1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ô nhiễm dầu nhiễu loạn hoạt động sống trong hệ sinh thái

23 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 184 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải

Trang 1

Ô nhiễm dầu: nhiễu loạn hoạt động sống trong hệ sinh thái

Biển ô nhiễm như thế nào?

Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông suối, các chất thải từ các hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản, giao thông vận tải biển Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới Các biểu hiện của sự ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số dạng như sau:

• Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại

• Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ

• Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển v.v

• Suy giảm trữ lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển

• Xuất hiện các hiện tượng như thuỷ triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trong các thực phẩm lấy từ biển

Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: Các hoạt động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại dương, thải các chấtđộc hại ra biển, vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí

• Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sản phẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ô nhiễm khác Hàng năm, các chất thải rắn đổ ra biển trên thế giới khoảng 50 triệu tấn, gồm đất, cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chất phóng xạ Một số chất thải loại này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ Một số chất khác

bị phân huỷ và lan truyền trong toàn khối nước biển

• Trong tương lai, do khan hiếm nguồn trên lục địa, sản lượng khai thác khoáng sảnđáy biển sẽ gia tăng đáng kể Trong số đó, việc khai thác dầu khí trên biển có tác động mạnh mẽ nhất đến môi trường biển Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, các phương tiện vận chuyển và sự cố tràn dầu có xu hướng gia tăng cùng với sản lượng khai thác dầu khí trên biển Vết dầu loang trên nước ngăn cản quá trình hoàtan oxy từ không khí Cặn dầu lắng xuống đáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển Nồng độ dầu cao trong nước có tác động xấu tới hoạt động của các loài sinh vật biển

• Loài người đã và đang thải ra biển rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức

và không có ý thức Loại hoá chất bền vững như DDT có mặt ở khắp các đại dương Theo tính toán, 2/3 lượng DDT (khoảng 1 triệu tấn) do con người sản xuất, hiện đang còn tồn tại trong nước biển Một lượng lớn các chất thải phóng xạ của các quốc gia trên thế giới được bí mật đổ ra biển Riêng Mỹ năm 1961 có 4.087 và 1962 có 6.120 thùng phóng xạ được đổ chôn xuống biển Việc nhấn chìm các loại đạn dược, bom mìn, nhiên liệu tên lửa của Mỹ đã được tiến hành từ

Trang 2

hơn 50 năm nay Riêng năm 1963 có 40.000 tấn thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh được hải quân Mỹ đổ ra biển.

• Hoạt động vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễmbiển Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu thuyền trên biển thường chiếm 50% nguồn ô nhiễm dầu trên biển Các tai nạn đắm tàu thuyền đưa vào biển nhiều hànghoá, phương tiện và hoá chất độc hại Các khu vực biển gần với đường giao thôngtrên biển hoặc các cảng là nơi nước biển có nguy cơ dễ bị ô nhiễm

Ô nhiễm không khí có tác động mạnh mẽ tới ô nhiễm biển Nồng độ CO2 cao trong không khí sẽ làm cho lượng CO2 hoà tan trong nước biển tăng Nhiều chất độc hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển

Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v

Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của các chương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới Công ước Luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Công ước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu đã thể hiện sự quan tâm của quốc

tế đối với vấn đề ô nhiễm biển

Tình hình ô nhiễm dầu loang cho đến nay vẫn chưa được giải quyết một cách rốt

Thống kê cho thấy đến khỏang cuối tháng tư vừa qua, có

20 tỉnh thành của Việt Nam bị tác động bời dầu tràn Đến ngày 7 tháng 5 thì Bộ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường

ra quyết định cho thành lập tổ công tác xác định nguyên nhân, đánh giá thiệt hại và khắc phục tình trạng ô nhiễm dầu gây ra cho các tỉnh ven biển Việt Nam

Ông Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi trường Trần Hồng Hà, cũng được chỉ định là tổ trưởng tổ công tác mới

