1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ triết học - GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

86 520 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 439,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài Muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp đủ sức vượt qua những thách thức và nguy cơ trên con đường phát triển hiện nay, chúng ta phải có những đảm bảo vững chắc về chất lượng con người. Đó là chất lượng toàn diện về sự phát triển thể lực, năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, ý thức và nhân cách nói chung của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ. Nước ta đang từng bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó là môi trường đang bị xuống cấp một cách trầm trọng. Nguồn tài nguyên bị khai thác một cách bừa bãi, triệt để, môi trường tự nhiên bị hủy hoại. Nguyên nhân của vấn đề này, ngoài sự tăng trưởng về kinh tế, con người chỉ quan tâm đến lợi nhuận, còn một nguyên nhân nữa đó là ý thức của con người về việc bảo vệ môi trường, về trách nhiệm của mình với môi trường. Một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay còn thờ ơ với môi trường sống, vô cảm với sự suy thoái của môi trường, thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và cả thế hệ tương lai. Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môi trường. Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên. Nhưng ý thức của sinh viên về trách nhiệm của mình đối với môi trường như thế nào? Sinh viên cần phải hành động ra sao để bảo vệ môi trường sống xung quanh con người khi mà hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên - cái nôi cho sự sống của chúng ta - đang bị tàn phá nghiêm trọng. Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay. Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nó trong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội. Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đến chóng mặt, hàng năm thải ra môi trường hàng chục ngàn tấn chất thải chưa qua xử lý. Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thông có những nơi ngập tràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng. Bởi vậy, đẩy mạnh giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường. Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bấy lâu nay, giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số công trình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vẫn còn tản mạn và dừng ở mức độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thể. Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hối thúc tác giả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các vấn đề, các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục ý thức môi trường trong các trường Đại học, Cao đẳng ở Bắc Giang, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và đất nước. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Những vấn đề liên quan đến môi trường hiện đã có rất nhiều nghiên cứu, cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, cả từ góc độ đơn ngành đến liên ngành. Tuy vậy, từ góc độ khoa học xã hội nhân văn trong đó có triết học có thể thấy đã có những công trình cơ bản sau đây: Một số vấn đề sinh thái nhân văn Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1995; Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2002; Hà Huy Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội, nhân văn trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Hồ Sỹ Quý (chủ biên), Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần Lê Bảo (chủ biên), Văn hoá sinh thái nhân văn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2001, Phạm Thị Ngọc Trầm “Môi trường sinh thái: Vấn đề và giải pháp” xuất bản năm 1997; Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhân tố xã hội nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” năm 1999; Bảo vệ môi trường cần ý thức trong mỗi cá nhân, Báo Vietnamnet 12/8/2008; “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”, Báo Quân đội nhân dân, ngày 10/9/2007; Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, “Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường”, Tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007. Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây xựng ý thức môi trường có các công trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, Các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá, Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền” năm 2002; tác giả Hồ Sỹ Quý, Về đạo đức môi trường, Tạp chí triết học số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường-một phương diện của trách nhiệm xã hội, tạp chí Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc Trầm, Xây dựng đạo đức sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí Triết học số 4/2010. Trong các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau: Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩm khổng lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên. Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm “phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trình phát triển. Bởi vì muốn bảo vệ được môi trường thì trước hết phải xây dựng được ý thức sinh thái đối với toàn xã hội. Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sản xuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phải giáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh, sinh viên. Ngoài ra các công trình trên cũng đã đề cập đến các vấn đề đặt ra trong công tác giáo dục ý thức môi trường và giải pháp. Vấn đề quản lý nhà nước trong khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và vấn đề bảo vệ môi trường. Trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc xây dựng ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên. Các yếu tố tồn tại trong quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường. Các nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề liên quan đến bảo vệ tài nguyên môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vấn đề quản lý nhà nước trong bảo vệ môi trường. Tuy nhiên nhìn chung đây là những công trình mang tính lý luận cơ bản. Trên thực tế cần có những nghiên cứu mang tính ứng dụng nhằm góp phần nhằm giải quyết những vướng mắc, những vấn đề đã đang nảy sinh từ thực tiễn.

Trang 1

TRƯƠNG VĂN THÀNH

GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiêncứu của riêng tôi Nội dung trích dẫn trong luận văn cónguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo tính trung thực; nộidung nghiên cứu khách quan và chưa được công bố trongbất cứ công trình nào khác.

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2012

Tác giả luận văn

Trương Văn Thành

Trang 3

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH

VIÊN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 7 1.2 TÍNH TẤT YẾU CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý MÔI TRƯỜNG

12

1.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA GIÁO DỤC Ý THỨC

MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN 15 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC Ý

THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TỈNH BẮC GIANG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 36 2.1 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG ĐỐI

VỚI SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG

GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 36 2.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC MÔI

TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC

GIANG 56 KẾT LUẬN 75

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Muốn thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hộichủ nghĩa, đưa đất nước trở thành một nước công nghiệp đủ sức vượt quanhững thách thức và nguy cơ trên con đường phát triển hiện nay, chúng taphải có những đảm bảo vững chắc về chất lượng con người Đó là chất lượngtoàn diện về sự phát triển thể lực, năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức, ý thức

và nhân cách nói chung của con người Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ

Nước ta đang từng bước tiến vào thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đạihóa đất nước đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó là môi trườngđang bị xuống cấp một cách trầm trọng Nguồn tài nguyên bị khai thác mộtcách bừa bãi, triệt để, môi trường tự nhiên bị hủy hoại Nguyên nhân của vấn

đề này, ngoài sự tăng trưởng về kinh tế, con người chỉ quan tâm đến lợinhuận, còn một nguyên nhân nữa đó là ý thức của con người về việc bảo vệmôi trường, về trách nhiệm của mình với môi trường Một bộ phận khôngnhỏ người dân hiện nay còn thờ ơ với môi trường sống, vô cảm với sự suythoái của môi trường, thiếu trách nhiệm với chính cuộc sống của mình và cảthế hệ tương lai

Sinh viên là một trong những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến môitrường Trong đó có một phần không nhỏ là sinh viên Nhưng ý thức của sinhviên về trách nhiệm của mình đối với môi trường như thế nào? Sinh viên cầnphải hành động ra sao để bảo vệ môi trường sống xung quanh con người khi

mà hàng ngày, hàng giờ chúng ta đang chứng kiến cảnh môi trường tự nhiên cái nôi cho sự sống của chúng ta - đang bị tàn phá nghiêm trọng

-Đây là lý do thứ nhất thôi thúc chúng tôi nghiên cứu về vấn đề giáo dục

ý thức môi trường cho sinh viên hiện nay

Trang 5

Lý do thứ hai, kinh tế thị trường đã và đang được thực hiện trên phạm

vi toàn cầu đã ngày càng bộc lộ những hạn chế và mâu thuẫn vốn có của nótrong đối sách trực tiếp với những định hướng giá trị của chủ nghĩa xã hội.Tại Việt Nam, việc phát triển các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề đếnchóng mặt, hàng năm thải ra môi trường hàng chục ngàn tấn chất thải chưaqua xử lý Các khu dân cư, du lịch, chợ, đường giao thông có những nơi ngậptràn trong rác thải, môi trường sống ô nhiễm trầm trọng Bởi vậy, đẩy mạnhgiáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên sẽ góp phần quan trọng vàocông cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa - hiệnđại hóa, đồng thời khắc phục những mặt trái của kinh tế thị trường

Lý do thứ ba, thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục ý thức môi

trường cho sinh viên” làm đề tài luận văn là ở chỗ, bấy lâu nay, giáo dục ý thức

môi trường cho sinh viên tuy đã được đề cập đến và công bố trong một số côngtrình nghiên cứu trong nước, song nhìn chung vẫn còn tản mạn và dừng ở mức

độ nghiên cứu, mà chưa được ứng dụng và luận giải trong một tình hình cụ thể

Cuối cùng, hiện trạng về ý thức và giáo dục ý thức môi trường cho sinhviên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay càng lôi cuốn và hối thúc tácgiả luận giải đúng hiện trạng, xác định rõ nguyên nhân, nhận diện các vấn đề,các tình huống mới xuất hiện, từ đó đề xuất giải pháp nhằm đổi mới nội dung

và phương pháp giáo dục ý thức môi trường trong các trường Đại học, Caođẳng ở Bắc Giang, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong chất lượng đàotạo nguồn nhân lực cho tỉnh và đất nước

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những vấn đề liên quan đến môi trường hiện đã có rất nhiều nghiêncứu, cả từ góc độ lý luận và thực tiễn, cả từ góc độ đơn ngành đến liên ngành.Tuy vậy, từ góc độ khoa học xã hội nhân văn trong đó có triết học có thể thấy

đã có những công trình cơ bản sau đây:

Trang 6

Một số vấn đề sinh thái nhân văn Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

1995; Nguyễn Viết Chức (chủ biên), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với

môi trường thiên nhiên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2002; Hà Huy

Thành (chủ biên), Một số vấn đề xã hội, nhân văn trong việc sử dụng hợp lý

tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội, 2001; Hồ Sỹ Quý (chủ biên), Mối quan hệ giữa con người và tự

nhiên trong sự phát triển xã hội, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000; Trần

Lê Bảo (chủ biên), Văn hoá sinh thái nhân văn, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 2001, Phạm Thị Ngọc Trầm “Môi trường sinh thái: Vấn đề và giải pháp” xuất bản năm 1997; Phạm Thị Ngọc Trầm (chủ biên), Quản lý nhà nước đối

với tài nguyên và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội – nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006; Phạm Thị Ngọc Trầm, Nhân

tố xã hội nhân văn trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường, Tạp

chí Tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2008; Bùi Văn Dũng với đề tài “Mối

quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho sự phát triển lâu bền” năm 1999; Bảo vệ môi trường cần ý thức trong mỗi cá nhân, Báo

Vietnamnet 12/8/2008; “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”,

Báo Quân đội nhân dân, ngày 10/9/2007; Bài phỏng vấn TS Trần Hồng Hà,

“Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi

trường”, Tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007.

