PHẦN MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Trong những năm qua, việc tái cấu trúc và sáp nhập các công ty, các ngân hàng có quy mô nhỏ lẻ được đẩy mạnh cùng việc cổ phần hóa công ty Nhà nước. Trong mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tài chính có những đặc thù riêng, vì vậy cần phải có các nghiên cứu phân tích về việc thuận lợi, khó khăn và quá trình cho công cuộc cơ cấu, bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, cổ phần hóa các tập đoàn công ty. Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của AFTA, ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập WTO, cùng các tổ chức thương mai thế giới. Xu thế hội nhập, liên kết phát triển kinh tế trong khu vực và tiến tới toàn cầu hóa kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tất yếu khách quan, tạo cơ hội cho nước ta nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn. Đối với lĩnh vực ngân hàng và tổ chức tài chính thì gặp rất nhiều khó khăn mặc dù tình hình kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi. “Năm 2014, với nhiều chính sách mới chặt chẽ hơn, tác động lên hoạt động của toàn bộ hệ thống và tình hình kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng vẫn chưa có điểm sáng rõ rệt. Chỉ số giá cổ phiếu ngành ngân hàng trong một năm qua có mức tăng trưởng thấp hơn so với VNIndex, đặc biệt trong 6 tháng trở lại đây.” (Báo tầm nhìn tri thức và phát triển – 2014) Trước cơ hội và những thách thức lớn như hiện nay, các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã có nhiều nỗ lực trong việc khai thác các nguồn lực của xã hội để phát triển hoạt động của tổ chức, công ty mình. Tuy nhiên quá trình khai thác gặp nhiều khó khăn buộc Nhà nước và các ngân hàng Trung Ương phải đề ra các giải pháp, công cụ hỗ trợ các tổ chức, các ngân hàng thương mại và việc sáp nhập và cơ cấu lại là một trong những biện pháp hiệu quả. Từ thực tế, các chính sách của Nhà nước và việc quyết định sáp nhập cũng như tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính đã mang lại hiệu quả và đem lại tình hình khả quan và dấu hiệu phục hồi sau khoảng thời gian khủng hoảng của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính tại Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu đề tài chúng ta hiểu hơn về hiệu quả việc sáp nhập và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính. 2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Kế thừa các kết quả nghiên cứu và lý thuyết về tái cấu trúc và sáp nhập, đề tài nhằm giải quyết các mục tiêu sau đây: Xác định được nguyên nhân của việc sáp nhập và tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính. Thực trạng trước và sau khi tiến hành sáp nhập các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tại Việt Nam. Hướng giải pháp cho hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính Việt Nam giai đoạn mới. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất về cơ cấu lại và sáp nhập các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Bài tiểu luận sử dụng số liệu dựa trên các báo cáo tài chính của các ngân hàng sáp nhập, tái cấu trúc như Maritime Bank, PG Bank, Southern Bank,...giai đoạn 2010 – 2015 và các tổ chức tài chính khác có liên quan. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để phân tích cơ cấu của các ngân hàng bị sáp nhập và tìm ra các giải pháp cũng như đề xuất hướng đi mới cho việc sáp nhập này, bài tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử dụng các số liệu trên báo cáo tài chính để phân tích và đưa ra hướng giải quyết. Theo cách tiếp cận này, dựa trên các lý thuyết được xây dựng, đồng thời kết hợp với các kết quả dưới đây sẽ trả lời cho các vấn đề mà đề tài đặt ra. 5. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 5.1. Về mặt lý thuyết: Bài tiểu luận đã tổng quan về lý thuyết cơ cấu và tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, mô hình tái cấu trúc của các ngân hàng. 5.2 Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu bài tiểu luận có ý nghĩa các mặt sau đây: Giúp cho người đọc nhìn nhận lại quá trình tái cấu trúc và cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Từ kết quả nghiên cứu chúng ta có cái nhìn tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam đồng thời đưa ra những nhận định cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng. 6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI: Kết cấu tiểu luận gồm phần mở đầu, 4 chương và kết luận Phần mở đầu: giới thiệu sự cần thiết của đề tài, tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu và đối tượng nghiện cứu, phương pháp và ý nghĩa của đề tài. Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cơ cấu lại, sáp nhập các tổ chức tài chính, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Chương 2: Thực trạng hiện tại về hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015. Chương 3: Các hoạt động tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính ở Việt Nam. Chương 4: Đánh giá hiệu quả của hoạt động tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 và hướng đi mới giai đoạn 2015 – 2020. Chương 5: Kết luận. CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC TÀI CHÍNH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN CƠ CẤU, TÁI CẤU TRÚC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH 1.1.1 Khái niệm tái cơ cấu (doanh nghiệp) Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường là một công ty. Ngoài việc tổ chức cho một công ty về các mảng chức năng (như là sản xuất, kế toán, tiếp thị, v.v...) và xem xét các nhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện, theo lý thuyết tái cơ cấu, chúng ta còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìm kiếm các nguyên liệu, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phân phối. Việc cơ cấu, tái cấu trúc lại các ngân hàng hay các tổ chức tài chính là tái cấu trúc ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau nhưng trên tổng thể thì cấu trúc tài sản của doanh nghiệp là bao quát nhất. Cấu trúc tài sản của doanh nghiệp gắn liền với việc sử dụng vốn, phản ánh và chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược kinh doanh của DN. Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. 1.1.2 Cấu trúc, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp là cấu trúc, tái cơ cấu lại nguồn vốn chủ sở hữu. Đối với nguồn vốn chủ sở hữu. DN không phải cam kết thanh toán, người chủ sở hữu vốn chỉ kỳ vọng vào lợi ích được mang lại từ hiệu quả hoạt động cuối cùng của DN. Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của người chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của DN. Vì vậy, khi xét khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốn này thể hiện năng lực vốn có của người chủ sỡ hữu trong tài trợ hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sỡ hữu, thặng dư vốn cổ phần, vốn khác của chủ sỡ hữu, cổ phiếu quỹ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sỡ hữu, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, nguồn kinh phí quỹ khác,… 1.1.3 Vai trò của cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính. Mục tiêu của mọi DN là hoạt động SXKD có hiệu quả và hướng đến sự phát triển bền vững. Mục tiêu này có đạt được hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng có tính quyết định, một trong số đó là vấn đề tái cấu trúc, sáp nhập các tổ chức tài chính lại với nhau, hình thành 1 tổ chức vững mạnh và phát huy được tính hiệu quả, giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp mạnh khi có cơ cấu, cấu trúc mạnh và đóng góp nhiều cho sự phát triển của Nhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế của đất nước. 1.2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HOẠCH ĐỊNH TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH. 1.2.1 Quyền kiểm soát Khi hoạch định cấu trúc, tái cơ cấu tổ chức là nhằm mục đích duy trì sự ổn định của ngân hàng, các tổ chức tài chính. Nên việc duy trì quyền kiểm soát của chủ ngân hàng, chủ các tổ chức tài chính là vô cùng cần thiết khi các tổ chức đi vay từ các chủ nợ. 1.2.2 Giá trị thị trường – Các rủi ro và tỷ suất sinh lợi Khi xác lập tại cơ cấu ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính, yếu tố rủi ro và tỷ suất sinh lợi cần phải được xem chúng tác động như thế nào đến giá cổ phần và giá thị trường của ngân hàng, tổ chức tài chính. Các nhà đầu tư trên thị trường sẽ nhìn nhận vào khả năng vốn và suất sinh lời của công ty để đầu tư. 1.2.3 Định thời điểm Yếu tố thời gian có liên quan mật thiết với khả năng điều động trong việc xác định loại vốn sử dụng. Một hậu quả quan trọng của khả năng điều động là nó cho phép chúng ta nắm bắt các cơ hội sẽ cho phép chúng ta tối thiểu hóa tổng chi phí của nợ và vốn cổ phần thường. Thường thị có thể tiết kiệm được các khoản tiền đáng kể bằng cách định thời thích hợp cho việc huy động các nguồn vốn thích hợp. 1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CƠ CẤU LẠI, TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH. 1.3.1 Quy mô của ngân hàng, tổ chức tài chính Quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính được xem là một dấu hiệu cho các nhà đầu tư bên ngoài. Các ngân hàng, tổ chức tài chính thường có khuynh hướng công bố thông tin bên ngoài nhiều hơn. Mặt khác, các tổ chức tài chính lớn thường niêm yết giá trên thị trường chứng khoán nên dễ dàng huy động được nhiều nguồn vốn hơn và có khả năng duy trì một tỷ lệ nợ cao. Như vậy, quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính có quan hệ thuận chiều với cấu trúc tài chính của ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính. 1.3.2 Công nghệ khoa học kĩ thuật Chúng ta cũng biết rằng mỗi tổ chức có thể sẽ áp dụng những công nghệ khác nhau để hoạt động và kinh doanh. Do đó cơ cấu tổ chức phải phù hợp với đặc thù công nghệ của doanh nghiệp. Hai yếu tố làm cơ sở cho tổ chức quyết định một cơ cấu phù hợp với công nghệ của mình là tính đa dạng và khả năng phân tích. Tính đa dạng được hiểu là số trường hợp ngoại lệ so với tiêu chuẩn đã được đề ra. Tính phân tích đề cập đến quá trình sản xuất có thể chia thành các bước theo chuyên môn hóa đến mức nào. Khi tính đa dạng thấp và khả năng phân tích cao, đây là công nghệ với những công việc lập đi lập lại hàng ngày, ít có ngoại lệ xảy ra. Doanh nghiệp có thể áp dụng cơ cấu cơ học, tập quyền và mức độ chính thức hoá, chuyên môn hóa cao. Khi tính đa dạng cao và khả năng phân tích thấp thì tổ chức cần một cơ cấu hữu cơ với mức độ chính thức hóa thấp, phân quyền cao, điều phối chủ yếu dựa trên các nhóm làm việc. Khi tính đa dạng cao và khả năng phân tích cao, nghĩa là có nhiều trường hợp ngoại lệ nhưng những trường hợp này có thể giải quyết được do khả năng phân tích cao. Cơ cấu tổ chức cho dạng công nghệ này là cơ cấu hữu cơ nhưng có thể chính thức hóa cao và tập quyền. Khi tính đa dạng thấp và khả năng phân tích thấp, công việc trong trường hợp này không phát sinh nhiều trường hợp ngoại lệ nhưng nếu có thì khả năng giải quyết rất khó. Như vậy, cơ cấu tổ chức đòi hỏi chính thức hóa cao, tập quyền nhưng cần những nhân viên có kỹ năng cao để giải quyết vấn đề. .......
