Bắc Kạn là tỉnh nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng - trục quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế lớn.. Quốc lộ 3 chia
Trang 1CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU QUỐC LỘ 3 TRONG ĐỊA BÀN TỈNH BẮC CẠN 1.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khu vực tuyến
1.1.1 Vị trí địa lí
Hình 1.1 Vị trí địa lý tỉnh Bắc Kạn và vị trí tuyến QL3 trên bản đồ vệ tinh
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm sâu trong nội địa vùng Đông Bắc Phía Đông giáp Lạng Sơn Phía Tây giáp Tuyên Quang Phía Nam giáp Thái Nguyên Phía Bắc giáp Cao Bằng Tỉnh có vị trí quan trọng về mặt kinh tế và an ninh quốc phòng
Bắc Kạn là tỉnh nằm trên quốc lộ 3 đi từ Hà Nội lên Cao Bằng - trục quốc lộ quan trọng của vùng Đông Bắc, đồng thời nằm giữa các tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế lớn Quốc lộ 3 chia lãnh thổ thành 2 phần bằng nhau theo hướng Nam - Bắc, là vị trí thuận lợi để Bắc Kạn có thể dễ dàng giao lưu với tỉnh Cao Bằng và các tỉnh của Trung Quốc ở phía Bắc, với tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội cũng như các tỉnh của vùng Đồng bằng sông Hồng ở phía Nam
Vị trí của tỉnh có địa hình núi cao, lại ở sâu trong nội địa nên gặp nhiều khó khăn trong việc trao đổi hàng hoá với các trung tâm kinh tế lớn cũng như các cảng biển Mạng lưới giao thông chủ yếu trong tỉnh chỉ là đường bộ nhưng chất lượng đường lại kém Chính vị trí địa lí cũng như những khó khăn về địa hình đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh
Trang 2Về mặt an ninh quốc phòng, Bắc Kạn là một trong những tỉnh từng là căn cứ cách mạng của Việt Nam
1.1.2 Địa hình
Bắc Kạn có địa hình đa dạng, phức tạp, chủ yếu là đồi và núi cao Địa hình Bắc Kạn có thể chia làm 3 khu vực:
• Khu vực phía Đông sừng sững các dãy núi kéo dài tít tắp của cánh cung Ngân Sơn, cánh cung liên tục nhất, điển hình nhất ở vùng Đông Bắc Đây là dãy núi cao có cấu tạo tương đối thuần nhất Về kinh tế, địa hình nơi đây chủ yếu thuận lợi phát triển lâm nghiệp
• Khu vực phía Tây cũng là khối núi cao chót vót trên lãnh thổ Bắc Kạn Cấu tạo chủ yếu của núi là đá phiến thạch anh, đá cát kết và đá vôi có lớp dày nằm trên đá kết tinh cổ
• Khu vực trung tâm dọc thung lũng sông Cầu có địa hình thấp hơn nhiều Đây là một nếp lõm được cấu tạo chủ yếu bởi đá phiến, đá vôi, đá sét vôi có tuổi rất cổ, nhưng đá vôi không nhiều Địa hình nơi đây thích hợp phát triển nông nghiệp, giao thông
1.1.3 Địa chất
Theo bản đồ địa chất tờ Bắc Kạn, tỷ lệ 1:200000 Nguyễn Kinh Quốc (1974 ) các hệ tầng bao gồm: hệ tầng Phú Ngữ (O3-S1pn); hệ tầng Mia lé (D1ml); và hệ Đệ tứ (Q) a) Hệ tầng Phú Ngữ (O3-S1pn)
Hệ tầng Phú Ngữ do Phạm Đình Long xác lập (1968) khi đo vẽ bản đồ tờ địa chất tờ Tuyên Quang tỷ lệ 1:200000
Hệ tầng Phú Ngữ lộ ra với diện tích rộng, chiếm gần như toàn diện tích nghiên cứu gồm hai phân hệ địa tầng chính sau:
− Phân hệ tầng dưới (O3-S1pn12): chủ yếu là đá phiến sét màu xám tro đến xám đen xen cát bột kết và cát kết phân lớp thanh(dạng sọc) màu xám lục phân lớp mỏng, mặt lớp gần láng, phong hóa cho màu vàng hoặc màu vàng nâu Ngoài ra còn gặp các lớp đá phiến silic, đá phiến sét - silic xen với cát kết thạch anh dạng Quarzit
