người gồm 1Chủ tịch, 3 Phó chủ tịch và 5 Ủy viên UBND, tăng 1 Phó chủ tịch và giảm 1
Ủy viên UBND so với cuối nhiệm kỳ trước
Về chất lượng:
+ Trình độ chuyên môn: Đại học 9/9 người = 100%, cùng tỷ lệ so với
nhiệm kỳ trước
+ Trình độ chính trị: Trình độ Cử nhân, cao cấp: 7 người = 77,8%, tăng
22,2% so với nhiệm kỳ trước; trình độ Trung cấp: 2 người = 22,2%, giảm22,2% so với nhiệm kỳ trước
- Cơ cấu thành viên UBND huyện hiện nay:
Trang 23UBND huyện Đan Phượng do HĐND bầu ra và hoạt động theo nguyêntắc tập trung dân chủ Mọi người trong cơ quan đều có quyền tham gia biểuquyết, xây dựng ý kiến tại các hội nghị, giúp lãnh đạo cơ quan có cái nhìn
tổng thể, bao quát hơn khi đưa ra các quyết định của mình
Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003,UBND huyện Đan Phượng do HĐND huyện bầu tại kỳ họp thứ Nhất khoáXVIII (nhiệm kỳ 2011-2016) UBND huyện Đan Phượng gồm có 8 thànhviên, trong đó có Chủ tịch UBND huyện, 02 Phó Chủ tịch UBND huyện và
05 Uỷ viên UBND huyện
- Chủ tịch UBND huyện: do HĐND huyện bầu theo giới thiệu của
Chủ tịch HĐND trong số các đại biểu HĐND Phó Chủ tịch và các thành viênkhác của UBND huyện do HĐND huyện bầu theo sự giới thiệu của Chủ tịchUBND theo danh sách đề cử chức vụ từng người Việc bầu cử Chủ tịch và cácthành viên khác của UBND huyện được tiến hành bằng bỏ phiếu kín Nhữngngười giữ các chức vụ trên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình ngay saukhi được HĐND huyện bầu
Chủ tịch UBND huyện chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ và nghiêmtúc các nhiệm vụ và quyền hạn mà Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
đã quy định Chủ tịch UBND huyện lãnh đạo công tác của tập thể UBNDhuyện, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, Chủ tịchUBND các xã, thị trấn; chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình, và cùng tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt độngcủa UBND trước HĐND huyện và UBND thành phố Hà Nội; trực tiếp chỉđạo, điều hành các công việc lớn, quan trọng, các vấn đề có tính chiến lượctrên tất cả các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của UBND huyện, phụtrách các lĩnh vực sau:
Trang 24+ Chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, ngắn hạn;công tác quy hoạch, tài chính, tín dụng, địa giới hành chính, tài nguyên môi trường;
+ Công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng, quân sự địa phương, chỉ đạo chung công tác tiếp dân, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân;
+ Công tác cải cách hành chính, công tác tổ chức bộ máy, cán bộ, quy chế lề lối làm việc, chương trình công tác của UBND huyện; những vấn đề chung về công tác thi đua khen thưởng;
+ Công tác đối nội, đối ngoại của huyện;
+ Những giải pháp quan trọng có tính đột phá trong từng thời gian màChủ tịch UBND huyện thấy cần trực tiếp chỉ đạo điều hành
- Các Phó Chủ tịch UBND huyện
Các Phó Chủ tịch UBND huyện là người giúp Chủ tịch, được Chủ tịchphân công phụ trách thực hiện những công việc cụ thể, thay mặt Chủ tịch giảiquyết những vấn đề được giao Trong quá trình hoạt động, Phó Chủ tịch giảiquyết công việc với danh nghĩa và quyền hạn của Chủ tịch Hiện nay, UBNDhuyện có 02 Phó Chủ tịch UBND huyện gồm:
- 01 Phó Chủ tịch UBND huyện chủ trì điều phối hoạt động củaUBND huyện khi Chủ tịch UBND huyện vắng mặt, phụ trách các lĩnh vực:Xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, quản lý đất đai, tài nguyên môitrường, tài chính, tín dụng, nông nghiệp - phát triển nông thôn, thuỷ lợi,thuỷ sản, công nghiệp, khoa học công nghệ, thương mại, dịch vụ, cụm,điểm công nghiệp, phụ trách công tác giải phóng mặt bằng, chương trìnhthực hành tiết kiệm, chống lãng phí
- 01 Phó Chủ tịch UBND huyện phụ trách lĩnh vực văn hoá - xã hội,bao gồm các lĩnh vực: Giáo dục - đào tạo, y tế, dân số, gia đình và trẻ em, lao
Trang 25động việc làm, đào tạo dạy nghề, chính sách xã hội, bảo hiểm xã hội, xoá đóigiảm nghèo, văn hoá, thông tin, thể thao, du lịch, phát thanh, truyền hình, tôngiáo, dân tộc và các vấn đề xã hội khác.