Trang 1KHOA KINH TẾ
LUẬN MÔN: KINH TẾ VĨ MÔ 2
CƠ CẤU LẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015.
GVHD: TS Nguyễn Văn Luân SVTH: Nhóm 7 – K13401
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 7
STT HỌ VÀ TÊN MSSV
1 Phan Đinh Hải My K134011721
2 Trần Thị Hồng Trang K134011746
3 Nguyễn Quang Hiếu K134010016
4 Đinh Công Ninh K134010035
5 Nguyễn Liễu Thảo Nguyên K134010041
6 Nguyễn Anh Toàn K134010057
7
Trang 3T MÔ TẢ CÔNG VIỆC PHỤ TRÁCH THỜI GIAN HOÀN THÀNH MỨC ĐỘ
1 Phần mở đầu Hiếu Deadline:19h ngày
Deadline:
19h ngày31/03 95%
hiệu quả và hướng phát
triển giai đoạn 2015 –
Trang 4NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 5i DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1: một số giải pháp đối với các vấn đề ngân hàng trong
Trang 6ii DANH MỤC ĐỒ THỊ HÌNH VẼ
Trang
Trang 7Hình 4: Khảo sát các giải pháp trong tái cấu trúc ngân hàng .17 Hình 5: Các chỉ tiêu của SHB trước và sau sáp nhập 22 Hình 6 : Tỷ lệ nợ xấu ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn
Trang 8TCTDPNH Tổ chức tín dụng phi ngân hàngNHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, việc tái cấu trúc và sáp nhập các công ty, các ngânhàng có quy mô nhỏ lẻ được đẩy mạnh cùng việc cổ phần hóa công ty Nhà nước.Trong mỗi ngân hàng, mỗi tổ chức tài chính có những đặc thù riêng, vì vậy cần phải
có các nghiên cứu phân tích về việc thuận lợi, khó khăn và quá trình cho công cuộc
cơ cấu, bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, cổ phần hóa các tập đoàn công ty
Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do củaAFTA, ký hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhậpWTO, cùng các tổ chức thương mai thế giới Xu thế hội nhập, liên kết phát triểnkinh tế trong khu vực và tiến tới toàn cầu hóa kinh tế ngày càng ở mức độ cao là tấtyếu khách quan, tạo cơ hội cho nước ta nhưng đồng thời cũng là một thách thức lớn.Đối với lĩnh vực ngân hàng và tổ chức tài chính thì gặp rất nhiều khó khăn
mặc dù tình hình kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi “Năm 2014, với nhiều chính sách mới chặt chẽ hơn, tác động lên hoạt động của toàn bộ hệ thống và tình hình kinh tế vĩ mô còn nhiều khó khăn, bức tranh lợi nhuận của các ngân hàng vẫn chưa có điểm sáng rõ rệt Chỉ số giá cổ phiếu ngành ngân hàng trong một năm qua có mức tăng trưởng thấp hơn so với VN-Index, đặc biệt trong 6 tháng
trở lại đây.” (Báo tầm nhìn tri thức và phát triển – 2014)
Trước cơ hội và những thách thức lớn như hiện nay, các ngânhàng và các tổ chức tài chính đã có nhiều nỗ lực trong việc khaithác các nguồn lực của xã hội để phát triển hoạt động của tổ chức,công ty mình Tuy nhiên quá trình khai thác gặp nhiều khó khănbuộc Nhà nước và các ngân hàng Trung Ương phải đề ra các giảipháp, công cụ hỗ trợ các tổ chức, các ngân hàng thương mại vàviệc sáp nhập và cơ cấu lại là một trong những biện pháp hiệuquả
Trang 10Từ thực tế, các chính sách của Nhà nước và việc quyết địnhsáp nhập cũng như tái cấu trúc các ngân hàng thương mại và các
tổ chức tài chính đã mang lại hiệu quả và đem lại tình hình khảquan và dấu hiệu phục hồi sau khoảng thời gian khủng hoảng của
hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính tại Việt Nam Thôngqua việc nghiên cứu đề tài chúng ta hiểu hơn về hiệu quả việc sápnhập và tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổchức tài chính
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Kế thừa các kết quả nghiên cứu và lý thuyết về tái cấu trúc
và sáp nhập, đề tài nhằm giải quyết các mục tiêu sau đây:
Xác định được nguyên nhân của việc sáp nhập và tái cấu trúc cácngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính
Thực trạng trước và sau khi tiến hành sáp nhập các ngânhàng thương mại và các tổ chức tài chính tại Việt Nam
Hướng giải pháp cho hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chínhViệt Nam giai đoạn mới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bảnnhất về cơ cấu lại và sáp nhập các ngân hàng thương mại và các
