1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam

698 686 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 698
Dung lượng 25,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vùng ven bờ biển (coastal zone) là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển (đại dương), luôn chịu tương tác giữa quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng biển và thuỷ triều), giữa các hệ thống tự nhiên (coastal system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng ven bờ biển (hoặc tài nguyên bờ coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các ngành trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác. Vì thế, miền bờvùng ven bờ biển còn được gọi là miền tương tác, nhưng trong thực tế khi quản lý vùng ven bờ biển người ta thường rất ít quan tâm đến mối quan hệ bản chất này. Đặc tính trên cũng tạo ra tính đa dạng về kiểu loại và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên tiền đề phát triển đa ngành (multiuse), đa mục tiêu ở vùng ven bờ biển. Trong khi đó vùng ven bờ biển lại chỉ được quản lý theo ngành (sectoral management), dẫn đến gia tăng mâu thuẫn lợi ích (benefit conflict) và xung đột giữa những người hưởng dụng (hưởng thụ và sử dụng) tài nguyên bờ.Vùng ven bờ biển là nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển, đặc biệt của các ngành kinh tế biển và kinh tế liên quan nên các ngành chủ động quản lý theo thẩm quyền trong quá trình khai thác không gian sử dụng tài nguyên bờ hoặc quản lý từng vấn đề chuyên biệt (quản lý ô nhiễm, chất thải,...)Vùng ven bờ biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng vì ở đây có nguồn tài nguyên giàu có và là nơi tập trung dân cư với mức độ cao. Các vùng đất ven bờ biển màu mỡ, nguồn tài nguyên biển dồi dào, dễ dàng giao lưu buôn bán với Quốc tế. Chính vì vậy vùng ven bờ biển ngày càng được sự quan tâm sâu sắc của con người. Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, xếp thứ 27156 Quốc gia có biển trên thế giới, là vùng kinh tế sinh thái – nhân văn rất đa dạng, phân dị rõ nét, trải dài trên 13 vĩ độ thuộc 28 tỉnh, thành, có trên 2.700 hòn đảo lớn nhỏ, là cửa mở liên thông ra Thái Bình Dương, có 10 đường hàng hải giao lưu với nhiều nước, vùng lãnh thổ và các thị trường rộng lớn trên khắp thế giới. Tính chất đặc thù của vùng ven bờ biển Việt Nam cũng tạo ra những cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển đất nước nói chung.Các vùng ven bờ biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, phân hóa rõ từ bắc vào Nam, có các hệ sinh thái đặc trưng ở vùng ven bờ biển gần bờ trên đất liền. Các vùng có những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế và ứng phó với những tai biến thiên nhiên như bão, lũ, lụt, hạn hán,...Sự phát triển kinh tế xã hội cũng như bản sắc và truyền thống văn hoá ở các miền cũng có sự khác nhau. Bắc Bộ phát triển hai hành lang kinh tế, một vành đai kinh tế; Trung Bộ có hành lang kinh tế đông tây; còn Nam Bộ có các hành lang kinh tế đông tây và hành lang biên giới. Những điều kiện nêu trên nói lên tính cấp thiết của việc phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam. Những định hướng chiến lược của Chính phủ, các Bộ, ban ngành ở Trung ương cũng như các tỉnh đến năm 2020 đã được hoạch định.

Trang 1

cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các ngành trên cùng

địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác Vì thế, miền

bờ/vùng ven bờ biển còn được gọi là miền tương tác, nhưng trong thực tế khi quản lý

vùng ven bờ biển người ta thường rất ít quan tâm đến mối quan hệ bản chất này

Đặc tính trên cũng tạo ra tính đa dạng về kiểu loại và sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên - tiền đề phát triển đa ngành (multi-use), đa mục tiêu ở vùng ven bờ biển Trong khi đó vùng ven bờ biển lại chỉ được quản lý theo ngành (sectoral management), dẫn đến gia tăng mâu thuẫn lợi ích (benefit conflict) và xung đột giữa những người

hưởng dụng (hưởng thụ và sử dụng) tài nguyên bờ

Vùng ven bờ biển là nơi tập trung sôi động các hoạt động phát triển, đặc biệt củacác ngành kinh tế biển và kinh tế liên quan nên các ngành chủ động quản lý theo thẩmquyền trong quá trình khai thác không gian sử dụng tài nguyên bờ hoặc quản lý từng vấn

đề chuyên biệt (quản lý ô nhiễm, chất thải, )

Vùng ven bờ biển có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế- xãhội và đảm bảo an ninh quốc phòng vì ở đây có nguồn tài nguyên giàu có và là nơi tậptrung dân cư với mức độ cao Các vùng đất ven bờ biển màu mỡ, nguồn tài nguyên biểndồi dào, dễ dàng giao lưu buôn bán với Quốc tế Chính vì vậy vùng ven bờ biển ngàycàng được sự quan tâm sâu sắc của con người

Bờ biển Việt Nam dài 3.260km, xếp thứ 27/156 Quốc gia có biển trên thế giới, làvùng kinh tế - sinh thái – nhân văn rất đa dạng, phân dị rõ nét, trải dài trên 13 vĩ độ thuộc

28 tỉnh, thành, có trên 2.700 hòn đảo lớn nhỏ, là cửa mở liên thông ra Thái Bình Dương,

có 10 đường hàng hải giao lưu với nhiều nước, vùng lãnh thổ và các thị trường rộng lớntrên khắp thế giới Tính chất đặc thù của vùng ven bờ biển Việt Nam cũng tạo ra những

cơ hội và thách thức đối với quá trình phát triển đất nước nói chung

Các vùng ven bờ biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên phong phú và đa dạng, phânhóa rõ từ bắc vào Nam, có các hệ sinh thái đặc trưng ở vùng ven bờ biển gần bờ trên đấtliền

Trang 2

Các vùng có những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế và ứng phó vớinhững tai biến thiên nhiên như bão, lũ, lụt, hạn hán, Sự phát triển kinh tế - xã hội cũngnhư bản sắc và truyền thống văn hoá ở các miền cũng có sự khác nhau Bắc Bộ phát triểnhai hành lang kinh tế, một vành đai kinh tế; Trung Bộ có hành lang kinh tế đông tây; cònNam Bộ có các hành lang kinh tế đông tây và hành lang biên giới Những điều kiện nêutrên nói lên tính cấp thiết của việc phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển ViệtNam

Những định hướng chiến lược của Chính phủ, các Bộ, ban ngành ở Trung ươngcũng như các tỉnh đến năm 2020 đã được hoạch định

Việc quản lý các hoạt động phát triển trên toàn vùng ven bờ biển Việt Nam, hiệnđang ở tình trạng đơn ngành, đơn đối tượng, riêng lẻ, thiếu sự đồng bộ, đòi hỏi phảiquản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp Quản lý tổng hợp là một quá trình xâydựng sự đồng thuận, liên tục, lặp đi lặp lại, thích ứng và có sự tham gia của các ngànhcộng đồng; phải giải quyết hàng loạt mối quan hệ bao gồm một loạt nhiệm vụ có liênquan, và tất cả các nhiệm vụ đều phải được thực hiện để đạt được các mục tiêu và mụcđích đề ra, cho dù chúng đã được xác định Phân vùng quản lý tổng hợp có thể hiểu là sựphân định không gian vùng ven bờ biển để sử dụng bền vững của nguồn tài nguyên tại đó,giải quyết các mâu thuẫn sử dụng đa mục tiêu

Nếu QLTHVB được thực hiện, thì một khuôn khổ chung phải tồn tại đan chéo giữacác ngành quy hoạch vùng ven bờ biển (khuôn khổ qui hoạch liên ngành) để hoạch địnhcác kế hoạch/dự án kinh tế và dân số, xây dựng các kịch bản cho tương lai, sử dụng các

kỹ thuật phân tích tương tự để đánh giá lợi ích và chi phí của các chiến lược quản lý chọnlựa

Trước khi thực hiện công tác “quy hoạch” trong quản lý tổng hợp chúng ta cầnphải thực hiện phân vùng quản lý tổng hợp Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

là phân chia vùng ven bờ biển của một khu vực, một quốc gia hay một địa phương theocác mục đích, tiêu chí để quản lý các đối tượng, các hoạt động phát triển kinh tế xã hội,bảo vệ môi trường, giảm thiểu tai biến thiên nhiên, mâu thuẫn lợi ích trong xã hội để đạtkết quả sử dụng tài nguyên, môi trường tối ưu, tạo một xã hội phát triển hài hòa và bềnvững Kết quả phân vùng quản lý tổng hợp phải gồm hệ thống hành động và đối tượngquản lý, các đối tượng quản lý là hệ thống phân loại không gian vùng ven bờ biển theochức năng sinh thái, mục tiêu phát triển và tính tương thích của các loại hình sử dụng, hệthống quy định về sử dụng vùng ven bờ biển và kế hoạch phân vùng sử dụng kèm theokhung thể chế để thực thi kế hoạch

Trang 3

Để thực hiện đường lối chỉ đạo của Trung ương cũng như chính quyền 28 tỉnh ven

bờ biển, Chương trình Khoa học và Công nghệ biển phục vụ phát triển bền vững kinh tế

xã hội (KC.09) giai đoạn 2006-2010 đã được phê duyệt và triển khai Đề tài

KC09.27/06-10: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam”, đây là một trong 28 Đề tài được phê duyệt vào năm 2009 nhằm xây

dựng cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp toàn bộ các vùng ven bờbiển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên (ngày 22 tháng 12 năm 2008) Đề tài này được

Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho TS Nguyễn Thế Tưởng làm chủ nhiệm và Viện Tàinguyên, Môi trường và Phát triển bền vững chủ trì (theo hợp đồng số 27/2009/HĐ –ĐTCT-KC.09.27/06-10) Đây là cơ sở pháp lý để chúng tôi triển khai thực hiện đề tài

1 Mục tiêu đạt được của đề tài

- Có được cơ sở khoa học và pháp lý phục vụ phân vùng quản lý tổng hợp vùngven bờ biển Việt Nam

- Phân vùng quản lý ven bờ biển Việt Nam

2 Nhiệm vụ của đề tài

2.1 Thu thập, tổng hợp tài liệu, điều tra bổ sung một số vùng trọng điểm về điềukiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội và chính sách pháp luật về quản lýđới bờ trên thế giới và ở Việt Nam và đánh giá hiện trạng tư liệu của chúng

* Thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xã hội vàchính sách pháp luật về quản lý đới bờ trên thế giới và ở Việt Nam

* Nghiên cứu, điều tra bổ sung điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và nguồnlực, môi trường và tai biến thiên nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, thực thi pháp luật tạimột số vùng trọng điểm nhằm bổ sung và kiểm chứng số liệu hiện có

