Khái niệm: Tại Điều 2 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí có quy định khái niệm phí như sau: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khá
Trang 114
-MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 2
B NỘI DUNG CHÍNH 2
I Khái quát chung 2
1 Lý luận về phí 2
2 Lý luận về lệ phí 3
II Pháp luật về thu ngân sách từ phí, lệ phí: 3
1 Thẩm quyền quy định phí, lệ phí: 3
2 Các loại phí, lệ phí thu ngân sách: 4
3 Thu ngân sách nhà nước từ phí, lệ phí: 4
4 Nguyên tắc thu phí và lệ phí 4
III Thực trạng pháp luật về phí, lệ phí: 5
Thành tựu đã đạt được 5
Hạn chế của pháp luật về thu phí, lệ phí 6
-1 Hệ thống các quy định pháp luật về thu phí, lệ phí cồng kềnh, chồng chéo, khó tìm hiểu, khó sử dụng 7
2 Thiếu cơ chế giám sát các khoản thu phí, lệ phí do địa phương ban hành 7
3 Tồn tại một số khoản phí, lệ phí lạc hậu 8
4 Thiếu quy định về ban hành mới, điều chỉnh mức thu phí, lệ phí ở địa phương 8
5 Thực trạng pháp luật ở một số lĩnh vực 9
5.1 Đối với việc tính án phí, lệ phí Tòa án: 9
5.2 Trong lĩnh vực giáo dục: 10
5.3 Trong lĩnh vực giao thông đường bộ: 11
IV Các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về thu phí, lệ phí: 11
1 Quy định rõ ràng thẩm quyền ban hành văn bản về thu phí, lệ phí của từng cấp 11
2 Phối hợp hành động rà soát những vướng mắc về cơ chế chính sách chưa phù hợp 12
3 Quy định cụ thể tỷ lệ điều chỉnh của mức thu phí và lệ phí và chứng từ thu phí 12
-4 Xây dựng hệ thống trang thông tin điện tử quản quá trình ban hành và mức thu phí, lệ phí và tiếp nhận kiến nghị từ người dân 13
C KẾT THÚC VẤN ĐỀ: 13
Trang 3-A MỞ ĐẦU
Phí và lệ phí hiện là đề tài nóng mà dư luận rất quan tâm Sau gần 12 năm thực hiện Pháp lệnh 38/2001/PL-UBTVQH10 về phí, lệ phí (2002-2013), hoạt động thu phí, lệ phí đã được điều tiết theo quy định của pháp luật, tránh tình trạng lạm thu và tăng khả năng cung cấp dịch vụ của tổ chức, cá nhân cho xã hội Tuy nhiên, hiện hoạt động này cũng phát sinh nhiều điều bất cập, cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cuộc sống
Năm 2013 là được xem là năm bản lề của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2015 của Quốc hội Trước những bất cập của chính sách thu phí và lệ phí cần tập trung chỉ đạo triển khai đồng
bộ, quyết liệt, có hiệu quả các giải pháp khác nhau để tạo động lực phát triển cho giai đoạn 2011-2015 Sau đây, em xin bình luận các quy định về thu ngân sách từ phí, lệ phí để có cái nhìn tổng quan về những ưu và hạn chế trong chính sách thu phí và lệ phí từ đó bước đầu đề xuất các giải pháp hoàn thiện trên cơ sở thực tiễn áp dụng 6 tháng đầu năm 2013
B NỘI DUNG CHÍNH
I Khái quát chung.