Gần đây trực tiếp bàn đến những vấn đề liên quan đến xây xựng ý thức

môi trường có các công trình: Phạm Thị Ngọc Trầm, Đạo đức sinh thái: từ lý

luận đến thực tiễn, Tạp chí triết học số 2/1999; Phạm Thị Ngọc Trầm, Các giá trị văn hoá sinh thái truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá,

Tạp chí triết học số 7/2001; Phạm Thị Ngọc Trầm, Vấn đề xây dựng đạo đức

sinh thái trong điều kiện kinh tế thị trường, Tạp chí triết học số 3/2002; tác

giả Phạm Văn Boong với tác phẩm “Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu

Trang 7

bền” năm 2002; tác giả Hồ Sỹ Quý, Về đạo đức môi trường, Tạp chí triết học

số 9/2005; Nguyễn Thị Lan Hương, Trách nhiệm môi trường-một phương

diện của trách nhiệm xã hội, tạp chí Triết học số 9/2009; Phạm Thị Ngọc

Trầm, Xây dựng đạo đức sinh thái-một trách nhiệm xã hội của con người đối

với giới tự nhiên, tạp chí Triết học số 6/2009; Nguyễn Văn Phúc, Bảo vệ môi trường nhìn từ góc độ đạo đức, Tạp chí Triết học số 4/2010.

Trong các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được một số vấn đề sau:

Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tạo ra khối lượng sản phẩmkhổng lồ như hiện nay đang tạo ra mâu thuẫn sâu sắc giữa xã hội và tự nhiên.Các công trình nghiên cứu trên đã xác định được nội dung của khái niệm

“phát triển lâu bền” và vấn đề ý thức sinh thái cho con người trong quá trìnhphát triển Bởi vì muốn bảo vệ được môi trường thì trước hết phải xây dựngđược ý thức sinh thái đối với toàn xã hội Giải quyết mâu thuẫn giữa nền sảnxuất vật chất với tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường tự nhiên.Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho từng cá nhân trong xã hội, cần phảigiáo dục ý thức môi trường, nâng cao trách nhiệm và đạo đức môi trường tựnhiên cho học sinh, sinh viên

Ngoài ra các công trình trên cũng đã đề cập đến các vấn đề đặt ra trongcông tác giáo dục ý thức môi trường và giải pháp Vấn đề quản lý nhà nướctrong khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và vấn đề bảo vệ môitrường Trách nhiệm của các nhà quản lý trong việc xây dựng ý thức bảo vệnguồn tài nguyên và môi trường tự nhiên Các yếu tố tồn tại trong quản lý nhànước về tài nguyên môi trường

Các nghiên cứu đã giải quyết được một số vấn đề liên quan đến bảo vệtài nguyên môi trường, xây dựng ý thức bảo vệ môi trường, vấn đề quản lýnhà nước trong bảo vệ môi trường Tuy nhiên nhìn chung đây là những côngtrình mang tính lý luận cơ bản Trên thực tế cần có những nghiên cứu mang

Trang 8

tính ứng dụng nhằm góp phần nhằm giải quyết những vướng mắc, những vấn

đề đã đang nảy sinh từ thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng về mặt lý luận của việc giáo dục ýthức môi trường cho sinh viên, đề tài sẽ đi vào phân tích thực trạng giáo dục ýthức môi trường cho sinh viên tỉnh Bắc Giang, từ đó đề xuất một số giải phápthích hợp nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, xây dựng môi trườngxanh sạch đẹp, bảo vệ cuộc sống của chính mình và những người chungquanh vì sự phát triển bền vững của đất nước

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức môi trường đối với sinhviên trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích thực trạng giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnhBắc Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảgiáo dục ý thức môi trường cho sinh viên tại tỉnh Bắc Giang trong giai đoạnhiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên nói chung và ở địa bàn tỉnhBắc Giang nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung chủ yếu vào vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môitrường tự nhiên với tư cách là nội dung cơ bản của giáo dục ý thức môitrường nói chung chứ không đi sâu xem xét những vấn đề liên quan đến môitrường xã hội

Trang 9

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được tiến hành trên cơ sở phép biện chứng duy vật; những tưtưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữacon người và tự nhiên; những quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam cũngnhư những chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam về giáo dục ý thức môi trường

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là logic và lịch

sử, phân tích, tổng hợp, và so sánh

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn làm rõ tầm quan trọng đặc biệt của việc giáo dục ý thức môitrường cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay

- Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thứcbảo vệ môi trường cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

7 Kết luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược cấu trúc 2 chương và 5 tiết

Trang 10

Chương 1 GIÁO DỤC Ý THỨC MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Môi trường

Môi trường, là “một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên

ngoài của một hệ thống nào đó Chúng tác động lên hệ thống này, xác định xuhướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể được coi là một tập hợp, trong

đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đangxem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó.” Đối với con người, môi trường

có thể được hiểu cụ thể hơn là “tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội baoquanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống củacon người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế”.Như vậy, “nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điềukiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanhkhách thể này và các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng” [69]

Về khái niệm “môi trường”, tác giả Hoàng Phê trong cuốn “Từ điển

tiếng Việt” cho rằng: Môi trường là “toàn bộ nói chung những điều kiện tự

nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển, trongquan hệ với con người, với sinh vật ấy” [46, tr.635]

Ngày nay, trong sách báo khoa học, người ta thường gặp các cách hiểukhác nhau về khái niệm “môi trường” Tùy theo mục đích và nội dung nghiêncứu mà các khái niệm “môi trường” được phân tách thành các khái niệm hẹpnhư “môi trường tự nhiên”, “môi trường xã hội”, “môi trường nhân tạo”, v.v

Tuy vậy, khái niệm “môi trường” là thuật ngữ dùng để chỉ mọi thứxung quanh chúng ta gồm môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và cả môitrường nhân tạo

Trang 11

Về môi trường tự nhiên, trong cuốn “Môi trường và tài nguyên Việt

Nam” các tác giả quan niệm “Môi trường tự nhiên” bao gồm “các yếu tố tự

nhiên và phi tự nhiên tồn tại vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong mộtthể thống nhất, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến conngười; và chính con người cũng là một yếu tố môi trường quan trọng tác độngtới quá trình vận động và phát triển của chủ thể của nó” [52, tr.7]

Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan trong cuốn “Môi trường tự nhiên trong hoạt

động sống của con người” thì cho rằng: “Môi trường tự nhiên là một tổng hòa

những yếu tố tự nhiên vô cơ và hữu cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại

và phát triển của mọi sinh vật” [38, tr.20] Tuy cách định nghĩa có khác nhaunhưng các tác giả đều đã khẳng định môi trường tự nhiên bao gồm các yếu tố

tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên trong sự thốngnhất với nền sản xuất xã hội Trong môi trường tự nhiên, giữa các yếu tố tựnhiên, các hiện tượng tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên thường xuyên có sựtác động qua lại với nhau và có những ảnh hưởng nhất định đối với sự tồn tại

và sự phát triển của mọi sinh vật Nếu một yếu tố nào đó thay đổi sẽ kéo theo

sự thay đổi các yếu tố khác

Về Môi trường nhân tạo và Môi trường xã hội Môi trường nhân tạo là

hệ thống môi trường do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra

“Môi trường nhân tạo bao gồm những nhân tố vật lý, sinh học, xã hội do conngười tạo nên và chịu sự chi phối của con người” [26, tr.15] Còn môitrường xã hội là môi trường bao gồm các mối quan hệ giữa người và ngườivới nhau

Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề môi trường, từ góc độ triết học,tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm lại nhấn mạnh đến khái niệm sinh thái và cùng

với nó là thuật ngữ môi trường sinh thái, theo đó thì khái niệm “môi trường

sinh thái là bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự

Trang 12

sống của sinh thể Đối với con người, môi trường sinh thái là tất cả nhữngđiều kiện tự nhiên và xã hội, cả vô cơ và hữu cơ, có liên quan đến sự sống củacon người, sự tồn tại và phát triển của xã hội” [56, tr.16].