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của chúng tôi trước khi nhậm chức tổ trưởng tổ công tác, ông Trần Hồng Hà có cho biết như sau:

Ông Trần Hồng Hà: Vấn đề ô nhiễm dầu là chuyện cực lớn rồi.Hiện nay chúng tôi đang

tham mưu là bằng các phương tiện khoa học để tìm ra nguyên nhân Trong thời gian tới tham mưu cho chính phủ cần phải có đầu tư, giải pháp gì để quan trắc; vì như vừa qua khi sự cố xảy ra rồi thì việc xử lý rất khó khăn

Gia Minh: Đến này đã tìm ra nguyên nhân chưa?

Trang 3

Ông Trần Hồng Hà: Chưa có kết luận nào vì sự việc không đơn giản Hiện chúng tôi

đang phải khắc phục sự cố.

Vấn đề ô nhiễm dầu là chuyện cực lớn rồi.Hiện nay chúng tôi đang tham mưu là bằng các phương tiện khoa học để tìm ra nguyên nhân Trong thời gian tới tham mưu cho chính phủ cần phải có đầu tư, giải pháp gì để quan trắc; vì như vừa qua khi sự cố xảy ra rồi thì việc xử lý rất khó khăn.

Ông Trần Hồng Hà

Gia Minh: Lượng thu gom về đang được xử lý ra sao?

Ông Trần Hồng Hà: Hiện thu về đưa vào ba trung tâm xử lý chất thải nguy hại có đủ

tiêu chuẩn để xử lý

Gia Minh: Việc phối hợp trong vấn đề này ra sao?

Ông Trần Hồng Hà: Hiện cũng có phối hợp tốt giữa các ngành trong nước và chúng tôi

cũng có phối hợp với một số tổ chức quốc tế để phát hiện nguyên nhân

Gia Minh: Việc bồi thường thiệt hại ra sao?

Ông Trần Hồng Hà: Việc tính toán thiệt hại còn đang ngòai khả năng Nhưng khi phát

hiện ra nguồn gốc gây ô nhiểm thì có thể người gây ô nhiễm phải bồi thường Hiện nay thì chủ yếu là tập trung vào khắc phục ô nhiễm Nhà núơc chỉ hổ trợ thôi

Gia Minh: Do tác động của ô nhiễm dầu loang thì có vùng không thể theo nghề cũ được,

vậy việc chuyển đổi ra sao?

Ông Trần Hồng Hà: Hiện Bộ Thủy sản đang phải đối phó với ô nhiễm và cảnh báo cho

người dân trong việc nuôi trồng thủy hải sản Những vùng mà không xử lý được phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất; Bộ thủy sản đang kết hợp chặt chẽ với người dân

Hiện nay đó là vấn đề tốt để triển khai; nhưng phải nghiên cứu xem các sản phẩm đó có thể ứng dụng tại Việt Nam hay không vì điều kiện vi sinh biển của Việt Nam có khác Vào tháng sáu tới sẽ có đòan của OTI sang Việt Nam làm thử nghiệm chính thức.

Một viên chức thuộc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ

Sản phẩm xử lý dầu thô tràn trên đất

Vào ngày 9 tháng 5, Trung tâm Thông tin Khoa học Công nghệ thuộc Bộ Khoa học CôngNghệ phối hợp với công ty xử lý dầu quốc tế OTI của Thụy sĩ giới thiệu một số lọai sản phẩm vi sinh có thể giúp phân hủy dầu thô tràn vào vùng duyên hải Việt Nam Đó là các sản phẩm xử lý dầu thô tràn trên đất, dầu dạng rắn, và dầu dạng lỏng

Trang 4

Đối với các tỉnh thành đang chịu tác động bởi dầu tràn thì mọi biện pháp giúp họ vượt qua tai nạn dầu tràn là mong muốn mà họ chờ đợi bầy lâu nay như phát biểu của ông Nguyễn Boa, phó giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường Bà Rịa- Vũng Tàu là một trong những tỉnh chịu tác động nhiều nhất của nạn dầu loang.