1 Lý luận về phí.
a Khái niệm:
Tại Điều 2 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí có quy định khái niệm phí như sau:
“Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức, cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này” Từ khái niệm trên có thể thấy,
phí có thể khoản thu của Nhà nước hoặc cũng có thể là khoản thu của tư nhân khi cung cấp dịch vụ cho
tổ chức, cá nhân khác Trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ nghiên cứu những khoản thu từ phí vào ngân sách nhà nước, tức là chỉ bao gồm những khoản thu từ những đối tượng thụ hưởng các dịch vụ do Nhà nước cung cấp
b Phân loại: Các loại phí chia ra:
- Phí thuộc lãnh vực nông nhiệp, lâm nghiệp, thủy sản: thủy lợi phí…
- Phí thuộc lãnh vực công nghiệp, xây dựng: phí xây dựng…
- Phí thuộc lãnh vực thương mại, đầu tư: phí chợ…
- Phí thuộc lãnh vực lưu thông vận tải: phí sử dụng đường bộ…
- Phí thuộc lãnh vực thông tin, liên lạc: phí sử dụng và bảo vệ tần số vô tuyến điện…
- Phí thuộc lãnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội: phí trông giữ xe…
- Phí thuộc lãnh vực văn hóa xã hội: phí tham quan…
- Phí thuộc lãnh vực giáo dục và đào tạo: học phí…
- Phí thuộc lãnh vực y tế: viện phí…
- Phí thuộc lãnh vực khoa học, công nghệ và môi trường: phí vệ sinh…
- Phí thuộc lãnh vực tài chính, ngân hàng, hải quan: phí hoạt động chứng khoán…
- Phí thuộc lãnh vực tư pháp: án phí…
Trang 4c Tác dụng của phí:
- Tăng thu ngân sách, từ đó làm tăng khả năng đầu tư vào sản xuất trở lại hàng hóa dịch vụ đồng thời duy trì bảo dưỡng, tái tạo chúng
- Góp phần thực hiện công bằng xã hội giữa người hưởng và không hưởng dịch vụ, nâng cao ý thức cộng đồng của người dân, nâng cao ý thức giữ gìn của công của người dân
2 Lý luận về lệ phí.
a Khái niệm:
Khái niệm lệ phí được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 38/2001/PL-UBTVQH về Phí và lệ phí Cụ
thể như sau: “Lệ phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được ủy quyền phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh này” Nói cách khác, khi được cơ quan nhà nước hay các tổ chức được ủy
quyền phục vụ một công việc quản lý nhà nước nào đó được quy định trong Danh mục lệ phí thì cá nhân, tổ chức sẽ phải nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước Khoản tiền đó chính là lệ phí
b Phân loại:
Theo danh mục Phí và Lệ phí, được áp dụng ban hành kèm theo Pháp lệnh Phí và Lệ phí, các loại phí chia ra:
- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền và nghĩa vụ của công dân: lệ phí tòa án
- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản: lệ phí trước bạ…
- Lệ phí quản lý Nhà nước liên quan đến sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về Lệ phí Đăng ký kinh doanh
- Lệ phí quản lý Nhà nước đặc biệt về chủ quyền quốc gia: lệ phí ra vào cảng…
- Lệ phí quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực khác: lệ phí hải quan, lệ phí chứng thực, lệ phí công chứng
c Tác dụng của lệ phí:
Khoản tiền lệ phí được dùng để chi trả cho các chi phí cụ thể để tạo ra dịch vụ, ngoài ra phần lớn để trả cho sự đảm bảo về mặt hành chính pháp lí của Nhà nước Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, phù hợp với tên gọi của nó
Lệ phí mang lại cho Nhà nước một khoản thu đáng kể vào ngân sách nhà nước giúp nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình
II Pháp luật về thu ngân sách từ phí, lệ phí:
1 Thẩm quyền quy định phí, lệ phí:
Trước hết, về vấn đề quy định về phí, lệ phí UBTVQH có quyền ban hành danh mục phí và lệ phí
và Chính phủ quy định chi tiết Danh mục phí, lệ phí; nguyên tắc xác định mức thu phí, lệ phí và trình UBTVQH sửa đổi, bổ sung Danh mục phí, lệ phí Ngoài ra theo Luật Ngân sách nhà nước còn có hai chủ thể nữa là Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương
Trang 514
Bộ Tài chính thống nhất quản lý và chỉ đạo công tác thu thuế, phí, lệ phí (Điều 21 Luật NSNN); quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí; hướng dẫn xác định mức thu phí, lệ phí cho các
cơ quan được phân cấp quy định mức thu Quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với các loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền (Pháp lệnh Phí, lệ phí)
- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật (Điều 25 Luật NSNN)
2 Các loại phí, lệ phí thu ngân sách:
Như đã đề cập phía trên, có rất nhiều loại phí, lệ phí Các loại phí, lệ phí này hầu hết được thu về cho ngân sách trung ương Song cũng vẫn có những loại phí, lệ phí được thu về ngân sách địa phương
Ví dụ như: Lệ phí trước bạ, các khoản phí, lệ phí thu từ các hoạt động sự nghiệp sẽ được thu về ngân sách địa phương – địa phương hưởng 100% các khoản thu này
Ngoài ra còn có khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương như phí xăng, dầu (điều 30 Luật NSNN) Tuy nhiên, nếu theo Luật thuế bảo vệ môi trường mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 thì xăng, dầu sẽ phải chịu thuế bảo vệ môi trường thay cho phí theo Luật NSNN Lý do được Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích là: Mục tiêu ban hành luật thuế này là nhằm điều chỉnh hành vi, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không đặt quá cao mục tiêu thu ngân sách
3 Thu ngân sách nhà nước từ phí, lệ phí:
Trước hết, các khoản thu của ngân sách nhà nước phải nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước Đối với một số khoản thu phí, lệ phí, thu thuế đối với hộ kinh doanh không cố định, thu ngân sách ở địa bàn
xã vì lý do khách quan mà việc nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước có khó khăn thì cơ quan thu có thể thu trực tiếp, song phải nộp Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính
Điều 28 Luật NSNN quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm, nghĩa vụ nộp nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác vào ngân sách theo quy định của pháp luật
Đối với tổ chức, cá nhân gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền cho phép chậm nộp ngân sách Cơ quan có thẩm quyền có thể là cơ quan thuế, cơ quan Hải quan, cơ quan Tài chính đối với từng loại phí, lệ phí Đối với tổ chức, cá nhân chậm nộp thuế sẽ chịu phạt và bị
xử lý kỷ luật, bị xử lý phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo từng trường hợp cụ thể Ví dụ: Trường hợp nộp chậm tiền lệ phí trước bạ, tiền phạt so với ngày quy định phải nộp ghi trên thông báo nộp tiền của cơ quan Thuế hoặc theo quyết định xử lý phạt vi phạm hành chính thì ngoài việc phải nộp đủ số tiền lệ phí trước bạ, số tiền phạt phải nộp, mỗi ngày nộp chậm còn phải nộp phạt bằng 0,1% số tiền chậm nộp
4 Nguyên tắc thu phí và lệ phí.
Phí và Lệ phí là hai khoản thu lớn thứ hai cho NSNN đứng sau Thuế Các nguyên tắc thu phí và lệ
phí có vai trò vô cùng quan trọng Các nguyên tắc này đảm bảo thu đủ cho NSNN nhưng không lạm
Trang 6thu, đảm bảo lợi ích cho các chủ thể phải nộp phí và lệ phí, đảm bảo hài hòa được lợi ích của Nhà nước
và lợi ích của nhân dân
Theo Điều 8, Điều 9 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh về Phí và
Lệ phí, thì hoạt động thu phí và lệ phí và Điều 4 Nghị định 24/2006/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp
lệnh Phí và Lệ phí được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc 1 : Nguyên tắc chung là mức thu phí phải bảo đảm thu hồi vốn trong thời gian hợp lý,
phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp Đây được coi là nguyên tắc chỉ đạo công tác thu phí.
Việc thu phí làm sao để vừa đảm bảo được nguồn kinh phí để Nhà nước thi hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với khả năng đóng góp của người nộp là không hề dễ dàng Việc thi hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề vĩ mô Rất khó để đặt vào tương quan với khả năng đóng góp của người dân
+ Nguyên tắc 2 : Mức thu lệ phí được ấn định trước bằng một số tiền nhất định đối với từng công
việc quản lý nhà nước được thu lệ phí, không nhằm mục đích bù đắp chi phí để thực hiện công việc thu
lệ phí Riêng đối với lệ phí trước bạ, mức thu được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên giá trị tài sản trước bạ theo quy định của Chính phủ
+ Nguyên tắc 3: Căn cứ vào hai nguyên tắc xác định mức thu phí, mức thu lệ phí trên, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền thu phí, lệ phí xây dựng mức thu phí, lệ phí trình cơ quan có thẩm quyền ban hành Ngoài ra có một số nguyên tắc như: Những loại phí, lệ phí có tên trong Nghị định mới được thu, những loại phí chưa có hướng dẫn thi hành cũng không được thu; phân cấp rõ ràng cấp nào được ban hành những loại phí gì; đặc biệt, lần đầu tiên đưa ra quy định về mức thu sao cho hợp lý
III Thực trạng pháp luật về phí, lệ phí:
Thành tựu đã đạt được