Như vậy, có thể thấy rằng nội hàm của khái niệm môi trường nóichung không thể tách rời nội hàm của khái niệm sinh thái

Sinh thái theo tiếng Hy Lạp là “oikos” với hai cách hiểu, thứ nhất, nó

có nghĩa là nhà ở, nơi cư trú, nơi sinh sống; thứ hai, có nghĩa là tồn tại sự

sống Song một trong những đặc trưng căn bản nhất của sự sống là quá trìnhtrao đổi chất thường xuyên giữa cơ thể sống với môi trường, từ đó có thể hiểu

sinh thái theo nghĩa thứ ba là mối quan hệ giữa cơ thể sống với môi trường

xung quanh [2, tr.38]

Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm còn đưa ra khái niệm môi trường sinh

thái nhân văn với ý nghĩa là môi trường của mối quan hệ qua lại và tác động

lẫn nhau giữa con người, xã hội và tự nhiên, được hiểu là môi trường sốngcủa con người hay môi trường tự nhiên - người hóa Tuy nhiên, trong cácnghiên cứu của mình, tác giả thường sử dụng thuật ngữ môi trường, hoặc môitrường sống với nội hàm của khái niệm môi trường sinh thái nhân văn Lýgiải điều này tác giả cho rằng, ngày nay, môi trường sống đã và đang trởthành một trong những vấn đề được quan tâm nhất và cũng là một trongnhững thách thức lớn nhất của nhân loại trong quá trình phát triển Bởi lẽ, môitrường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của mỗi con người, cũng như với sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người Hơn nữa, vấn đề môi trường sốngcòn quan hệ mật thiết với những vấn đề toàn cầu của thời đại, đặc biệt là cácvấn đề như dân số, sức khỏe và bệnh tật; lương thực và thực phẩm; chiếntranh hủy diệt, v.v mà để giải quyết được chúng cần phải có sự hợp lực củatất cả các dân tộc, các quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới [58, tr.32]

Theo chúng tôi, khái niệm sinh thái và những cách hiểu môi trườngnhư trên về cơ bản đều đề cập đến một nội dung rất quan trọng đó là mối quan

Trang 13

hệ giữa con người với môi trường sống xung quanh con người Bởi vậy, trongphạm vi luận văn này chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ môi trường với nội hàm

như đã được định nghĩa trong “Luật bảo vệ môi trường” đã được Quốc hội

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ tư thông qua

ngày 27 tháng 12 năm 1993, theo đó thì: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự

nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [15, tr.5-6]

1.1.2 Ý thức môi trường

Ngày nay, khi những vấn nạn về môi trường như lụt lội, sóng thần, cạnkiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm đất đai, không khí… và hơnhết là sự biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh tồncủa bản thân con người thì những lời kêu gọi con người phải hành động đểbảo vệ môi trường ngày càng trở nên khẩn thiết Các hoạt động bảo vệ môitrường, cả ở qui mô quốc gia, khu vực và toàn cầu ngày nay không còn chỉdừng lại ở các phong trào vận động, kêu gọi mà đã thực sự trở thành mối quantâm, là tiêu chí trong hoạch định chính sách của các quốc gia Nhưng làm thếnào để những hoạt động bảo vệ môi trường trở thành hành động thực tiễnkhông chỉ của mỗi cá nhân mà còn của cả toàn thể cộng đồng, của toàn xãhội Đây là vấn đề đã được không ít các nghiên cứu đơn ngành cũng như liênngành đề cập tới Song từ góc độ triết học, chúng tôi cho rằng, để có đượcnhững hành vi bảo vệ môi trường thì con người không chỉ dừng lại ở việcnhận thức được tầm quan trọng của môi trường đối với sự sống của mình màcòn phải ý thức được vai trò trách nhiệm của mình đối với môi trường Ý thứcmôi trường chính là nhân tố cần thiết cho việc đảm bảo điều khiển một cách

có ý thức hành vi của con người, và xa hơn là điều khiển một cách có ý thứcmối quan hệ giữa con người với môi trường sống xung quanh con người

Trang 14

Theo chúng tôi, ý thức môi trường, nói chung, là tập hợp các quan niệm

của con người về tự nhiên (môi trường sống) chung quanh con người và ý thức trách nhiệm đối với môi trường đó Từ đó con người ý thức được tầm quan trọng của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, biến những quan điểm

đó thành hành động cụ thể để xây dựng ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường.

Từ góc độ triết học, có thể nhìn nhận về ý thức môi trường từ một sốđiểm căn bản sau:

Thứ nhất, với tư cách là ý thức của con người nói chung, ý thức môi

trường là một bộ phận của ý thức xã hội Bởi vậy, về nguyên tắc, nó chịu sựchi phối của tồn tại xã hội, tức là những điều kiện sinh hoạt vật chất mà trên

đó nó được hình thành Tuy nhiên, ý thức môi trường cũng mang đặc trưngcủa ý thức con người nói chung và ý thức xã hội nói riêng, đó là khả năngvượt trước của nó đối với tồn tại xã hội trong những phạm vi nhất định Chính

vì vậy, việc xây dựng ý thức môi trường, một mặt, không thể tách rời nhữngđiều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội nhưng mặt khác cũng không thể đóngkhung trong phạm vi những điều kiện đó

Thứ hai, về mặt cấu trúc, ý thức môi trường được thể hiện ở ý thức cá

nhân và ý thức xã hội Như vậy, ý thức môi trường không chỉ bó hẹp trong phạm

vi ý thức trách nhiệm đối với môi trường của từng cá nhân mà hơn thế, nó phải là

ý thức trách nhiệm đối với môi trường của toàn thể cộng đồng và xã hội

Thứ ba, ý thức môi trường, về cơ bản, được thể hiện qua ý thức pháp

luật đối với môi trường và ý thức đạo đức đối với môi trường Nói cách khácđây là hai khía cạnh hay hai phương diện quan trọng nhất của ý thức môitrường, khía cạnh pháp luật và khía cạnh đạo đức Hai khía cạnh này là cơ sở

để điều chỉnh hành vi của con người đối với môi trường

Ngoài ra ý thức môi trường cũng còn được nhìn nhận từ phương diệnthẩm mỹ nữa Đặc trưng của khía cạnh này là nó cho ta thấy được nhận thức

Trang 15

và đánh giá của con người về cái đẹp của tự nhiên, của môi trường Từ đóhướng hoạt động của con người tới mục tiêu giữ gìn và tái tạo vẻ đẹp của tựnhiên và xã hội.

Tuy nhiên, do mục tiêu đặt ra trong luận văn là xây dựng ý thức môitrường nhằm tạo dựng được một ý thức trách nhiệm của các cá nhân nóichung cũng như của cộng đồng nói riêng nên chúng tôi sẽ chỉ tập trung chủyếu vào khía cạnh giáo dục ý thức pháp luật và ý thức đạo đức đối với môitrường mà thôi

1.2 Tính tất yếu của việc giáo dục ý thức môi trường

Bên cạnh những phân tích bên trên từ phương diện lý luận thì trên thực

tế cũng có thể khẳng định rằng giáo dục ý thức môi trường là một tất yếukhách quan, một nhu cầu cấp thiết không chỉ của một quốc gia, một dân tộc

mà là của toàn thế giới Sở dĩ như vậy là vì:

Trên bình diện toàn cầu, có thể nhận thấy, ngày nay, những cải biếnkhoa học và công nghệ hiện đại, một mặt tạo điều kiện nâng cao chất lượngcuộc sống con người, song mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của nó cũng đangkích thích tâm lý tiêu dùng thái quá; sự phát triển không đồng đều giữa cácquốc gia trên thế giới mà ở đó vẫn tồn tại những công nghệ còn lạc hậu; sựkhông thống nhất về lợi ích giữa các quốc gia, dân tộc… tựu trung lại lànhững rào cản về mặt kinh tế, xã hội, cũng như văn hóa đang ảnh hưởng trựctiếp đến ý thức của con người đối với môi trường

Với Việt Nam, vấn đề về ô nhiễm môi trường cũng đã và đang là vấn

đề nổi cộm Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường đang ở mức nghiêm trọng Doquá trình phát triển công nghiệp hóa đã làm cho những vấn đề như: ô nhiễmnguồn nước, không khí, sa mạc hóa đất đai,… đang trở thành những vấn đềcấp bách được coi là những nhiệm vụ trọng điểm cần giải quyết của quốc gia

Trang 16

Tình hình này cũng là đòi hỏi cấp thiết cần phải có ý thức đúng đắn trong việcgiữ gìn, bảo vệ môi trường của mọi thành viên và tổ chức trong xã hội.

Việc giáo dục ý thức môi trường cho con người biết bảo vệ môi trường

có ý nghĩa rất quan trọng Bởi vì, môi trường chính là nơi cư trú của conngười và xã hội loài người, bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sinh tồn của loàingười khỏi bị ô nhiễm và khỏi bị phá hoại, qua đó khiến cho môi trường tựnhiên ngày càng phù hợp với sản xuất và đời sống của loài người, đồng thờibảo vệ tốt các loài sinh vật trong thế giới tự nhiên

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cũng có nghĩa là bảo vệ sức sảnxuất Môi trường sản xuất, môi trường xã hội và môi trường tự nhiên tốt đẹpchính là cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội Nếu cơ sở này bị phá hoại thìkhông những sẽ ảnh hưởng tới phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng đến ổnđịnh xã hội Nói cách khác, “bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn củađất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ có tính chất xã hội sâu sắc, gắn liền vớicuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòabình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới” [27, tr.6-7] Chính vì vậy,bảo vệ môi trường là nhu cầu để phát triển kinh tế, là nhu cầu trong cuộc sốngthường ngày của con người

Cùng với tiến triển của lịch sử, con người ngày càng nhận thức đượcrằng môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và pháttriển của con người, bởi môi trường không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyênđầu vào cho sản xuất, đáp ứng nhu cầu sinh sống hàng ngày cho con người

mà còn là nơi chứa và hấp thụ nguồn chất thải do chính sản xuất và con ngườitạo ra Do đó, để bảo vệ môi trường phải duy trì các quy trình sinh thái chủyếu và các hệ sinh thái quyết định đến đời sống con người, phải sử dụng hợp

lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là các tài nguyên sinh vật, tránh làm