* Xây dựng các bản đồ và báo cáo chuyên đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môitrường, kinh tế xã hội và chính sách pháp luật về quản lý vùng ven bờ biển Việt Nam

2.2 Nghiên cứu, đánh giá cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùngquản lý tổng hợp đới bờ

2.3 Nghiên cứu, đánh giá cơ sở khoa học và pháp lý cho việc quản lý tổng hợp

đới bờ và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ

2.4 Xây dựng luận chứng khoa học và pháp lý về quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ

2.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ

2.6 Xây dựng bộ tư liệu dạng số (Số hoá, đăng nhập các dữ liệu và báo cáo kết

Trang 4

quả xây dựng cơ sở dữ liệu)

2.7 Tổng kết đề tài

3 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận: hệ thống, lịch sử, tích hợp và liên ngành, sinh thái học, sosánh, phát triển bền vững, quản lý tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu: Thu thập và kế thừa, điều tra bổ sung, phân tích hệthống, phân tích mẫu, xử lý và tổng hợp kết quả xây dựng bản đồ và viết chuyên đề, cơ sở

dữ liệu, chuyên gia

4 Sản phẩm giao nộp

4.1 Báo cáo tổng hợp tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh

tế - xã hội và chính sách pháp luật về quản lý đới bờ trên thế giới và ở Việt Nam

4.1.1 Hệ thống tài liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế - xãhội và chính sách pháp luật về quản lý đới bờ trên thế giới và ở Việt Nam

4.1.2 Nghiên cứu, điều tra bổ sung điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên vànguồn lực, môi trường và tai biến thiên nhiên, hiện trạng kinh tế xã hội, thực thi pháp luật;

bổ sung và kiểm chứng số liệu hiện có

4.1.3 Kết quả phân tích mẫu

4.1.4 Các báo cáo chuyên đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh tế

xã hội và chính sách pháp luật về quản lý vùng ven bờ biển Việt Nam

4.1.5 Báo cáo khoa học về kết quả thu thập tổng hợp, phân tích đánh giá giá trịsinh thái, tài nguyên, môi trường và sự biến động của chúng do các tác động tự nhiên,KTXH, thể chế chính sách

4.2 Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùng quản lý tổng hợp đớibờ

4.3 Cơ sở khoa học và pháp lý cho việc quản lý tổng hợp đới bờ và phân vùngquản lý tổng hợp đới bờ

4.3.1 Cơ sở khoa học tự nhiên:

4.3.1.1 Hệ thống bản đồ về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường tỷ lệ1:500.000 cho toàn đới bờ Việt Nam; tỷ lệ 1/250.000 cho đới bờ Bắc Trung Bộ và NamTrung Bộ phục vụ xây dựng bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp

4.3.1.2 Các báo cáo chuyên đề về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và taibiến thiên nhiên

Trang 5

4.3.2 Cơ sở khoa học về kinh tế xã hội

4.5 Phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ

4.5.1 Bản đồ phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ

4.5.2 Giải pháp thể chế, chính sách, pháp luật phục vụ phân vùng quản lý tổng hợpđới bờ

4.6 Cơ sở dữ liệu

4.7 Báo cáo tổng kết đề tài

Chi tiết về sản phẩm giao nộp trình bày trong Báo cáo thống kê

5 Thời gian thực hiện từ 1/2009 đến 12/2010

6 Cấu trúc của báo cáo

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục (biểu bảng, hình ảnh),báo cáo gồm 5 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận, nội dung, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứuChương II: Cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và taibiến thiên nhiên phục vụ phân vùng và quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam

Trang 6

Chương III: Cơ sở khoa học về sự phát triển kinh tế - xã hội phục vụ phân vùngquản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam

Chương IV: Cơ sở pháp lý phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển ViệtNam

Chương V: Kết quả phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam

Để hoàn thành được nhiệm vụ được giao, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ củaBan chủ nhiệm chương trình KC.09/06-10 Văn phòng các chương trình trọng điểm cấpNhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ), lãnh đạo Viện Tài nguyên, Môi trường và Pháttriển bền vững, lãnh đạo các cơ quan có các cộng tác viên, Chủ nhiệm chương trìnhKC.09/06-10, các đồng nghiệp trong và ngoài Viện Nhân dịp này, chúng tôi xin chânthành cám ơn các cơ quan và các cá nhân trên

Trang 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, NỘI DUNG, CÁCH TIẾP CẬN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU I.1 Cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

I.1.1 Quan niệm về đường bờ

Đường bờ: trong vùng biển có thủy triều người ta phân biệt ra 3 mực nước trung

bình do sự dao động thẳng đứng của thủy triều: triều cao, triều trung bình, triều thấp Mựcnước biển ở vị trí biển trung bình tiếp giáp với bề mặt sườn bờ lục địa gọi là đường bờbiển hay đường 0m lục địa Tùy theo độ triều cao ở các vùng khác nhau mà độ chênh lệchgiữa 3 mực triều cao, 0m hải đồ và 0m lục địa khác nhau Mặt khác do sự tác động củacon người (đắp đê, ngăn cống) mà vị trí đường bờ biển có khác nhau

I.1.2 Quan niệm về vùng ven bờ biển

Quan niệm về vùng ven bờ biển của một số tác giả

Vùng ven bờ biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải ven bờ, hoặc dải bờ biển…) là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn

gốc phát sinh về hình thái, cấu trúc, về cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiếnhóa…Mặc dù đã được nghiên cứu từ lâu nhưng cho đến nay, khái niệm về ven biển vàphạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển vẫn còn là những vấn đề chưa thống nhất, thu hút

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cả trong khoa học tự nhiên và trong khoa học kinh

tế Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với thuật ngữ “vùng ven bờ biển “ của ViệtNam, có các thuật ngữ sau:

- Nga: Vùng duyên hải

- Pháp: Vùng ven bờ biển (Litoral hoặc Côte).

- Anh: Vùng ven bờ biển (Coastal zone)

- Trung Quốc: Vùng diên hải hay vùng duyên hải.

Như vậy, quan niệm về vùng ven bờ biển, việc phân định và các tiêu chí để xácđịnh phạm vi ranh giới vùng ven bờ biển của mỗi nước cũng khác nhau Đồng thời, đốivới từng lĩnh vực khoa học khác nhau cũng có những khái niệm riêng về vùng ven bờbiển và cách tiếp cận riêng để xác định phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển Trong Từđiển Bách khoa các thuật ngữ địa lý tự nhiên (NXB Tiến bộ, Maxcova 1980) vùng ven bờ

biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven bờ biển là dải ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến của các dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền duyên hải – là lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ-

Trang 8

nơi có các dạng bờ biển hiện đại, và ven bờ biển hặc là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập”.

Định nghĩa này được xây dựng dựa trên quan điểm của khoa học địa mạo và địa lý

tự nhiên Cũng theo quan điểm này, một số tác giả khác sử dụng đường đẳng cao 25 métlàm ranh giới phía trong của vùng ven bờ biển Song trong thực tiễn nghiên cứu cho thấy,

ở phạm vi rộng hơn thì cách xác định ranh giới vùng ven bờ biển như trên chưa bao quátđược hết những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nhất làtrong các lĩnh vực khoa học địa lý kinh tế- xã hội, kinh tế học và nhân khẩu học…

Trong Bách khoa toàn thư về hải dương học, các nhà khoa học Xô viết trước đâycũng đưa ra những quan điểm và phương pháp khác nhau về ranh giới vùng ven bờ biển.Song phần lớn các xác định đó chỉ phù hợp trong việc nghiên cứu các vấn đề về tự nhiên,môi trường và tài nguyên thiên nhiên của vùng ven bờ biển Còn đối với các nghiên cứu

về dân cư, kinh tế- xã hội lại chưa bao quát đầy đủ và gặp nhiều khó khăn trong việc thuthập, xử lý các số liệu liên quan

Tại Hội thảo Khoa học quốc gia “Nghiên cứu và quản lý vùng ven bờ biển Việt Nam” tháng 12/1992, Giáo sư Joe Baker của Viện Khoa học biển Autralia đã dẫn ra một

số định nghĩa về vùng ven bờ biển như sau:

Đầu tiên ông cho rằng “Vùng ven bờ biển là độ dài đường bờ của đất nước” (The lineal length of the country’s coastline) Nhưng cũng theo ông, định nghĩa này chưa thật

thỏa đáng vì nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những

biến đổi diễn ra do mối tương tác đó Vì vậy, ông đưa ra định nghĩa khác: “Vùng ven bờ biển là dải đất rộng khoảng 3km dọc bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của thủy triều vào trong đất liền” Tuy định nghĩa này đã đề cập đến sự

tương tác biển- lục địa thông qua tác động của thủy triều, song vẫn còn những hạn chế,nhất là khi nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các

vấn đề về kinh tế- xã hội của vùng ven bờ biển Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vùng ven bờ biển là vùng đất- biển kéo dài từ giới hạn phía trên của lưu vực sông, suối chảy vào biển tới giới hạn ảnh hưởng của lục địa” Tuy nhiên, nếu theo định nghĩa này thì

vùng ven bờ biển nước ta có phạm vi rất rộng và hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ củaViệt Nam Khi đó việc xác định nội dung nghiên cứu, trọng điểm nghiên cứu và quyhoạch phát triển vùng biển ven biển ở nước ta sẽ gặp nhiều khó khăn, không cụ thể vàkhông sát với thực tế

Trong chương trình quản lý nguồn tài nguyên ven biển khu vực Đông Á, khi đềcập đến việc phân định ranh giới của vùng ven bờ biển, các nhà nghiên cứu của các nướcASEAN đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa vấn đề sinh thái nhân văn với các vấn đề địa

Trang 9

kinh tế- xã hội trong việc phân định vùng ven bờ biển Với cách tiếp cận này, các nhànghiên cứu cho rằng vùng ven bờ biển là vùng kinh tế- xã hội và nhân văn có liên quanđến quá trình khai thác tài nguyên ven biển theo quan điểm phát triển bền vững phục vụcho sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Quan điểm phân định này nghiêng

về khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển kinh tế- xã hội, các yếu tố về địasinh thái còn mờ nhạt Mặt khác phạm vi không gian của vùng ven bờ biển ở đây là tươngđối mở và không xác định cụ thể Việc xác định phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển

là bao nhiêu km từ bờ biển vào trong đất liền phụ thuộc vào mức độ đầu tư phát triển củacác ngành dựa vào khai thác các nguồn tài nguyên biển và ven biển của mỗi quốc gia.Theo chúng tôi quan điểm này chỉ phù hợp đối với các quốc gia nhỏ ven biển nhưSingapore và các quốc gia đảo khác

Trong các chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (ICZM) của các nướcASEAN, phần lớn các nước đều dựa vào nguồn lợi của vùng nước lợ và hệ sinh thái nước

lợ xác định ranh giới tương đối của vùng ven bờ biển để xây dựng các kế hoạch phát triển

và quản lý Ví dụ, Malayxia căn cứ vào hệ sinh thái nước lợ ở các vùng ngập mặn nhưrừng sú vẹt, rừng tràm (khoảng 4% lãnh thổ) để xác định vùng ven bờ biển phục vụ chomục đích phát triển kinh tế - xã hội vùng ven bờ biển Malayxia và Philippine lại xác địnhranh giới tương đối của vùng ven bờ biển là từ vùng nước sâu 30 m nước, trong trườnghợp đáy biển gần bờ dốc với độ sâu nước gần bờ lớn có thể láy đến 50 mét nước trên biểnđến nơi có hệ sinh thái nước lợ tồn tại (khoảng 10km) Còn Bangladesh xác định vùngven bờ biển từ đường đẳng sâu 100m đến vùng nước lợ ở các cửa sông lúc triều cường vàvào sâu trong lục địa, tốt nhất là các ranh giới các đơn vị hành chính ven biển

Ở Việt Nam, khái niệm về vùng ven bờ biển cũng đã được đề cập từ lâu dưới nhiềugóc độ khác nhau và trong các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Đặc biệt, từ giữa nhữngnăm 70 của thế kỷ trước đến nay, trong những công trình khoa học liên quan đến nghiêncứu biển và ven biển của nước ta, Các nhà khoa học Việt Nam đã đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau về vùng ven bờ biển và các phương án khác nhau để xác định phạm vi ranhgiới của vùng ven bờ biển

Trong các nghiên cứu hỗ trợ cho lĩnh vực môi trường ở Việt Nam, tổ chức bảo tồnthiên nhiên quốc tế tại Việt Nam (IUCN) cũng rất quan tâm đến vùng ven bờ biển và cho

rằng: “Việc xác đinh thế nào là vùng ven bờ biển rất khó, song có thể nói đó là vùng đất ngập nước, hoặc tính sâu vào nội địa 10km, tuỳ theo khoảng cách nào lớn hơn” Cách

hiểu này là tương đối phù hợp với vùng nghiên cứu những vấn đề về điều kiện tự nhiên vàtài nguyên vùng ven bờ biển Song, đối với các nghiên cứu về dân cư, kinh tế - xã hội củalãnh thổ lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập và tính toán các số liệu thống kê

Trang 10

Trong báo cáo khoa học của Ủy ban quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các chương trình điều tra nghiên cứu biển củaViệt Nam giai đoạn 1977-2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven bờ biển như sau: “Vùng ven

bờ biển Việt Nam chạy dài trên 3200km bờ biển của đất nước, bao gồm 24/50 tỉnh thànhphố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước

Theo cách hiểu như trên thì vùng ven bờ biển nước ta được xác định bởi ranh giớihành chính các huyện có bờ biển Cách xác định này giúp cho việc thu thập và xử lý cáctài liệu, số liệu phục vụ các nghiên cứu về kinh tế xã hội và dân cư rất thuận lợi Song cónhữnghạn chế nhất định, vì các hiện tượng, các đối tượng nghiên cứu về điều kiện tựnhiên và tài nguyên thiên nhiên lại không bị hạn chế bởi ranh giới hành chính Vì vậy,một số chuyên gia khác đã sử dụng giới hạn nhiễm mặn của đất và nước làm ranh giới vềphía lục địa của vùng ven bờ biển

Trong đề tài: “ Đánh giá kinh tế tổng hợp tài nguyên biển Việt Nam phục vụ quyhoạch phát triển kinh tế 2005”, mã số 48B.06.02, do Viện kế hoạch dài hạn và phân bốlực lượng sản xuất, nay là viện chiến lược phát triển thực hiện (1986-1990) các tác giả đãxác định: “ Vùng ven bờ biển bao gồm dải đất liền ven biển (gồm địa giới hành chính của

105 huyện, thị xã và thành phố giáp biển) và phân trên biển gồm toàn bộ vùng biển vàthềm lục địa Việt Nam”, trong đó tập trung chủ yếu vào khu vực ven bờ, từ độ sâu 50mnước trở vào

Trong đề án “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển, vùng ven bờ biển và cáchải đảo Việt Nam đến năm 2010” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thực hiện (1995 –1996), khi xác định phạm vi không gian quy hoạch các tác giả cho rằng: Kinh tế biển là

sự kết hợp hữu cơ các hoạt động kinh tế trên biển với các hoạt động kinh tế trên dải đấtliền ven biển, trong đó biển chủ yếu đóng vai trò là vùng khai thác nguyên liệu, là môitrường cho các hoạt động vận tải, du lịch biển…, còn toàn bộ việc tổ chức sản xuất vàphục vụ khai thác biển lại nằm trên đất liền ven biển Do vậy, khi nói đến kinh tế biểnkhông thể tách rời vùng biển với vùng ven bờ biển và ngược lại”

Với quan niệm như vậy, đề án đã xác định phạm vi không gian quy hoạch bao gồmtoàn bộ vùng biển, thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của ViệtNam (rộng khoảng 1 triệu km2) cùng các hải đảo nằm trên đó và vùng ven bờ biển, là khuvực lãnh thổ chịu tác động trực tiếp giữa biển và lục địa, tạm lấy theo địa giới hành chínhcủa tất cả các thành phố, các huyện, thị giáp biển có diện tích khoảng 6,4 triệu ha, chiếm19,8% các diện tích tự nhiên của cả nước

Trong đề án “Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường và tài nguyên nước vùng ven

bờ biển Việt Nam phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bảo vệ môi trường” do Viện Địa lý,

Trang 11

Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, nay là Viện Khoa học và Côngnghệ Việt Nam thực hiện (1996 – 1999), các tác giả đã coi vùng ven bờ biển như “mặtphố” của cả nước Mặc dù trong đề án không đưa ra một định nghĩa hay vạch ranh giới cụthể của vùng ven bờ biển, song trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng linhhoạt, kết hợp sử dụng ranh giới hành chính các huyện có đường bờ biển với việc phân tíchcác mối quan hệ tương tác giữa biển – lục địa, các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh

tế - xã hội của các huyện có đường bờ biển với các huyện gần bờ biển liền kề để chọnthêm các huyện xếp vào lãnh thổ nghiên cứu – Vùng ven bờ biển

Trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp vùng ven bờ biểnbiển Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn môi trường và phát triển bền vững” (KT.06.07)thuộc Chương trình “Điều tra nghiên cứu biển” giai đoạn 1996 – 2000 do Phân viện hảidương học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện (1996 –2000), các tác giả đã đưa ra khái niệm về đới bờ biển (hay vùng ven bờ biển) như sau:Đới bờ biển là một khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một đới động và nhạy cảm,

là một hệ thống tự nhiên đặc trưng bởi các quá trình tương tác; một khu vực có tiềm năngtài nguyên phục vụ phát triển đa ngành và là nơi chịu tác động mạnh của các hoạt độngcủa con người

Về phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển, các tác giả cho rằng có nhiều cáchphân định khác nhau phụ thuộc vào quan niệm và mục đích khác nhau của các hoạt độngquản lý Theo các tác giả thì trên quy mô toàn cầu, người ta thường xác định giới hạn vềphía lục địa của đới bờ biển là các đồng bằng ven biển, ở nơi khác là giới hạn của thủytriều; còn giới hạn về phía biển là rìa thềm lục địa Còn ở quy mô một Quốc gia thì đới bờbiển có không gian hẹp hơn Về phía lục địa là đường nối các điểm còn chịu tác động củabiển như: ranh giới xâm nhập mặn, tác động của sóng bão, giới hạn thủy triều…, ở nơikhác thì lấy điểm cách đường bờ 10km, là phạm vi mà ở đó các hoạt động của con người

có thể tác động trực tiếp đến môi trường cửa sông ven biển Còn về phía biển là đườngđẳng sâu bằng một phần hai bước sóng (thường nằm giữa 30 – 50m nước) Tại khu vựcnày, sóng biển có thể tác động trực tiếp, làm biến cải địa hình đáy

Tóm lại, với cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã đưa ra các khái niệm khácnhau về dải ven biển và các phương pháp khác nhau để xác định ranh giới dải ven biển.Trong đó, phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên các căn cứ về tựnhiên Riêng một số nghiên cứu về kinh tế xã hội lại thiên về việc phân định theo ranhgiới hành chính Theo chúng tôi, việc phận định ranh giới dải ven biển nhằm mục đíchxây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho một khu vực lãnh thổ đặc thù này cần

Trang 12

được xem xét trong mối quan hệ thống nhất giữa các yếu tố về tự nhiên sinh thái với cácyếu tố về xã hội nhân văn và phát triển kinh tế xã hội của khu vực này.

Quan niệm của đề tài về vùng ven bờ biển

Như chúng tôi đã nêu rất rõ trong phần tổng quan của đề tài: Từ việc tổng quan cáckhái niệm nêu trên cho thấy, cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa thống nhất về kháiniệm vùng ven bờ biển và cách phân định ranh giới của vùng ven bờ biển Tùy theo cácmục đích nghiên cứu khác nhau có thể có các quan điểm khác nhau về dải ven biển và ápđụng phương pháp khác nhau để xác định phạm vi ranh giới của dải ven biển Với quanđiểm đó, để phục vụ xây dựng cơ sở khoa học cho việc phát triển dải ven biển Việt Nam,

đề tài quan niệm: Vùng ven bờ biển là khu vực chuyển tiếp giữa lục địa và biển, được đặc trưng bởi các quá trình tương tác trực tiếp và mạnh mẽ giữa phần lục địa và biển, giữa nước ngọt và nước mặn và có sự tương tác chặt chẽ giữa các hệ sinh thái khác nhau trong dải.

Như vậy, vùng ven bờ biển là một hệ thống tự nhiên – kinh tế – xã hội phức tạp,đồng thời có giá trị đặc thù khác hẳn các vùng lục địa và vùng biển lân cận Vùng ven bờ biển

có các thuộc tính cơ bản sau:

- Là một hệ tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập nhưng không cô lập

- Có cấu trúc mang tính chuyển tiếp rõ rệt giữa lục địa và biển

- Có cấu trúc phân dị phức tạp, gồm nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như các hệ cửasông, đầm phá, các hệ sinh thái…

- Có mối tương tác và quan hệ hữu cơ giữa các hợp phần bên trong hệ (hay các quátrình nội tại của hệ)

- Có hệ sinh thái rất đa dạng và tài nguyên thiên nhiên phong phú tạo điều kiện

để phát triển đa ngành, nhưng cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa các ngành trong việckhai thác sử dụng tài nguyên

- Là khu vực tập trung dân cư đông đúc và có các hoạt động kinh tế - xã hội rấtsôi động

- Có chức năng to lớn về môi trường sinh thái nhưng rất nhạy cảm, dễ bị tác động

và tổn thương

Có thể nói vùng ven bờ biển là một khu vực hết sức nhạy cảm đối với tác động của

tự nhiên cũng như tác động của con người Mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con ngườidiễn ra ngoài biển và ở các khu vực lân cận trong chừng mực nhất định đều có tác độngtrực tiếp hay gián tiếp đến vùng ven bờ biển

Về mặt kinh tế, vùng ven bờ biển là nơi tập trung các hoạt động kinh tế rất đa dạng

mà chủ yếu gắn với biển như: hoạt động cảng, hàng hải, du lịch giải trí, khai thác nuôi

Trang 13

trồng thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp, khai thác, đô thị hóa …, đồng thời cũng lànơi tập trung dân số với mật độ rất cao Lợi ích đem lại từ các hoạt động kinh tế ở biển vàvùng ven bờ biển hết sức to lớn, là nguồn thu đáng kể trong thu nhập của dân cư và chongân sách của các địa phương ven biển Do vậy việc hoạch định các chính sách phát triển

và xây dựng kế hoạch, mô hình phát triển hợp lý theo quan điểm phát triển bền vững lànhiệm vụ hết sức quan trọng đối với vùng ven bờ biển

Về phạm vi ranh giới của vùng ven bờ biển, theo quan điểm của các tác giả đề tàiKC.09.27/06 – 10 phạm vi của vùng ven bờ biển bao gồm cả không gian trên biển vàkhông gian trên dải đất liền ven biển Trong đó:

- Phạm vi không gian trên biển được xác định là vùng biển nông kéo dài từđường bờ biển ra đến độ sâu 30m nước đối với vùng ven bờ biển Đông Bắc, Đông Nam,Đồng bằng sông Cửu Long và độ sâu 50m nước nếu vùng ven bờ biển miền Trung

- Phạm vi không gian trên đất liền, xét theo các yếu tố tự nhiên thì bao gồm cáckhu vực chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp của các yếu tố biển như: khí hậu thủy văn,sóng gió, hải lưu, thủy triều, xâm nhập mặn… Nhưng phạm vi tác động của từng yếu tốnày trong từng khu vực có thể khác nhau nên rất khó xác định một ranh giới cụ thể Cònxét theo các yếu tố kinh tế xã hội thì tùy theo từng lĩnh vực mà sự tương tác giữa các hoạtđộng kinh tế xã hội trên đất liền với các hoạt động kinh tế trên biển cũng có nội dung vàmức độ khác nhau nên phạm vi của vùng ven bờ biển thường là tương đối và mang tínhước lệ, có thể trùng hoặc không trùng với ranh giới hành chính

Để thuận tiện trong việc thu thập, xử lý và tính toán các số liệu cần thiết đáp ứngyêu cầu phân tích đánh giá các vấn đề kinh tế xã hội của đề tài, đề tài tạm xác định phầnkhông gian trên đất liền của vùng ven bờ biển gồm địa giới hành chính của toàn bộ các

thành phố và các huyện thị có đường bờ biển (ranh giới cứng).

I.1.3 Quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

I.1.3.1 Khái niệm về quản lý tổng hợp vùng ven biển/đới bờ (QLTHVB/QLTHĐB)

Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về quản lý tổng hợpđới bờ Tiếp cận trên nhiều khía cạnh, quản lý tổng hợp được biết đến như là quản lý tổnghợp ven biển (ICM-Integrated Coastal Management); quản lý tổng hợp đới bờ (ICZM-Integrated Coastal Zone Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (ICAM-Integrated Coastal Area Management); quản lý tổng hợp tài nguyên ven bờ (ICRM-Integrated Coastal Resource Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ và đại dương(ICOM-Integrated Coastal and Ocean Management); quản lý tổng hợp lưu vực (IntegratedWatershed Management) Tuy các thuật ngữ này có sự khác nhau về mặt câu chữ nhưng

Trang 14

về bản chất của nó không có nhiều khác biệt Đây là khái niệm nhưng đồng thời cũng làcách thức quản lý tổng hợp đã và đang được áp dụng trong thực tiễn quản lý ven bờ và đạidương.

Quản lý tổng hợp (Integrated Management) là một khái niệm được hình thành vàokhoảng đầu những năm chín mươi Cụ thể tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường

và Phát triển (United Nation Conference on Environment and Development - Hội nghịUNCED) vào tháng 6 năm 1992, lần đầu tiên các đại biểu và các nhà nghiên cứu đã đềcập đến khái niệm quản lý tổng hợp Sau đó, một cách chính thức hơn, chương trình Nghị

sự 21- một trong những thành quả nổi bật của hội nghị UNCED đã ghi nhận quản lý tổnghợp là một phương pháp cần được khuyến khích trong quản lý tài nguyên biển và đạidương Chương trình Nghị sự 21 đã kêu gọi áp dụng quản lý tổng hợp để hướng tới đếnphát triển bền vững cho các vùng ven bờ biển và ven bờ kể cả vùng đặc quyền kinh tếthuộc chủ quyền của các quốc gia ven biển, cụ thể tại Đoạn 6, Chương 17 ghi nhận:

“Thành lập và tăng cường các cơ chế phối hợp cho việc quản lý tổng hợp ven bờ

cả cấp quốc gia và địa phương Triển khai thực hiện các chương trình và kế hoạch quản

lý tổng hợp ven bờ và đại dương”.

Từ sau khi kết thúc Hội nghị UNCED với sự ra đời của chương trình Nghị sự 21,quản lý tổng hợp đối với ven bờ và đại dương đã bàn bạc và thảo luận ở nhiều diễn đànkhác nhau Năm 1993, tại Hội nghị thế giới về Bờ biển (World Coast Conference), các đạibiểu và chuyên gia nghiên cứu về biển đã bàn bạc, thảo luận một cách chi tiết và có hệthống về khái niệm quản lý tổng hợp Kết thúc hội nghị, các đại biểu tham gia đã thốngnhất về vai trò của quản lý tổng hợp trong việc đối phó với những thách thức đặt ra trongquản lý biển, theo đó:

“Quản lý tổng hợp ven bờ được xác định là cách thức phù hợp nhất để đối phó với các vấn đề quản lý ven bờ hiện tại và trong dài hạn như suy thoái môi trường sống, thoái hóa chất lượng nước, biến đổi chu kỳ thủy văn, suy thoái nguồn tài nguyên ven biển, thích ứng với sự tăng lên của mực nước biển, và các ảnh hưởng xấu khác của vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu”.

Hội nghị thế giới về Bờ biển cũng đã tổng kết các nguyên tắc quan trọng trongquản lý tổng hợp, các yếu tố cấu thành và các trở ngại mà quản lý tổng hợp có thế gặpphải Quan trọng hơn cả, hội nghị đã đúc rút ra được những gợi ý có tính hướng dẫn chocác quốc gia trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình quản lý tổnghợp

Trang 15

Có thể nói rằng, từ sau Hội nghị UNCED năm 1992 và Hội nghị thế giới về Bờbiển năm 1993, phương pháp quản lý tổng hợp được bàn bạc, tranh luận rất nhiều khingười ta bàn đến quản lý biển Đặc biệt cho đến nay, nhiều quốc gia đã nghiên cứu và ápdụng cách thức quản lý tổng hợp đối với vùng ven bờ biển và đại dương thuộc chủ quyền

và quyền tài phán của mình

Cùng với thời gian, thuật ngữ quản lý tổng hợp đã có sự thay đổi trong cách sửdụng mặc dù về bản chất của nó không có nhiều khác biệt Hiện nay chúng ta có thể gặpmột số thuật ngữ nói về quản lý tổng hợp như: quản lý tổng hợp ven bờ; quản lý tổng hợpvùng ven bờ hay quản lý vùng đới bờ (ICZM-Integrated Coastal Zone Management hayICAM-Integrated Coastal Area Management); quản lý tổng hợp tài nguyên ven bờ(ICRM-Integrated Coastal Resource Management); quản lý tổng hợp vùng ven bờ và đạidương (ICOM-Integrated Coastal and Ocean Management); quản lý tổng hợp lưu vực(Integrated Watershed Management) Đây là các khái niệm những cũng đồng thời là cáccách thức quản lý tổng hợp đã và đang được áp dụng trong thực tế quản lý ven bờ và đạidương

Tiếp cận từ khái niệm tổng quát, Bower, Ehler, và Basta cho rằng: “Quản lý tổng hợp được xem là một tiến trình liên tục, tương tác, có sự tham gia và đồng thuận thực hiện các nhiệm vụ quản lý đặt ra nhằm đạt được các mục đích và mục tiêu quản lý ở các cấp độ khác nhau” Theo đó, quản lý tổng hợp ven bờ quan tâm lưu ý đến mối quan hệ tác

động qua lại lẫn nhau giữa các lĩnh vực sử dụng ở vùng ven bờ và đại dương với môitrường Quản lý tổng hợp cũng là một tiến trình được thiết kế để khắc phục những hạnchế mang tính chất manh mún, phiến diện trong phương pháp quản lý đơn ngành

Ngoài ra cũng còn có một số cách định nghĩa khác nhau về quản lý tổng hợp đới

bờ, cụ thể như sau:

Quản lý tổng hợp đới bờ là một quá trình liên tục tiến triển, nhằm đạt được sự pháttriển bền vững Nó được xem như một hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường theocách tiếp cận tổng hợp với quá trình lập chiến lược và kế hoạch hành động thực hiệnchiến lược, nhằm giải quyết những vấn đề quản lý phức tạp ở đới bờ Mục đích chính củagiải pháp này là điều phối và lồng ghép các hoạt động của các ngành, các nhóm kinh tế -

xã hội khác nhau trong vùng ven bờ biển để được kết quả phát triển tối ưu và lâu dài, giảiquyết các mâu thuẫn về lợi ích trong sử dụng tài nguyên và môi trường, qua đó bảo vệđược môi trường và góp phần thiết thực giảm nhẹ thiên tai

Trang 16

Quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển là mô hình quản lý tài nguyên và môi trường

sử dụng cách tiếp cận tổng hợp, thống nhất (theo hệ thống tài nguyên, chức năng sử dụng

và chính sách quản lý), và quá trình lập và hoàn thiện kế hoạch xen kẽ với việc thực hiện

kế hoạch, có sự tham gia của đầy đủ các bên liên quan, nhằm giải quyết những vấn đềquản lý phức tạp ở vùng ven bờ biển

Trong Hội thảo khoa học lần thứ 9 của Viện khí tượng Thủy văn năm 2004, Quản

lý tổng hợp vùng ven bờ biển được hiểu là một quá trình động thái trong đó một chiếnlược được đưa ra và thực hiện điều phối hài hòa các yếu tố tự nhiên, kinh tế, văn hóa xãhội và thể chế đạt tới việc bảo tồn và sử dụng bền vững vùng ven bờ biển Trong quản lýtổng hợp vùng ven bờ biển, việc sử dụng môi trường biển phải đảm bảo tính sử dụng bềnvững và bảo vệ đa dạng sinh học, cho phép tất cả các bên tham gia tham gia vào quá trình

đó và có được lợi ích từ những nguồn tài nguyên này

Quản lý vùng ven bờ biển là cách tiếp cận để điều chỉnh hành vi phát triển liênngành ở vùng ven bờ biển và các đại dương trên cơ sở các phương thức quản lý hài hòalợi ích, giảm thiểu mâu thuân trong quá trình phát triển Đồng thời, tăng cường cơ chếphối hợp liên ngành trong việc ra quyết định các vấn đề chung về vùng ven bờ biển và đạidương Quản lý vùng ven bờ biển sẽ giảm thiểu được mâu thuẫn giữa các ngành trong quátrình phát triển; là cơ sở đưa ra một thể chế như một Ủy ban tư vấn quyết định các vấn đềliên ngành, giải quyết các mâu thuân trong phạm vi quốc gia và quốc tế

Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về QLTHVB nhưng sự khác nhau giữa chúng là rất

ít Hầu hết các định nghĩa đều thừa nhận rằng QLTHVB là một quy trình có tính liên tục,tính tiên phong trong thực hiện và có khả năng thích nghi cao nhằm quản lý nguồn tài

nguyên cho sự phát triển bền vững vùng ven bờ Vì vậy, ta có thể hiểu Quản lý tổng hợp

vùng ven bờ biển là việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử văn hóa và truyền thống, và các lợi ích trong mâu thuẫn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững

Quản lý tổng hợp đã và đang áp dụng ngày càng rộng rãi trên thế giới trong quản

lý đại dương và vùng ven bờ Trên thực tế, quản lý tổng hợp phản ánh một xu hướng quản

lý ngày càng phổ biến trên thế giới đó là dựa vào các “Luật mềm” (soft law) hình thành từcác hội nghị và diễn đàn quốc tế về biển, bờ biển và phát triển bền vững Từ Hội nghịStockholm 1972, các hội nghị Liên hợp quốc về luật biển mà điển hình là hội nghị lần thứ

ba, cho đến Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển 2002, thế giới đã chứng kiến sự

Trang 17

ra đời của nhiều nguyên tắc quan trọng trong quản lý biển và môi trường hướng đến sựphát triển bền vững Nguyên tắc quản lý tổng hợp là một trong số đó và hoàn toàn phùhợp với xu hướng chung hiện nay đối với quản lý đại dương và vùng ven bờ biển.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quản lý tổng hợp là quản lý tổng hợp tàinguyên và môi trường biển, hải đảo Cụ thể, theo quy định tại Nghị định 25/2009/NĐ-CPngày 06/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển,

hải đảo: Quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo là quản lý liên ngành, liên vùng, đảm bảo lợi ích quốc gia kết hợp hài hòa với lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương, các tổ chức và cá nhân liên quan đến việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, đảo.

Như vậy, quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển là quản lý liên ngành, liên vùng, đảmbảo lợi ích quốc gia kết hợp hài hòa với lợi ích của các ngành, lĩnh vực, địa phương, các

tổ chức và cá nhân liên quan đến lĩnh vực quản lý và phạm vi quản lý

I.1.3 2 Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

Để quản lý tổng hợp biển và vùng ven biển hiệu quả cần phải tiến hành quy hoạch

sử dụng biển, đảo và vùng ven bờ biển theo cách tiếp cận không gian (spatial approach)

Do đó, phân vùng theo chức năng sử dụng biển và vùng ven bờ biển được xem là mộtcông cụ rất cần thiết để đưa ra phương án sử dụng các hệ thống tài nguyên biển và vùngven bờ biển Có thể coi phân vùng là giai đoạn đầu của quy hoạch sử dụng biển và vùngven bờ biển Phân vùng giúp cho việc lập kế hoạch Quản lý tổng hợp được rõ ràng hơn,mang tính khoa học hơn và khả thi hơn Trong hầu hết các văn bản pháp luật hiện naychưa có khái niệm chính thức về phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ/ vùng ven biển Tuynhiên, một số học giả cũng đã đưa ra quan điểm của mình về phân vùng quản lý tổng hợpvùng ven biển

Theo Charles Ehler và Fanny Douvere (2009) phân vùng thường là giải pháp chínhđược dùng để triển khai các kế hoạch quản lý toàn diện không gian biển/bờ Theo đó, cácnội dung cơ bản của cách tiếp cận phân vùng trong quy hoạch không gian bờ và biển là:

- Định vị và thiết kế các khu chức năng dựa trên sự chồng khít các yếu tố địa hình,hình thể, hải dương học, sinh học, các yếu tố phát triển,… trong vùng quản lý

- Xác định một hệ thống cấp giấy phép, quy định pháp lý, và các quy tắc sử dụngtrong mỗi khu đã được xác định

Trang 18

- Thiết lập một cơ chế bảo đảm sự tuân thủ phương án phân vùng và các quy địnhpháp lý nói trên trong quá trình khai thác, sử dụng.

- Tạo dựng các chương trình giám sát, thẩm định và thích ứng với hệ thống phânvùng

Còn theo John M Stamm (1999), định nghĩa đơn giản nhất về phân vùng chính làcác chính sách, luật lệ, quy định hoặc quy chế quản lý việc sở hữu và sử dụng các tài sảnhoặc nguồn lợi trong các khu vực biển và bờ đã xác định Việc áp dụng khái niệm vàphương pháp phân vùng truyền thống vào Quản lý tổng hợp như là một công cụ quản lýcác nguồn lợi ven bờ và các vùng biển vấn đang còn là những vấn đề gây tranh luận.Không giống như trong lĩnh vực quy hoạch sử dụng đất, phân vùng trong quản lý tổnghợp biển và vùng ven bờ biển sẽ bao gồm cả hai cả hai yếu tố: phân vùng sử dụng đất(vùng đất ven biển) và sử dụng vùng nước (vùng biển)

Trong các quốc gia có đạo luật riêng quy định về quản lý tổng hợp và phân vùngquản lý tổng hợp vùng ven bờ biển thì cũng có một số ít quốc gia nêu ra định nghĩa về

phân vùng quản lý một cách rõ ràng Cụ thể, trong Luật về quản lý vùng ven bờ biển và các đảo nhỏ 2007 của Indonesia quy định “Phân vùng là một loại mang tính kỹ thuật của

việc sử dụng không gian thông qua việc thiết lập các ranh giới chức năng, có tính đếnnguồn tài nguyên tiềm năng và khả năng chứa đựng cùng với quá trình sinh thái như làmột nhân tố trong hệ thống sinh thái ven biển

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất bản Văn hóa

thông tin thì phân vùng là phân chia thành các vùng theo những đặc điểm nhất định để có

định hướng và cách thức phát triển kinh tế hợp lí Như vậy, phân vùng quản lý tổng hợp ven biển là việc phân chia các vùng biển theo các tiêu chí, mục đích để quản lý, sử dụng đạt hiệu quả và chất lượng cao nhất Mục đích chính của phân vùng quản lý tổng

hợp là nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên ven biển và bảo đảm vấn đề môi trường biển

Có rất nhiều tiêu chí để phân vùng quản lý như phân vùng theo vị trí địa lý, phân vùngtheo đặc điểm tự nhiên, phân vùng theo ngành, lĩnh vực; phân vùng theo trình độ pháttriển kinh tế -xã hội; và tùy theo mục đích mục đích sử dụng khác nhau mà nhà quản lý sửdụng các tiêu chí phân vùng khác nhau

Cho tới thời điểm hiện nay, khái niệm phân vùng quản lý vùng ven bờ biển chưa

được thống nhất giữa các nước, các nhà khoa học quốc tế cùng như tại Việt Nam Tuy

nhiên có thể hiểu “Phân vùng quản lý tổng hợp ven biển là phân định không gian vùng ven bờ biển để sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tại đó, giải quyết các mâu

Trang 19

thuẫn sử dụng đa mục tiêu Kết quả phân vùng phải gồm hệ thống phân loại không gian vùng ven bờ biển theo chức năng sinh thái, mục tiêu phát triển và tính tương thích của các loại hình sử dụng, hệ thống quy định về sử dụng vùng ven bờ biển và kế hoạch phân vùng sử dụng vùng ven bờ biển, kèm theo khung thể chế để thực thi kế hoạch”

Theo lý thuyết, phân vùng ban đầu được áp dụng để quản lý sử dụng đất đai ở mộtkhu vực nhất định Đến nay, phương pháp phân vùng đã được áp dụng mở rộng sangnhiều lĩnh vực hoặc ngành sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trong đó có vấn đề quản lýtổng hợp biển và vùng ven bờ biển Thực chất, phân vùng thường gắn với việc phân chia

và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có ở vùng biển và vùng ven bờ biểnquản lý, như vậy việc phân vùng sử dụng tài nguyên thường gắn với các chức năng sửdụng của các hệ thống tài nguyên này Người ta thường dùng thường dùng thuật ngữ

“phân vùng chức năng” khai thác để phân biệt với phân vùng hành chính trong phân chia,phân cấp quản lý các vùng biển/bờ cho các đơn vị hành chính nhà nước giữa trung ương

và địa phương ven biển, và giữa các địa phương, kể cả phân vùng biển pháp lý theo Côngước Luật biển của Liên hợp quốc 1982

Như vậy, trong quản lý tổng hợp biển và vùng ven bờ biển, phân vùng chức năng được định nghĩa là sự “phân chia lãnh thổ” trên biển và vùng ven bờ biển theo những tiêu chí nhất định để định hướng cách thức phát triển và sử dụng tài nguyên vùng này một cách hiệu quả và bền vững Một trong những tiêu chí quan trọng được sử dụng như

là căn cứ chung trong phân vùng chính là các đặc điểm tự nhiên hay chức năng tự nhiên,

và các chức năng sử dụng của các hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên trong vùng

Ngoài ra, để đảm bảo các kết quả phân vùng mang tính khả thi và dễ dàng đượcchấp nhận bởi những người hưởng dụng vùng biển và bờ, việc phân vùng chức năng phảiphản ánh được lợi ích và các đặc điểm xã hội của vùng ven bờ biển cũng như phải căn cứvào việc sắp xếp lại các thể chế sẵn có trong việc quản lý sử dụng các nguồn lợi trongvùng Các kết quả phân vùng cung cấp cách điều chỉnh phù hợp cho việc phân định khônggian biển và vùng ven bờ biển theo mục đích bảo tồn và phát triển, cung cấp căn cứ xâydựng khung pháp lý cho việc sử dụng các nguồn lợi và tài nguyên của vùng ven bờ biểntheo các phân khu chức năng đã phân định

Cho đến nay chưa có một khuôn mẫu cho phương án phân vùng Việc phân vùngrất linh hoạt và phụ thuộc vào nhiều điều kiện cụ thể như: tự nhiên, kinh tế, xã hội, cơ chế

Trang 20

chính sách, văn hóa… của từng vùng biển và vùng ven bờ biển quản lý, cũng như vào cơquan có trách nhiệm đối với việc phân vùng.

Tóm lại, phân vùng quản lý là một công cụ quy hoạch không gian để phân chia một

vùng địa lý thành các đới hoặc các vùng khác nhau Nó cho phép các vùng được thiết lậpdành riêng cho các hoạt động khác nhau và lựa chọn hình thức sử dụng riêng biệt cho mỗivùng như là vùng bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng hoặc vùng ươm các giống loài sinhvật tự nhiên, các bãi sinh sản, khu vực nghiên cứu, giáo dục, phát triển cảng, nơi neo đậutàu thuyền, đánh bắt cá, du lịch Phân vùng giúp giảm thiểu và loại trừ các mâu thuẫn giữacác hoạt động khai thác tài nguyên ven biển khác nhau, nhằm tăng cường chất lượng cáchoạt động như du lịch, giải trí… Việc phân vùng có thể được xác định theo nguy cơ taibiến thiên nhiên hoặc theo mức độ tổn thương của tự nhiên hoặc theo các chức năng kháccủa người sử dụng

I.1.3.3 Mối quan hệ giữa hai khái niệm “quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển” và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển”

- Trong việc ban hành chính sách và pháp luật, quản lý tổng hợp và phân vùngquản lý tổng hợp đới bờ có quan hệ hỗ trợ với nhau Các chính sách về phân vùng nếu banhành một cách phù hợp sẽ tạo thuận lợi cho việc ban hành một chính sách quản lý tổnghợp mang lại hiệu quả cao Ngược lại việc Quản lý tổng hợp thực hiện tốt sẽ dẫn đến hệquả tất yếu là việc phân vùng quản lý chắc chắn mang phải tốt

- Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển đóng một vị trí đặc biệt quan trọngtrong quản lý tổng hợp vùng ven biển

- Phần vùng quản lý tổng hợp được coi là giai đoạn đầu của quá trình quản lý tổnghợp vùng ven biển Trước hết, để hoạt động quản lý tổng hợp diễn ra thuận lợi và hiệuquả, cần phải tiến hành hoạt động phân vùng Có nhiều tiêu chí khác nhau để tiến hànhphân chia vùng ven bờ của một quốc gia Phụ thuộc vào mục đích của quản lý tổng hợp,người ta có thể chia thành các vùng biển khác nhau

- Phân vùng quản lý tổng hợp là công cụ để quản lý tổng hợp vùng ven biển Đểquản lý tổng hợp biển và vùng ven bờ biển hiệu quả cần phải tiến hành quy hoạch sửdụng biển, đảo và vùng ven bờ biển theo cách tiếp cận không gian (spatial approach) màphân vùng chức năng sử dụng biển và vùng ven bờ biển được xem là một công cụ rất cầnthiết để đưa ra được phương án sử dụng theo chức năng của các hệ thống tài nguyên biển

và vùng ven bờ biển và là một phần trong kế hoạch quản lý biển và vùng ven bờ biển Cóthể coi phân vùng là giai đoạn đầu của quy hoạch sử dụng biển và vùng ven bờ biển, giúp

Trang 21

tổ chức không gian phát triển vùng ven bờ biển cho việc lập kế hoạch Quản lý tổng hợpđược rõ ràng hơn, mang tính khoa học hơn và khả thi hơn.

I.1.4 Sự cần thiết và ý nghĩa hoạt động phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

Biển và đảo luôn đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị Ngày nay, khi đất liền trở nên chật hẹp không đáp ứng được tốc độ tăng trưởng dân số,năng lượng khan hiếm, các hệ sinh thái bị suy thoái, môi trường trở nên quá tải, biển vàđại dương đang là miền đất hứa Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nướclớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác

và khống chế biển

Vùng ven bờ biển rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội vì nhữngnguồn tài nguyên hiếm có của nó Với những vùng đất đồng bằng ven biển màu mỡ vàcác nguồn tài nguyên biển phong phú, cộng với khả năng tiếp cận thị trường quốc tế mộtcách dễ dàng, vùng bờ đã và vẫn đang thu hút sự quan tâm của con người Vùng bờ là tụđiểm phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, nơi tập trung rất nhiều hoạt động kinh tế, xãhội, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng bởi các tác động này Tương lai, tầm quantrọng của vùng ven bờ biển sẽ ngày một cao hơn do số lượng người dân đến đó sinh sốngngày một nhiều hơn

Vùng ven bờ biển thực chất là một hệ thống gồm nhiều nguồn tài nguyên Nó chokhông gian, cung cấp các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, cho hoạt động của con người

và có chức năng điều hòa môi trường tự nhiên cũng như nhân tạo Đồng thời, vùng ven bờcũng là một hệ thống được nhiều người sử dụng Con người sử dụng các nguồn tàinguyên cho sự sống (như nước và thức ăn), cho các hoạt động kinh tế (như không gian,các tài nguyên sinh học và phi sinh học) và cho nghỉ ngơi, giải trí (các bãi cát và nước venbờ)

Bên cạnh lợi ích có được từ khai thác, sử dụng biển và vùng ven bờ biển, một loạtcác vấn đề về môi trường biển, đới bờ, là hậu quả của sức ép dân số, sức ép kinh tế, khảnăng quản lý và sử dụng yếu kém tài nguyên biển đang đặt các quốc gia ven biển phải đốimặt với nhiều thách thức Các hậu quả môi trường biển, ven biển hiện nay đó là: Cạn kệtcác nguồn tôm giống và đàn cá gần bờ; Mất tính đa dạng sinh học do phá hủy môi trườngsống như rừng ngập mặn, rạn san hô; A xít hóa đất do phát quang rừng ven biển trên cácvùng đất phèn để làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; Ô nhiễm dầu trên biển do vậntải, khai thác dầu ngoài khơi và các sự cố tràn dầu; Ô nhiễm do nước thải đô thị không

Trang 22

được xử lý; Sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và công nghiệp không quản lý chặt chẽ.Hơn nữa, các loại thiên tai như bão, lũ và xâm nhập mặm có tác động lớn tới môi trườngbiển và đới bờ có xu hướng trầm trọng thêm.

Trước tình trạng trên, nhu cầu cần phải có cách thức quản lý biển phù hợp đã trởnên bức thiết Trong số nhiều phương pháp, cách thức tiếp cận quản lý biển và đại dươnggần đây, quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển (QLTHVB) là một trong những phương phápmới, hiện đại được áp dụng ở nhiều nước có biển trên thế giới1 Có thể khẳng định rằng,phân vùng và QLTHVB nổi lên như một công cụ hiệu quả nhằm đảm bảo sử dụng bềnvững, tốt nhất các tài nguyên thiên nhiên vùng ven bờ biển, bảo tồn đa dạng sinh học,ngăn ngừa thiên tai, kiểm soát ô nhiễm

Để quản lý tổng hợp biển và vùng ven bờ biển hiệu quả cần phải tiến hành quyhoạch sử dụng biển và vùng ven bờ biển theo cách tiếp cận không gian (spatial approach)

mà phân vùng chức năng sử dụng biển và vùng ven bờ biển được xem là một công cụ rấtcần thiết để đưa ra được phương án sử dụng theo chức năng của các hệ thống tài nguyênbiển và vùng ven bờ biển và là một phần trong kế hoạch quản lý biển và vùng ven bờbiển Có thể coi phân vùng là giai đoạn đầu của quy hoạch sử dụng biển và vùng ven bờbiển, giúp tổ chức không gian phát triển vùng ven bờ biển cho việc lập kế hoạch Quản lýtổng hợp được rõ ràng hơn, mang tính khoa học hơn và khả thi hơn

I.1.5 Mục tiêu, ý nghĩa của quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp

I.1.5.1 Mục tiêu, ý nghĩa của quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

Mục tiêu chung của QLTHVB là đảm bảo sử dụng bền vững, tốt nhất các tàinguyên thiên nhiên vùng ven bờ biển và duy trì lợi ích nhiều nhất từ môi trường tự nhiên

Về mặt thực tế, chương trình QLTHVB hỗ trợ các mục tiêu quản lý thông qua việc đưa ra

cơ sở cho việc sử dụng bền vững các tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, ngăn ngừathiên tai, kiểm soát ô nhiễm, tăng cường lợi ích, phát triển nền kinh tế bền vững và tối ưuhóa việc sử dụng đa mục tiêu

Các mục tiêu cụ thể, bao gồm: hỗ trợ ngành thủy sản, thu hút khách di lịch, nângcao sức khỏe cộng đồng, tăng cường nhận thức cộng đồng duy trì sản lượng sản phẩm cóđược từ từ các vùng ngập mặn…Tất cả những điều này đòi hỏi các hành động của cộngđồng phải được điều phối tốt Đó chính là cái mà QLTHVB cần làm Các mục tiêu cụ thể

đó là:

1

Trang 23

- Duy trì môi trường vùng ven bờ biển với chất lượng cao nhất, xác định và bảo vệcác loài có giá trị, xác định và bảo vệ các loài có giá trị, xác định và bảo tồn các sinh cảnhvùng ven bờ biển quan trọng;

- Xác định các vùng đất rất thích hợp cho việc phát triển;

- Giải quyết các mâu thuẫn giữa các hoạt động tác động đến tài nguyên vùng ven

bờ biển và việc sử dụng không gian;

- Xác định và kiểm soát các hoạt động gây tác hại lên môi trường vùng ven bờbiển;

- Kiểm soát ô nhiễm từ nguồn, từ dòng chảy tràn mặt và từ việc tràn hóa chất do sựcố; Phục hồi hệ sinh thái bị phá hủy;

- Điều phối các nỗ lực của chính quyền trong việc tăng cường sự phát triển bềnvững các nguồn tài nguyên vùng ven bờ biển;

- Đảm bảo cân bằng áp lực kinh tế và môi trường vùng ven bờ biển vì chúng tácđộng đến sự phát triển và bảo tồn các tài nguyên vùng ven bờ biển;

- Cung cấp hướng dẫn cho việc lập kế hoạch phát triển vùng ven bờ biển nhằmgiảm thiểu các tác động không thể đảo ngược được;

- Đưa ra các phương án phát triển vùng ven bờ biển an toàn; Nâng cao nhận thức,phát triển cộng đồng

Trọng tâm của một chương trình QLTHVB là tổ chức một hệ thống tổng hợp,chính thống để đảm bảo sự bền vững của các nguồn tài nguyên vùng ven bờ biển, duy trì

đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xã hội và phòng chống các tai biến thiên nhiên Điềuquan trọng là phải khắc phục hậu quả của các dự án phát triển không được điều phối trongvùng ven bờ biển Kết quả của sự không được điều phối này là suy giảm tài nguyên vàlàm mất quyền sử dụng tài nguyên đó của các thế hệ tương lai Chương trình QLTHVBphải tránh những điều này bằng việc quy hoạch đa ngành và xây dựng các dự án một cáchtổng hợp, nhờ phân tích tài nguyên định hướng cho tương lai và đảm bảo tính bền vữngcho mỗi một sáng kiến phát triển Mục tiêu trọng tâm nói trên phải khớp với các mục tiêu

cụ thể khác của chương trình QLTHVB theo quy hoạch chiến lược

QLTHVB cho đến nay đựơc thừa nhận là quá trình thích hợp nhất để giải quyếtcác thách thức tại vùng ven bờ hiện tại cũng như lâu dài QLTHVB tạo cơ hội cho cácvùng ven bờ biển hướng tới sự phát triển bền vững, cho phép tính đến các giá trị tàinguyên và lợi ích hiện nay và trong tương lai của vùng ven bờ biển

Trang 24

Thông qua việc tính đến các lợi ích ngắn hạn, trung hạn và dài hạn QLTHVB cóthể kích thích sự phát triển kinh tế vùng ven bờ biển, phát triển tài nguyên và hạn chế sựsuy thoái các hệ thống tự nhiên chứa chúng QLTHVB có thể cung cấp khung sườn chocác phản ứng linh hoạt nhằm đối phó với sự không chắc chắn của các dự báo về tương lai,

kể cả những thay đổi khí hậu Tóm lại, QLTHVB có thể cung cấp cho các nước ven biểnquy trình thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống

Sự phát bền vững của các vùng ven bờ biển đa dạng và giàu có trên trái đất luôn bịảnh hưởng bởi các hoạt động phức tạp của con người và sự tranh đua quyết liệt giữa cácngành kinh tế khác nhau Cách tiếp cận theo ngành trong phát triển và quy hoạch sử dụngđất trước đây đã không thành công trong việc sử dụng hợp lý và lâu bền thành phần quantrọn và phức tạp nhất của hệ sinh thái toàn cầu Quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển là sựthay thế thuyết phục và khả thi cho các phương thức truyền thống trong quy hoạch vàquản lý vùng ven bờ biển

QLTHVB cung cấp khuôn khổ và công cụ thực thi cho các nhà làm chính sách,làm kế hoạch và quản lý tài nguyên, đẻ đương đầu với những thử thách mới của sự pháttriển bền vững vùng ven bờ biển Vùng ven bờ biển là một tấm thảo được dệt nên bởi các

hệ sinh thái và các nguồn tài nguyên đa dạng, giàu có, có tầm quan trọng chiến lược đốivới lợi ích kinh tế, xã hội và phát triển của tất cả các dân tộc

Nếu áp dụng đồng bộ và đúng lúc, QLTHVB sẽ giúp cho việc đầu tư hợp lý và sửdụng lâu bền vùng ven bờ biển và các hệ tài nguyên thiên nhiên ở đó

QLTHVB là một quá trình động Thời gian cần thiết cho việc hoàn thành các giaiđoạn của chương trình QLTHVB có thể thay đổi, phụ thuộc vào năng lực tổ chức thựchiện và sự phức tạp của các vấn đề quan tâm Ban đầu, sáng kiến QLTHVB được thiết kếnhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng tiềm lực, mở rộng hợp tác, tăng cường thểchế, pháp luật, xây dựng và triển khai kế hoạch hành động cho các vấn đề đã xác định.Với kinh nghiệm và kỹ năng ngày một tăng, phạm vi của chương trình QLTHVB có thểđược mở rộng để giải quyết những vấn đề mới, khai thác cơ hội phát triển mới, đồng thờitiếp tục tăng cường các kỹ năng quản lý, sự hợp tác và hợp nhất phát triển với bảo vệ môitrường

Chức năng của Quản lý tổng hợp vùng ven biển

QLTHVB hoàn thiện các dạng quy hoạch phát triển truyền thống theo bốn khíacạnh sau:

Trang 25

- Tăng cường nhận thức đầy đủ về các hệ tài nguyên thiên nhiên quý giá của vùngven bờ biển và tính bền vững của chúng đối với hoạt động đa dạng của con người;

- Tối ưu hóa việc sử dụng đa mục tiêu các hệ tài nguyên vùng ven bờ biển thôngqua việc tổng hợp các thông tin sinh thái, xã hội và kinh tế;

- Triển khai các cách tiếp cận đa ngành, hợp tác và phối hợp liên ngành nhằm giảiquyết những vấn đề phát triển phức tạp, đồng thời xây dựng các chiến lược tổng hợpnhằm mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động kinh tế;

- Giúp chính quyền nâng cao năng suất và hiệu quả của việc đầu tư tài chính vànhân lực, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thực hiện được các camkết quốc tế liên quan tới môi trường biển và ven bờ;

Khác với các cách thức quy hoạch phát triển khác, QLTHVB giúp tối ưu hóa cáclợi ích kinh tế và xã hội do việc sử dụng tài nguyên mang lại Nơi mà sự phát triển bềnvững phụ thuộc vào nguồn tài nguyên ven bờ có khả năng phục hồi (ví dụ như các cửasông), QLTHVB sẽ giúp quản lý việc sử dụng đa mục tiêu, duy trì được tính tổng hợp vềchức năng của các hệ ven bờ và sự ổn định của các nguồn tài nguyên Tất cả các dạngphát triển đều tác động đến chất lượng và năng suất của các hệ sinh thái ven bờ Do đó, sựphát triển kinh tế, xã hội bền vững của vùng ven bờ biển không thể tách khỏi quy hoạch

và quản lý môi trường Điều này rất quan trọng đối với các ngành kinh tế đang phát triển

mà phụ thuộc vào chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong việc đảm bảo antoàn thực phẩm, cũng như đối với các ngành kinh tế đã phát triển với mô hình phát triểnvùng ven bờ biển tiên tiến

QLTHVB cũng là một công cụ để giải quyết các vấn đề quốc tế xuyên biên giớinhư ô nhiễm biển, khai thác quá mức các nguồn tài nguyên chung và bảo vệ đa dạng sinhhọc

I.1.5.2 Mục tiêu, ý nghĩa phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

Mục tiêu chung:

1 Sử dụng hợp lý nguồn lợi, theo hướng phát triển bền vững vùng ven bờ biển trên

cơ sở chấp nhận phát triển đa ngành

2 Bảo vệ các hệ sinh thái điển hình và trọng yếu trong đới bờ, các nơi sinh cư, sinhsản của các loài đặc trưng

3 Giảm thiểu nguy cơ đe dọa đến đới bờ do các tai biến thiên nhiên, và đó chínhhoạt động hiện tại và tương lai của con người

Trang 26

4 Bảo toàn chức năng của các hệ thống tự nhiên, các quá trình sinh thái và các hệthống hỗ trợ đời sống các loài (gồm cả loài người) và đa dạng sinh học ở đới bờ

5 Giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột lợi ích của các bên liên quan nhằm phân phốilợi ích một cách công bằng cho các bên sử dụng tài nguyên, kinh tế vùng ven bờ biển

6 Tối ưu hoá việc sử dụng đa mục tiêu

Các mục tiêu cụ thể:

1 Bảo vệ, bảo tồn và khôi phục các HST đới bờ

2 Bảo tồn các khu sử dụng đặc biệt và giảm thiểu các tác động tiêu cực có thể nảysinh trong quá trình khai thác, sử dụng đới bờ

3 Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi cá nhân của cộng đồng ven bờ biển và trênđảo trong quản lý tổng hợp tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và môi trường bờ

4 Thúc đẩy sinh kế bền vững và tăng cường các hệ thống công nghệ sạch hơntrong các hoạt động phát triển liên quan tới vùng ven bờ biển quản lý

5 Tăng cường các giải pháp quản lý liên ngành nhằm duy trì và cải tạo chất lượngmôi trường và tài nguyên đới bờ

6 Thực hiện khuôn khổ QLTHVB ở các khu vực nghiên cứu tình huống trọngđiểm, rút kinh nghiệm và phổ biến nhân rộng những kết quả đó

7 Tiến hành phân vùng QLTH đới bờ và tổ chức lại không gian vùng ven bờ biểntheo hướng phát triển bền vững (PTBV) và phân phối nguồn tài nguyên bờ một cách côngbằng, hợp lý, cũng như các giải pháp giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột lợi ích trong việc sửdụng đa ngành tài nguyên vùng ven bờ biển

Vai trò mục đích của Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển

Mục đích chung của phân vùng là đảm bảo sử dụng lâu bền biển và vùng ven bờbiển theo chức năng, để hài hòa lợi ích của các ngành sử dụng tài nguyên biển và bờ,trong khi vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững

Hơn nữa, phân vùng quản lý tổng hợp còn có mục đích nâng cao hiệu quả quản lýtài nguyên ven biển và bảo đảm vấn đề môi trường biển Có rất nhiều tiêu chí để phânvùng quản lý như phân vùng theo vị trí địa lý, phân vùng theo đặc điểm tự nhiên, phânvùng theo ngành, lĩnh vực; phân vùng theo trình độ phát triển kinh tế -xã hội; và tùy theomục đích mục đích sử dụng khác nhau mà nhà quản lý sử dụng các tiêu chí phân vùngkhác nhau

Phân vùng quản lý giúp giảm thiểu và loại trừ các mâu thuẫn giữa các hoạt độngkhai thác tài nguyên ven biển khác nhau, nhằm tăng cường chất lượng các hoạt động như

Trang 27

du lịch, giải trí… Việc phân vùng có thể được xác định theo nguy cơ tai biến thiên nhiênhoặc theo mức độ tổn thương của tự nhiên hoặc theo các chức năng khác của người sửdụng.