Giai đoạn trước khi có Pháp lệnh Phí và Lệ phí, tình hình thu phí và lệ phí ở nước ta rất lộn xộn, tùy tiện và không thể kiểm soát được Pháp lệnh phí, lệ phí được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/8/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002 Đây là một văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong việc ban hành, tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí; góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá và cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước Quan trọng nhất là Nhà nước đã thống nhất được Danh mục tên các loại phí, lệ phí; quy định cụ thể các cơ quan có thẩm quyền quy định về phí và lệ phí Các quy định về thu phí và lệ phí tạo khung pháp lý cho hoạt động thu phí, lệ phí cũng như giúp người nộp phí và lệ phí xem xét tính đúng đắn của khoản phí,
lệ phí mà mình phải nộp
Đóng góp phí, lệ phí là trách nhiệm của nhân dân Nhân dân phải đóng góp vào ngân sách nhà nước những khoản phí, lệ phí để sử dụng các dịch vụ hoặc một số công việc liên quan đến quản lý nhà nước Nguồn thu đó góp phần đầu tư vào các công trình phục vụ chính người dân Tuy nhiên, người
Trang 714
-dân tham gia mức độ nào, Nhà nước tham gia mức độ nào phải công khai, minh bạch Để hạn chế tình trạng lạm thu, các bộ, ngành và địa phương cần rà soát lại các loại phí, lệ phí dưới sự chủ trì của Bộ Tài chính
Bộ Tài chính đã rà soát và loại bỏ được trên 300 loại phí và lệ phí không có tên trong danh mục; hạ được giá phí, lệ phí xuống mức hợp lý Nhiều loại phí và lệ phí đã được rà soát lại, hầu hết các ngành đều giảm được nhiều loại thu như: Hàng hải giảm được 30%, cầu đường giảm 20%, thông tin liên lạc Các thẻ ưu tiên cũng góp phần đem lại sự công bằng trong công tác nộp phí và lệ phí Mặc dù, các khoản thu có giảm nhưng tổng thu phí lại không những không giảm mà còn tăng, hằng năm thu về cho ngân sách Nhà nước xấp xỉ 1.000 tỷ đồng Theo bảng tổng kết về thu ngân sách 6 tháng đầu năm 2013 được đưa lên trang web của Bộ Tài chính thì trong 6 tháng đầu năm 2013, đã thu 4890 nghìn tỷ đồng từ phí và lệ phí góp vào ngân sách nhà nước [2] Thu từ phí, và lệ phí là một trong 6/14 khoản thu vượt chỉ tiêu so với cùng kỳ năm 2012 [1]
Hạn chế của pháp luật về thu phí, lệ phí
Sau hơn 10 năm thực hiện Pháp lệnh về Phí và Lệ phí, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn có nhiều quy định không còn phù hợp, và nhiều địa phương, cơ quan lợi dụng danh nghĩa phí, lệ phí áp dụng cho những khoản thu ngoài quy định mà chưa có biện pháp chấn chỉnh kịp thời Không những thế, trong hơn 10 năm qua, cơ quan quản lý nhà nước về phí, lệ phí chưa tổ chức được công tác kiểm tra, kiểm soát một cách tổng thể, cập nhật các quy định về phí, lệ phí do cấp trung ương và cả cấp địa phương ban hành
Hiện nay trước những phát sinh từ thực tế cuộc sống một số điều trong Nghị định 57/2002/NĐ-CP chưa phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam Cũng có những khoản phí, lệ phí mới phát sinh không có tên trong danh mục nhưng lại phát sinh trong quá trình thực hiện các điều ước quốc tế như: Phí phê duyệt, đánh giá kế hoạch an ninh tàu biển, lệ phí cầu chứng nhận an ninh tàu biển, phí thẩm định đánh giá an ninh cảng biển Chính vì thế cần phải sửa đổi bổ sung để công tác thu phí và lệ phí phù hợp với tình hình hiện nay Với sự ra đời của Nghị định 24/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung đã thêm vào danh mục 19 khoản phí và lệ phí mà pháp luật chuyên ngành mới ban hành nhưu: Phí thẩm định thiết kế cơ sở, phí phá sản, lệ phí kháng cáo Đồng thời, đưa ra khỏi danh mục 13 khoản phí đã được thực hiện theo Pháp lệnh Giá hoặc trong thực tế không sử dụng: Phí sử dụng cơ sở hạ tầng cảng hàng không, phí trọng tài, lệ phí dán tem kiểm soát xuất bản phẩm
Tuy vậy, từ năm 2006 kể từ khi nghị định 24 ra đời cho tới hiện nay đã có không ít những hạn chế, bất cập xảy ra trên thực tế về phí, lệ phí Theo Vụ trưởng Vụ Pháp chế tài chính (Bộ Tài chính) Nguyễn
Trọng Nghĩa “để các quy định về phí và lệ phí thật sự đi vào cuộc sống thì việc đầu tiên cần làm là phải siết chặt kỷ luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này” [13] Có thể nói tình
trạng phí chồng chí, lệ phí tràn lan thì sự bất cập trong các quy định của pháp luật về phí và lệ phí là nguyên nhân chính Trong phạm vi bài này, với kiến thức hạn hẹp em xin trình bày một số hạn chế như sau:
Trang 81 Hệ thống các quy định pháp luật về thu phí, lệ phí cồng kềnh, chồng chéo, khó tìm hiểu, khó sử dụng.
