1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận - Khái lược lịch sử hình thành và diễn biến phát triển của Ki tô giáo

25 2,8K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 437,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Lý do chọn đề tài: Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính từ 1,5 tỉ đến 2,1 tỉ người xưng nhận niềm tin Cơ Đốc; theo sau là Hồi giáo với 1,3 tỉ; số người vô thần là 1,1 tỉ; Ấn Độ giáo là 900 triệu; tôn giáo cổ truyền Trung Hoa là 394 triệu và số người theo Phật giáo là 376 triệu. Kitô giáo cũng như các tôn giáo khác trên thế giới đều dạy con người phải tự mình làm các điều lành thánh thiện, tu tâm dưỡng tính để tự cứu mình hay để được siêu thoát hoặc thi hành nghiêm túc các giới cấm của đạo để được lên thiên đàng, đến miền cực lạc. Sau quá trình hình thành và phát triển lâu dài, qua nhiều biến cố lịch sử, cho đến ngày nay, Kitô giáo vẫn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử thế giới. Trong thời kì quá độ đi lên CNXH mà Việt Nam đang trải qua, công tác quản lý tôn giáo đóng một vị trí vô cùng quan trọng. Với mục đích thu thập những thông tin khái quát, cơ bản nhất về sự hình thành, phát triển của Kitô giáo để phục vụ công tác nghiên cứu, quản lý tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Khái lược lịch sử hình thành và diễn biến phát triển của Kito giáo”. 2.Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài a.Mục tiêu Đề tài góp phần nghiên cứu, tìm hiểu rõ về lịch sử hình thành, phát triển của Kitô giáo nhằm cho người đọc cái nhìn tổng quan nhất về Kitô giáo, qua đó có các biện pháp phù hợp trong việc nghiên cứu, quản lý, ứng xử với Kitô giáo và các tín đồ Kitô giáo. b.Nhiệm vụ Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau: -Khái lược thông tin về Kitô giáo -Khái lược lịch sử hình thành Kitô giáo từ khi hình thành cho đến ngày nay với các giai đoạn phát triển khác và các biến cố khác nhau. 3.Phương pháp nghiên cứu -Phương pháp luận: đề tài sử dụng phương pháp luận Macxit là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử -Phương pháp chung: logic – lịch sử, phân tích hệ thống

Trang 1

Đề tài: Khái lược lịch sử hình thành và diễn biến phát triển

của Ki tô giáo

PHẦN A MỞ ĐẦU:

1 Lý do chọn đề tài:

Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất, với những con số ước tính

từ 1,5 tỉđến 2,1 tỉ người xưng nhận niềm tin Cơ Đốc; theo sau là Hồi giáo với1,3 tỉ; số người vô thần là 1,1 tỉ; Ấn Độ giáo là 900 triệu; tôn giáo cổ truyềnTrung Hoa là 394 triệu và số người theo Phật giáo là 376 triệu Kitô giáo cũngnhư các tôn giáo khác trên thế giới đều dạy con người phải tự mình làm cácđiều lành thánh thiện, tu tâm dưỡng tính để tự cứu mình hay để được siêuthoát hoặc thi hành nghiêm túc các giới cấm của đạo để được lên thiên đàng,đến miền cực lạc Sau quá trình hình thành và phát triển lâu dài, qua nhiều

Trang 2

biến cố lịch sử, cho đến ngày nay, Kitô giáo vẫn đóng một vai trò quan trọngtrong lịch sử thế giới Trong thời kì quá độ đi lên CNXH mà Việt Nam đangtrải qua, công tác quản lý tôn giáo đóng một vị trí vô cùng quan trọng Vớimục đích thu thập những thông tin khái quát, cơ bản nhất về sự hình thành,phát triển của Kitô giáo để phục vụ công tác nghiên cứu, quản lý tôn giáo nóichung và Kitô giáo nói riêng, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Khái lượclịch sử hình thành và diễn biến phát triển của Kito giáo”.

2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

a Mục tiêu

Đề tài góp phần nghiên cứu, tìm hiểu rõ về lịch sử hình thành, pháttriển của Kitô giáo nhằm cho người đọc cái nhìn tổng quan nhất về Kitôgiáo, qua đó có các biện pháp phù hợp trong việc nghiên cứu, quản lý, ứng

xử với Kitô giáo và các tín đồ Kitô giáo

b Nhiệm vụ

Để thực hiện được mục tiêu trên, đề tài cần thực hiện tốt những nhiệm

vụ sau:

- Khái lược thông tin về Kitô giáo

- Khái lược lịch sử hình thành Kitô giáo từ khi hình thành cho đến ngàynay với các giai đoạn phát triển khác và các biến cố khác nhau

3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: đề tài sử dụng phương pháp luận Macxit là chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp chung: logic – lịch sử, phân tích hệ thống

Trang 3

PHẦN B NỘI DUNG Chương I: Khái lược lịch sử hình thành của Kito giáo

1 Khái lược về Kito giáo

Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hoặc Cơ Đốc giáo (thuật ngữ

Hán-Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, Abraham là tổ phụcủa dân Do Thái và dân Ả Rập (hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáo và Hồigiáo), đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại củaChúa Giêsu như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước Kitô hữu tin rằngGiêsu là con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã

được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước Là độc thần giáo (monotheistic),

hầu hết Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất

hiện hữu trong 3 thân vị (tiếng Hi Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi Kitô giáo

bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa cũng như hàngngàn xác tín và giáo phái khác nhau Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tựhình thành nên ba nhánh chính: Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông

phương và Kháng Cách (Protestantism) Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất

thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới)

Từ "Kitô" xuất phát từ chữ Khristos trong tiếng Hi Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch từ chữ Messiah trong tiếng Hebrew Từ "Kitô hữu" (Christian) có nghĩa là "người có Chúa Kitô hiện hữu (ở trong)", hay "người

thuộc về Chúa Kitô"

Trong tiếng Việt, bên cạnh "Kitô" (như Kitô giáo) có gốc từ tiếng HyLạp như trên, và thường được sử dụng bởi tín đồ Công giáo, còn có "Cơ Đốc"(như Cơ Đốc giáo) có nguồn gốc từ chữ Nho (基督) và thường được nhữngngười theo đạo Tin Lành sử dụng Trong khi người Công giáo dùng chữ

Trang 4

"Kitô" để chỉ Giêsu, người Tin Lành thường dùng chữ "Christ" Ngoài ra,

Thiên Chúa giáo cũng thường được sử dụng bởi những người ngoài Kitô

giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung

2 Khởi nguyên của Kitô giáo

Theo kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loàitrong 6 ngày Ông Adam và bà Eva là tổ phụ của loài người, không nghe lờiThiên Chúa đã ăn trái cây thiện ác (trái cấm) nên bị Thiên Chúa đuổi khỏiVườn địa đàng xuống trần gian Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội TổTông, Nguyên Tội) cho con cháu là loài người Thấy loài người mang tội,Thiên Chúa lại giáng trần để cứu rỗi cho loài người để loài người được về lạithiên đàng cùng Thiên Chúa

Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Chúa Giêsu, do đó trọng tâmcủa cuộc sống Kitô hữu là niềm xác tín rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa,cũng là chính Thiên Chúa giáng trần (thuyết 3 ngôi), là Đấng Messiah, và làChúa Kitô Danh hiệu "Messiah" có nguồn gốc từ tiếng Hebrew ַחי~שִָׁמ

(māšiáħ), nghĩa là "đấng được xức dầu", chuyển ngữ sang tiếng Hy Lạp là Χριστός (Khristos).

Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên Chúa xức dầu để

tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri về ĐấngMessiah trong Cựu Ước Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết vàphục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó

mà nhận lãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời

Trong khi những tranh luận thần học về bản thể của Giêsu vẫn đang tiếpdiễn, thì phần lớn Kitô hữu tin rằng Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Giêsu là

"Thiên Chúa và là người" trong ý nghĩa trọn vẹn của cả hai bản thể Vì Giêsu

là người nên phải trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người bìnhthường, nhưng không hề phạm tội Vì là Thiên Chúa, Giêsu đánh bại quyền

Trang 5

lực sự chết và sống lại từ kẻ chết Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã khiếnGiêsu sống lại từ kẻ chết, đặt Giêsu ngồi bên hữu của Cha và Giêsu sẽ trở lại

để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah như sự phục sinh, sự phán xétsau cùng và sự thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa

Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Giêsuđược gọi là Kitô hữu tại thành Antioch (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), nơi họđến để lánh nạn và định cư sau những cuộc bách hại đầu tiên tại xứ Judea.Nền thần học của Kitô giáo sơ khai được thành lập và truyền bá bởi sứ đồPhao-lô và các sứ đồ khác

Theo Tân Ước, Giêsu xưng mình là Đấng Messiah mà dân Do Thái vẫnhằng mong đợi, và bị giới cầm quyền La Mã buộc tội phạm thượng và bị kết

án tử hình bởi chính quyền La Mã vào năm 30 Tuy nhiên Giêsu được PontiusPilate, tổng đốc người La Mã, gọi là "Vua của dân Do Thái"

Chúa Giê su bị đóng đinh trên cây thánh giá

Trang 6

Theo các sách Phúc âm, người La Mã buộc tội Giêsu vì muốn xoa dịu sựbất bình của giới cầm quyền Do Thái, nhưng một số học giả cho rằng đó làcách Đế chế La Mã trừng phạt những người chống đối họ Kitô hữu tin rằngCựu Ước đã tiên báo cái chết và sự sỉ nhục mà Giêsu phải chịu như đã chéptrong Tân Ước Sách Ê-sai ngụ ý rằng Giêsu bị vả, nhổ, đấm vào mặt (Êsai50.6, 52.14-15; Mat 26.67-68; Mark 14.65), bị đánh bằng roi (Êsai 53.5;Giăng 19.1; Mat 27.26) cũng như bị sỉ nhục.

Kitô hữu xem sự phục sinh của Giêsu là nền tảng của đức tin và là biến

cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại Theo Tân Ước, Giêsu là tâm điểmcủa Kitô giáo, bị đóng đinh trên thập tự giá, chết và chôn trong mộ, đến ngàythứ ba thì sống lại Theo ký thuật của Tân Ước, sau khi sống lại, Giêsu, trongnhững lần khác nhau tại những địa điểm khác nhau, đã đến gặp mười hai sứ

đồ và các môn đồ, trong đó có lần xuất hiện trước sự chứng kiến của "hơnnăm trăm người", sau đó thì về trời

Các sứ đồ của Giêsu là nhân chứng về cuộc đời, lời giảng và sự sống lạicủa Giêsu Ngoài ra còn có nhiều môn đồ (đến 70 người) trong đó có Gia-cơ

em Giêsu, Mark, Luca, Mary Magdalene , những người này theo Giêsu trongcác chuyến du hành và họ chứng kiến khi Giêsu giảng dạy và làm nhiều phépmàu Sau khi Giêsu bị đóng đinh, các sứ đồ và các môn đồ khác công bố rằngGiêsu đã sống lại từ cõi chết và họ khởi sự rao giảng thông điệp mới Các sứ

đồ này đã viết các sách Phúc âm và các Thư tín

Trong số 27 sách của Tân Ước, nhiều quyển được viết bởi Phao-lô Ông

là tác giả của Mười hai Thư tín và một số truyền thuyết cho rằng ông là tácgiả của sách Hêbrơ Phúc âm Lu-ca và sách Công vụ các Sứ đồ được viết bởiLu-ca, người chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phao-lô Phao-lô là môn đồ củaGamaliel (Công.22.3), một nhân vật có thanh thế trong toà công luận (Công

Trang 7

vụ 5.34-40) Phao-lô được xem như là nhà truyền giáo quan trọng nhất raogiảng thông điệp Kitô cho thế giới bên ngoài.

Chương II: Diễn biến sự phát triển của Kito giáo trong lịch sử

1 Giai đoạn phát triển 3 thế kỉ đầu công nguyên

Kitô giáo lan truyền nhanh trong suốt ba thế kỷ an bình của Đế quốc LaMã:

 Thông qua Ai Cập đến Bắc Phi, Sudan

Thông qua vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) đến Ba Tư, Nội Á và Ấn

Độ

 Thông qua Hy Lạp và La Mã đến Âu Châu

Vào thời kỳ này bên trong Hội thánh chia ra hai cộng đồng: Do Thái và

Hy Lạp Trong khi cộng đồng Do Thái, phần đông là các tín hữu gốc Do Thái,

muốn duy trì một số tập tục và nghi thức của Do Thái giáo (Judaism) như

phép cắt bì và một số kiêng cữ khác thì cộng đồng Hy Lạp, những người chịuảnh hưởng từ thế giới nói tiếng Hy Lạp, tin rằng thông điệp của Kitô giáo nênđược truyền bá theo các phương pháp thích hợp hơn với thế giới bên ngoài

Một trong những nhà trứ tác quan trọng đầu tiên của Kitô giáo,Tertullian, viết cho một quan tổng đốc Đế chế La Mã về sự phát triển củaKitô giáo tại Carthage rằng mới hôm qua họ chỉ là một nhóm nhỏ, "nay cómặt khắp mọi nơi – các đô thị, hải đảo, trong thành lũy, thị trấn, chợ, ngay cảtrong trại lính, tại các bộ tộc, lâu đài, nghị viện; chúng tôi chẳng để lại gì choquí vị ngoại trừ các nơi thờ phụng các thần linh của quí vị mà thôi." (Bài biệngiáo viết tại Carthage, năm 197)

Trong vòng vài thế kỷ đầu tiên, các nhà thần học và triết học khoa bảngnhư Origen và Augustine đã phát triển nền thần học và triết học Kitô

Trang 8

Suốt thời kỳ này, trong khi đang phát triển mạnh mẽ, Hội thánh cũngphải trải qua các cơn bách hại Ngay từ những ngày đầu tiên, Kitô giáo là mụctiêu của những sự bách hại, dẫn đến sự tử đạo của Stephen (Ê-tiên) và James(Giacôbê hoặc Gia-cơ), con trai của Zebedee Những đợt bách hại ở qui môlớn hơn, dù không thường xuyên nhưng dữ dội, xảy ra dưới thời trị vì của cáchoàng đế La Mã như Nero, Valerian, Diocletian và Galerius Cuộc đời củanhững người tử đạo, thà chết chứ không chối bỏ đức tin, trở nên biểu trưngcho đức hạnh cao quí nhất Danh sách kinh điển Tân Ước được đồng thuận,các bản dịch Kinh Thánh đầu tiên bắt đầu xuất hiện, cùng lúc với hệ thốnggiáo quyền: Các giám mục thành Alexandria, Antioch và La Mã đều xưngnhận danh hiệu Giáo phụ.

Hoàng đế La Mã Galerius, trước khi chết, ban chiếu chỉ Galerius ngưngmọi hoạt động bách hại Hoàng đế Constantine I qui đạo năm 312 và, vớichiếu chỉ Milano (313), biến Kitô giáo thành quốc giáo Dù vậy, các cuộcbách hại được tái lập dưới triều Julian Kẻ bội giáo (361-363), người muốnphục hồi cựu giáo trên lãnh thổ đế quốc; Kitô giáo sau này được công nhậnquốc giáo lần nữa dưới triều hoàng đế Theodotius vào năm 382 Những biến

cố tương tự cũng xảy ra tại các xứ láng giềng Gruzia và Armenia Nhưng tại

Ba Tư luôn tranh chấp với La Mã, Kitô hữu phải chịu nhiều áp bức từSassanids, người muốn phục hồi đạo Zoroaster Dù phải trải qua các cuộcbách hại nhưng Kitô giáo vẫn bành trướng mạnh trong đế quốc La Mã và lantràn sang nhiều miền đất xa xôi khác

2 Giai đoạn phát triển từ thế kỉ IV đến thế kỷ XI

Đến cuối thế kỷ IV, các Hội Thánh Miền Đông nằm trong lãnh thổ củaĐông Đế Quốc La Mã được chia ra làm bốn giáo khu Bốn giáo khu đó làConstantinople (Thổ Nhĩ Kỳ), An-ti-ốt (Syria), Giê-ru-sa-lem (Do-Thái) vàAlexandria (Ai Cập) Các giáo khu này trực thuộc Đông Giáo Hội, đặt dướiquyền quản trị của một Giáo Trưởng, tòa thánh ở Constantinople, Thổ Nhĩ

Trang 9

Kỳ Các Hội Thánh Miền Tây nằm trong lãnh thổ của Tây Đế Quốc La Mãtrực thuộc Giáo Khu Rô-ma, cũng gọi là Tây Giáo Hội Tây Giáo Hội đặtdưới quyền quản trị của một Giám Mục, tòa thánh ở La Mã, Ý.

Đông Giáo Hội và Tây Giáo Hội có nhiều bất đồng về giáo lý và quyềnhạn giữa chức Giám mục ở La Mã và Giáo trưởng ở Constantinople Sự việcnày là mầm móng gây ra mối chia rẽ giữa hai giáo hội từ thế kỷ V

Đến thế kỉ XI, đại diện hai phái là giáo hoàng Lêô IX và thượng phụConstantinople Michael Cerularius liên tục có những xung khắc với nhau.Năm 1054, sứ thần Rôma gặp Cerularius và yêu cầu ông thần phục Giáo hộiRôma là "mẹ của của giáo hội hoàn vũ" nhưng Cerularius đã khước từ Cùngnăm, Rôma và Constantinople tuyên bố rút phép thông công lẫn nhau, nhưthế, cuộc Đại Ly giáo chính thức bắt đầu Năm 1054, sứ thần Rôma gặpCerularius và yêu cầu ông thần phục Giáo hội Rôma là "mẹ của của giáo hộihoàn vũ" nhưng Cerularius đã khước từ Cùng năm, Rôma và Constantinopletuyên bố rút phép thông công lẫn nhau, như thế, cuộc Đại Ly giáo chính thứcdiễn ra, và hai giáo hội xem nhau như thù nghịch từ dạo đó cho đến nay

3 Giai đoạn phát triển từ thế kỉ XI đến cuộc Cải cách Kháng cách thế kỉ XVI

3.1 Martin Luther và cuộc Cải cách Kháng cách

3.1.1 Nguyên nhân của cuộc Cải cách Kháng cách

Sau cuộc đại ly giáo thế kỉ XI, Kitô giáo tiếp tục phát triển mạnh và đếnthế kỷ XVI thì diễn ra một biến cố lớn, đó là cuộc Cải cách Kháng cách do tu

sĩ Martin Luther phát động Martin Luther (1483 -1546) là nhà thần họcngười Đức, tu sĩ Dòng Augustine Thần học Luther đã thách thức thẩm quyềncủa giáo hoàng khi rao giảng niềm xác tín rằng Kinh Thánh là nguồn vô ngộ(không sai lầm) duy nhất của thẩm quyền tôn giáo, và địa vị tư tế được dànhcho tất cả tín hữu (không dành riêng cho giới tăng lữ) Theo Luther, conngười chỉ có thể được cứu rỗi bởi sự ăn năn thật, và bởi đức tin tiếp nhận

Trang 10

Chúa Giê-xu là Đấng Cứu thế (Messiah), mà không cần vai trò trung gian củagiáo hội Thần học Luther là ý thức hệ soi dẫn cuộc Cải cách Kháng cách, vàlàm thay đổi dòng lịch sử nền văn minh phương Tây

(indulgence) Một hiện tượng khác gây bất mãn không kém là việc buôn bán

chức thánh, cũng như tình trạng thối nát trong giới tăng lữ Đối với nhiềungười, sự băng hoại này là cố tật của cả hệ thống, ngay cả ở vị trí các giáo

hoàng

Cuộc Cải cách kháng cách này được nổ ra còn do những nguyên nhânsâu xa nằm ẩn sâu bên trong: đó là tình trạng bất ổn, vốn âm ỉ bên trong giáo

Trang 11

hội và đế quốc, được đẩy lên đỉnh điểm khi xảy ra việc dời ngai giáo hoàng vềAvignon, Pháp (1308-1378), và sự tranh chấp thẩm quyền giữa hai triều giáohoàng tồn tại song song (1378-1416) gây ra các cuộc chiến giữa các vươnghầu, những cuộc nổi dậy của nông dân, và sự quan ngại ngày càng lan rộng vềtình trạng thối nát của hệ thống tu viện Chủ nghĩa Quốc gia mới xuất hiện bắtđầu thách thức tính đồng nhất của thế giới đại đồng của thời kỳ trung cổ lúcbấy giờ.

Một trong những luận điểm cấp tiến và gay gắt nhất đến từ John Wyclifthuộc Đại học Oxford, sau đó là từ Jan Hus thuộc Đại học Praha Giáo hộiCông giáo Rôma kết thúc cuộc tranh luận tại Công đồng Constance (1414-1418) với án lệnh xử tử Jan Hus trên giàn hoả thiêu (dù Hus được lời hứa bảođảm an toàn tính mạng khi đến đối chất tại công đồng) và thiêu xác (đã chết)của Wyclif như một kẻ dị giáo

Bất kể những nỗ lực nhằm xác quyết và củng cố các khái niệm truyềnthống thời trung cổ về giáo hội và đế quốc, Công đồng Constance đã khôngnhận diện được tình trạng căng thẳng giữa các dân tộc, cùng những bất đồng

về thần học đã được khơi dậy trong thế kỷ trước Công đồng cũng không ngăn

chặn được cuộc ly giáo và các cuộc chiến tại Bohemia (Chiến tranh Hussite)

khi người dân xứ này nổi dậy phản kháng việc xử tử Jan Hus

Những biến động lịch sử thường sản sinh nhiều tư duy mới về lề lối cần

có để tái tổ chức xã hội, và đây là trường hợp dẫn đến cuộc Cải cách KhángCách Nối tiếp sự sụp đổ của các định chế tu viện và học thuyết kinh viện tại

Âu châu vào cuối thời kỳ trung cổ, với đỉnh điểm là thời kỳ Triều giáo hoàngtại Avignon, sự tranh chấp thẩm quyền giữa hai triều giáo hoàng, và sự thấtbại của các nỗ lực cải cách dựa vào công đồng Thế kỷ 16 chứng kiến sự sôisục của cuộc tranh luận lớn về cải cách tôn giáo và, sau này, về những giá trịtôn giáo căn bản Đại thể, các sử gia cho rằng rào cản của những nỗ lực cải

Trang 12

cách trước đó (quá nhiều quyền lợi khác biệt, thiếu sự phối hợp để có thể hìnhthành một liên minh cải cách) sẽ dẫn đến các biến động nghiêm trọng hơn,hoặc ngay cả một cuộc cách mạng, vì hệ thống hiện hữu hoặc phải tự điềuchỉnh hoặc sẽ bị tan rã, và sự thất bại của phong trào cải cách dựa vào công

đồng giáo hội (conciliar movement) đã dọn đường cho cuộc Cải cách Kháng

Cách tại Tây Âu Những phong trào cải cách thiếu định hướng - từ chủ nghĩa

hình thức, phong trào sùng kính đến Chủ nghĩa Nhân bản (humanism) - nối

kết với sức mạnh kinh tế, chính trị và thành phần xã hội góp phần làm giatăng mối bất bình trong dân chúng đối với sự giàu có và thế lực của giai cấptăng lữ đặc quyền, khuấy động sự bất mãn đối với tình trạng thối nát về đạođức và tài chính của một giáo hội đang chìm đắm trong tinh thần thế tục

Hậu quả của đại dịch Tử thần đen (Black Death) (bùng phát từ 1347 đến

1350, cướp mạng sống của một phần ba dân số Âu châu) góp phần đòi hỏimột sự tái tổ chức triệt để nền kinh tế, và dần dần toàn thể xã hội châu Âu.Tại các trung tâm đô thị mới xuất hiện, các tai ương xảy ra trong thế kỷ 14 vàđầu thế kỷ 15, cùng với hệ quả của chúng là sự thiếu hụt nhân công, cung cấplực đẩy mạnh mẽ cho tiến trình đa dạng hóa nền kinh tế và đổi mới kỹ thuật.Nối tiếp đại dịch Tử thần đen là những tổn thất nhân mạng gây ra bởi đóikém, các loại dịch bệnh, giúp thúc đẩy sự tích tụ tư bản tại các đô thị, số tưbản này trở thành tác nhân kích hoạt thương mại, công nghiệp và đẩy mạnhtiến trình phát triển đô thị trong các lãnh vực như ngân hàng (nổi bật nhất làgia đình Fugger chuyên về ngân hàng tại Augsburg), dệt, vũ khí (phát triểnmạnh trong thời gian xảy ra Cuộc chiến một trăm năm), khai thác quặng mỏ,nhưng phần lớn là nhờ công nghiệp sản xuất vũ khí

Tình trạng sản xuất thặng dư tồn đọng, tinh thần cạnh tranh nhằm tối ưuhóa các lợi thế kinh tế làm gia tăng cường độ của cuộc nội chiến, thúc đẩy chủnghĩa quân phiệt áp chế và tiến trình trung ương tập quyền, dọn đường cho sựxuất hiện của các nhà lãnh đạo như Louis XI của Pháp (1461–1483), "vua

Ngày đăng: 12/05/2016, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w