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chánh Văn phòng HĐND và UBNDhuyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức việc tham mưu tổng hợp, phục vụhoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, các ban của HĐND; giúp UBND
và chủ tịch UBND huyện trong chỉ đạo, điều hành các hoạt động chung của
bộ máy hành chính nhà nước, giúp chủ tịch UBND huyện tổ chức việc điềuhòa, phối hợp hoạt động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện,HĐND và UBND cấp xã để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác củaUBND huyện, Chủ tịch UBND huyện; bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹthuật cho hoạt động của HĐND và UBND huyện;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Trưởng Công an huyện chịu trách nhiệmchỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, quản lý giáo dục tội phạm;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sựhuyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện các mặt công tác quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn huyện;
Trang 26- 01 Uỷ viên UBND huyện là Chánh thanh tra huyện chịu trách nhiệmchỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tham mưu, giúp UBND huyện thực hiệnchức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng, chống tham nhũng trên địa bàn huyện;
- 01 Uỷ viên UBND huyện là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trườnghuyện, chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác tham mưu, giúpUBND huyện quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyênkhoáng sản, môi trường
2.2.2 Số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của UBND huyện Đan Phượng
- Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức của UBND huyện Đan Phượng
UBND huyện Đan Phượng với vai trò là trung tâm đầu não, trung tâmkinh tế, văn hoá, chính trị của toàn huyện, được bố trí đội ngũ cán bộ côngchức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương đối cao
Hiện tại UBND có 126 cán bộ, công chức, trong đó có 39 cán bộ là Lãnh đạo UBND huyện và các phòng chuyên môn, cụ thể:
Bảng 2.1: Thống kê số lượng cán bộ, công chức tại UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
9 Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội 7
Trang 2712 Phòng Y tế 4
Nguồn: Tổng hợp báo cáo số lượng, chất lượng cán bộ công chứcUBND huyện Đan Phượng tính đến ngày 01/3/2012 [24, tr.3]
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của UBND huyện Đan Phượng
Bảng 2.2: Thống kê trình độ chuyên môn, trình độ chính trị của cán bộ, công
chức tại UBND huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
STT Cơ quan
chuyên
môn
Số lượng
Trình độ chuyên môn Trình độ LLCT Số
Lượng lãnh đạo
Cao học Đại học CĐ -
TH
Còn lại nhân Cử Cao cấp Trung cấp
Trang 28UBND huyện Đan Phượng với tổng số: 126 cán bộ, công chức, trong đó
có 2 thạc sỹ chiếm 1,6%, 99 đại học (cử nhân, kỹ sư) chiếm tỉ lệ 78,5% đội ngũ
cán bộ công chức toàn huyện Về trình độ chính trị có 10 người có trình độ Cao cấp và 28 người có trình độ Trung cấp chính trị, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu
nhiệm vụ, luôn đi đầu trong mọi hoạt động chấp hành và điều hành
+ Về độ tuổi
Qua khảo sát tình hình thực tế cho thấy tại UBND huyện Đan Phượng:
số cán bộ trẻ dưới 30 tuổi là 30 người chiếm 23,8% tổng số cán bộ, công chức;
73 người trong độ tuổi từ 30 - 50 tuổi chiếm 57,9% ; độ tuổi từ 50 - 60 là 23người chiếm 18,2% Tỉ trọng cán bộ công chức nữ là 43/126 người chiếm32,6% tổng số cán bộ công chức Cơ cấu cán bộ lãnh đạo nữ còn hạn chế, hiện
Trang 29nay số cán bộ nữ của UBND huyện là 5 người trong khi đó cán bộ lãnh đạonam là 35 người (gấp 7 lần so với số lãnh đạo nữ).