Có thể nói rằng đây là tình trạng chung của hệ thống pháp luật Việt Nam Các nhà lập pháp của Việt Nam chưa dự liệu hết tình hình thực tế, do đó ban hành các văn bản pháp luật có “dung lượng”,
“chất lượng” không sử dụng được trong một thời gian dài Văn bản vừa ban hành đã thể hiện sự không phù hợp với thực tế Các quy định về thu phí và lệ phí cũng đang gặp phải tình trạng này
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự phân cấp thẩm quyền ban hành các loại phí và lệ phí Thẩm quyền ban hành được giao cho nhiều chủ thể khác nhau, nhưng thiếu sự thống nhất, phối hợp giữa các chủ thể cũng như thiếu cơ chế giám sát từ cấp trên Có những loại phí, lệ phí xuất hiện ở nhiều văn bản khác nhau, chịu sự điều chỉnh của các cơ quan khác nhau Ví dụ: phí an ninh trật tự đã chồng lên hình thức đóng góp quỹ an ninh quốc phòng theo Luật Dân quân tự vệ; phí phòng chống thiên tai đã chồng lên hình thức đóng góp quỹ phòng chống thiên tai theo quy định của Luật Phòng chống thiên tai, Do đó, hệ thống các quy định về phí và lệ phí rất cồng kềnh, có sự chồng chéo
và mâu thuẫn với nhau
2 Thiếu cơ chế giám sát các khoản thu phí, lệ phí do địa phương ban hành.
Pháp lệnh phí và lệ phí có quy định: HĐND tỉnh, TP trực thuộc trung ương quyết định thu phí, lệ phí; được phân cấp UBND cùng cấp trình lên Như vậy, tùy theo nhận định của từng cấp đơn vị hành chính mà mỗi nơi sẽ quy định các loại phí theo các cách khác nhau Khi có sự phân cấp về thẩm quyền ban hành và thu phí, lệ phí cho các cấp nhưng lại thiếu quy định về cơ chế giám sát và quy định về trách nhiệm ràng buộc khi các chủ thể tiến hành thu phí, lệ phí không hợp lý khiến cho việc quyết định loại phí; mức phí; cách thức tổ chức thu, nộp, quản lý, sử dụng không đồng bộ, chồng chéo lên nhau Hoặc các văn bản quy định một đường nhưng thực tế lại làm một nẻo mà không thấy các cơ quan, ban -ngành đưa ra giải pháp để xử lý Trong 340 loại phí, lệ phí Chính phủ chỉ đạo các địa phương phải bãi
bỏ thì một số địa phương vẫn chưa có báo cáo cụ thể về việc đã bãi bỏ được những gì Việc thiếu sự phối hợp, giám sát giữa Trung ương với địa phương khiến cho các tình hình thu phí, lệ phí trở nên phức tạp hơn bao giờ hết
Bên cạnh đó, tình trạng nhiều địa phương đề ra các khoản thu, huy động đóng góp trái quy định lad rất phổ biến Không chỉ phải nộp quá nhiều loại phí, lệ phí, DN và người dân còn phải chịu tình cảnh
“phí chồng phí” và các chiêu giả danh, biến tướng của phí, lệ phí như: “nhầm” những khoản thu mang tính chất đóng góp tự nguyện thành những khoản phí bắt buộc với nhiều tên gọi khác nhau Do buông lỏng kiểm tra, giám sát việc ban hành và thực hiện các quy định về phí, lệ phí dẫn đến nhiều khoản phí,
lệ phí “giả danh, núp bóng” gây bức xúc cho người dân và doanh nghiệp
Cụ thể, 14 giờ ngày 17/10/2013, tức là sau hai ngày quyết định hủy bỏ việc thu phí giao thông đường bộ tại trạm Bãi Cháy (Quảng Ninh) và trạm Hoàng Mai của Chính phủ có hiệu lực, lái xe của Kho bạc Nhà nước trung ương vẫn phải chấp nhận mua vé tại trạm thu phí Bãi Cháy Không riêng xe