Trang 17

cạn kiệt hoặc hủy diệt tài nguyên, đảm bảo có một chiến lược phát triển lâubền và ổn định Vì lẽ đó “bảo vệ là có ý nghĩa tích cực, nó bao gồm cả sự bảoquản duy trì, sử dụng hợp lý, hồi phục và nâng cao hiệu suất của môi trường

tự nhiên, bao gồm cả các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo” [5, tr.14]

Ở nước ta, Luật bảo vệ môi trường đã khẳng định: Bảo vệ môi trường

“là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môitrường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu docon người và thiên nhiên gây ra môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiếtkiệm tài nguyên thiên nhiên” [15, tr.6]

Như vậy, để bảo vệ môi trường tốt, nhất thiết phải chú trọng tới việcgiáo dục con người ngay từ còn nhỏ cho tới tuổi trưởng thành và đặc biệt làkhi kết thúc quá trình học tập trong nhà trường, chuẩn bị bước vào đời, trựctiếp tham gia sản xuất của cải vật chất cho xã hội

Bên cạnh đó, để thực hiện tốt việc giáo dục ý thức môi trường củangười dân thì không có cách gì tốt hơn là cho họ thấy những lợi ích thiết thựccủa những hành vi bảo vệ môi trường trong từng hoạt động của đời sống

Việc cải thiện và bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề kỹ thuật vàluật pháp mà đòi hỏi sự tham gia của những người sống trong môi trường ấy,

vì các cá nhân, cộng đồng là những tác nhân có ảnh hưởng đến môi trường,tích cực hay tiêu cực tùy theo nhận thức, thái độ, hành vi của những tác nhân

ấy Ở Việt Nam, giáo dục môi trường còn ở giai đoạn bắt đầu Phần lớnnhững người tham gia giáo dục môi trường là những người đã học về môitrường nhưng chưa nắm vững phương pháp tập huấn nâng cao nhận thức chocác đối tượng khác nhau trong xã hội Hoặc họ là những người được đào tạo

về sư phạm và sau đó chuyên môn hóa trong giảng dạy về môi trường Dovậy, việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức môi trường cho mọi tầng lớp nhân dân

là vô cùng cần thiết đặc biệt là tầng lớp trong học sinh, sinh viên

Trang 18

1.3 Nội dung và phương pháp giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên

1.3.1 Mục tiêu của giáo dục ý thức môi trường

Về vai trò và ý nghĩa của công tác giáo dục môi trường nói chung, năm

1987, tại Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổchức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng của giáo dục môi trường: “Nếukhông nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mậtthiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầungày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy

cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hànhđộng của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùythuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môitrường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môitrường” [67, tr.37] Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợpquốc tổ chức tại Tbilisi vào năm 1977 đã đưa ra khái niệm: “Giáo dục môitrường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chấtphức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương táccủa nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họkiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham giamột cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn

đề môi trường và quản lý chất lượng môi trường” [67, tr37]

Trong những năm gần đây trên toàn thế giới nói chung, ở Việt nam nóiriêng, các hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thiên tai, bão lũ diễn ra bất thường

và rất nặng nề; môi trường nước, không khí, đất đai… bị ô nhiễm nghiêm trọng;các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, thiếu quy hoạch… đã gâyảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống và sức khoẻ của con người Do đó, việc giáodục ý thức môi trường cho mỗi người dân đã trở thành đòi hỏi bức thiết nhằm tạo

ra trong họ có những suy nghĩ và hành động vì sự toàn vẹn của môi trường

Trang 19

Trong giáo dục ý thức môi trường nói chung, dù cho đối tượng tiếpnhận là người dân, hay học sinh trong các trường phổ thông, sinh viên trongcác trường đại học hay trung học chuyên nghiệp… đều phải nhằm mục tiêuđem lại cho các đối tượng được giáo dục có cơ hội:

+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan hệnhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năngchịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển,giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàncầu Mục tiêu này thực chất là trang bị cho các đối tượng được giáo dục các

kiến thức về môi trường [67, tr.37].

+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trườngnhư một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họcũng như đối với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ,cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quanniệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thànhcác kỹ năng ứng xử và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ Mục tiêu này nhằm tới

định hướng xây dựng thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường

+ Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lựctrong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp

lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để họ có thể tham giahiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi

họ ở và làm việc Đây là mục tiêu về khả năng hành động cụ thể

Ba mục tiêu của giáo dục môi trường.

Trang 20

Như vậy, vai trò của giáo dục môi trường nói chung và giáo dục ý thứcmôi trường nói riêng là vô cùng cần thiết Giờ đây, nó không chỉ là sự quantâm của mỗi quốc gia mà còn là sự quan tâm của toàn thế giới Mục tiêu củagiáo dục ý thức môi trường là nhằm hình thành ở mỗi cá nhân, mỗi con ngườicác chuẩn mực hành vi đạo đức môi trường thể hiện ở thái độ và hành vi ứng

xử tích cực đối với các vấn đề môi trường cụ thể; xây dựng tình yêu thiênnhiên, sống thân thiện với môi trường thiên nhiên, bồi dưỡng lòng yêu thươngcon người, đảm bảo sự hài hoà giữa quyền lợi của chính mình với quyền lợicủa người khác và cộng đồng

Có thể thấy, giáo dục ý thức môi trường, về thực chất là giáo dục conngười có những nhận thức đúng đắn về môi trường, từ đó giáo dục và nâng cao ýthức pháp luật và ý thức đạo đức của cá nhân, cộng đồng đối với môi trườngnhằm hình thành nên ở mỗi cá nhân cũng như cộng đồng ý thức, chuẩn mực vàhành vi đúng đắn đối với môi trường cả về phương diện pháp luật và đạo đức

Như vậy, nội dung của giáo dục ý thức môi trường, về cơ bản phải tậptrung vào ba vấn đề chính, đó là giáo dục tri thức về môi trường; giáo dục ýthức pháp luật về môi trường (ý thức tuân thủ pháp luật về bảo vệ môitrường); và giáo dục ý thức đạo đức đối với môi trường (tinh thần tráchnhiệm, bổn phận đạo đức trong các ứng xử với môi trường)

1.3.2 Nội dung và phương pháp của giáo dục ý thức môi trường đối với sinh viên

Trong giáo dục môi trường thì phương thức và cách tiếp cận là điều hếtsức quan trọng Giáo dục môi trường có nhiều phương thức, được phân chiathành các bộ phận phù hợp với trình độ nhận thức và tính chất đặc thù củacương vị công tác như:

+ Giáo dục môi trường cho cộng đồng còn gọi là nâng cao nhận thức vềmôi trường cho cộng đồng được thực hiện chủ yếu thông qua các phương tiện

Trang 21

thông tin đại chúng, các đợt tập huấn ngắn hạn, các hoạt động văn hóa, truyềnthông và các cuộc vận động quần chúng rộng rãi

+ Giáo dục môi trường cho các nhà quản lý các cấp, các cán bộ raquyết định được thực hiện bằng nhiều biện pháp phù hợp

+ Giáo dục môi trường trong hệ thống giáo dục và đào tạo ở các trường

từ các trường mẫu giáo đến các trường cao đẳng và đại học

+ Đào tạo nhân lực chuyên môn về môi trường, bao gồm công nhânlành nghề, kỹ thuật viên, kỹ sư, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

Như vậy, rõ ràng công tác đào tạo và nâng cao nhận thức môi trườngcho cộng đồng đều là những bộ phận vô cùng quan trọng không thể thiếutrong giáo dục môi trường, thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dụcmôi trường Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy rằng, giáo dụcmôi trường thường được thực hiện theo 3 cách tiếp cận sau đây:

* Giáo dục về môi trường: xem môi trường là một đối tượng khoa học,

người dạy truyền đạt cho người học các kiến thức của bộ môn khoa học vềmôi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó Cụ thể là:

- Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó

- Cung cấp những hiểu biết tác động của con người tới môi trường

* Giáo dục trong môi trường: xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân

tạo như một địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Vớicách tiếp cận này, môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế” đadạng, sinh động cho người dạy và người học Xét về hiệu quả học tập kiếnthức, kỹ năng, nghiên cứu có thể hiệu quả rất cao [67, tr.39]

* Giáo dục vì môi trường: truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng của môi

trường hình thành thái độ, ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệm giá trị nhân cách, đạođức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹ năng, phương pháp cần thiết chonhững quyết định, hành động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững [67, tr.39]

Trang 22

Giáo dục môi trường có hiệu quả nhất khi kết hợp cả 3 cách tiếp cậntrên, tức là giáo dục kiến thức về môi trường trong môi trường cụ thể nhằmhướng đối tượng giáo dục có hành động vì môi trường [67, tr.39].

Với từng loại đối tượng có những phương pháp và nội dung giáo dục phùhợp chẳng hạn:

- Đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp: Giáo dục thông qua các Hộinghị, Hội thảo, Hội thi tìm hiểu, thông báo chuyên đề, thông tin chuyên đề

- Đối với các cơ quan, tổ chức cần phải quyết tâm và cam kết xây dựng

hệ thống tổ chức quản lý môi trường đáp ứng được yêu cầu Khẩn trương ràsoát, chỉnh sửa, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường theohướng phù hợp với kinh tế trị trường và thông lệ quốc tế Có cơ chế, chínhsách thỏa đáng nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về môi trường

đủ về số lượng và mạnh về chất lượng

- Đối với các doanh nghiệp, phải xây dựng các chế tài buộc các doanhnghiệp phải áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn Có cơ chế để các doanhnghiệp tiếp cận được các chính sách cũng như các yêu cầu về môi trường củacác thị trường và bạn hàng tiềm năng Thúc đẩy việc áp dụng các hệ thốngquản lý môi trường theo ISO 14001 và các mô hình quản lý môi trường hỗ trợhội nhập kinh tế quốc tế khác

- Đối với học sinh, sinh viên: Giáo dục thông qua các môn học và cáchoạt động ngoại khóa ở các bậc học Nội dung và phương pháp được xâydựng phù hợp với từng cấp học, cụ thể là:

+ Giáo dục bảo vệ môi trường trong trường mầm non: Giáo dục mầmnon nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là cơ sở quan trọng đặt nền móngban đầu cho việc hình thành nhân cách con người Việt Nam Giai đoạn từ 0 –

6 tuổi là giai đoạn rất quan trọng trong cuộc đời mỗi con người Trong giaiđoạn này, trẻ phát triển rất nhanh về mặt thể chất, nhận thức, tình cảm Cácmối quan hệ xã hội, những nét tính cách, phẩm chất và các năng lực chung,…

Trang 23

nếu không được hình thành ở trẻ trong lứa tuổi này, thì khó có cơ hội hìnhthành ở lứa tuổi sau Hiện nay, cả nước có trên 10.000 trường mẫu giáo, mầmnon với gần 3 triệu trẻ em và trên 15.000 giáo viên Một lực lượng khá đôngđảo sẽ được trang bị những kiến thức, kỹ năng về môi trường và bảo vệ môitrường nếu đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào trường mầm non [67, tr.39]

+ Giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc tiểu học: Tiểu học là bậc học cơbản, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng cho việc đào tạo trẻ em trở thànhcông dân tốt cho đất nước Mục đích quan trọng của giáo dục bảo vệ môitrường không chỉ làm cho các em hiểu rõ tầm quan trọng của bảo vệ môitrường mà quan trọng là phải hình thành thói quen, hành vi ứng xử vănminh, thân thiện với môi trường Nếu ở cấp học này các em chưa hình thànhđược tình yêu thiên nhiên, sống hòa đồng với thiên nhiên, quan tâm tới thếgiới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh thì ở các cấp sau khó

có thể bù đắp được Vì vậy, nội dung và cách thức bảo vệ môi trường trongtrường tiểu học mang tính quyết định đối với việc hình thành những phẩmchất đó [67, tr.39-40]

+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở bậc trung học: Ở cấp học này,nội dung giáo dục môi trường phải được coi là nội dung chính thống, có hệthống, có chất lượng và phải hiệu quả Cách thức đưa vào chương trình phổthông và phương thức đào tạo có thể mềm dẻo nhưng việc đánh giá kết quảphải được đặt ra một cách tương xứng với tầm quan trọng của vấn đề Cầnphải giúp cho các em tự mình chiếm lĩnh được tri thức, kỹ năng và tự thâncác học sinh xác định thái độ phải đối xử đúng đắn với thiên nhiên nhưchính ngôi nhà của mình [67, tr.40]

+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở bậc đại học và sau đại học:Giáo dục bảo vệ môi trường ở bậc đại học và sau đại học có thể được thựchiện theo 3 phương thức:

Trang 24

Thứ nhất: Tiến hành như một môn học mới, hoặc một chuyên đề mới

được đưa vào chương trình: Phương thức này tương đối rõ ràng, đơn giản,nhưng gặp khó khăn do chương trình đào tạo đang có không còn thời lượng

cho môn học mới

Thứ hai: Lồng ghép với các môn học khác: Phương thức này sẽ thuận lợi

cho tính chất liên ngành, không đòi hỏi việc sắp xếp lại khung chương trình Tuynhiên lại gặp khó khăn lớn là phải đào tạo giáo viên mới và huấn luyện bồi dưỡng

giáo viên đương chức về mục tiêu, nội dung và phương pháp lồng ghép

Thứ ba: Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa: Phương

thức này được vận dụng để giải quyết khó khăn về quỹ thời gian học tập củahọc sinh Giáo dục ngoại khóa có ưu điểm là sinh động, dễ gắn liền với thực

tế, vừa cung cấp được kiến thức, kỹ năng, vừa có tác dụng rèn luyện nhậnthức, thái độ Tuy nhiên có khó khăn là không liên tục, không hệ thống và bịđộng với nhiều nhân tố bên ngoài [67, tr.40]

Vì mục tiêu phát triển bền vững, vì sức khoẻ cộng đồng, việc giáo dụcmôi trường trong giai đoạn hiện nay cần đặt lên hàng đầu, thực hiện thườngxuyên và liên tục cho mọi đối tượng, mọi tầng lớp dân cư giúp cho mọi ngườinhận thức một cách đúng đắn về tầm quan trọng công tác bảo vệ môi trường

và có trách nhiệm với môi trường [72]

Có thể nói, việc giáo dục ý thức môi trường cho sinh viên không thểtách rời với việc giáo dục ý thức môi trường tại các cấp học trước đó Chính

vì vậy mà giáo dục ý thức môi trường cần phải được xây dựng thành hệthống, có sự liên kết chặt chẽ giữa các cấp học Chỉ khi đó giáo dục ý thứcmôi trường cho sinh viên mới đạt được hiệu quả mong muốn

1.3.2.1 Giáo dục tri thức môi trường

Để xây dựng được ý thức môi trường thì việc đầu tiên là phải cung cấpcho con người những tri thức khoa học, hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ

Trang 25

giữa con người với tự nhiên, về sự thích nghi của con người với những biếnđổi của môi trường tự nhiên nhằm đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữacon người với tự nhiên, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vì cả giới tựnhiên và con người, giúp con người có được tri thức đúng đắn về giá trị củamôi trường tự nhiên đối với cuộc sống của chính mình Đồng thời, giáo dụccon người những tình cảm yêu quý, tôn trọng tự nhiên, thân thiện với thiênnhiên, có thái độ, trách nhiệm và lối sống văn hoá đối với tự nhiên, sống hòathuận với thiên nhiên [72].

Giáo dục tri thức môi trường nhằm giúp cho cộng đồng hiểu được bảnchất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên cũng như nhân tạo để từ đógiúp con người có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trường.Mục tiêu của giáo dục tri thức môi trường cũng nhằm trang bị cho cộng đồngnhững kỹ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn Phươngpháp giáo dục tri thức môi trường hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môitrường trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hànhđộng bảo vệ môi trường Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục trithức môi trường trong công tác bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước đã cónhững chính sách, những chương trình hành động cụ thể, và đã đạt đượcnhững thành tựu đáng kể Các chương trình giáo dục tri thức môi trường baogồm cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp họctrong hệ thống giáo dục của Việt Nam Các chiến dịch nâng cao nhận thứccộng đồng, và vận động quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác thamgia vào việc bảo vệ môi trường tiến hành hàng năm Hệ thống thông tin và dữliệu môi trường cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn Tuyvậy, hiện vẫn còn những hạn chế, tồn tại trong công tác giáo dục, đào tạo vànâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường

Trang 26

Giáo dục môi trường hoàn toàn không tách rời những giá trị về kiếnthức, kinh nghiệm thực tế và cách thức thực hiện của từng địa phương haykhu vực về một quá trình tạo lập và phát triển bền vững Giáo dục tri thức môitrường luôn trân trọng những tri thức bản địa và ủng hộ việc giáo dục tươngứng với việc học tập dựa trên môi trường địa phương, coi trọng việc giáo dụctoàn cầu cũng như giáo dục môi trường địa phương, thậm chí về mặt cam kết

và hành động lại hướng về cụ thể và địa phương: “Nghĩ - toàn cầu, Hànhđộng - Địa phương” Những thông tin, kiến thức về môi trường được tích luỹtrong mỗi cá nhân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm

về bảo vệ môi trường của chính họ, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, nhữngcam kết vững chắc hướng về một môi trường trong lành và phát triển trongtương lai Bởi vì, mỗi cá nhân nếu đều có ý thức đóng góp những hành động

dù nhỏ nhưng tích cực cũng sẽ góp phần tạo nên những thay đổi lớn tốt đẹphơn cho môi trường Mục đích cuối cùng của giáo dục môi trường là tiến tới

xã hội hóa các vấn đề môi trường, nghĩa là tạo ra các công dân có nhận thức,

có trách nhiệm với môi trường, biết sống vì môi trường Một khi các vấn đềmôi trường đã được xã hội hóa thì những lợi ích kinh tế cho cộng đồng ngàymột gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lý nhà nước tăng nhưng gánh nặng chiphí sẽ giảm Do đó, những kết quả nghiên cứu về môi trường và các phươngpháp khắc phục ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đi đến kết luận chung là:không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tư vào con ngườithông qua công tác giáo dục ý thức môi trường

Việc nâng cao trình độ nhận thức về giới tự nhiên, về môi trường sinhthái cho toàn bộ tầng lớp dân cư Việt Nam sẽ giúp con người Việt Nam có sựhiểu biết sâu sắc hơn về vai trò của tự nhiên, của môi trường sinh thái đối vớicuộc sống con người, đồng thời nó còn giúp họ nhận thức một cách đầy đủ vàchính xác những nội dung và yêu cầu tất yếu của các quy luật của tự nhiên

Trang 27

Trên cơ sở đó, nó giúp mọi người trong hoạt động thực tiễn có được thái độứng xử thân thiện với môi trường, bảo vệ tự nhiên như bảo vệ chính sự sinhtồn của mình và giúp họ có cách thức cải tạo nó một cách đúng đắn, phù hợpvới yêu cầu của quy luật Nhờ vậy, tự nhiên, môi trường sinh thái được bảo vệ

và ngày càng có cơ hội được hoàn thiện Làm được việc này cũng có nghĩa làchúng ta đã hoàn thiện được một nội dung quan trọng trong việc giáo dục ýthức môi trường, từ đó góp phần không nhỏ vào việc xây dựng ý thức bảo vệmôi trường vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay

Ở nước ta hiện nay nhất là ở vùng sâu, vùng xa có sự nhận thức của cư dân

về giới tự nhiên với những quy luật vốn có của nó vẫn còn những hạn chế nhấtđịnh Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu là do điều kiện kinh tế - xã hộichưa phát triển và do người dân chưa thấy hết được vai trò vô cùng quan trọng của

tự nhiên, của môi trường sinh thái đối với con người, họ vẫn còn chịu sự ảnhhưởng của những tư tưởng duy tâm, sai lầm về tự nhiên, chưa hiểu đúng mối quan

hệ biện chứng giữa con người và tự nhiên,…Đây chính là sự biểu hiện về sự thấpkém của ý thức về môi trường ở nước ta Nó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việcgiáo dục ý thức về môi trường ở Việt Nam hiện nay Do vậy, để hoàn thành côngviệc này, một trong những biện pháp bắt buộc mà chúng ta cần phải làm đó làphải nâng cao trình độ nhận thức về tự nhiên, vê môi trường sinh thái cho mọi dân

cư ở nước ta, nhất là những dân cư sống ở vùng sâu vùng xa

Để nâng cao trình độ nhận thức về ý thức môi trường cho tầng lớp dân

cư, cần phải tiến hành một số công việc chủ yếu sau:

Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta nhất là ở các vùng sâu,vùng xa để tạo điều kiện vật chất cho việc nâng cao trình độ nhận thức về môitrường của tầng lớp dân cư

Trình độ phát triển của đời sống kinh tế - xã hội sẽ có ảnh hưởng trựctiếp đến trình độ nhận thức về môi trường của dân cư sống trong xã hội đó

Trang 28

Nếu xã hội có nền kinh tế lạc hậu, chậm phát triển thì đời sống vật chất của

họ sẽ hạn hẹp và do vậy, họ sẽ không có điều kiện để học tập một cáchthường xuyên và có hệ thống nên sự hiểu biết của họ về các quy luật của giới

tự nhiên, của môi trường sinh thái bị hạn chế, không đầy đủ và không chínhxác Đồng thời với nền kinh tế lạc hậu thì đời sống văn hóa tinh thần của xãhội đó cũng nghèo nàn và sự tuyên truyền nhằm phổ biến rộng rãi những kiếnthức khoa học về môi trường tới mọi tầng lớp dân cư để nâng cao năng lựchiểu biết của họ về vấn đề này cũng bị hạn chế và khó được thực hiện mộtcách sâu rộng trong thực tế Nhưng ngược lại, nếu xã hội có một nền kinh tếphát triển mạnh thì đời sống vật chất của dân cư sống trong xã hội đó sẽ đầy

đủ và được nâng cao Đây chính là nền tảng quan trọng để mọi người đều cóđiều kiện học tập, tiếp xúc với những tri thức của nhân loại về môi trường mộtcách chính xác và toàn diện Từ đó, trình độ nhận thức của học về vấn đền này

sẽ ngày càng được nâng cao hơn, sâu sắc hơn và mang tính hệ thống Trong khi

đó, ở Việt Nam hiện nay, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa đang tồn tại một nềnkinh tế còn lạc hậu, chậm phát triển so với sự phát triển chung của nhân loại.Điều này đã gây ra cản trở không nhỏ tới việc nâng cao trình độ nhận thức vềcác quy luật vốn có của giới tự nhiên cho người dân Đây chính là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng trình độ nhận thức của tầng lớpdân cư về vấn đề môi trường còn những hạn chế, bất cập Vì vậy, để khắc phụctình trạng này, chúng ta nhất thiết phải nâng cao đời sống kinh tế - xã hội trongphạm vi cả nước một cách ổn định, vững chắc và ngày càng phát triển

Để nâng cao được đời sống kinh tế - xã hội của cả đất nước, nhất là ởcác vùng sâu, vùng xa nhằm tạo điều kiện nâng cao trình độ nhận thức củatầng lớp dân cư về ý thức môi trường chúng ta cần phải: Đẩy mạnh sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phạm vi cả nước Trong đó, cần phải lưu

ý tiến hành công việc này ở cả vùng sâu, vùng xa bởi trong thực tế, đây là

Trang 29

vùng lạc hậu, xa trung tâm, cơ sở hạ tầng thấp kém nên tiến hành công nghiệphóa, hiện đại hóa ở khu vực này sẽ gặp nhiều khó khăn, sự đầu tư lớn mà hiệuquả kinh tế đạt được trước mắt lại không cao Điều này sẽ gây ra một tâm lýngại đầu tư cho khu vực này của các nhà đầu tư và các nhà doanh nghiệp Do

đó, Nhà nước cần phải có các chính sách cụ thể để thu hút các nhà đầu tư chovùng sâu, vùng xa Đồng thời bản thân Nhà nước cũng phải ưu tiên đầu tư chokhu vực này trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì sựphát triển kinh tế - xã hội của cả đất nước Với việc đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong phạm vi cả nước, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng

xa sẽ góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất ở nước ta mạnh mẽ Từ đó, nềnsản xuất xã hội sẽ đạt hiệu quả sản xuất cao dẫn tới nền kinh tế xã hội ngàycàng phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước ngày càng gia tăng,đời sống vật chất của dân cư cũng không ngừng được cải thiện và nâng cao.Điều này đã tạo ra điều kiện vật chất để người dân có cơ hội nâng cao trình độnhận thức của họ về môi trường ngày càng sâu sắc hơn

1.3.2.2 Giáo dục ý thức pháp luật môi trường

Giáo dục ý thức pháp luật môi trường trên thực tế là giáo dục ý thứctuân thủ pháp luật trong bảo vệ môi trường Ý thức được tầm quan trọng đặcbiệt của môi trường sống đối với con người, các sinh vật cũng như sự pháttriển kinh tế, xã hội, văn hóa…của mỗi quốc gia nói riêng và quốc tế nóichung, hiện nay nhiều quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật nhằm mục đích điều chỉnh hành vi của con ngườitrong khai thác các nguồn lực tự nhiên hướng tới mục tiêu bảo vệ môi trườngsống trong lành, vì sự tồn tại bền vững không chỉ của các thế hệ hiện tại màcòn cả của các thế hệ tương lai Luật môi trường chính là cơ sở pháp lý để nhànước lãnh đạo, quản lý các hoạt động có liên quan đến môi trường nhằm bảo

vệ môi trường vì sự tồn tại và phát triển của con người Thế giới đã có những

Trang 30

Công ước chung về Biến đổi khí hậu, về Đa dạng sinh học…và một loạtnhững thỏa thuận khác liên quan đến chống hủy hoại môi trường như ô nhiễmkhông khí, nguồn nước, đất đai…v.v Với Việt Nam, Luật Môi trường đãđược Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày27/12/1993 [42] Đây là bước tiến quan trọng trong việc tạo dựng cơ sở pháp

lý cho bảo vệ môi trường và là cơ sở để xây dựng ý thức bảo vệ môi trườngthông qua luật pháp của đông đảo nhân dân Trong việc giáo dục ý thức phápluật đối với bảo vệ môi trường thì việc giáo dục ý thức tuân thủ những điềuluật, quy định hiện hành đối với môi trường là hết sức cần thiết Mọi ngườicần phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với bảo vệ môi trường quaviệc tuân thủ các qui định này “Sống và làm việc theo pháp luật” trong cáchoạt động liên quan đến môi trường cũng chính là đã góp phần bảo vệ môitrường sống, vì hạnh phúc, vì sự an toàn của mỗi cá nhân, của cộng đồng vàtoàn xã hội

Việc giảng dạy Luật môi trường vào chương trình học tập, với nhữngthiết kế nội dung phù hợp là một đòi hỏi tất yếu của việc giáo dục ý thưc môitrường cho học sinh, sinh viên nói chung Giáo dục học sinh, sinh viên cáccấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểubiết về pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môitrường, bên cạnh việc trang bị kiến thức về môi trường cho họ sẽ giúp họ tựgiác thực hiện bảo vệ môi trường Trong lĩnh vự này cần có những biện pháp,cách làm phù hợp với sinh viên để nâng cao hiệu quả của việc giáo dục ý thứcpháp luật đối với môi trường

Nội dung giáo dục ý thức pháp luật trong bảo vệ môi trường phải bảođảm tính giáo dục toàn diện:

- Đối với giáo dục mầm non: Bên cạnh cung cấp cho trẻ em hiểu biết

ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung,

Trang 31

biết cách sống tích cực với môi trường, nhằm bảo đảm sự phát triển lànhmạnh về cơ thể và trí tuệ Cần phải đưa những nội dung liên quan đến nhữngqui định bắt buộc trong bảo vệ môi trường cho các em nhằm bước đầu hìnhthành ý thức tuân theo những qui định môi trường

- Đối với giáo dục tiểu học: Cùng vơi việc trang bị những kiến thức cơ

bản phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lý của học sinh về các yếu tố môi trường,vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối vớimôi trường; giáo dục cho học sinh có ý thức trong việc bảo vệ môi trường; pháttriển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường Những nội dung mang tính pháp lýtrong bảo vệ môi trường cần phải được cụ thể hóa qua hành động và hiểu biết