+Về chuyên ngành
Văn phòng HĐND và UBND huyện: 01 Đại học - Kiến trúc; 01 Đại học
- Lịch sử Đảng, Luật; 01 Đại học - Nông nghiệp; 03 Đại học - Luật, 05 Đại học
kế toán, 01 Đại học Nông nghiệp, 01 Đại học Quản lý đất đai; 01 Đại học Thủy lợi; 01 Cao đẳng - Quản trị nhân lực; 01 Trung cấp - Văn thư lưu trữ
-Về cơ bản, lực lượng cán bộ công chức thuộc Văn phòng HĐND vàUBND huyện đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm vị trí công việc được giao; luôn đượcđào tạo, bồi dưỡng hoặc tự nâng cao trình độ, năng lực để hoàn thành nhiệm vụđược giao Tuy nhiên do đặc thù của Văn phòng là cơ quan tham mưu, tổng hợp; cung cấp thông tin và đảm bảo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạtđộng của HĐND và UBND huyện nên ngoài nhiệm vụ chính được phân công,mỗi cán bộ, công chức còn phải biết và kiêm nhiệm một số nhiệm vụ khác
Phòng Nội vụ: 01 Đại học - Quản lý giáo dục, 01 Đại học - Kinh tế,
01 Đại học - Quản lý nhân sự, 01 Đại học - Sư phạm; 02 Đại học - Hànhchính, 01 Đại học - Quản trị nhân lực
Phòng Kinh tế: 02 Đại học - Kinh tế; 01 Đại học - Thủy lợi; 01 Đại học
- Nông nghiệp; 02 Đại học - Kế toán; 01 Đại học - Công nghiệp điện; 01Đại học - Dâu tằm, 01 Đại học - Chăn nuôi thú y; 01 Đại học - Trồng trọt;
01 Đại học - Thủy lợi; 01 Đại học - Nông lâm kết hợp; 01 Cao đẳng - Kinh
tế nông nghiệp
Phòng Tài chính - Kế hoạch: 07 Đại học - Kế toán; 03 kế toán viên
trung cấp; 01 Đại học - Tài chính - Kế hoạch
Phòng Tài nguyên và Môi trường: 02 Đại học - Quản lý đất đai;
01 Cao đẳng - Quản lý đất đai; 01 Đại học - Luật; 02 Đại học - Môi trường;
01 Đại học - Kinh tế; 01 Đại học - Địa chính
Trang 30Phòng Quản lý đô thị: 01 Đại học - Kinh tế; 03 Đại học - Xây dựng;
01 Th.s Công nghệ thông tin; 02 Đại học - Cầu đường; 01 Đại học - Kế toán;
01 Đại học - Tin học Xây dựng
Thanh tra huyện: 03 Đại học - Luật; 01 Cao đẳng Sư phạm; 01 Đại học
- Thống kê; 01 Đại học - Kế toán; 01 Đại học - Luật
Phòng Tư pháp: 01 Đại học - Luật.
Phòng Giáo dục và Đào tạo: 13 Đại học - Sư phạm; 02 Đại học - Kế toán Phòng Văn hóa và Thông tin: 01 Đại học - Sư phạm; 01 Đại học -
Tâm lý giáo dục; 01 Đại học Văn hóa quần chúng; 01 Đại học Bảo tồn Bảo tàng; 01 Đại học - Văn hóa quần chúng
-Phòng Y tế: 01 Bác sĩ đa khoa, 01 Bác sĩ, 01 Trung cấp - Kế toán,
01 Trung cấp - Dược
Phòng Lao Động - Thương binh và Xã hội: 01 Đại học - Luật;
01 Đại học - Kinh tế nông nghiệp; 01 Đại học - Khoa học và Xã hội nhânvăn; 01 Đại học - Kế toán; 01 Cao đẳng Công tác xã hội; 01 Đại học -Quản
lý xã hội
Thanh tra Xây dựng: 01 Đại học - Thống kê (Luật), 02 Đại học -
Địa chính; 01 Đại học Công trình nông thôn; 02 Đại học Xây dựng; 01 Đại học Luật; 01 Đại học - Kiến trúc công trình; 01 Đại học - Kinh tế
-+ Về đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ luật
Phần lớn cán bộ, công chức tại UBND huyện Đan Phượng luôn chấphành đúng đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhànước; có lối sống lành mạnh, giản dị, lịch sự; không ngừng học tập, nâng caotrình độ chuyên môn, trình độ chính trị để hoàn thành tốt nhiệm vụ đượcgiao… Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận nhỏ cán bộ, công chứccòn: lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để gây phiền hà cho người dân vàdoanh nghiệp trong khi thi hành nhiệm vụ; né tránh, đùn đẩy trách nhiệm,
Trang 31ngại khắc phục khó khăn; tôn sùng chủ nghĩa cá nhân, bè phái, sống thực