tổ chức tài chính tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
Bài tiểu luận sử dụng số liệu dựa trên các báo cáo tài chínhcủa các ngân hàng sáp nhập, tái cấu trúc như Maritime Bank, PGBank, Southern Bank, giai đoạn 2010 – 2015 và các tổ chức tàichính khác có liên quan
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để phân tích cơ cấu của các ngân hàng bị sáp nhập và tìm racác giải pháp cũng như đề xuất hướng đi mới cho việc sáp nhậpnày, bài tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, sử
Trang 11dụng các số liệu trên báo cáo tài chính để phân tích và đưa rahướng giải quyết
Theo cách tiếp cận này, dựa trên các lý thuyết được xâydựng, đồng thời kết hợp với các kết quả dưới đây sẽ trả lời cho cácvấn đề mà đề tài đặt ra
5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Về mặt lý thuyết: Bài tiểu luận đã tổng quan về lý thuyết cơ cấu và tái cấu
trúc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, mô hình tái cấu trúc củacác ngân hàng
5.2 Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu bài tiểu luận có ý nghĩa các mặt sau
6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI:
Kết cấu tiểu luận gồm phần mở đầu, 4 chương và kết luận
Phần mở đầu: giới thiệu sự cần thiết của đề tài, tổng quan về đề tài nghiên
cứu, mục tiêu và đối tượng nghiện cứu, phương pháp và ý nghĩa của đề tài
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về cơ cấu lại, sáp nhập các tổ chức tài chính, các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
Chương 2: Thực trạng hiện tại về hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ
chức tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015
Trang 12Chương 3: Các hoạt động tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thương mại
và các tổ chức tài chính ở Việt Nam
Chương 4: Đánh giá hiệu quả của hoạt động tái cấu trúc lại hệ thống ngân
hàng và các tổ chức tài chính ở Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 và hướng đi mớigiai đoạn 2015 – 2020
1.1.1 Khái niệm tái cơ cấu (doanh nghiệp)
Tái cơ cấu là việc xem xét và cấu trúc lại một phần, một số
phần hay toàn bộ một tổ chức, một đơn vị nào đó, mà thường làmột công ty Ngoài việc tổ chức cho một công ty về các mảng chứcnăng (như là sản xuất, kế toán, tiếp thị, v.v ) và xem xét cácnhiệm vụ mà mỗi chức năng thực hiện, theo lý thuyết tái cơ cấu,chúng ta còn phải chú ý tới các quy trình hoàn thiện từ khâu tìmkiếm các nguyên liệu, cho tới các khâu sản xuất, tiếp thị và phânphối
Việc cơ cấu, tái cấu trúc lại các ngân hàng hay các tổ chức tài chính là tái cấutrúc ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau nhưng trên tổng thể thì cấu trúc tài sảncủa doanh nghiệp là bao quát nhất Cấu trúc tài sản của doanh nghiệp gắn liền vớiviệc sử dụng vốn, phản ánh và chịu sự tác động của những đặc điểm và chiến lược
Trang 13kinh doanh của DN Tài sản của doanh nghiệp bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sảndài hạn
1.1.2 Cấu trúc, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp
Cấu trúc nguồn vốn của doanh nghiệp là cấu trúc, tái cơ cấu lại nguồn vốnchủ sở hữu
Đối với nguồn vốn chủ sở hữu DN không phải cam kết thanh toán, ngườichủ sở hữu vốn chỉ kỳ vọng vào lợi ích được mang lại từ hiệu quả hoạt động cuốicùng của DN Vốn chủ sở hữu thể hiện phần tài trợ của người chủ sở hữu đối vớitoàn bộ tài sản của DN Vì vậy, khi xét khía cạnh tự chủ về tài chính, nguồn vốnnày thể hiện năng lực vốn có của người chủ sỡ hữu trong tài trợ hoạt động sản xuấtkinh doanh Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sỡ hữu, thặng dưvốn cổ phần, vốn khác của chủ sỡ hữu, cổ phiếu quỹ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dựphòng tài chính, quỹ khác thuộc vốn chủ sỡ hữu, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơbản, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, nguồn kinh phí quỹ khác,…
1.1.3 Vai trò của cơ cấu lại các ngân hàng thương mại, các
tổ chức tài chính.
Mục tiêu của mọi DN là hoạt động SXKD có hiệu quả và hướng đến sự pháttriển bền vững Mục tiêu này có đạt được hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tốquan trọng có tính quyết định, một trong số đó là vấn đề tái cấu trúc, sáp nhập các
tổ chức tài chính lại với nhau, hình thành 1 tổ chức vững mạnh và phát huy đượctính hiệu quả, giảm thiểu tối đa chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp Doanhnghiệp mạnh khi có cơ cấu, cấu trúc mạnh và đóng góp nhiều cho sự phát triển củaNhà nước, góp phần tăng trưởng kinh tế của đất nước
1.2 CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HOẠCH ĐỊNH TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH 1.2.1 Quyền kiểm soát
Khi hoạch định cấu trúc, tái cơ cấu tổ chức là nhằm mục đích duy trì sự ổnđịnh của ngân hàng, các tổ chức tài chính Nên việc duy trì quyền kiểm soát của chủ
Trang 14ngân hàng, chủ các tổ chức tài chính là vô cùng cần thiết khi các tổ chức đi vay từcác chủ nợ
1.2.2 Giá trị thị trường – Các rủi ro và tỷ suất sinh lợi
Khi xác lập tại cơ cấu ngân hàng cũng như các tổ chức tài chính, yếu tố rủi
ro và tỷ suất sinh lợi cần phải được xem chúng tác động như thế nào đến giá cổphần và giá thị trường của ngân hàng, tổ chức tài chính Các nhà đầu tư trên thịtrường sẽ nhìn nhận vào khả năng vốn và suất sinh lời của công ty để đầu tư
1.2.3 Định thời điểm
Yếu tố thời gian có liên quan mật thiết với khả năng điều động trong việc xácđịnh loại vốn sử dụng Một hậu quả quan trọng của khả năng điều động là nó chophép chúng ta nắm bắt các cơ hội sẽ cho phép chúng ta tối thiểu hóa tổng chi phícủa nợ và vốn cổ phần thường Thường thị có thể tiết kiệm được các khoản tiềnđáng kể bằng cách định thời thích hợp cho việc huy động các nguồn vốn thích hợp
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CƠ CẤU LẠI, TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH 1.3.1 Quy mô của ngân hàng, tổ chức tài chính
Quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính được xem làmột dấu hiệu cho các nhà đầu tư bên ngoài Các ngân hàng, tổ chức tài chínhthường có khuynh hướng công bố thông tin bên ngoài nhiều hơn Mặt khác, các tổchức tài chính lớn thường niêm yết giá trên thị trường chứng khoán nên dễ dànghuy động được nhiều nguồn vốn hơn và có khả năng duy trì một tỷ lệ nợ cao Nhưvậy, quy mô của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính có quan hệ thuậnchiều với cấu trúc tài chính của ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính
1.3.2 Công nghệ khoa học kĩ thuật
Chúng ta cũng biết rằng mỗi tổ chức có thể sẽ áp dụngnhững công nghệ khác nhau để hoạt động và kinh doanh Do đó cơcấu tổ chức phải phù hợp với đặc thù công nghệ của doanh
Trang 15nghiệp Hai yếu tố làm cơ sở cho tổ chức quyết định một cơ cấu
phù hợp với công nghệ của mình là tính đa dạng và khả năng phân tích Tính đa dạng được hiểu là số trường hợp ngoại lệ so với tiêu
chuẩn đã được đề ra Tính phân tích đề cập đến quá trình sản xuất
có thể chia thành các bước theo chuyên môn hóa đến mức nào
Khi tính đa dạng thấp và khả năng phân tích cao, đây là công
nghệ với những công việc lập đi lập lại hàng ngày, ít có ngoại lệxảy ra Doanh nghiệp có thể áp dụng cơ cấu cơ học, tập quyền vàmức độ chính thức hoá, chuyên môn hóa cao
Khi tính đa dạng cao và khả năng phân tích thấp thì tổ chức cần
một cơ cấu hữu cơ với mức độ chính thức hóa thấp, phân quyềncao, điều phối chủ yếu dựa trên các nhóm làm việc
Khi tính đa dạng cao và khả năng phân tích cao, nghĩa là có
nhiều trường hợp ngoại lệ nhưng những trường hợp này có thể giảiquyết được do khả năng phân tích cao Cơ cấu tổ chức cho dạngcông nghệ này là cơ cấu hữu cơ nhưng có thể chính thức hóa cao
và tập quyền
Khi tính đa dạng thấp và khả năng phân tích thấp, công việc
trong trường hợp này không phát sinh nhiều trường hợp ngoại lệnhưng nếu có thì khả năng giải quyết rất khó Như vậy, cơ cấu tổchức đòi hỏi chính thức hóa cao, tập quyền nhưng cần những nhânviên có kỹ năng cao để giải quyết vấn đề
1.3.3 Môi trường bên ngoài
Môi trường bên ngoài đề cập đến những vấn đề liên quan đếnkhách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và nguồn tài