− Phân hệ tầng trên (O 3-S1pn2 1): gồm cát bột kết, đá phiến sét màu xám sẫm, phong hóa cho màu nâu đỏ,vàng nâu nhạt mặt lớp láng bóng với nhiều vảy sericit; đá phiến sét-silic phân lớp mỏng màu xám đen; cát bột kết, cát kết thạch anh xám vàng lục chứa vảy mica đôi khi xen cát kết felspat; đôi nơi còn gặp trong cát bột kết có
Trang 3xen thấu kính đá vôi hoặc sét vôi (đường Bắc Kạn đi chợ Đồn) Gần đới xâm nhập
đá bị sừng hoá mạnh tạo đới sừng, cordierit, granat, andaluzit, silimanit Bề dày chung từ 2000 – 2500m
b) Hệ tầng Mia lé (D1ml)
Hệ tầng Mia Lé do J Deprat xác lập năm 1915, mặt cắt chuẩn mô tả được quan sát
ở khu vực Mia lé, tỉnh Hà Giang Trong khu vực nghiên cứu hệ tầng này phân bố dưới dạng dải dọc theo quốc lộ số 3 thuộc địa phận xã Xuất Hóa Theo thành phần thạch học thì trong khu vực nghiên cứu chỉ lộ ra đá thuộc phân hệ tầng Mia lé dưới (D1ml1) Các
đá của phân hệ tầng dưới được phân bố rộng hơn hệ tầng trên và chiếm hầu hết diện tích của hệ tầng Thành phần thạch học từ dưới lên trên bao gồm:
- Đá phiến màu nêu xám, đá phiến màu xám đen, dày 150m
- Cát bột kết màu xám, xen thấu kính đá vôi màu xám dày 250m
c) Hệ Đệ tứ không phân chia (Q)
Trong khu vực nghiên cứu còn tồn tại các thành tạo bở rời thuộc hệ Đệ Tứ không phân chia nằm trong hầu hết các thung lũng, dọc theo lưu vực sông cầu và quốc lộ 3 Các thành tạo này một phần bị rửa trôi hoặc do các hoạt động kiến tạo đưa xuống làm nền móng cho các mặt bằng phục vụ cuộc sống con người Các thành tạo muộn hơn phân
bố ven các thung lũng và thường phát triển không liên tục các thành tạo muộn hơn bao gồm phần thấp vẫn là các thành tạo eluvi bị laterit hóa, phủ trên nó là các trầm tích bở rời aluvi gồm sét pha cát lẫn nhiều cuội sỏi thạch anh; phần giữa là cát cuội sỏi thành phần phức tạp; phủ trên cùng là cát hạt mịn màu xám
1.1.4 Khí hậu
Bảng 1.1 Nhiệt độ tại một số khu vực của tỉnh Bắc Kạn [Nguồn Địa lý Bắc Kạn 2000]
Trạm
To trung bình năm
To trung bình tháng 1
To thấp tuyệt đối
To cao tuyệt đối
Biên độ chênh lệch tuyệt đối Thị xã
Chợ
Ngân
Trang 4Bắc Kạn có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá theo độ cao của địa hình và hướng núi Với chế độ nhiệt đới gió mùa, một năm ở Bắc Kạn có hai mùa
rõ rệt: mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20 – 25% tổng lượng mưa trong năm, tháng mưa ít nhất là tháng 12
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20 - 220C, nhiệt độ thấp tuyệt đối -0,10C ở thị xã Bắc Kạn và -0,60C ở Ba Bể, -20C ở Ngân Sơn, gây băng giá ảnh hưởng lớn đến cây trồng, vật nuôi
Số giờ nắng trung bình của tỉnh là 1400 - 1600 giờ Lượng mưa trung bình năm ở mức 1400 - 1600mm và tập trung nhiều vào mùa hạ Độ ẩm trung bình trên toàn tỉnh là 84% Bắc Kạn có lượng mưa thấp so với các tỉnh Đông Bắc do bị che chắn bởi cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông Bắc và cánh cung Sông Gâm ở phía Tây Nam
Khí hậu Bắc Kạn có sự phân hoá theo mùa Mùa hạ nhiệt độ cao, mưa nhiều Mùa đông nhiệt độ thấp, mưa ít và chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Nhìn chung, khí hậu của tỉnh có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông, lâm nghiệp cũng như phát triển một số cây nông phẩm cận nhiệt và ôn đới
Bên cạnh những thuận lợi, Bắc Kạn cũng có nhiều khó khăn do khí hậu như sương muối, mưa đá, lốc làm ảnh hưởng đến đời sống và hoạt động kinh tế trong tỉnh
1.1.5 Sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi Bắc Kạn tương đối phong phú nhưng đa số là các nhánh thượng nguồn với đặc điểm chung là ngắn, dốc, thuỷ chế thất thường Bắc Kạn là đầu nguồn của 5 con sông lớn của vùng Đông Bắc là sông Lô, sông Gâm, sông Kỳ Cùng, sông Bằng, sông Cầu
Sông ngòi có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất và đời sống của nhân dân tỉnh Bắc Cạn Trong một chừng mực nhất định, sông ngòi là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp và ngư nghiệp Do yếu tố địa hình nên các sông đa số ngắn, dốc, thuận lợi cho việc phát triển thủy điện cũng như thu hút khách du lịch bằng những cảnh quan đẹp, hùng vĩ
Ngoài hệ thống sông ngòi, Bắc Kạn còn nổi tiếng với hồ Ba Bể Đây là một trong những hồ kiến tạo đẹp và lớn nhất nước ta, được hình thành từ một vùng đá vôi bị sụt xuống do nước chảy ngầm đã đục rỗng lòng khối núi Diện tích mặt hồ khoảng 500ha,
là nơi hợp lưu của ba con sông Ta Han, Nam Cương và Cho Leng Hồ có ba nhánh
Trang 5thông nhau nên gọi là ba Bể Đây là một địa điểm có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch của tỉnh
1.1.6 Tài nguyên thiên nhiên
a) Đất
Bắc Kạn có nhiều loại đất khác nhau Nhiều vùng có tầng đất khá dầy, hàm lượng mùn tương đối cao, đặc biệt một số loại đất là sản phẩm phong hoá từ đá vôi, thuận lợi cho việc phát triển cây công nghiệp, cây ăn quả Nói chung, cùng với khí hậu thích hợp cho nhiều loại cây trồng, vật nuôi, đất đai trong tỉnh còn khá tốt và là cơ sở quan trọng
để phát triển nông – lâm nghiệp Về cơ cấu sử dụng đất, diện tích được khai thác hiệm chiếm hơn 60%, trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp Hiện diện tích chưa sử dụng còn khá lớn
b) Rừng
Diện tích rừng tự nhiên của Bắc Kạn vào loại lớn nhất trong các tỉnh vùng Đông Bắc (95,3% diện tích) Tài nguyên rừng của tỉnh khá đa dạng, phong phú Ngoài khả năng cung cấp gỗ, tre, nứa còn nhiều loại động vật, thực vật quý hiếm, có giá trị và được coi là một trung tâm bảo tồn nguồn gen thực vật của vùng Đông Bắc Hệ động vật của tỉnh Bắc Kạn có giá trị tự bảo tồn nguồn gen cao với nhiều loại đặc hữu và quý hiếm Về thực vật, qua điều tra cho thấy tỉnh Bắc Kạn có 280 loài thực vật, trong đó có
300 loài gỗ, 300 loài cây thuốc, 52 loài đã đưa vào sách đỏ Việt Nam
c) Khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản Bắc Kạn tương đối phong phú, đa dạng
Trong lòng đất khá giàu kim loại màu và kim loại đen… Đây là một trong những thế mạnh để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và công nghiệp khai thác nói riêng Tỉnh cũng có các khoáng sản khác như sắt, mănggan, ăngtimon, vật liệu xây dựng và
đá quý
Hệ thống núi thấp và trung bình thuộc cánh cung sông Gâm có các loại đá xâm nhập granít, rhyonít, granít haimica và các loại phiến biến chất, thạch anh quắczít, đá sừng…
Cánh cung Ngân Sơn có các loại granít, rhyonít, phiến sét, thạch anh, đá vôi… Khối núi đá vôi Kim Hỷ có tuổi cácbon – pecmi màu xám trắng có cấu tạo kiểu khối, hiểm trở và những biến chất khu vực.Vùng núi thấp phía nam tỉnh là nơi quy tụ nhiều
Trang 6dãy núi cánh cung nên có nhiều loại đá trầm tích có kết cấu hạt mịn, hạt thô và đá mắcma
1.1.7 Đặc điểm kinh tế - xã hội
a) Dân cư
Thị xã có 8 đơn vị hành chính gồm 4 phường: Đức Xuân, Phùng Chí Kiên, Sông Cầu, Nguyễn Thị Minh Khai và 4 xã là Dương Quang, Huyền Tụng, Nông Thượng và Xuất Hoá Dân cư tại thị xã khoảng 33.543 người (2005) Tăng lên 37.180 (2009) Mật độ khoảng 281,7 người/km2 Cơ cấu lao động của tỉnh còn khá trẻ tỷ lệ lao động trong độ tuổi 16 - 35 chiếm khoảng 55%, nhóm lao động trong độ tuổi từ 24 - 35 chiếm trên 24% Lực lượng lao động khá dồi dào tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh chỉ chiếm 17,66% tổng số lao động trong độ tuổi, thấp hơn mức bình quân của cả nước (22,8%)
Bảng1.2 Dân số, mật độ dân số tỉnh Bắc Kạn năm 2009 [Báo cáo “Kinh tế - xã hội 5
năm 2006 – 2010]
Tên đơn vị hành chính Dân số (người) Mật độ dân số
(người/km2) Diện tích
b) Nông nghiệp
Trong 5, 6 năm gần đây nông nghiệp thị xã đã có những bước phát triển nhanh chóng, sản xuất nông, lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 có tốc độ tăng trưởng đạt 6,3% Về trồng trọt, các loại cây trồng chính phát triển ổn định, năng suất và sản lượng cây trồng năm sau cao hơn năm trước, diện tích gieo trồng ngày càng được mở rộng
So với năm 2006, diện tích lúa năm 2010 là 720,7 ha, tăng 100 ha; diện tích trồng ngô 288,4 ha, tăng 39,6 ha; tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 là 4.387 tấn, tăng
986 tấn
Trang 7c) Công nghiệp
Tại thị xã Bắc Kạn có 6 cơ sở sản xuất và chế biến (Bảng 3), các cơ sở với việc đầu
tư các trang thiết bị mới, mở rộng sản xuất đến nay đã đảm bảo thu nhập cho hàng nghìn công nhân Mặc dù thời điểm hiện tại,lạm phát đang tăng cao nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty may vẫn ổn định và phát triển, doanh thu tăng nhanh
từ 7,2 tỷ năm 2009 lên 14 tỷ năm 2010 Trong khi đó năm 2007 công ty nước giải khát Bắc Kạn xây dựng phân xưởng chế biến sản xuất các loại rau, củ, quả sạch công suất
10 – 15 tấn/ngày Dự kiến xây dựng 3 phân xưởng sản xuất chính và đã xây dựng được
2 phân xưởng: Phân xưởng sản xuất bia và phân xưởng sản xuất rượu công suất: 3.000 lít/ngày
Ngoài các cơ sở sản xuất trên trên địa bàn còn có các cơ sở sản xuất và chế biến lâm sản vừa và nhỏ, các nhà máy sản xuất và lắp ráp lớn như nhà máy sản xuất, lắp ráp
và đóng mới ô tô Tra-Las Nhà máy ximăng Bắc Kạn, công ty khoáng sản Bắc Kạn Đáng chú ý là xưởng sản xuất đá suối Viền Tại mỏ đá suối Viền với diện tích 18ha, thuộc xã Xuất Hóa, thị xã Bắc Kạn, công ty đã đầu tư một dây chuyền hiện đại từ khoan nổ đến chế biến đá thành phẩm trị giá hơn 3 tỷ đồng
Bảng 1.3 Cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thị xã Bắc Kạn [Nguồn kinh tế Bắc
Kạn 2005 – 2010]
1 Công ty cổ phần khoáng sản Bắc Kạn Tổ 1b, phường Đức Xuân, Thị
xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn
2 Nhà máy xi măng Bắc Kạn Thuộc xã Xuất Hóa, thị xã Bắc
Kạn
Kạn
4 Nhà máy Sản xuất,đóng mới ô tô
TRA-LAS
Thuộc xã Xuất Hóa, thị xã Bắc
Kạn
5 Công ty Cổ phần May Chiến Thắng Tổ 8 phường Đức Xuân, thị Xã
Bắc Kạn
6 Nhà máy Chế biến RQ – NGK Bắc
Kạn
Tổ 1A phường Đức Xuân thị xã Bắc Kạn tỉnh Bắc Kạn Trong thời gian tới nhiều công trình kinh tế lớn và kết cấu hạ tầng xẽ được xây dựng mới và nâng cấp mở rộng như làm đường Hồ Chí Minh, xây dựng các thủy điện, thủy lợi nên nhu cầu về vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh sẽ rất lớn và có mức tăng