- Đối với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông: Bên cạnh

việc trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con ngườivới thiên nhiên; trang bị và phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường,biết ứng xử tích cực với môi trường sống xung quanh, thì những nội dung củaluật môi trường cần phải được đưa vào chương trình giảng dạy Có thể sửdụng các hình thức phù hợp hơn Chẳng hạn như làm tốt công việc trồng vàchăm sóc cây xanh; vệ sinh trong và ngoài lớp sạch sẽ trước và sau mỗi buổihọc; thường xuyên tổ chức những "ngày chủ nhật xanh"….Trong các bài giảng,căn cứ vào điều kiện từng môn học cụ thể, có thể lồng ghép những kiến thức vềbảo vệ môi trường Việc cho học sinh, sinh viên thường xuyên tiếp xúc vớinhững kiến thức về môi trường qua các lời giảng của giáo viên có thể tác độngtrực tiếp và có tác dụng hơn so với những chương trình truyền thông khô cứng.Không chỉ trong các tiết dạy trên lớp, giáo viên cần làm gương cho học sinhtrong việc bảo vệ môi trường Đồng thời, khuyến khích học sinh tự giám sátviệc bảo vệ môi trường của nhau và đưa ra những lời nhắc nhở, tuyên dươngkịp thời Các nhà trường cũng cần dành một khoản kinh phí nhất định để đầu tưcác thiết bị tiết kiệm điện, khuyến khích giáo viên, học sinh, sinh viên sử dụng

Trang 32

năng lượng tiết kiệm cùng với việc ban hành những quy định cụ thể về việc bảo

vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan xanh - sạch - đẹp Cần đưa ý thức bảo vệ môitrường thành một tiêu chí để đánh giá, xếp loại giáo viên, học sinh, sinh viên.Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong những biệnpháp quan trọng góp phần xây dựng môi trường học đường thân thiện cũng nhưmang lại những lợi ích trước mắt và lâu dài

Việc giáo dục ý thức pháp luật trong bảo vệ môi trường chủ yếu thựchiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở cácmôn học trong nhà trường, kết hợp với tri thức về luật hay những qui địnhmang tính pháp lí trong bảo vệ môi trường Nội dung giáo dục còn được thựchiện ngoài nhà trường dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhậnthức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn cộng đồng

Đối với việc đạo tạo những sinh viên trở thành cán bộ về bảo vệ môitrường thì nội dung có thể bao gồm: những kiến thức cơ bản liên quan đếnmôi trường, kỹ năng nắm bắt các vấn đề môi trường, kỹ năng dự báo, phòngngừa và giải quyết những sự cố môi trường và những nội dung cần thiết vềpháp luật bảo vệ môi trường

Việc đưa các nội dung trên vào chương trình đào tạo cán bộ bảo vệ môitrường phải căn cứ vào đặc điểm ngành nghề, trình độ đào tạo để thiết kếchương trình và môn học Phải khai thác các tri thức về môi trường hiện có ởcác môn học Đối với một số ngành đào tạo có thể biên soạn nội dung về bảo

vệ môi trường thành những môn học riêng, trong đó nhất thiết phải chú trọngđến những nội dung về luật môi trường

1.3.2.3 Giáo dục ý thức đạo đức môi trường

Giáo dục ý thức đạo đức môi trường cũng là một trong những nội dungrất quan trọng của việc xây dựng ý thức môi trường, bởi vì những hoạt động,

Trang 33

hành vi bảo vệ môi trường của con người chỉ đạt được hiệu quả cao nhất vàbền vững nhất khi người ta ý thức được trách nhiệm của mình một cách tựgiác Chỉ khi con người tự nhận thấy rằng lợi ích của bản thân mình gắn liềnvới lợi ích của cộng đồng xã hội chỉ có thể có được khi con người tôn trọng tựnhiên, coi tự nhiên là cái nôi sự sống của con người Nếu con người chỉ chú ýđến lợi ích của mình mà không chú ý đến tự nhiên, hủy hoại tự nhiên thì sớmmuộn gì con người cũng sẽ đi tới chỗ tự tiêu diệt mình mà không biết.

Giáo dục ý thức đạo đức đối với môi trường có nội dung cơ bản là giáodục ý thức trách nhiệm của bản thân mỗi các nhân cũng như toàn cộng đồngđối với môi trường Mỗi người nói riêng và cộng đồng nói chung cần phải ýthức được nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm bảo vệ môi trường của mình trongmỗi hành vi hoạt động sản xuất hay sinh hoạt đời sống nói chung

Yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến ý thức đạo đức môi trường ởnước ta hiện nay là sự tự nhận thức của người dân về hành vi đạo đức môitrường chưa cao Khảo sát của Viện Tâm lý cho thấy trên 70% người đượchỏi không hiểu được đạo đức môi trường là gì [72] Khi không hiểu được thìviệc thực hiện hành vi đạo đức môi trường chắc chắn sẽ không hiệu quả Mặtkhác, hoạt động tuyên truyền của khu dân cư, chính quyền địa phương, của cơquan chức năng và phương tiện đại chúng chưa có tác dụng Dư luận xã hộichưa có vai trò điều chỉnh hành vi con người về vấn đề bảo vệ môi trường.Bên cạnh đó, sự nhắc nhở xử phạt của những người có trách nhiệm ở cộngđồng dân cư còn rất thấp

Để xây dựng, nâng cao đạo đức môi trường, từ đó góp phần xây dựng mộtmôi trường bền vững ở nước ta hiện nay Trước hết phải đưa đạo đức môi trườngvào các văn bản pháp quy của Nhà nước để giáo dục người dân Việc bảo vệ môitrường không phải mang tính chất bắt buộc mà là sự tự giác xuất phát từ lươngtâm, ý thức, trách nhiệm của mình Ở cộng đồng dân cư những nội dung này có

Trang 34

thể đưa vào hương ước, quy ước; với doanh nghiệp đưa vào chương trình hoạtđộng của doanh nghiệp; làng nghề đưa vào quy định hoạt động của làng nghề

Thứ hai, cần tăng cường tuyên truyền giáo dục để hình thành, thay đổinhận thức của người dân về đạo đức môi trường Thay đổi ở chỗ từ xưa đến nay,con người vẫn cho mình quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, thống trị thiênnhiên, coi môi trường là công cụ phục vụ lợi ích của mình đến chỗ coi môitrường là một phần không thể thiếu của cuộc sống con người Bên cạnh đó, cầngắn việc xây dựng đạo đức môi trường với việc bảo đảm lợi ích của người dân,tăng cường các hình thức xử phạt các hành vi vi phạm đạo đức môi trường

Nhìn chung, cả việc giáo dục ý thức pháp luật hay ý thức đạo đức đốivới môi trường đều không thể tách rời khỏi giáo dục tri thức, những hiểu biết

về môi trường Tuy vậy, giáo dục tri thức môi trường chỉ thực sự có ý nghĩa

và hiệu quả khi nó giúp cho con người ta tự ý thức được về bổn phận cũngnhư trách nhiệm của bản thân mình Đến lượt mình sự tự ý thức này sẽ làmgiàu thêm tri thức của con người về môi trường nói chung và về chính bảnthân mình Thực tế cho thấy rằng giáo dục, nâng cao ý thức môi trường chocộng đồng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi lẽ cộng đồng là những ngườichịu ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường sống của chính họ, họ vừa là nguyênnhân vừa là những người gánh chịu hậu quả những vấn đề môi trường của địaphương Khi được nâng cao nhận thức, kiến thức về bảo vệ môi trường sẽ gópphần thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường Công tác này thườngđược thực hiện thông qua các hoạt động xã hội, các tổ chức quần chúng, cácđoàn thể chính trị - xã hội để từng bước tiến tới xã hội hóa công tác bảo vệmôi trường, điều này có nghĩa là huy động các nhân tố thị trường và cộngđồng dân cư vào các mặt hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Đây làmột quá trình đòi hỏi sự bền bỉ, thời gian dài và đặc biệt là sự kết hợp hài hòa

và tổng hợp các giải pháp Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, không có

Trang 35

một giải pháp đơn lẻ nào có thể phát huy hiệu quả trong vấn đề này ĐảngCộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đặt vị trí quan trọng của công tácbảo vệ môi trường trong hoạt động phát triển kinh tế xã hội Quan điểm nàyđược thể hiện rõ trong Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 25/6/1998 và sau này làNghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị Ban chấp hànhTrung ương Đảng cộng sản Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: "Bảo vệ môi trường là quyềnlợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người" Quyết định

số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướngđến năm 2020 cũng nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xãhội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng và của mọi người dân".Theo Nghị định số 35/HĐBT ngày 28/01/1992 về công tác quản lý khoa học

và công nghệ, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp ngày càng phát triển Hiệnnay, có hàng trăm đơn vị hội viên thuộc Liên hiệp Các hội Khoa học và Kỹthuật Việt Nam và nhiều các trung tâm hoạt động trong lĩnh vực khoa học vàcông nghệ tại các tỉnh và thành phố Các hội này nói chung không có hệ thốngtới cơ sở, mà thường là tập hợp các nhà chuyên môn trong một lĩnh vực nhấtđịnh để tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, tưvấn đào tạo và chuyển giao công nghệ Cho đến nay, các hội đã đóng góp ýkiến xây dựng các chính sách, luật pháp về bảo vệ môi trường, như Luật Bảo

vệ môi trường, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học, Chiến lược Bảo vệ môitrường quốc gia, Đối với một số dự án quan trọng, như Dự án xây dựng Nhàmáy Thủy điện Sơn La, các hội đã được yêu cầu nghiên cứu đóng góp ý kiếncho báo cáo nghiên cứu khả thi của công trình này, trong đó có phần về đánhgiá tác động môi trường Nhiều điều kiến nghị đã được các cơ quan có thẩmquyền xem xét và chấp nhận Tuy không có hệ thống tổ chức đến tận cơ sở,

Trang 36

nhưng các hội vẫn có thể tổ chức thực hiện nhiều hoạt động tại các địaphương trong cả nước, thông qua các đề tài nghiên cứu, các dự án phát triểntrong các lĩnh vực sản xuất, xã hội và bảo vệ môi trường, như Hội Khoa học

Kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam trong việc bảo vệ rừng và các khu bảo tồnthiên nhiên Các tổ chức chính trị - xã hội, như Hội Nông dân Việt Nam, HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, có hệthống tổ chức từ Trung ương tới cơ sở, vì vậy có điều kiện và vai trò quantrọng trong việc huy động hội viên cùng nhân dân địa phương thực hiện nhiềuhoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương Các chương trình lớn của quốcgia có liên quan đến môi trường, như Chương trình 327 về phủ xanh đấttrống, đồi núi trọc, Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, Chương trình Nướcsạch và vệ sinh môi trường nông thôn có thành công hay không, phần quyếtđịnh là ở các hoạt động của cộng đồng ở địa phương Các dự án do Chính phủhoặc các tổ chức quốc tế tài trợ để xây dựng những mô hình về cải thiện điềukiện sinh hoạt và bảo vệ môi trường chỉ có thể đạt kết quả tốt, nếu mô hìnhphù hợp với nhu cầu và đặc điểm của địa phương, được nhân dân chấp nhận

và nhất là sau khi dự án kết thúc, có thể được tiếp tục nhân rộng, nhằm giảiquyết vấn đề trong phạm vi rộng hơn Cộng đồng địa phương còn có thể đónggóp ý kiến cho các chủ trương, chính sách của Nhà nước và các dự án đầu tư,nhất là những gì có tác động trực tiếp tới môi trường, tới sản xuất và đời sốngcủa nhân dân tại đó Vì vậy, thực hiện nguyên tắc "Dân biết, dân bàn, dânlàm, dân kiểm tra" là một trong các biện pháp quan trọng để xã hội hóa côngtác bảo vệ môi trường [67, tr.42]

Các nội dung của giáo dục ý thức môi trường cũng phải được đa dạng

và cụ thể hóa với từng nhóm đối tượng Đối với các tầng lớp dân cư, giáo dụcthông qua các lớp tập huấn, thi tìm hiểu, tự học và truyền thông là hết sức cầnthiết Qua đó có thể tăng cường nhận thức của người dân về những vấn đề

Trang 37

như: bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, làm những điều có ích cho môitrường, không làm gì gây tổn hại đến môi sinh, môi trường Ở đây, riêng vớiđối tượng sinh viên, theo chúng tôi việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cóthể được thực hiện theo 3 phương thức:

Thứ nhất: Tiến hành như một môn học mới, hoặc một chuyên đề mới

được đưa vào chương trình: Phương thức này tương đối rõ ràng, đơn giản,nhưng gặp khó khăn do chương trình đào tạo đang có không còn thời lượngcho môn học mới

Thứ hai: Lồng ghép với các môn học khác: Phương thức này sẽ thuận

lợi cho tính chất liên ngành, không đòi hỏi việc sắp xếp lại khung chươngtrình Tuy nhiên lại gặp khó khăn lớn là phải đào tạo giáo viên mới và huấnluyện bồi dưỡng giáo viên đương chức về mục tiêu, nội dung và phương pháplồng ghép

Thứ ba: Giáo dục môi trường qua các hoạt động ngoại khóa: Phương

thức này được vận dụng để giải quyết khó khăn về quỹ thời gian học tập củahọc sinh Giáo dục ngoại khóa có ưu điểm là sinh động, dễ gắn liền với thực

tế, vừa cung cấp được kiến thức, kỹ năng, vừa có tác dụng rèn luyện nhậnthức, thái độ Tuy nhiên có khó khăn là không liên tục, không hệ thống và bịđộng với nhiều nhân tố bên ngoài

Đối với các đối tượng là cán bộ quản lý chúng tôi cho rằng: những cán

bộ quản lý các cấp chính là những người có vai trò quyết định đối với sự pháttriển bền vững của xã hội Tuy nhiên, nhiều cán bộ quản lý còn chưa thể hiện

sự quan tâm đúng mức đến tầm quan trọng của môi trường hoặc còn xem vấn

đề môi trường là yếu tố gây cản trở với quá trình phát triển, với việc khai tháccác nguồn tài nguyên phục vụ cho công cuộc phát triển Bởi vậy, ở nhiềungành khi lập kế hoạch phát triển kinh tế, thì vấn đề môi trường mới chỉ đượccoi là nội dung mang tính tham khảo hoặc một nội dung bổ trợ mà chưa được

Trang 38

xem là mục tiêu cần thiết của ngành đó Do đó, giáo dục thông qua đào tạocập nhật môi trường là rất cần thiết để họ phải có trách nhiệm với môi trườngmỗi khi cầm bút phê duyệt một dự án phát triển, một công trình xây dựng haymột quyết định có liên quan tới khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Kết luận chương 1

Giáo dục ý thức môi trường là vấn đề cấp thiết đối với Việt Nam, đặcbiệt là trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, việc phân tích, khảo sát những nộidung cơ bản của giáo dục ý thức môi trường từ góc độ lý luận sẽ góp phầnxác định rõ thêm cơ sở, cũng như những nội dung và cách tiếp cận trong việcgiáo dục ý thức môi trường

Trên cơ sở những nội dung đã trình bày, trong chương 2 luận văn sẽ

đi vào tìm hiểu thực trạng, từ đó gợi ý một số giải pháp nhằm xây dựng vàgiáo dục ý thức môi trường cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, mộttrong những tỉnh mà tài nguyên thiên nhiên là một trong những thế mạnhnhưng lại đang đứng trước nguy cơ bị con người tàn phá, từ đó góp phần vàocông cuộc phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng của địa phương, đồng thờiđảm bảo giữ gìn, bảo vệ tốt môi trường sinh thái vì một sự phát triển bềnvững của địa phương nói riêng và đất nước nói chung

Trang 39

Chương 2

CHO SINH VIÊN TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1 Thực trạng giáo dục ý thức môi trường đối với sinh viên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay

2.1.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

Điều kiện tự nhiên

Bắc Giang là tỉnh miền núi có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyênkhoáng sản Địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn cónhiều vùng đất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu

- Khí hậu

Bắc Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Đôngbắc Một năm có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa

Trang 40

xuân, thu khí hậu ôn hòa Nhiệt độ trung bình 22 - 230C, độ ẩm dao độnglớn, từ 73 - 87%.

- Tài nguyên thiên nhiên

+ Tài nguyên đất

Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nôngnghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyêndùng và đất ở, còn lại là các loại đất khác Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp

và thuỷ sản Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thếcho phát triển công nghiệp - dịch vụ Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâmcanh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho Thủ đô Hà Nội

và các tỉnh lân cận Tỉnh đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúasang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trịkinh tế cao Hơn 20 nghìn ha đất đồi núi chưa sử dụng là một tiềm năng lớncho các doanh nghiệp, nhà đầu tư doanh, liên kết trồng rừng, chế biến lâm sản

và nuôi trồng thuỷ sản

+ Tài nguyên rừng

Đến hết năm 2005 Bắc Giang có 129.164 ha đất lâm nghiệp đã có rừng,

và gần 30.000 ha đất núi đồi có thể phát triển lâm nghiệp Trữ lượng gỗ cókhoảng 3,5 triệu m3, tre nứa khoảng gần 500 triệu cây Ngoài tác dụng tànche, cung cấp gỗ, củi, dược liệu, nguồn sinh thuỷ, rừng Bắc Giang còn cónhiều sông, suối, hồ đập, cây rừng nguyên sinh phong phú tạo cảnh quan,môi sinh đẹp và hấp dẫn

+ Tài nguyên khoáng sản

Đến hết năm 2005 Bắc Giang đã phát hiện và đăng ký được 63 mỏ với

15 loại khoáng sản khác nhau bao gồm: than, kim loại, khoáng chất công

Ngày đăng: 12/05/2016, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lê Bảo và các cộng sự , Văn hóa sinh thái nhân văn, Nxb Văn Hóa - Thông Tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa sinh thái nhân văn
Nhà XB: Nxb Văn Hóa -Thông Tin
2. Phạm Văn Boong, Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền, Nxb Chính Trị Quốc Gia, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức sinh thái và vấn đề phát triển lâu bền
Nhà XB: Nxb ChínhTrị Quốc Gia
3. Bài phỏng vấn TS. Trần Hồng Hà, Cần tạo chuyển biến trong nhận thức trách nhiệm và đạo đức về môi trường, tạp chí tài nguyên và Môi trường, tháng 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần tạo chuyển biến trong nhận thứctrách nhiệm và đạo đức về môi trường
5. Ban chủ nhiệm chương trình 5202, Việt Nam những vấn đề tài nguyên và môi trường, Dự thảo chiến lược Quốc gia, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam những vấn đề tài nguyên và môitrường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
9. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
6. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm của các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, từ năm 2005 - 2010 Khác
7. Báo cáo hàng năm sở tài nguyên môi trường tỉnh Bắc Giang, từ năm 2005 - 2010 Khác
10. Bộ Chính trị BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong tình hình mới, Chỉ thị 36-CT/TW ngày 25/06/1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w