Trang 16nguyên Chúng ta có thể đánh giá môi trường bên ngoài của tổchức dựa trên các đặc điểm: năng động, phức tạp, đa dạng và mức
độ cạnh tranh
Khi môi trường bên ngoài năng động, tổ chức cần một cơ cấu
hữu cơ để nhanh chóng thích ứng với những thay đổi
Khi môi trường bên ngoài phức tạp, cơ cấu tổ chức theo dạng
phân quyền có thể sẽ phù hợp vì tính tiếp cận của tổ chức với môitrường gần hơn, có thể có nhiều thông tin hơn
Khi môi trường đa dạng, tổ chức nào làm việc trong đặc điểm
môi trường này sẽ đa dạng về sản phẩm, dịch vụ, khách hàng hoặcphạm vi địa lý
Càng đa dạng bao nhiêu tổ chức lại càng cần bộ phận hóa theosản phẩm
Khi môi trường mức độ cạnh tranh cao, mức độ cạnh tranh
này bao gồm cả sự khan hiếm về nguồn tài nguyên và nhiều đốithủ cạnh tranh Cơ cấu hữu cơ thích hợp với yếu tố môi trường này.Tuy nhiên khi mức độ cạnh tranh quá cao thì tổ chức tạm thời phảitập quyền để nhanh chóng ra quyết định và nhà điều hành cảmthấy dễ dàng kiểm soát hơn
1.3.4 Chiến lược của tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại
Thông thường tổ chức sẽ lựa chọn một trong 3 dạng chiếnlược sau đây để hoạt động:
Trang 17Chiến lược đi đầu trong phát minh (innovation strategy)- theo
chiến lược này, tổ chức sẽ cố gắng giới thiệu những sản phẩm vàdịch vụ mới Thích ứng với chiến lược này là một cơ cấu hữu cơ vớiđặc điểm chuyên môn hóa thấp, chính thức hóa thấp, phân quyền
Chiến lược cắt giảm chi phí (cost-minization strategy)- chiến
lược này chú trọng đến kiểm soát chi phí chặt chẽ, tránh những chiphí nghiên cứu và tiếp thị không cần thiết Để thực hiện được chiếnlược này, tổ chức cần áp dụng cơ cấu cơ học với chính thức hóacao, chuyên môn hóa công việc cao, và tập quyền cao
Chiến lược bắt chước - theo chiến lược này công ty sẽ phát
triển các sản phẩm và dịch vụ mới trên thị trường sau khi khả năngtồn tại của nó đã được kiểm chứng Với chiến lược này, cơ cấu tổchức vừa hữu cơ, vừa cơ học với đặc điểm kiểm soát chặt chẽ cáchoạt động hiện tại và nới lỏng kiểm soát những công việc kinhdoanh mới
Trang 18CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆN TẠI VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015
2.1 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM
Cho đến nay, hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã có
sự phát triển khá mạnh mẽ xét cả về mặt lượng lẫn mặt chất: Nếu như đầu nhữngnăm 1990, tại Việt Nam, 4 NHTMNN chiếm gần như toàn bộ thị trường tiền gửi vàcho vay ở Việt Nam thì cho đến nay, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước(NHNN), hiện cả nước có hơn 100 ngân hàng hoạt động Cùng với đó là việc thànhlập và hoạt động của hàng loạt công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, quỹtín dụng từ trung ương tới địa phương Có thể nói, với thời gian trên 20 năm thựchiện quá trình đổi mới kinh tế, hệ thống ngân hàng và định chế phi ngân hàng đã có
sự phát triển vượt bậc, đóng góp những vai trò to lớn đối với những thành tựu vềkinh tế - xã hội nước ta những năm qua Bên cạnh các tổ chức tín dụng (TCTD) còn
có sự hiện diện và ngày càng phát triển của các TCTD phi ngân hàng Các định chếtài chính này đã và đang có sự cạnh tranh khá quyết liệt với các NHTM trong một
số lĩnh vực dịch vụ ngân hàng truyền thống Các NHTM hiện nay đang gặp một sốvấn đề như sau:
Thứ nhất, năng lực tài chính của hầu hết các NHTM còn rất thấp Hiện nay,theo các tư liệu thống kê thì các NHTM Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu của Nghịđịnh 141 Tuy nhiên, nếu đi sâu xem xét thì có không ít NHTM chưa thực sự đápứng được yêu cầu do tình trạng “sở hữu chéo” rất phức tạp, khó kiểm soát trong nội
Trang 19bộ hệ thống này mà thực chất là để “lách luật” Thậm chí do kinh doanh yếu kémnên có một số NHTM thậm chí còn bị mất hết vốn điều lệ