Trang 8trưởng cao Đó là cơ hội để Bắc Kạn phát triển mạnh ngành sản xuất vật liệu xây dựng trên cơ sở nguồn nguyên liệu sắn có, đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng trong tỉnh và cung cấp cho thị trường các tỉnh lân cận
d) Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp của tỉnh năm 2005 đạt 96.509 triệu đồng, trong đó: Trồng và nuôi rừng đạt 28.810 triệu đồng; khai thác gỗ, lâm sản 67.699 triệu đồng Mỗi năm rừng cung cấp 11.844 m3 gỗ, 15 nghìn tấn nguyên liệu giấy, 210 nghìn cây tre luồng và một số sản phẩm khác từ rừng như: măng, mộc nhĩ, nấm, nhựa thông, hạt
dẻ, hoa hồi…
Hàng năm, trồng rừng mới và chăm sóc rừng luôn được quan tâm Năm 2010, thị
xã trồng rừng mới được 477,15ha, độ che phủ rừng đạt 55,6% Kết quả trên đã góp phần vào thành công của chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng trên phạm vi cả nước, nâng cao độ che phủ của rừng, cải thiện môi trường sống, giảm thiểu tai biến (trong đó điển hình là trượt lở)
1.1.8 Giao thông vận tải
Hệ thống giao thông của thị xã đang được mở rộng, trong đó:
Quốc lộ: Trên địa bàn thị xã Bắc Kạn hiện có 4 tuyến quốc lộ đi qua đó là quốc lộ
3 dài 125 km, đạt cấp IV miền núi; quốc lộ 3B dài 66,3 km, đạt cấp VI miền núi, mật
độ đường quốc lộ mới đạt 5,6 km/100 km2 Tuy nhiên mặt đường hẹp, chất lượng đường xấu, chưa được nâng cấp thường xuyên nên giao thông vẫn còn nhiều khó khăn Đường tỉnh: gồm 7 tuyến với tổng chiều dài 256,27 km, hầu hết các tuyến đường tỉnh của thị xã Bắc Kạn đều đạt cấp VI miền núi, chất lượng đường ở mức trung bình, nhiều đoạn đường chất lượng còn xấu, gây khó khăn cho phương tiện cơ giới qua lại đặc biệt là vào mùa mưa
Đường huyện: có tổng chiều dài 598,8 km, các tuyến đường huyện của tỉnh hầu hết không đạt cấp hạng kỹ thuật nào, mặt đường thường rộng từ 3,5 - 6,5 m, mặt đường chủ yếu là đường cấp phối và đường đất
Đường giao thông xã và thôn tại khu vực đã nâng cấp được 100km, xây dựng mới 40km, các hệ thống cống, rãnh thoát nước cũng được củng cố đạt cấp phối
Theo quy hoạch đường Hồ Chí Minh qua thị xã theo phương án 2 tuyến đi về, phía Tây đi theo hướng Sáu Hai- Nông Thượng- Thanh Mai- Dương Quang nhập vào quốc
Trang 9lộ 3 ở Km 125+900 Đoạn này dài 28km song song với quốc lộ 3 Để bảo vệ môi trường nhân sinh đô thị, để tránh tập trung phương tiện đi vào trung tâm thị xã và đã được quy hoạch xây dựng các đường vành đai
Đường vành đai I: đi vòng phía Đông thị xã, mặt cắt đường vành đai I là 27m có vỉa hè, có giải phân cách
Đường vành đai II: đi vòng phía Tây thị xã Bắc Kạn, có mặt cắt 27m, riêng vào tỉnh ủy có mặt cắt 30m Các đường nội thị có mặt cắt ngang 8,5m; lòng đường 5,5m; vỉa hè 2 bên x3m
Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông thị xã nhìn chung có nhiều tiến bộ như nâng cấp quốc lộ 3 thành đường cấp IV miền núi, nền 7,5m, mặt 6m Xây dựng mới đoạn tránh thị xã 10km theo tiêu chuẩn đường đô thị, nền 27m, mặt rộng 14m, vỉa hè 6m, giải phân cách 1m ở giữa Bên cạnh việc mở rộng đường giao thông (quốc lộ 3) hiện đại cũng đồng nghĩa với cường hóa tai biến trượt lở Đoạn quốc lộ khoảng 30km chạy qua khu vực nghiên cứu với nhiều đoạn taluy đứng (xã Xuất Hóa, Nông Thượng, Huyền Tụng), gây nhiều hoang mang cho người dân mỗi khi mùa mưa tới
1.1.9 Lịch sử hình thành và phát triển
Bắc Kạn xưa thuộc bộ Vũ Định, một trong 15 bộ của nước Văn Lang Vào thế kỷ thứ 3, Bắc Kạn có tên là Phú Nghiêm, rồi đổi thành quận Vũ Định dưới đời Đường Nhà Lý đặt là phủ Phú Lương Đến đời nhà Lê lại đổi thành phủ Thông Hóa, thuộc lộ Thái Nguyên Sang đời nhà Trần, tỉnh lỵ Bắc Kạn hiện nay là huyện Vĩnh Thông, rồi đổi tên lần nữa thành Bạch Thông vào đời Hậu Lê Tỉnh Bắc Kạn được thành lập năm
1900, gồm 20 tổng
Năm 1873, giặc Trung Hoa là Lý Dương Tài nổi lên cướp phá biên giới Quan Tham tán Đại thần Linh Ninh Thái Tổng Đốc bấy giờ là Tôn Thất Thuyết mang quân
đi đánh làm chúng phải lui về đóng ở Ba Bể Đây là nơi ba phía có núi, một phía là bể,
và chỉ có một đường độc đạo ra vào Lý Dương Tài sai đắp hào lũy, chuyển vận nhiều lương khô, rồi cố thủ hàng mấy tháng trời làm quân triều đình không sao phá nổi Tôn Thất Thuyết bèn cử Ôn Bích Khiêm, một danh tướng tài giỏi tìm cách phá giặc Ôn Bích Khiêm chỉ xin mang theo 80 quân lính khỏe mạnh Suốt 10 ngày đêm gian khổ, toán quân đặc biệt này vượt đèo leo núi để lên đến đỉnh núi Bích Lập, chỗ sào huyệt của giặc cướp ở phía dưới Toán quân nối dây rừng đu xuống, bất thần tấn công làm bọn giặc không ngờ trước nên hoảng sợ chạy tán loạn, toán quân của Ôn Bích Khiêm
Trang 10đã giết sạch bọn chúng, giải cứu gần 400 phụ nữ Việt bị giặc bắt giữ và tịch thu rất nhiều ngựa, vũ khí
Năm 1900, tỉnh Bắc Kạn được thành lập Trong quá trình phát triển, ranh giới của tỉnh đã có một số thay đổi nhất định Ngày 21/4/1965, Bắc Kạn cùng với Thái Nguyên hợp nhất lại thành tỉnh Bắc Thái Ngày 6/11/1996 tại kỳ họp thứ X, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX đã thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó Bắc Thái được tách ra thành Bắc Kạn và Thái Nguyên
Hành chính và các đơn vị trực thuộc
Tỉnh lị là thị xã Bắc Kạn
Các đơn vị hành chính của tỉnh bao gồn thị xã Bắc Kạn và 7 huyện gồm Ngân Sơn, Ba
Bể, Pác Nặm, Bạch Thông, Chợ Đồn, Chợ Mới và Na Rì
Kinh tế
Tương tự như một số tỉnh ở vùng Đông Bắc, nền kinh tế của Bắc Kạn đi lên từ điểm xuất phát thấp và trông cậy chủ yếu vào nông – lâm nghiệp Từ khi tái lập tỉnh,
bộ mặt nền kinh tế có nhiều thay đổi trên cơ sở phát huy nội lực, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, khai thác hợp lý các lợi thế so sánh về rừng, khoáng sản, đất đai, lao động và các tiềm năng khác
Với vị trí thuận lợi trên trục đường quốc lộ 3, nối Hà Nội với Cao Bằng và các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc, Bắc Kạn nằm trong vùng có tốc độ đô thị hoá nhanh và có nhiều điều kiện mở cửa ra bên ngoài
Bên cạnh đó Bắc Kạn có khí hậu thuận lợi để phát triển một tập đoàn cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc Đây là lợi thế để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, tạo ra các sản phẩm tập trung phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
Quỹ đất của tỉnh có thể sử dụng vào mục đích nông – lâm nghiệp tương đối nhiều, với quỹ đất lớn so với dân số của tỉnh là điều kiện tốt để chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá Bắc Kạn còn có nguồn tài nguyên rừng và khoáng sản phong phú để phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến nông
- lâm sản, công nghiệp giấy, công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng và phong phú, thuận lợi có thể hoà vào