"Sử dụng hình thức đó với giá thành rẻ và không gây ô nhiễm Hiện nay chúng tôi thu gom dầu vào bờ rồi đốt thôi.

Từ đợt phát hiện dầu ngòai khơi thì nay chúng tôi mới xây dựng kế họach ứng phó cho tương lai Đặc thù của Bà Rịa- Vũng Tàu là có dầu khí và vận tải biển lớn nên chúng tôi

có kế họach cụ thể riêng."

Dù các nơi bị nạn đang trông ngóng sự giúp đỡ từ phía cơ quan chức năng trung uơng; thế nhưng các sản phẩm mà công ty xử lý dầu tràn của Công ty OTI đưa ra vẫn chưa thể đem vào áp dụng Một viên chức thuộc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ chobiết:

"Hiện nay đó là vấn đề tốt để triển khai; nhưng phải nghiên cứu xem các sản phẩm đó có thể ứng dụng tại Việt Nam hay không vì điều kiện vi sinh biển của Việt Nam có khác Vào tháng sáu tới sẽ có đòan của OTI sang Việt Nam làm thử nghiệm chính thức."

Tính đến nay thì đã hơn nửa năm thế nhưng vẫn chưa có kết luận cụ thể nào về tình trạng dầu loang tác động đến 20 tỉnh thành duyên hải Việt Nam Một tựa báo trong nước đặt rằng” Sự cố tràn dầu- thừa nghiên cứu, thiếu kết luận”

Bài báo cáo này nhằm mục đích nêu lên hiện trạng tràn dầu ở Việt Nam và thế giới, và là tiếng chuông cảnh báo cho mỗi chúng ta về thái độ đối với môi trường sinh thái

II. Nội dung:

1. Biển và vai trò của biển:

Trang 5

a. Biển:

Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương, hoặc làcác hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên như biển Caspi, biển Chết Thuật ngữ này đôi khi cũng được sử dụng với một số hồ nước ngọt khép kín hoặc có đường thông tự nhiên ra biển cả như biển Galilee ở Israel là một hồ nước ngọt nhỏ không có đường thông tự nhiên ra đại dương hay biển Hồ ở Campuchia Thuật ngữ này được sử dụng trong đời sống

thông thường như một từ đồng nghĩa với đại dương, như trong các câu biển nhiệt đới hay đi ra bờ biển, hoặc cụm từ nước biển là chỉ một cách rõ nét tới các vùng

nước của đại dương nói chung

Thành phần mol tổng cộng của nước biển (Độ mặn = 35)

Trang 6

Có tính đa dạng cao

Các quá trình xảy ra từ từ

Có tính ổn định

Ô nhiễm và ô nhiễm biển:

Ô nhiễm môi trường là hiện tượng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học gây biến dổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học,… cùa môi trường làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác

Ô nhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người

Ô nhiễm biển là hiện tương ô nhiễm môi trường biển

b. Vai trò của biển:

Là cái nôi của sự đa dạng sinh học với 18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật Các sinh vật biển (động thực vật phù du đến những sinh vật vô cùng to lớn như cá voi, …)

Cung cấp nguồn tài nguyên sinh vật, năng lượng và khoáng sản vô cùng đa dạng

và to lớn: sản lượng thuỷ sản có thể khai thác 100 triệu tấn năm, trữ lượng kết cuội đa kim lên tới 3000 tỷ tấn, nguồn năng lượng khổng lồ từ dòng chảy, thuỷ triều, chênh lệch độ mặn…

Là cái nôi của sự đa dạng sinh học với 18 vạn loài động vật và 2 vạn loài thực vật Các sinh vật biển (động thực vật phù du đến những sinh vật vô cùng to lớn như cá voi, …) là nguồn tài nguỹên vô cùng phong phú cho con ngừoi Sự phân tầng của bĩển đã tạo điều kiện cho các sinh vật hình thành những đặc điểm thích nghi vô cùng độc đáo với nguồn gen vô cùng phong phú