ô-tô này mà tất cả các loại xe cơ giới khi qua trạm vào thời điểm đó đều phải mua vé mới được nhân viên
Trang 914
-soát vé cho phép đi qua [16] Ở nông thôn hiện nay, có nhiều khoản phát sinh thường xuyên không phải
là phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) mà là các khoản thu dịch vụ nhưng người thu vẫn quen gọi là phí, lệ phí; nhiều khoản nộp không phải là khoản thu thường xuyên NSNN hằng năm, có khoản chỉ phải nộp một lần nhưng vẫn bị gọi là phí, lệ phí Hay tình trạng ở địa bàn Huyện Thường Xuân, Thanh Hóa, năm 2013, các hộ dân ở thị trấn Thường Xuân (Thanh Hóa) phải đóng góp 12 loại “quỹ” Trong đó, có loại “quỹ” Nhà nước đã cấm nhưng UBND thị trấn Thường Xuân vẫn thu, như: “quỹ dân phòng” (mức thu 20 nghìn đồng/hộ/năm), “quỹ xây dựng mới cơ sở vật chất trường lớp học” (mức thu
100 nghìn đồng/hộ/năm) Năm nay, UBND thị trấn Thường Xuân còn đề ra cả “quỹ mua xe tang” (mức thu 30 nghìn đồng/hộ/năm), “quỹ làm đường nghĩa trang” (mức thu 100 nghìn đồng/hộ/năm, thu trong vòng bốn năm)
3 Tồn tại một số khoản phí, lệ phí lạc hậu.
Sau gần 12 năm áp dụng, một số quy định về các khoản phí, lệ phí; mức thu một số loại phí, lệ phí của Pháp lệnh Phí và Lệ phí 2001 không còn phù hợp với thực tiễn Ví dụ như: phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và phí thoát nước; mức thu, khung mức thu sau một thời gian thực hiện đã lạc hậu, thấp hơn mặt bằng giá cả tại thời điểm thu như: phí đo đạc bản đồ địa chính không quá 1.000 đồng/m2,
lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không quá 25.000 đồng/giấy, lệ phí cấp phép xây dựng nhà không quá 50.000 đồng/giấy phép
Hiện nay, pháp luật về thu phí và lệ phí, thiếu cơ chế thẩm định lại sự hợp lý của các quy định về phí và lệ phí so với thực tiễn Các chủ thể chỉ “chăm chăm” ban hành các loại phí và lệ phí mà không cần xem xét tính đúng đắn của quy định đó Kết hợp với việc thiếu sự rà soát, thẩm định các quy định hiện đang có hiệu lực khiến cho các khoản thu lạc hậu từ lâu vẫn có hiệu lực thi hành, còn các khoản phí, lệ phí mới lại tiếp tục được ban hành và thực thi Theo quy định của Pháp lệnh Phí và Lệ phí và
nghị định của Chính phủ, hiện nay có 357 khoản phí và 75 khoản lệ phí đang được tổ chức thu trên
phạm vi cả nước, trong đó thẩm quyền quyết định của Trung ương 393 khoản, phân cấp thẩm quyền quyết định cho địa phương 39 khoản Nhiều chuyên gia kinh tế chỉ ra rằng tỉ trọng các khoản thu từ thuế và phí đang ngày càng gia tăng ở Việt Nam Mức thu thuế và phí (trừ dầu thô) của Việt Nam hiện nay đang rất cao so với các nước khác trong khu vực Cụ thể, trung bình trong 5 năm gần đây, nếu tỉ lệ thu thuế, phí/GDP của Việt Nam trên 20% thì ở Trung Quốc là 17,3%, Thái Lan và Malaysia xấp xỉ 15,5%, Philipines 13%, Indonesia 12,1% và Ấn Độ chỉ 7,8% [13] Trên thực tế, chưa bao giờ người dân phải nộp và có lẽ sẽ còn phải nộp nhiều loại phí và lệ phí với mức thu cao như hiện nay Việc thu phí và
lệ phí đang bị lạm dụng, diễn ra ở mọi lĩnh vực trong đời sống của người dân, từ các loại phí dịch vụ chung cư cho tới phí chồng phí trong giao thông, y tế, giáo dục