dụng, cục bộ, ích kỷ, vụ lợi; quan liêu, lãng phí, thiếu trung thực
2.3 Nội dung phương thức hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Theo qui định của Điều 2 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2004:
“UBND do HĐND cấp huyện bầu là cơ quan chấp hành của HĐND cấphuyện, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trướcHĐND cấp huyện và cơ quan nhà nước cấp trên” [15, tr.6]
UBND cấp huyện chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các vănbản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện nhằmbảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cốquốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn UBNDthực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉđạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới
cơ sở; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủnghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền,tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán
bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương
Theo qui định tại Điều 3, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003:
“UBND cấp huyện hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Hiệu quảhoạt động của UBND được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt động của tập thểUBND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND và của các cơ quanchuyên môn thuộc UBND, HĐND, Thường trực HĐND, UBND, các Ban củaHĐND và đại biểu HĐND phối hợp chặt chẽ với Ban thường trực ủy ban Mặttrận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xãhội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia
Trang 32vào việc quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước Khiquyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐND raNghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó; những Nghị quyết
về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thìtrước khi thi hành phải được cấp trên phê chuẩn Trong phạm vi nhiệm vụ,quyền hạn do pháp luật quy định, UBND ra quyết định, chỉ thị và tổ chứcthực hiện, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó” [15, tr.7-8]
Như vậy, quy định trên đã chỉ rõ phạm vi hoạt động cũng như phươngthức hoạt động của UBND huyện Từ những quy định chung trên ta đi phântích và đánh giá phương thức hoạt động của UBND huyện Đan Phượng trênmột số nội dung chủ yếu sau
2.3.1 Công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội
Trong nhiệm kỳ 1999 - 2011, tình hình trên địa bàn huyện có nhiềuthuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhau, nhưng tập thể UBND huyệnluôn bám sát các Nghị quyết của huyện ủy, HĐND huyện, hàng năm đã chủđộng xây dựng và tổ chức triển khai Chương trình công tác năm Trong đóxác định rõ các mục tiêu, những nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu đểchỉ đạo, điều hành; triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xãhội quốc phòng an ninh trên địa bàn, giải quyết các công việc thuộc chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện đảm bảo hiệu quả và theo quyđịnh của pháp luật
Phương thức hoạt động, chỉ đạo, điều hành có trọng tâm, trọng điểm;xác định rõ trách nhiệm của các Thành viên UBND huyện, trách nhiệm củaThủ trưởng các cơ quan chuyên môn với chủ tịch UBND các xã - thị trấn Chỉđạo, điều hành đảm bảo nguyên tác tập trung dân chủ, xử lý kịp thời các
Trang 33nhiệm vụ phát sinh đột xuất, tạo được chuyển biến tốt trong thực hiện cácnhiệm vụ trên địa bàn huyện.
UBND huyện luôn chủ động chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ, đồngthời báo cáo, xin ý kiến Thường trực, Ban thường vụ Huyện ủy, Thường trượcHĐND huyện theo quy định để có những chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạothực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; kịp thời tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc, những vấn đề bức xúc trên địa bàn huyện Tăng cường chỉ đạo, kiểmtra, đôn đốc các Phòng, ban, nghành, UBND các xã, thị trấn phát huy tính chủđộng, sáng tạo, tự chủ, phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ được giao
Thực hiện các Nghị quyết của HĐND huyện về nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội hàng năm, Nghị quyết về phân bổ dự toán thu chi ngân sách và các Nghịquyết chuyên đề, trong nhiệm kỳ UBND huyện đã chỉ đạo, điều hành các hoạt độngkinh tế, văn hóa, xã hội an ninh quốc phòng của huyện vượt qua sự ảnh hưởng cuộckhủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; tiếp tục phát triển khá toàndiện, giữ vững nhịp độ tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng có mặt vững chắc;chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng; huy động tối đa các nguồn lực tập trungđầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật theo hướng hiện đại Văn hóa - xã hội tiếp tục pháttriển, tiến bộ, có chiều sâu, tác dụng tốt; thường xuyên đảm bảo an sinh xã hội, đờisống tinh thần của nhân dân được tăng lên rõ rệt, góp phần quan trọng tạo sự đồngthuận trong xã hội Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững,tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND huyện được thể hiện trên cáclĩnh vực sau:
2.3.2.1 Chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ phát triển kinh tế
- Nhiệm kỳ 1999 - 2004: Thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của UBND theo luật định; các Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện vềnhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội hằng năm và các Nghị quyết chuyên đề,
Trang 34nhiệm vụ cấp trên giao và pháp luật; trong nhiệm kỳ qua, UBND huyện đã chỉđạo, điều hành các nghành chức năng, UBND các xã - thị trấn và nhân dântrong huyện thực hiện thắng lợi nhiều mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra: “Tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, bình quân trên 14%/năm Cơ cấu kinh tế chuyểndịch theo hướng tích cực Năm 2003, tỷ trọng kinh tế nông nghiệp 37%, côngnghiệp - xây dựng 29,2%, thương mại dịch vụ 33,8% (năm 1999 tỷ trọng kinh
tế nông nghiệp 54,5%, công nhiệp - xây dựng 15,5%, thương mại dịch vụ30,0%) Thu nhập bình quân đầu người 4.164.000 đồng, tăng 61,4% so vớinăm 1999” [21, tr.4]
+ Kinh tế nông nghiệp: UBND huyện tích cực chỉ đạo các nghành, xã
-thị trấn chuyển đổi cơ cấu giống cây, con theo quy hoạch, kế hoạch và theohướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, sinh thái bền vững
Năng suất lúa, ngô tiếp tục tăng Tổng sản lượng lương thực quy thócnăm 2003 đạt 37.820,4 tấn, tăng 26% so với năm 1999 (mặc dù đã chuyển140,6 ha đất lúa, ngô sang làm vườn trại, vườn ruộng, cho hiệu quả kinh tếcao) Bình quân 1 ha canh tác đạt 32,5 triệu đồng (năm 1999 đạt 26,2 triệuđồng) Tích cực chỉ đạo xây dựng vùng sản xuất có giá trị sản lượng đạt 50triệu đồng/ha/năm trở lên, điển hình là các xã Đan Phượng, Phương Đình,Trung Châu, Thượng Mỗ Chăn nuôi tiếp tục phát triển toàn diện về quy mô
và giá trị thu nhập, chú trọng tăng nhanh đàn lợn nạc, bò sữa, bò sinh sản, cálồng Tổng giá trị thu nhập nghành chăn nuôi cao nhất từ trước đến nay,chiểm 51,4% giá trị sản xuất nông nghiệp
Công tác khuyến nông, thú y, bảo vệ thực vật luôn được coi trọng trợgiúp hiệu quả cho nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phòng trừsâu bệnh, dịch bệnh trong sản xuất
Trang 35Đan Phượng là huyện có phong trào mạnh về xây dựng hầm Biôga,hiện có 3650 chiếc, đã xử lý chất thải chăn nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môitrường nông thôn và cung cấp chất đốt trong sinh hoạt.
Tiếp tục huy động các nguông vốn đầu tư kiên cố hóa kênh mương nộiđồng, hơn 4 năm đã xây dựng được 136 km, kinh phí đầu tư 19,1 tỷ đồng,nâng tổng chiều dài kênh mương được kiên cố hóa là 151,8km, chiếm 82%chiều dài kênh tưới cấp 3 nội đồng
Thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác phòng chống lụt, bão, úng,tích cực xử lý những vi phạm về pháp lệnh đê điều, pháp lệnh khai thác vàbảo vệ công trình thủy lợi, sẵn sàng đối phó với thiên tai xẩy ra
Công tác quản lý đất đai ngày càng được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ,hiệu quả thông qua việc tích cực và nghiêm túc thực hiện những chủ trươnglãnh đạo của Đảng, quy định của pháp luật về đất đai Đã có 12/16 xã hoànthành quy hoạch sử dụng đất gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đếnnăm 2010, đã cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho 16.058 hộ,đạt 59,47% tổng số hộ; tích cực xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai
+ Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây dựng - Thương mại dịch
vụ, Giao thông, Điện lực, Bưu điện
Sản xuất công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh Tổng giátrị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2003 đạt 193 tỷ đồng Từnăm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quan đạt 38,4% (chỉ tiêu của Nghị quyếtchuyên đề HĐND huyện kỳ họp thứ 3 khóa XVI tháng 7/2000 về chươngtrình phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đến năm 2005 là bình 15%/năm), đưa nhanh hàng chục doanh nghiệp quy mô trung bình vào đầu tư, sảnxuất kinh doanh; xây dựng các cụm, điểm công nghiệp ở các xã Tân Lập, ĐanPhượng, Phương Đình, Tân Hội, Liên Trung, quy hoạch cụm công nghiệpThị trấn Phùng, điểm công nghiệp Đồng Tháp, khôi phục, phát triển các làng
Trang 36nghề truyền thống và nghề mới, có 5 làng nghề được UBND tỉnh công nhận,hàng năm tạo việc làm mới cho hàng ngàn lao động (chuyên) và nhiều laođộng khác theo mùa vụ (kiêm).
Tốc độ xây dựng cơ bản tăng nhanh, nhất là xây dựng dân dụng, giá trịsản xuất nghành xây dựng năm 2003 đạt 123,13 tỷ đồng, tăng 513% so vớinăm 1999 Tích cực xây dựng cơ sở hạ tầng vùng phân lũ, trụ sở làm việc,trường học, chợ
Hoạt động thương mại dịch vụ tiếp tục phát trển, duy trì các mặt hàngxuất khẩu may, dược liệu, nông sản…chú trọng xây dựng chợ mở rộng cáchình thức dịch vụ vận tải hàng hóa cung ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất,tăng cường công tác quản lý thị trường, hạn chế hàng giả kém chất lượng, làmlành mạnh môi trường kinh doanh
Trên địa bàn huyện một số tuyến đường tỉnh lộ 79,83 đường giao thôngvùng phân lũ sông Đáy được xây dựng mới, nâng cấp; duy tu bảo dưỡng cáctuyến đường huyện; đường giao thông liên thôn; đường làng ngõ xóm đượcgạch hóa, bê tông hóa, chiều dài hàng trăm km, kinh phí huyện, xã - thị trấn
và nhân dân đầu tư 8,4 tỷ đồng Tích cực xử lý vi phạm hành lang an toàngiao thông đường bộ theo Nghị quyết 13/CP, chỉ đạo có hiệu quả công tácđảm bảo an toàn giao thông theo chỉ thị 03/CT-HU năm 2003 của Huyện ủy
Nghành điện lực tiếp tục đầu tư, nâng cáp mạng lưới hệ thống truyền tảiđiện, thực hiện có hiệu quả chuyển đổi quản lý điện nông thôn phục vị tốt hơnnhu cầu điện cho sản xuất vá sinh hoạt Bưu điện huyện đảm bảo tốt nhu cầuthông tin liên lạc trong quản lý kinh doanh và đời sống, tăng nhanh số máy điệnthoại Hiện tại đạt 4,8 máy/100 dân (năm 1999 đạt 2,5 máy/100 dân)
+ Công tác tài chính, tín dụng, ngân hàng
Chú trọng xây dựng kế hoạch ngân sách; điều hành ngân sách theođúng Nghị quyết HĐND; chỉ đạo công tác thu ngân sách đạt khá, hoàn thành
Trang 37đều các chỉ tiêu; thu nợ cho ngân sách xã và hợp tác xã nông nghiệp đượchàng tỷ đồng, đảm bảo công bằng xã hội; quan tâm xây dựng nguồn thu cho
xã - thị trấn để bù vào phần giảm thu do miễn thuế nông nghiệp
Thực hiện có hiệu quả đề án khoán biên chế và kinh phí hành chính đốivới 10 cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND huyện, do UBND tỉnh chỉ đạođiểm hực hiện Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;đồng thời UBND huyện đã quyết định giao quyền tự chủ tài chính theo cơ chếđảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên đối với 16 trường Trunghọc cơ sở, theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ
Việc đưa ngân sách xã vào ngân sách Nhà nước theo Quyết định số1302/2000/QĐ-UB của UBND tỉnh đạt kết quả tốt, đảm bảo việc quản lý,điều hành ngân sách xã chặt chẽ hơn, chủ động và hiệu quả hơn Tích cực chỉđạo làm điểm việc ủy nhiệm thu thuế và thu khác trên địa bàn xã, sử dụng tốt
sổ thu thuế quỹ hộ gia đình, dân chủ, công khai trong thực hiện nghĩa vụ thuế
và đóng góp của nhân dân Năm 2003 thu ngân sách huyện đạt khá, số thu8,125 tỷ đồng (năm 1999 thu ngân sách huyện đạt 5,145 tỷ đồng) Ngân sách
cơ bản đáp ứng nhu cầu chi lương, chi thường xuyên và một phần chi đầu tưphát triển kinh tế xã hội
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng chính sách
xã hội, và quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định, an toàn, đáp ứng nhu cầutiền gửi và cho vay, kịp thời phục vụ sản xuất, kinh doanh, xóa đói, giảmnghèo; ngân hàng chính sách xã hội cho vay hộ nghèo đạt 14,1 tỷ tăng gần 2lần so với năm 1999 Kho bạc Nhà nước thực hiện tốt việc quản lý ngân quỹ,kiểm soát thu chi đúng pháp luật
- Nhiệm kỳ 2004 - 2011: Tiếp tục xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế
là nhiệm vụ trọng tâm, UBND huyện đã tích cực quán triệt, vận dụng sáng tạocác chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và
Trang 38Nghị quyết của Huyện ủy, HĐND huyện vào điều kiện hoàn cảnh thực tế củađịa phương, chủ động đề ra các chủ trương, cơ chế, các giải pháp có tính độtphá nhằm phát huy tối đa nội lực, khai thác tốt tiềm năng lợi thế của huyệnven đô để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; tăngnhanh tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, đồng thời tậptrung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuấthành hóa có giái trị kinh tế cao, sinh thái bền vững: “Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP - giá cố định năm 1994) bình quân đạt 16,7% thu nhập bình quân đầungười năm 2010 (theo giá hiện hành) đạt 13 triệu 970 nghìn đồng Cơ cấukinh tế năm 2010: Nông nghiệp - thủy sản chiếm 14,26%, công nghiệp - xâydụng chiếm 44,07%, dịch vụ - thương mại chiếm 41,67%” [22, tr.3]
UBND huyện đã xác định công tác quy hoạch có vị trí đặc biệt quantrọng và phải đi trước một bước, có tầm nhìn để làm cơ sở, tạo ra thế và lựcmới cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện, từ đó UBND huyện đã tích cựcchỉ đạo công tác quy hoạch, trước hết là công tác quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội và các quy hoạch điện, giao thông, quy hoạch chung xâydựng huyện, quy hoạch chi tiết xây dựng các xã, thị trấn, quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất… trình HĐND huyện thông qua
+ Sản xuất nông nghiệp: UBND huyện tích cực chỉ đạo sản xuất nông
nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa
có giá trị cao, sinh thái bền vững Đẩy mạnh quy hoạch và triển khai các dự
án trồng hoa, quả, rau an toàn Đã chuyển 484 ha trồng cây lương thực sangvườn ruộng, vườn trại và đầu tư 4 tỷ 044 triệu đồng cho các dự án chuyển dổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân 5 năm tăng1,14% Năm 2010 giá trị sản xuất bình quân trên 01 ha canh tác đạt 80 triệuđồng, 100% số xã đạt 50 triệu đồng/ha/năm (trong đó có mô hình đạt 200-300
Trang 39triệu đồng/ha/năm) Chăn nuôi tiếp tục phát triển Chỉ đạo thực hiện tốt côngtác phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm Giá trị sản xuất chănnuôi chiểm tỷ trọng 57% trong sản xuất nông nghiệp Chủ động xây dựngphương án, kế hoạch và thực hiện tốt công tác phòng, chống lụt, bão, úng,giảm nhẹ thiên tai Tích cực chỉ đạo xử lý các vi phạm đê điều và công trìnhthủy lợi Thực hiện Nghị quyết số 133/2009/NQ-HĐND ngày 22/12/2009 củaHĐND huyện về tăng cường lãnh đạo xây dựng mô hình nông thôn mớiđến năm 2020 trên địa bàn huyện, UBND huện đã chỉ đạo tổ chức xâydựng thí điểm mô hình nông thôn mới ở xã Song Phượng, phấn đấu đến hếtnăm 2011 cơ bản hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới do Chínhphủ ban hành, đồng thời chỉ đạo xây dựng nông thôn mới ở các xã, thị trấn,trọng tâm là 6 xã: Đan Phượng, Đồng Tháp, Phương Đình, Liên Hồng,Thượng Mỗ, Tân Hội.
+Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cơ bản:
UBND huyện tích cực chỉ đạo sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp,quy hoạch và triển khai xây dựng các Cụm, Điểm công nghiệp, đến nay huyện
đã có 01 Cụm công nghiệp, 04 điểm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - làngnghề Giá trị sản xuất nghành công nghiệp (giá cố định năm 1994) tăng bìnhquân 20,33% Tích cực đẩy mạnh xã hội hóa và khai thác mọi nguồn lực đểđầu tư cho xây dựng cơ bản, tổng số vốn đã huy động trong 5 năm (2005 –2010) là 2.706 tỷ đồng (tăng bình quân 45,7% năm) trong đó vốn ngân sáchNhà nước là 795 tỷ đồng Hiện nay, đang tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độlập quy hoạch chung xây dựng huyện, quy hoạch chi tiết xây dựng xã, thị trấnđến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
kế hoạch xây dựng cơ bản 5 năm giai đoạn 2011 - 2015
UBND huyện đã xây dựng và trình HĐND huyện thông qua Nghịquyết về quy hoạch tổng thể phát triển giao thông đường bộ huyện Đan
Trang 40Phượng giai đoạn 2005 - 2010, định hướng đến năm 2020 (số HĐND), đồng thời tổ chức triển khai thực hiện đạt kết quả cao Trong nhiệm
15/2004/NQ-kỳ đã xây dựng được trên 20 km đường giao thông: mặt đê Tiên Tân, đê Đáy,đường Đan Phượng - Tân Hội, đường nhánh 2 kênh Đan Hoài, …bê tông hóa,gạch hóa 95% đường giao thông nông thôn và khởi công đường Hoàn QuốcViệt kéo dài, lập dự án đầu tư xây dựng 3 tuyến đường giao thông lớn củahuyện đầu tư theo hình thức xây dựng - chuyển giao đã được thành phố đồng
ý chủ trương Xây dựng mới và cải tạo nâng cấp 39 trường học, 11 trạm y tế,
09 trị sở làm việc của cơ quan, xã, thị trấn Đã xây dựng, hoàn thành Tượngđài kỷ niệm Phong trào Phụ nữ Ba đảm đang, Trung tâm Thể dục thể thaohuyện và nhiều công trình phúc lợi công cộng khác…
Tích cực đẩy nhanh tiến độ đô thị hóa Thị trấn Phùng, chỉ đạo dự ánxây dựng xã Tân Lập theo hướng đô thị hóa nông nghiệp, nông thôn, triểnkhai xây dựng Khu đô thị Tân Tây Đô, Khu nhà vườn cao cấp xã ĐanPhượng, Khu nhà ở xã Tân Lập; Nhân dân đầu tư xây dựng nhà ở tăng nhanhtheo hướng kiên cố hóa, bộ mặt nông thôn ngày càng khang trang Tích cựcđầu tư xây dựng, hoàn thành và gắn biển công trình chào mừng kỷ niệm 1000năm Thăng Long - Hà Nội cho các công trình theo kế hoạch
+ Tài chính, tín dụng, thương mại, dịch vụ
Công tác thu chi ngân sách trên địa bàn huyện đạt hiệu quả, UBNDhuyện đã quản lý, điều hành thu chi hợp lý, chặt chẽ, đúng quy định Thungân sách Nhà nước trên địa bàn huyện tăng bình quân 19,1% năm Quyếtđịnh phân bổ thu chi ngân sách đảm bảo đúng luật, hiệu quả, tiết kiệm, theođúng Nghị quyết HĐND đã thông qua Quản lý, điều hành chi ngân sách đápứng kịp thời chi phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, chi đầu tư cơ sở hạ tầng,phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương Chỉ đạo lập và xây dựng 04 Điểm