Là lá phổi xanh để điều hòa khí hậu, biển đóng vai trò cực kì quan trọng trong các chu trình sinh - địa - hoá học tạo ra các yếu tố phục vụ đời sống con người như nứơc,cacbon, lưu huỳnh, photpho, oxy và nitơ Biển có một dĩện tích bề mặt vô cùng rộng lớn, hàng năm biển hấp thu một luợng CO2 và thải ra một luợng O2 khá lớn Mặt khác, luợng hơi nuớc bốc lên từ biển tham gia vào chu trình nuớc của tự nhiên góp phần quan trọng vào điều hòa độ ẩn trên thế giới hàng năm, bằng khả năng tự làm sạch của mình, biển hấp thu và chuyển hoá khoảng 6.5 triệu tấn các tạp chất đổ ra biển từ các hoạt động của con người trong đất liền nếu không có biển, hành tinh của chúng ta sẽ ngập trong các bãi rác

Trang 7

Biển là nơi du lịch , nghỉ dưỡng lý tưởng vì có nhiều hệ sinh thái đặc sắc như đảo, rạn san hô, cửa sông, rừng ngập mặn…

Là đường giao thông quốc tế quan trọng

2. Vài nét về dầu :

Dầu thô, hay còn gọi dầu mỏ, vàng đen (tiếng Anh: petroleum hay crude oil; gốc

tiếng Hy Lạp: petra - đá và elaion - dầu; hay tiếng Latin oleum - dầu), là một chất

lỏng sánh đặc màu nâu hoặc ngả lục Dầu thô tồn tại trong các lớp đất đá tại một

số nơi trong vỏ Trái Đất Dầu mỏ là một hỗn hợp gồm nhiều hydrocarbon, phần lớn thuộc gốc alkane, nhưng thành phần rất đa dạng Hiện nay dầu mỏ chủ yếu

nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra các sản phẩm của ngành hóa dầu như dung môi, phân bón hóa học, nhựa, thuốc trừ sâu, nhựa đường Khoảng 88% dầu thô dùng để sản xuất năng lượng, 12% còn lại dùng cho hóa dầu Do dầu thô là nguồn năng lượng không tái tạo nên nhiều người lo ngại về khả năng cạn kiệt dầu trong một tương lai không xa

a. Sự hình thành dầu mỏ:

Có nhiều lý thuyết giải thích việc hình thành dầu mỏ

Theo lý thuyết tổng hợp sinh học được nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu mỏ phát sinh từ những xác chết của các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thực vật bị chôn trong đất Khi thiếu khí ôxy, bị đè nén dưới áp suất và ở nhiệt độ cao các chất hữu

cơ trong các sinh vật này được chuyển hóa thành các hợp chất tạo nên dầu Dầu tích tụ trong các lớp đất đá xốp, do nhẹ hơn nước nên dầu di chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp phải các lớp đất đá không thẩm thấu thì tích tụ lại ở đấy và tạo thành một mỏ dầu

Cuối thế kỷ 19 nhà hóa học người Nga Dmitri Ivanovich Mendeleev đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hình thành của dầu mỏ Theo lý thuyết này dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hóa học giữa cacbua kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng trái đất tạo thành các hiđrocacbon và sau đó bị đẩy lên trên Các vi sinh vật sống trong lòng đất qua hàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp hiđrôcacbon khác nhau Lý thuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học, tạo thành trường phái Nga - Ukraina trong việc giải thích nguồn gốc dầumỏ

Lý thuyết thứ ba, được giải thích trong nguyệt san khoa học Scientific American

vào năm 2003, cho rằng các hợp chất hyđrocacbon được tạo ra bởi những phản ứng hạt nhân trong lòng Trái Đất

Trang 8

b. Lịch sử phát hiện và sử dụng dầu mỏ:

Do nhẹ hơn nước nên dầu xuất hiện lộ thiên ở nhiều nơi, vì thế loài người đã tìm thấy dầu hằng ngàn năm trước Công Nguyên Thời đó dầu thường được sử dụng trong chiến tranh Còn rất nhiều dấu tích của việc khai thác dầu mỏ được tìm thấy

ở Trung Quốc khi dân cư bản địa khai thác dầu mỏ để sử dụng trong việc sản xuất muối ăn như các ống dẫn dầu bằng tre được tìm thấy có niên đại vào khoảng thế

kỷ 4 Khi đó người ta sử dụng dầu mỏ để đốt làm bay hơi nước biển trong các ruộng muối

Mãi đến thế kỷ 19 người ta mới bắt đầu khai thác dầu theo mô hình công nghiệp, xuất phát từ việc tìm kiếm một chất đốt cho đèn vì dầu cá voi quá đắt tiền chỉ những người giàu mới có khả năng dùng trong khi nến làm bằng mỡ thì lại có mùi khó ngửi Vì thế giữa thế kỷ thứ 19 một số nhà khoa học đã phát triển nhiều

phương pháp để khai thác dầu một cách thương mại Năm 1852 một nhà bác sĩ và địa chất người Canada tên là Abraham Gessner đã đăng ký một bằng sáng chế sản xuất một chất đốt rẻ tiền và đốt tương đối sạch Năm 1855 nhà hóa học người Mỹ Benjamin Silliman đề nghị dùng axit sunfuric làm sạch dầu mỏ dùng để làm chất đốt

Người ta cũng bắt đầu đi tìm những mỏ dầu lớn Những cuộc khoan dầu đầu tiên được tiến hành trong thời gian từ 1857 đến 1859 Lần khoan dầu đầu tiên có lẽ diễn ra ở Wietze, Đức, nhưng cuộc khoan dầu được toàn thế giới biết đến là của Edwin L Drake vào ngày 27 tháng 8 năm 1859 ở Oil Creek, Pennsylvania Drake khoan dầu theo lời yêu cầu của nhà công nghiệp người Mỹ George H Bissel và đãtìm thấy mỏ dầu lớn đầu tiên chỉ ở độ sâu 21,2 m

c. Thành phần:

Các thành phần hóa học của dầu mỏ được chia tách bằng phương pháp chưng cất phân đoạn Các sản phẩm thu được từ việc lọc dầu có thể kể đến là dầu hỏa, benzen, xăng, sáp parafin, nhựa đường v.v

Một cách chính xác thì dầu mỏ là hỗn hợp của các hiđrôcacbon, là hợp chất của hiđrô và cacbon

Trong điều kiện thông thường, bốn alkan nhẹ nhất — CH4 (mêtan), C2H6 (êtan), C3H8 (prôpan) và C4H10 (butan) — ở dạng khí, sôi ở nhiệt độ -161.6°C, -88.6°C, -42°C, và -0.5°C tương ứng (-258.9°, -127.5°, -43.6°, và +31.1°F)

Các chuỗi trong khoảng C5-7 là các sản phẩm dầu mỏ nhẹ, dễ bay hơi Chúng được

sử dụng làm dung môi, chất làm sạch bề mặt và các sản phẩm làm khô nhanh khác Các chuỗi từ C6H14 đến C12H26 bị pha trộn lẫn với nhau được sử dụng trong

Trang 9

đời sống với tên gọi là xăng Dầu hỏa là hỗn hợp của các chuỗi từ C10 đến C15, tiếp

theo là dầu điêzen/dầu sưởi (C10 đến C20) và các nhiên liệu nặng hơn được sử dụngcho động cơ tàu thủy Tất cả các sản phẩm từ dầu mỏ này trong điều kiện nhiệt độ phòng là chất lỏng

Các dầu bôi trơn và mỡ (dầu nhờn) (kể cả Vadơlin®) nằm trong khoảng từ C16 đếnC20

Các chuỗi trên C20 tạo thành các chất rắn, bắt đầu là sáp parafin, sau đó là hắc ín

và nhựa đường bitum

Khoảng nhiệt độ sôi của các sản phẩm dầu mỏ trong chưng cất phân đoạn trong điều kiện áp suất khí quyển tính theo độ C là:

Xăng ête: 40-70°C (được sử dụng như là dung môi)

Xăng nhẹ: 60-100°C (nhiên liệu cho ô tô)

Xăng nặng: 100-150°C (nhiên liệu cho ô tô)

Dầu hỏa nhẹ: 120-150°C (nhiên liệu và dung môi trong gia đình)

Dầu hỏa: 150-300°C (nhiên liệu )

Dầu điêzen (diesel oil, DO): 250-350°C (nhiên liệu cho động cơ điêzen/dầu sưởi)Dầu bôi trơn: > 300°C (dầu bôi trơn động cơ)

Các thành phần khác: hắc ín, nhựa đường, các nhiên liệu khác

d. Các loại dầu thường được vận chuyển trên biển:

mỏ có thành phần chưng cất nằm giữa dầu hoả (kesosene) và dầu bôi trơn

(lubricating oil) Chúng thường có nhiệt độ bốc hơi từ 175 đến 370 độ C Các nhiên liệu Diesel nặng hơn, với nhiệt độ bốc hơi 315 đến 425 độ C còn gọi là dầu Mazut (Fuel oil)

Dầu Diesel được đặt tên theo nhà sáng chế Rudolf Diesel, và có thể được dùng trong loại động cơ đốt trong mang cùng tên, động cơ Diesel

Trang 10

+ dầu FO nhẹ có độ sôi 200-3000C, tỷ trọng 0,88-0,92.

+ dầu FO nặng có độ sôi lớn hơn 3200C và tỷ trọng 0,92-1,0 hay cao hơn

Tỷ trọng dầu ngoài phụ thuộc vào nhiệt độ, còn phụ thuộc vào rất nhiều nguyên nhân: thành phần vi chất, độ nhớt , nguồn gốc địa lý Trung bình nó ở khoảng 0,9 tức là nhẹ hơn nước nguyên chất một chút

Một số thông tin thêm cho bạn:

+ Độ nhớt của dầu FO rất cao và thay đổi trong phạm vi rộng từ

250-7.000 đơn vị Red-Wood chuẩn, trong khi đó độ nhớt của dầu đo chỉ là 40-70 đơn vị

+ Dầu FO có thể đem chưng cất trong chân không để cho dầu bôi

trơn, sáp hay nhựa đường và dầu DO tùy theo loại dầu thô ban đầu Dầu hôi: Có tỷtrọng khoảng 0,78-0,83, phạm vi độ sôi 160-2800C, nó là sản phẩm của quá trình chưng cất dầu thô Ngoài công dụng thắp sáng, người ta còn dùng dầu hôi để chạy máy kéo

3. Các vụ tràn dầu trên biển:

là từ tháng 1 đến tháng 6-2007 đã liên tục xuất hiện rất nhiều vết dầu ở 20 tỉnh venbiển từ đảo Bạch Long Vĩ xuống mũi Cà Mau Các tỉnh này đã thu gom được 1,720.9 tấn dầu

Ngày 26/12/1992, Mỏ Bạch Hổ, vỡ ống dẫn mềm từ tàu dầu đến phao nạp làm tràn 300-700 tấn dầu FO

Năm 1994, tàu Neptune Aries đâm vào cầu cảng Cát Lái -Tp.HCM (tràn 1.864 tấndầu DO

Ngày 7/9/2001, vụ va quệt giữa tàu Formosa One (quốc tịch Liberia) và tàu

Petrolimex 01 của Vitaco thành phố Hồ Chí Minh đã làm cho 900 tấn dầu của tàu Petrolimex đổ xuống biển Vũng Tàu gây ô nhiễm một vùng rộng lớn

Trang 11

Khoảng 11h 20/03/2003, tàu Hồng Anh thuộc công ty TNHH Trọng Nghĩa, chở

600 tấn dầu F.O thông từ Cát Lái tới Vũng Tàu, nhưng khi đến phao số 8 (Vũng Tàu) thì bị sóng lớn đánh chìm Dầu bắt đầu loang rộng ra vùng biển Cần Giờ, TP HCM

Năm 2005, tàu Kasco Monrovia tại Cát Lái – Tp HCM (tràn 518 tấn dầu DO)

Vào hồi 17giờ ngày 30/01/2007, hàng ngàn khách du lịch và người dân đang tắm biển tại bãi biển Cửa Đại -Hội An (Quảng Nam), Non Nước (Đà Nẵng) hốt hoảngchạy dạt lên bờ, khi phát hiện ra một lớp dầu đen kịt ồ ạt tràn vào đất liền.Thảm dầu kéo dài gần 20km từ khu vực biển Đà Nẵng đến Quảng Nam Một thảm hoạ sinh thái đang hiển hiện trên bờ biển được đánh giá đẹp nhất hành tinh

Cuối tháng 2/2007, dầu vón cục xuất hiện trên bờ biển 3 xã thuộc huyện lệ thủy – quảng bình Sau hơn 10 ngày, dầu đã loang ra trên 60 km bờ biển biển từ Ngư Thủy đến Thanh Trạch (huyện Bố Trạch) với mật độ ngày càng tăng Một số bãi tắm đẹp như Hải Ninh (Quảng Ninh); Nhật Lệ, Bảo Ninh, Quang Phú (Đồng Hới);

Đá Nhảy (Bố Trạch) đã bị dầu tấp vào

Ngày 28/02/2007,ngupời dân phản ánh hiện tuợng cá, tôm nổi lên mặt nước, dạt vào hai bờ trên sông Cầu và lớp váng, cặn dầu nổi trên bề mặt từ khu vực phường Quan Triều đến khu vực phường Cam Giá (TP Thái Nguyên) Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Công an tỉnh Thái Nguyên đã điều tra làm rõ nguyên nhân là do Nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn làm rò rỉ dầu ra sông Cầu

Trong sáng 12/3/2007, nhiều người dân ven biển các quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng bất ngờ phát hiện lớp lớp dăm gỗ vụn từ ngoài biển theo gió dạt vào bờ, “tấn công” toàn bộ 10km bãi biển xinh đẹp của Đà Nẵng

Ngày 19/04/2007, dầu loang xuất hiện ở vùng biển Nha Trang và Ninh Thuận Tại Khánh Hòa, dầu loang vào tới bãi biển ngay trung tâm TP du lịch Nha Trang Ở Ninh Thuận dầu loang kéo dài hàng chục km bờ biển

Cuối tháng 10/2007, tàu vận tải biển New Oriental bị lâm nạn và chìm đắm ở vùngbiển xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên Vết dầu đã loang ra cách vị trí tàu bị chìm về hướng Tây Nam khoảng 500m với diện rộng, ước tính khoảng 25ha

Đêm 23/12/2007, trên vùng biển cách mũi Ba Làng An - xã Bình Châu - huyện Bình Sơn - Quảng Ngãi khoảng 3 hải lý, hai chiếc tàu chở hàng đã đâm nhau, làm hơn 170 mét khối dầu diezel tràn ra biển Đây là vụ tai nạn giữa hai tàu chở hàng

có trọng tại lớn lần đầu tiên trên vùng biển Quảng Ngãi Tuy nhiên, đến chiều 24/12 vẫn chưa có biện pháp khắc phục

Ngày đăng: 12/05/2016, 11:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w