4 Thiếu quy định về ban hành mới, điều chỉnh mức thu phí, lệ phí ở địa phương.
Hiện nay, pháp luật cho phép địa phương được điều chỉnh mức thu các khoản thu cho phù hợp với
thực tiễn Tại Điều 7 Nghị định số 57/2002/NĐ-CP “trường hợp cần bổ sung, sửa đổi Danh mục phí,
lệ phí, mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng đối với phí, lệ phí, thì Bộ, Ủy ban nhân dân cấp
Trang 10tỉnh phản ảnh về Bộ Tài chính để Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh Phí và lệ phí” Tuy nhiên, việc không giới hạn mức điều chỉnh, thiếu
cơ chế giám sát dẫn đến tình trạng các địa phương tự ý điều chỉnh các khoản phí, lệ phí với mức thu rất cao và không đồng đều ở mỗi địa phương
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông dân phải gánh đến 131 khoản đóng góp, trong đó có 93 loại phí, lệ phí mà người dân phải đóng góp theo quy định của nhà nước và có
38 khoản đóng góp xã hội khác Ngoài các khoản phí, lệ phí theo quy định, một hộ nông dân bình quân mỗi năm phải đóng từ 250.000-800.000 đồng cho các khoản Số lượng khoản và mức đóng góp phân
chia theo vùng miền, cụ thể: Trung du miền núi phía Bắc: 28 khoản với mức từ 250.000-450.000 đồng/ hộ/năm; đồng bằng sông Hồng: 26 khoản, 350.000-500.000 đồng/hộ/năm; Bắc Trung Bộ: 24 khoản, 500.000-800.000 đồng/hộ/năm; duyên hải Nam Trung Bộ: 28 khoản, 400.000-700.000 đồng/hộ/năm; Tây Nguyên: 17 khoản, 400.000-600.000 đồng/hộ/năm; Đông Nam Bộ: 22 khoản, 350.000-550.000 đồng/hộ/năm; đồng bằng sông Cửu Long: 25 khoản, 300.000-700.000 đồng/hộ/năm [13].
Theo đánh giá của cơ quan chức năng thuộc Quốc hội, một số địa phương huy động đóng góp quá mức so với thu nhập của người dân, tạo thành gánh nặng cho người dân trong điều kiện thu nhập còn thấp, đời sống khó khăn Mức huy động đóng góp của người dân còn được thực hiện tùy tiện tại nhiều nơi, gây ra bất hợp lý giữa các vùng
5 Thực trạng pháp luật ở một số lĩnh vực.
5.1 Đối với việc tính án phí, lệ phí Tòa án:
Sau sự ra đời của Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án 2009, những bất cập của các văn bản luật trong lĩnh vực này đã được khắc phục Nhưng việc triển khai Pháp lệnh 2009 lại nảy sinh một số vướng mắc cần được tháo gỡ
Cụ thể như Pháp lệnh Án phí, lệ phí chưa có những quy định về mặt nguyên tắc hoặc những văn bản hướng dẫn cụ thể khi xét miễn nộp toàn bộ, một phần án phí, lệ phí Tòa án nên trong nhiều trường hợp thực tiễn còn gặp nhiều vướng mắc Ví dụ: Trường hợp đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án (theo quy định tại khoản 2 điều 187 BLTTDS), trong đó có thỏa thuận để một bên đương sự chịu toàn bộ hoặc phần lớn số tiền án phí phải nộp, đương sự này có đơn xin miễn, giảm án phí và đủ điều kiện quy định tại điều 14 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì Tòa án có miễn, giảm án phí cho đương sự đó không?
Ngoài ra còn vấn đề về thời gian, với vụ án được Tòa án sơ thẩm thụ lý và giải quyết án trước ngày 1/7/2009 thì án phí được tính theo Nghị định số 70 ngày 12/6/1997 của Chính Phủ Nhưng cũng vụ án
ấy, nếu đương sự kháng cáo, Tòa án thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm sau ngày 1/7/2009 thì trường hợp này Tòa án sẽ căn cứ vào Nghị định số 70 ngày 12/6/1997 hay Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa
án để tính án phí sơ thẩm Nếu căn cứ theo Nghị định số 70 thì vi phạm tố tụng vì Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2009 Nếu căn cứ theo Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa