Theo đó, vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc và quy định ý thức nên trong mọi hoạt động cần xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng các quy luật vốn có của sự vật, hiện tượng; đồ
Trang 1Câu hỏi 1 Định nghĩa, nội dung và ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I Lênin?
Câu trả lời gồm bốn ý lớn
1) Các quan niệm về vật chất của các nhà duy vật trước Mác hoặc đồng nhất vật chất với các dạng vật chất cụ thể (triết học duy vật cổ đại); hoặc đồng nhất vật chất với các dạng vật chất cụ thể và tính chất của chúng (triết học duy vật thế kỷ XVII-XVIII)
2) Các phát minh của của vật lý học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã bác bỏ quan niệm đồng nhất vật chất với các dạng cụ thể của vật chất hoặc với thuộc tính của vật chất của các nhà triết học duy vật cổ đại và cận đại Tia X- là sóng điện từ có bước sóng rất ngắn; sau khi bức xạ ra hạt Anpha, nguyên tố Urani chuyển thành nguyên tố khác; điện tử là một trong những thành phần tạo nên nguyên tử; khối lượng của các điện tử tăng lên khi vận tốc của điện tử tăng Từ góc độ triết học, chủ nghĩa duy tâm đã giải thích sai lệch các phát minh trên; thậm chí các nhà khoa học cho rằng vật chất (được họ đồng nhất với nguyên tử và khối lượng) tiêu tan mất do vậy chủ nghĩa duy vật đã mất cơ sở để tồn tại Điều này đòi hỏi khắc phục “cuộc khủng hoảng” phương pháp luận của vật lý; tạo đà cho phát triển tiếp theo của nhận thức duy vật biện chứng
về vật chất, về những tính chất cơ bản của nó
3) Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Những nội dung cơ bản của định nghĩa vật chất của V.I.Lênin
a Vật chất là gì?
+) Vật chất là phạm trù triết học nên vừa có tính trừu tượng vừa có tính cụ thể
*) Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc tính chung, bản chất nhất của vật chất- đó là đặc tính tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và đây cũng là tiêu chí duy nhất để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất
*) Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan của con người; chỉ có thể nhận thức được vật chất thông qua việc nghiên cứu các sự vật, hiện tượng vật chất cụ thể
+) Vật chất là thực tại khách quan có đặc tính cơ bản là tồn tại không phụ thuộc vào các giác quan của con người
+) Vật chất có tính khách thể- con người có thể nhận biết được vật chất bằng các giác quan b) Ý thức là gì?
Trang 2ý thức là sự chép lại, chụp lại, phản ánh lại thực tại khách quan bằng các giác quan Nhờ đó, con người trức tiếp hoặc gián tiếp nhận thức được thực tại khách quan Chỉ có những sự vật, hiện tượng của thực tại khách quan chưa được con người nhận biết biết chứ không thể không biết c) Nội dung thứ ba được suy ra từ hai nội dung trên để xác định mối quan hệ biện chứng giữa thực tại khách quan (vật chất) với cảm giác (ý thức)
Vật chất (cái thứ nhất) là cái có trước, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý thức và quy định ý thức
Ý thức (cái thứ hai) là cái có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất và như vậy, vật chất là nội dung, là nguồn gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh Tuy nhiên,
ý thức tồn tại độc lập tương đối so với vật chất và có tác động, thậm chí chuyển thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào quần chúng và được quần chúng vận dụng
4) Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của định nghĩa đối với hoạt động nhận thức và thực tiễn
a) Định nghĩa đưa lại thế giới quan duy vật biện chứng về vấn đề cơ bản của triết học
Về mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của triết học, định nghĩa khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức (khắc phục quan điểm về vật chất của chủ nghĩa duy vật cổ và cận đại về vật chất)
Về mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, định nghĩa khẳng định ý thức con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất (chống lại thuyết không thể biết và hoài nghi luận) Thế giới quan duy vật biện chứng xác định được vật chất trong lĩnh vực xã hội; đó là tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội, kinh tế quy định chính trị v.v và tạo cơ sở lý luận cho các nhà khoa học tự nhiên, đặc biệt là các nhà vật lý vững tâm nghiên cứu thế giới vật chất
b) Định nghĩa đưa lại phương pháp luận biện chứng duy vậtcủa mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức Theo đó, vật chất có trước ý thức, là nguồn gốc và quy định ý thức nên trong mọi hoạt động cần xuất phát từ hiện thực khách quan, tôn trọng các quy luật vốn có của
sự vật, hiện tượng; đồng thời cần thấy được tính năng động, tích cực của ý thức để phát huy tính năng động chủ quan nhưng tránh chủ quan duy ý chí mà biểu hiện là tuyệt đối hoá vai trò, tác dụng của ý thức, cho rằng con người có thể làm được tất cả mà không cần đến sự tác động của các quy luật khách quan, các điều kiện vật chất cần thiết
Câu 2 Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc của ý thức? Ý nghĩa ppl
Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Trang 3Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức là bộ óc con người và hoạt động của nó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người từ đó tạo ra khả năng hình thành ý thức của con người về thế giới khách quan Như vậy, ý thức chính là sự phản ánh của con người về thế giới khách quan
- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trinh tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (tức phản ánh ý thức) Những hình thức này tương ứng với quá trình tiến hoá của vật chất tự nhiên
+ Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh Phản ánh vật
lý, hoá học thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá (thay đổi kết cấu, vị trí, tính chất lý - hoá qua quá trình kết hợp, phân giải các chất) khi có sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
+ Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh
Tương ứng với quá trình phát triển của giới tự nhiên hữu sinh, phản ánh sinh học được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, thay đổi cấu trúc, v.v khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật
có hệ thần kinh tạo ra năng lực cam giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên
cơ thể sống
- Nguồn gốc xã hội của ý thức:
Nhân tố cơ bản nhất và trực tiếp nhất tạo thành nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ
+ Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với giới tự nhiên Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động vào bộ óc người, thông qua hoạt động của bộ não con người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung
Như vậy, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động
Trang 4+ Ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất” của ý thức, tức hình thức vật chất nhân tạo đóng vai trò thể hiện
và lưu giữ các nội dung ý thức
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ nhu cầu phải có phương tiện để giao tiếp, trao đổi tri thức, tình cảm, ý chí, giữa các thành viên trong cộng đồng con người Nhu cầu này làm cho ngôn ngữ nảy sinh và phát triển ngay trong quá trình lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt xã hội Nhờ có ngôn ngữ, con người không chỉ giao tiếp, trao đổi trực tiếp
mà còn có thể lưu giữ, truyền đạt nội dung ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác
Kết cấu của ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn, nên bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất
- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức
là do thế giới khách quan quy định, nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan, là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý, vật chất như chủ nghĩa duy vật tầm thường quan niệm
- Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, cũng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo thế giới
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì nó bao giờ cũng do nhu cầu thực tiễn quy định Nhu cầu đó đòi hỏi chủ thể phản ánh phải hiểu được cái được phản ánh Trên cơ sở đó hình thành nên hình ảnh
tinh thần và những hình ảnh đó ngày càng phản ánh đúng đắn hơn hiện thực khách quan Song,
sự sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh, dựa trên cơ sở phản ánh
+ Phản ánh ý thức là sáng tạo, vì phản ánh đó bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn và là sản phẩm của các quan hệ xã hội Là sản phẩm của các quan hệ xã hội, bản chất của ý thức có tính xã hội
Quan điểm trên của triết học Mác về nguồn gốc và bản chất của ý thức hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy tâm coi ý thức, tư duy là cái có trước, sinh ra vật chất và chủ nghĩa duy vật tầm thường coi ý thức là một dạng vật chất hoặc coi ý thức là sự phản ánh giản đơn, thụ động thế giới vật chất
Ý nghĩa phương pháp luận
1 Do ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan Cần phải chống bệnh chủ quan duy ý chí
Trang 52 Do ý thức là sự phản ánh tự giác, sáng tạo hiện thực, nên cần chống tư tưởng thụ động và chủ nghĩa giáo điều xa rời thực tiễn
Câu 3 Hai nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật và ynppl
* Phép biện chứng là gì?
Phép biện chứng chẳng qua là khoa học về các quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng được thể hiện cô đọng trong hai nguyên lý Đó là “nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng” và “nguyên lý về sự phát triển”
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ sự tác động và ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuển hóa lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố, các bộ phận trong một sự vật hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
a, Nội dung của nguyên lý
- Các sự vật, hiện tượng trong thế giới có mối liên hệ với nhat không? Nếu có thì tính chất của các mối liên hệ đó như thế nào và ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này như thế nào?
- Phép siêu hình cho rằng: các sự vật, hiện tượng trong TGKQ không có liên hệ gì với nhau, chúng tồn tại một cách biệt lập nhau Do đó, không có sự tác động qua lại, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau Đây là một quan niệm sai lầm, không phản ánh đúng bản chất của thế giới
VD: Trong tự nhiên: Giới tự nhiên là một thể thống nhất, nó phụ thuộc lẫn nhau Nếu một loài sinh vật tuyệt chủng thì mắt xích của sự sống trên thế giới sẽ bị tổn thương
Trong xã hội, các sự kiện kinh tế - chính trị ở một quốc gia nào đó không chỉ ảnh hưởng đến quốc gia đó mà còn lan tỏa khắp thế giới
Về tư duy, các truyền thống, phong tục tập quán ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong cộng đồng Hay như ông cho có câu “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”
- Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như cá bộ phận của chúng không tồn tại biệt lập với nhau mà có sự liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù mối liên hệ phổ biến để khái quát thực trạng trên
- Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới Trên cơ sở đó, phép biện chứng duy vật xem xét thế giơi như một chỉnh thể Theo đó, các sự vật, hiện tượng dù có phong phú, đa dạng thế nào thì cũng chỉ là những dạng cụ thể của một thế giới duy nhất và thống nhất – thế giới vật chất
Trang 6- Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau: Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bội phận, yếu
tố trong cùng một sự vật, hiện tượng luôn tồn tại trong những mối liên hệ, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng chủ yếu được bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng Để thấy rõ hơn nội dung này, hãy xem xét các khía cạnh sau:
- Về sự tồn tại của các mối liên hệ:
+ Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ quan cho rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay ở ý thức, cảm giác của con người
+ Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc
và quy định lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là những quy định
bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, song các hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau
+ Những người theo quan điểm biện chứng duy vật cho rằng: các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau; Tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất – thế giới vật chất Nhờ
có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định
- Về vai trò của các mối liên hệ:
+ Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện
sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau
+ Do sự tồn tại cũng như bản chất của sự vật hiện tượng cũng chỉ bộc lộ qua các mối quan hệ, cho nên, trong hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thưc, chúng ta không được tuyệt đối hóa, hay xem nhẹ một mối quan hệ nào, cũng không nên tách rời các mối qaun hệ với nhau mà phải tính đến tổng thể các mối liên hệ trong sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
b, Tính chất của mối liên hệ:
Gồm 3 tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú
Trang 7- Tính khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng; nó không phụ thuộc vào ý thức con người
- Tính phổ biến của mối liên hệ biểu hiện: bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào; ở bất kỳ không gian nào và ở bất kỳ thời gian nào cũng có mối liên hệ với những sự vật hiện tượng khác Ngay trong cùng một sự vật, hiện tượng thì bất kỳ một thành phần nào, một yếu tố nào cũng có mối liên hệ với những thành phần, những yếu tố khác
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ biểu hiện: sự vật khác nhau, hiện tượng khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ biểu hiện khác nhau Phát triển
có thể từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
VD: sự học tập phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn; sự sống phát triển từ đơn giản (đơn bào) đến phức tạp (động vật)
2 Nguyên lý về sự phát triển
a Nội dung nguyên lý:
Trong thế giới, các sự vật, hiện tượng cũng như các bộ phận của chúng không tồn tại một cách tĩnh tại, bất biến mà luôn vận động, chuyển hóa lẫn nhau, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật
cũ Phép biện chứng duy vật sử dụng phạm trù phát triển để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, hiện tượng
- Cơ sở của nguyên lý này là quan niệm về vật chất vận động, theo đó, vật chất luôn luôn vận động, không có vận động nào lại không phải là vận động của vật chất; vận động là thuộc tính của sự vật, là phương thức tồn tại của vật chất
- Nội dung cơ bản của nguyên lý về sự phát triển được thể hiện ở những điểm sau:
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động, phát triển, trong đó phát triển được xem như trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới cao hơn, hoàn thiện hơn Phương thức của sự phát triển là sự thay đổi
về chất trên cơ sở những thay đổi về lượng Nguồn gốc, động lực của sự phát triển là những mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, hiện tượng, khuynh hướng của sự phát triển diễn ra theo đường “xoáy ốc”
- Để hiểu rõ nội dung này, chúng ta hãy xem xét cá khía cạnh sau:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay sự giảm đi đơn thuần về mặt lượng, không có sự thay đổi gì về mặt chất của sự vật; hoặc nếu có sự thay đổi nhất định về chất thì sự thay đổi ấy cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín, chứ không có sự sinh thành ra cái mới với những chất mới
Trang 8+ Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lập lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn
+ Quan điểm siêu hình phủ nhận sự phát triển, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng từ lúc sinh ra cho đến lức mất đi không hề phát triển
b, Tính chất của sự phát triển :
Ba tính chất cơ bản : Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
- Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan Bởi vì, theo quan điểm duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật Đó là quá trình giải quyết liên tục những mâu thuẫn nảy sinh trong sự tồn tại và vận động của sự vật, nhờ đó sự vật luôn phát triển
- Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
3 Ý nghĩa phương pháp luận :
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần có quan điểm toàn diện Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật với sự vật và hiện tượng khác
Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động
và phát triển của sự vật
- Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong TGKQ là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có những quan đểm phát triển Quam điểm phát triển đòi hỏi: phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật
Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật
và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao
Câu 4 Phân tích nội dung quy luật lượng chất và ynppl
Trang 9QUY LUẬT 1: Nội dung và ý nghĩa của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là một trong
ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này chỉ rõ cách thức của sự phát triển của sự vật, hiện tượng
I Nội dung của quy luật lượng và chất
Mọi sự vật, hiện tượng đều là một thể thống nhất của hai mặt chất và lượng Để hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt này, trước hết cần phải nắm vững các khái niệm về chất và lượng
1 Cặp phạm trù chất và lượng
– Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác
Từ quan niệm trên chúng ta không nên đồng nhất khái niệm chất với khái niệm thuộc tính + Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính Nhưng những thuộc tính này không tham gia vào việc quy định chất như nhau, mà chỉ có những thuộc tính cơ bản mới quy định chất của sự vật
Vì thế, chỉ khi nào thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật mới thay đổi Khi các thuộc tính không cơ bản có thể thay đổi, nhưng không làm cho chất của sự vật thay đổi
+ Mặt khác, các thuộc tính cũng như chất của sự vật chỉ bộc lộ qua những mối liên hệ cụ thể
Do đó, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất và thuộc tính cũng chỉ là tương đối Và như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng không chỉ có một chất, mà có nhiều chất tuỳ theo
những mối quan hệ cụ thể của nó với những cái khác
+ Chất biểu hiện tính ổn định tương đối của sự vật, là cái vốn có và không tác rời sự vật Do đó, không thể có chất tồn tại “thuần tuý” hoặc là phụ thuộc vào cảm giác chủ quan của con người như các nhà triết học duy tâm chủ quan quan niệm
– Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy
mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính, các yếu tố… cấu thành sự vật
+ Đặc trưng của lượng được biểu thị bằng con số hoặc các đại lượng chỉ kích thước dài hay ngắn, quy mô to hay nhỏ, tổng số nhiều hay ít, trình độ cao hay thấp, tốc độ nhanh hay chậm v.v Nhưng đối với các sự vật phức tạp, không thể chỉ diễn tả bằng những con số chính xác, mà còn phải được nhận thức bằng khả năng trừu tượng hoá
+ Cũng giống như chất, lượng là cái khách quan vốn có bên trong của sự vật
Trang 10+ Sự phân biệt giữa chất và lượng cũng là tương đối, nghĩa là, có cái ở trong quan này là chất, nhưng trong quan hệ khác là lượng và ngược lại Do đó, cần chống quan điểm siêu hình tuyệt đối hoá ranh giới giữa chất và lượng
2 Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
– Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định, còn lượng thường xuyên biến đổi Song, hai mặt đó không tách rời nhau, mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng Sự thống nhất giữa chất và lượng ở trong một độ nhất định, khi sự vật đang tồn tại
Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn,
mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Điểm giới hạn
mà khi lượng đạt tới sẽ làm thay đổi về chất của sự vật thì gọi là điểm nút
Điểm nút: Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy Đó là bước ngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sự vật Do vậy có thể nói phát triển là sự “đứt đoạn” trong liên tục, là trạng thái liên hợp của các điểm nút
– Khi sự vật mới ra đời với chất mới lại có một lượng mới phù hợp, tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng Sự tác động của chất mới đối với lượng mới được biểu hiện ở quy mô, nhịp điệu phát triển mới của lượng
Tóm lại: Quy luật lượng – chất đã chỉ rõ cách thức biến đổi của sự vật và hiện tượng Trước hết, lượng biến đổi dần dần và liên tục và khi đạt đến điểm nút (Giới hạn của sự thống nhất giữa chất và lượng) sẽ dẫn đến bước nhảy về chất; chất mới ra đời lại tạo nên sự thống nhất mới giữa chất và lượng
Tất nhiên, thế giới sự vật, hiện tượng là đa dạng, phong phú, do đó hình thức của các bước nhảy cũng rất đa dạng và phong phú
II Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra các kết luận có ý nghĩa phương pháp luận sau đây:
– Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về chất Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật Trong hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như “tích tiểu thành đại”, “năng nhặt, chặt bị”, “góp gió thành bão”,… Những việc làm vĩ đại của con người bao giờ cũng là sự tổng hợp của những việc làm bình thường của con người