Ngoài yếu tố kỹ thuật công nghệ thì cũng không thể không đề cập đến nhữngbất cập về chất lượng nguồn nhân lực của các NHTM Do kinh doanh ngân hàng làkinh doanh trên cơ sở chấp nhận rủi ro, nhưng suy cho cùng thì mọi rủi ro đều xuấtphát từ yếu tố con người, nên để giảm thiểu rủi ro thì chất lượng nguồn nhân lựctrong hệ thống ngân hàng luôn phải hết sức được coi trọng Thực tế thì chất lượngnguồn nhân lực ở không ít NHTM Việt Nam chưa thực sự tương thích với việc triểnkhai các loại hình dịch vụ mới tuy có nhiều tiện ích nhưng tiềm ẩn rủi ro rất cao.Hơn nữa, bản thân nhiều loại hình dịch vụ lại chủ yếu dựa trên cơ sở chất lượngnguồn nhân lực của các NHTM phải cao, thí dụ các dịch vụ về môi giới hay tưvấn… Rõ ràng là có không ít NHTM Việt Nam chưa có sự chuẩn bị tốt cho vấn đềnày Với thực trạng chất lượng nguồn nhân lực như vậy, thì sẽ rất khó khăn cho cácNHTM mở rộng các loại hình dịch vụ ngân hàng mới, và có thể nói, nếu các NHTMcàng mở ra các loại hình dịch vụ mới, thì rủi ro tiềm ẩn càng cao Một thực tế cũngcần chú ý là chất lượng đào tạo của một bộ phận không nhỏ của các cơ sở đào tạotrong nước chưa thực sự đáp ứng được kỳ vọng về chất lượng Trong điều kiện nhưvậy, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh, không được quản trị đúng mức không có gì làkhó hiểu cả Nghĩa là, sự cạnh tranh thiếu lành mạnh hiện nay tại hầu hết cácNHTM Việt Nam có nguyên nhân từ sự hiểu biết chưa sâu nghề kinh doanh ngânhàng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, nhân viên trong các NHTM Sự nhận thứcchưa thấu đáo về lĩnh vực kinh doanh, đặc biệt phần lớn cán bộ lại chưa có nhậnthức đúng về vai trò và sự tác động của kinh doanh ngân hàng đối với các hoạt độngkinh tế - xã hội chung, có thể sẽ gây những hậu quả tiêu cực đối với nền kinh tế - xãhội trên nhiều phương diện
Thứ hai, hầu hết các NHTM tập trung vào lĩnh vực tín dụng, thể hiện ở tốc
độ tăng trưởng tín dụng khá cao Cụ thể: năm 2007 tăng 51%; năm 2008: 30%; năm2009: 37%; năm 2011: 12% Tuy vậy, có vẻ như trong năm năm 2012 tốc độ nàyđang bị kìm hãm khá mạnh3 Theo thống kê, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế hiện ở
Trang 20mức khoảng 125 tỷ USD (tương đương 120% GDP) - Một mức dư nợ cho vay quácao so với hầu hết các nước khác (Thái Lan 100%, Hàn Quốc 80% ) Dư nợ tíndụng cao trong khi chất lượng tín dụng lại khá thấp do có không ít NHTM thực hiệncác hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao Cụ thể:
Một số NHTM nhỏ cho vay lĩnh vực bất động sản quá cao (chiếm tới xấp xỉ50% tổng dư nợ tín dụng) Một số NHTM tồn một tỷ trọng không nhỏ khoản chovay bất động sản dưới hình thức các tài sản thế chấp Do thị trường bất động sảntrầm lắng, nên rủi ro gia tăng trong một bộ phận không nhỏ NHTM
Một số NHTM không chỉ cho vay mà còn trực tiếp đầu tư vàng, ngoại tệ rủi
ro tiềm ẩn lớn, đồng thời gây rối loạn thị trường, khó khăn cho NHNN trong điềuhành thị trường tiền tệ (những bất ổn trên thị trường vàng gần đây phản ánh rất rõthực tế này)
Trong hoạt động cho vay, các NHTM chưa thực sự chú trọng công tác sànglọc khách hàng nên chất lượng tín dụng chưa cao Mặt khác, do lãi suất cho vay khácao, vượt quá sức chịu đựng của hầu hết các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, nênvốn tín dụng thường không đến đúng các địa chỉ cần thiết (thường là đổ vào các thịtrường bất động sản, vàng, ngoại tệ…), làm giảm hiệu quả nguồn vốn trong nềnkinh tế Theo thống kê, tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam là khá cao(theo Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình thì nợ xấu hiện nay ở mức khoảng8,86%, Moody’s đưa ra dự báo con số nợ xấu trên 8,6% trong khi đó tổ chức FitchRating lại dự báo nợ xấu lên đến trên 13%) và tốc độ tăng trưởng nợ xấu hiện vẫnrất đáng quan ngại
Hình 1: Tốc độ tăng trưởng nợ xấu trong các NHTM Việt Nam (Đơn vị nghìn tỷ đồng)
Trang 21Hình 2: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng thương mại (Đơn vị %/tổng dư nợ)
Những phân tích trên cho thấy rằng:
Hiện hệ thống ngân hàng Việt Nam đang có những bất cập không nhỏ,
đặt ra vấn đề cấp thiết phải có giải pháp kiên quyết để xử lý và phải xử lý hiệu quả,nhằm từng bước làm lành mạnh hóa hoạt động kinh doanh, giúp hệ thống cácNHTM Việt Nam làm tròn chức trách của một trung gian tài chính trong nền kinh
tế Hơn nữa, vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam còn phải được đặt ra
Trang 22bức thiết, xuất phát từ bối cảnh thị trường tài chính quốc tế diễn biến ngày càngphức tạp, đã và đang tác động rất bất lợi đến môi trường tài chính trong nước, trongkhi đó, bản thân các định chế tài chính trong nước còn khá nhiều yếu kém và bấtcập, khó khăn trong việc cải thiện và tăng cường năng lực cạnh tranh trong quátrình hội nhập tài chính khu vực và quốc tế;
Môi trường tín dụng có sự thay đổi căn bản không chỉ từ sự gia tăng khá ồ ạt
số lượng các NHTM và mức độ khá “đậm đặc” các chi nhánh, phòng giao dịch đã
và đang gây khó khăn trong công tác quản lý vĩ mô hệ thống tiền tệ ngân hàng vàthanh toán
Sự hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao gắn với các cuộc “chạy đua” về tăng lãi suấthuy động của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua làm tăng chi phí về vốn
và lãi suất cho vay vượt quá sức chịu đựng của nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinhdoanh (những quyết sách của NHNN thời gian qua nhằm uốn nắn thị trường tíndụng và đưa lãi suất về mức thị trường có thể chấp nhận được, song điều này có vẻnhư khó khăn)
Ðiều này đang tiếp tục đặt ra vấn đề cấp bách phải có giải pháp mạnh nhằmtiếp tục chấn chỉnh thị trường nếu như không muốn làm suy giảm thêm niềm tin củacông chúng về khả năng có thể làm tròn bổn phận hay không của một trung gian tàichính quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế này Không những thế, các cú sốc trênthị trường ngoại tệ trước đây hay thị trường vàng những ngày qua đã cho thấy rằng
hệ thống các định chế tài chính tại Việt Nam chưa thực sự làm “tròn vai” của mình
trong việc kiểm soát sự ổn định của các thị trường này
Như trên đã phân tích cho thấy rằng, hiện hệ thống ngân hàng Việt Namđang có khá nhiều bất cập cần phải nhanh chóng xử lý nhằm làm lành mạnh hóahoạt động kinh doanh Tuy nhiên, do đặc điểm hoạt động của hệ thống ngân hàng làkinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm và có liên quan mật thiết đến hầu hết các tổchức và cá nhân trong xã hội; hơn nữa, sự hoạt động của chúng luôn mang tính chất
Trang 23quốc tế hóa nên bất cứ một sự cải cách nào đối với hệ thống này cần phải hết sứcthận trọng Bởi nếu không như vậy thì cái giá phải trả sẽ rất lớn về kinh tế và xã hội.
2.2 THỰC TRẠNG CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Khái quát về các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Dưới sự phát triển mạnh mẽ của thị trường tài chính, bản thân các chủ thểcủa nó cũng có những bước phát triển không ngừng Các hoạt động của hệ thốngngân hàng càng được mở rộng về tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, từ các hìnhthức mang tính chất ngắn hạn đến trung và dài hạn… Đồng thời chúng đã đượcchuyên môn hóa theo các lĩnh vực khác nhau để đáp ứng nhu cầu thị trường
Tuy nhiên trước sự phát triển rất mạnh của thị trường tài chính, có nhữngnơi, những lĩnh vực mà bản thân các ngân hàng không thể bao quát hết, vì thế đòihỏi phải có những tổ chức nhất định đảm nhận công việc này Đó là các tổ chức tàichính phi ngân hàng “Những tổ chức này kinh doanh trong lĩnh vực tài chính - tiền
tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhưng không được nhận tiền gửikhông kỳ hạn và không cung cấp hệ thống thanh toán”
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng có đặc điểm khác biệt với các ngân hàng
ở chỗ: Chúng không nhận tiền gửi không kỳ hạn, chỉ được nhận tiền gửi có kỳ hạnnhất định, không được làm các dịch vụ thanh toán như các ngân hàng Do đó chúngkhông tham gia quá trình tạo tiền gửi và không bị điều hành chặt chẽ của Ngânhàng Trung ương như các Ngân hàng Thương mại Với đặc thù của mình, chúng đãđưa các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ vào phục vụ quá trình sản xuất và đời sống theo cáchoạt động thế mạnh của mình như: chứng khoán, cho vay tiêu dùng, thế chấp đồngthời làm các dịch vụ như: môi giới, đại lý.Với những đặc thù của mình, các tổ chứctài chính phi ngân hàng có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội.Chúnggóp phần làm đa dạng hóa các dịch vụ, tài chính cho nền kinh tế, đem lại những lợiích thiết thực: tạo cơ hội sinh lời cho các nguồn tiết kiệm nhỏ lẻ thúc đẩy cạnh tranh
và tiến bộ tài chính…