Việc sử dụng các lưu vực sông, các vùng nước ở vùng ven bờ biển phục vụ cácmục đích khác nhau trong các quốc gia đang ngày càng gia tăng đòi hỏi phải có sự quyhoạch và phân vùng hợp lý để quản lý Việc phân vùng sử dụng biển hoặc phân vùngchức năng, phân chia diện tích sử dụng phải theo các tiêu chí cụ thể, trước nhất là theochức năng sinh thái, các hoạt động truyền thống và sự phát triển tương lai Phân vùng sửdụng biển và vùng ven bờ biển được thiết kế để điều chỉnh các hoạt động kinh tế tại cáckhu vực ở vùng ven bờ biển và bảo vệ môi trường sống Phương pháp này cũng thúc đẩyviệc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bền vững và nó càng làm cho sự phát triểnkinh tế và công bằng xã hội được vững chắc hơn

Hoạt động phân vùng quản lý được xây dựng và triển khai thực hiện nhằm điềuchỉnh các đối tượng theo các tiêu chí phân vùng Kế hoạch phân vùng được kết hợp chặtchẽ với kế hoạch sử dụng đất điều chỉnh một cách hiệu quả hoạt động phát triển ở vùngven bờ biển Phương pháp này đạt hiệu quả không chỉ trong ngăn ngừa ô nhiễm mà còngiảm thiểu các xung đột giữa các ngành

Từ những phân tích ở trên, ta có thể hiểu phân vùng quản lý tổng hợp đới bờ làviệc phân định không gian để sử dụng bền vững và có hiệu quả các nguồn tài nguyên tại

đó Hơn nữa, nó còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý biển của các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền và giảm thiểu những mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các hoạt động khaithác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên ven biển Phân vùng quản lý là phươngpháp giúp quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển khả thi hơn, khoa học hơn và mang lại hiệuquả cao hơn

Ý nghĩa của phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển

Phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển sẽ đưa ra khung và cơ sở hợp lý choviệc bố trí các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội và công tác quản lý bảo vệtài nguyên và môi trường theo nguyên tắc phát triển bền vững Đối với vùng đã có quyhoạch quản lý tổng hợp đới bờ sẽ có thể là công cụ đánh giá tính chất hợp lý, bất hợp lýnhất là đối với các cơ sở cũ đã tồn tại, đến nay vấn đề môi trường cần được để ý hơn vàcác công việc chỉnh sửa được tiến hành thường xuyên Việc đề xuất chương trình đổi mớikhông chỉ thể hiện việc điều chỉnh cấu trúc không gian mà còn thể hiện ở nhiều mặt khácnhư công nghệ, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý

Trang 28

I.1.6 Nguyên tắc phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

Phân vùng tổng hợp quản lý vùng ven bờ biển là phân chia lãnh thổ ra để quản lýviệc sử dụng lãnh thổ cho hợp lý Cũng như bất kỳ công trình phân vùng chức năng lãnhthổ nào, phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển cũng phải tuân thủ các nguyên tắcsau

I.1.6.1 Quản lý các hành động phát triển phù hợp với tiềm năng đất đai

Khi áp dụng nguyên tắc này cần có các đánh giá mức độ thuận tiện của đất đai chocác mục đích dự kiến phát triển hoặc qua những hoạt động đã có để đánh giá mức độthuận lợi này Cũng có thể đất đai thích hợp với đối tượng A, nhưng đối tượng B lại làmục tiêu phát triển của vùng do lợi thế về vị thế và chiến lược phát triển Các dạng tàinguyên sinh vật, phi sinh vật, khả năng khai thác, nhu cầu bảo vệ, khoáng sản, khả năngcấp nước… cũng được đánh giá Các thành phần được đánh giá tính thích hợp của đất đaibao gồm: địa hình, thổ nhưỡng, địa chất, địa chất thủy văn, thảm thực vật, khoáng sản,các công trình hạ tầng cơ sở

I.1.6.2 Quản lý có kiểm soát mức độ khai thác tài nguyên, đổ thải và khả năng chịu tải của môi trường

Khả năng chịu tải và tự khôi phục của môi trường là thuộc tính của nó không bịbiến đổi khi các tác động chưa đủ lớn để làm thay đổi cơ chế hoạt động của nó Phân tíchđánh giá khả năng chịu tải của môi trường nhằm tìm ra những giới hạn của các hoạt độngphát triển mà chất lượng môi trường vẫn được đảm bảo Một trong các biện pháp quyđịnh là nghiêm túc đưa ra các chỉ tiêu cho phép của chất thải

I.1.6.3 Quản lý các hoạt động phát triển vùng ven bờ biển không làm cản trở đến các hoạt động khác.

Trong nguyên tắc này phải đảm bảo cân bằng hợp lý lợi ích của các bên sử dụng,giải quyết thoả đáng các xung đột xảy ra theo hướng phát triển bền vững

I.1.6.4 Quản lý có chú ý đến nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển

Nguyên tắc này yêu cầu khi phân chia các khu vực sử dụng khác nhau phải có đặctính giống nhau không những biểu hiện bên ngoài mà phải có sự giống nhau về nguồn gốcphát sinh và quá trình phát triển Tuy nhiên nguyên tắc này cũng mang tính tương đối, vínhư tác động của con nguời trong vùng đã làm thay đổi cơ bản các đặc điểm tự nhiên

I.1.6.5 Quản lý mang tính tổng hợp

Nguyên tắc này cân nhắc tới tất cả các thành phần tự nhiên và hệ quả của mối quan

hệ trao đổi vật chất và năng lượng giữa chúng Nó giúp cho khi áp dụng phương pháp phânvùng theo yếu tố trội vẫn mang tính tổng hợp vì yếu tố đó thể hiện nguyên nhân và hậu quảcủa các quá trình xảy ra trong đơn vị đó

Trang 29

I.1.6.6 Quản lý dựa trên nguyên tắc đồng nhất tương đối

Bản thân các đơn vị phân chia là những đơn vị không đồng nhất tuyệt đối, nhất là ởcác yếu tố thứ cấp Tuỳ thuộc vào tỷ lệ nghiên cứu vì cấp phân vị mà tính đồng nhất cũng

có mức độ khác nhau, cấp phân vị càng thấp thì mức độ đồng nhất càng cao Các phân vịcùng cấp nhưng ở các vùng khác phải có sự phân dị, cũng như có sự phân hóa ở các cấpphân vị khác nhau

I.1.6.7 Phân vùng quản lý dựa trên nguyên tắc cùng chung lãnh thổ

Phân vùng là việc phân chia lãnh thổ ra các phân vị khác nhau Tác động của cácyếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội luôn thay đổi từ nơi này đến nơi khác, nếu các đơn vịkhông lặp lại tuyệt đối trong không gian phải có chung chú giải Ví dụ phân vùng cho cáclãnh thổ hoạt động công nghiệp phải dựa vào các chỉ tiêu như tiềm năng khoáng sản, vịthế khu vực, mức độ ô nhiễm, khả năng cấp nước, khả năng xử lý chất thải sau khi được

xử lý cho các đơn vị sau đó không bị ảnh hưởng và vẫn hoạt động theo chức năng củamình

Các loại phân vùng ngoài ý nghĩa khoa học là hoàn thiện các phương pháp nghiêncứu tự nhiên và hoạt động kinh tế - xã hội, hệ thống hóa các nghiên cứu, bổ sung nguồn tưliệu về các mặt mà nó còn có ý nghĩa thực tiễn Ý nghĩa trực tiếp có thể nhận thấy đối vớicác công tác điều tra, nghiên cứu cơ bản là có thể nắm bắt được các khu vực, mức độ nắmbắt được các đặc điểm tự nhiên và chưa nắm bắt được từ đó có kế hoạch điều tra, khảo sát

để phục vụ cho các yêu cầu của sử dụng lãnh thổ

Việc phân vùng QLTH đới bờ thực chất là việc lập kế hoạch phân chia lãnh thổphục vụ cho phát triển bền vững khu vực Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứngđược các yêu cầu hiện đại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của cácthế hệ mai sau…Về mặt nội dung nó phải đáp ứng được 3 yêu cầu:

- Phát triển kinh tế

- Phát triển phù hợp với điều kiện môi trường và công bằng xã hội

- Bảo vệ môi trường

Ngày nay trước yêu cầu của phát triển bền vững và bảo vệ môi trường công tácquy hoạch môi trường được coi là công đoạn cuối cùng cho các dự án phát triển tổng thể.Bản chất của quy hoạch môi trường là phân chia tổng thể ra các đơn vị sao cho trong hoạtđộng kinh tế - xã hội phải chi phí ít nhất mà mang lại lợi nhuận cao nhất đồng thời bảo vệđược môi trường

Đới bờ (bao gồm cả phần trên đất liền và biển nông thuộc phần lục địa) là lãnh thổ

có tính phức tạp cao do hệ tương tác của nhiều quyển trong quyển địa lý và nhiều dạng

Trang 30

tương tác môi trường, việc phân chia lãnh thổ cho mục đích sử dụng thực chất là phânvùng chức năng môi trường của các đơn vị tự nhiên.

I.2 Tình hình quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển I.2.1 Tổng quan các điều ước quốc tế về phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven biển trên thế giới

Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) đã được tổchức tại Rio de Janeiro, Braxin tháng 6 năm 1992 Đây là hội nghị lớn lần đầu tiên tronglịch sử gắn trực tiếp, rõ ràng các vấn đề về môi trường với phát triển UNCED được tổchức để đáp ứng nhận thức ngày một gia tăng trên thế giới là: môi trường và phát triểnkhông thể coi là hai lĩnh vực chính sách tách biệt và sự phát triển bền vững là nằm trong

sự lồng ghép chúng

Chương trình nghị sự 21 là chương trình hành động, đã được thông qua tại hội nghịthượng đỉnh Rio Nó liệt kê danh sách 40 hoạt động để thúc đẩy sự phát triển bền vững.Chương 17 của Chương trình nghị sự 21 với tiêu đề Bảo vệ đại dương và tất cả các biển,bao gồm biển kín, biển hở và các vùng ven bờ biển, đồng thời bảo vệ, khai thác và pháttriển hợp lý các nguồn tài nguyên của chúng, kêu gọi các quốc gia lựa chọn cách tiếp cậnmới trong quản lý và phát triển vùng ven bờ biển ở cấp quốc gia, liên quốc gia, khu vực

và toàn cầu, các phương pháp áp dụng được tổng hợp lại thành một nội dung thống nhất

để hướng dẫn phòng ngừa và ngăn chặn những vấn đề có thể xảy ra trong những khu vựcnhất định

Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững được tổ chức ở Johannesburg vàotháng 9 năm 2002 Tại đây, cộng đồng quốc tế đã khẳng định một lần nữa cam kết của họ

để đạt được sự phát triển bền vững ở tất cả các cấp (địa phương, quốc gia, khu vực vàtoàn cầu), cũng như việc thi hành tuyên bố Rio và Chương trình nghị sự 21 Trong nộidung về “Bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở của sự phát triểnkinh tế và xã hội”, các chính phủ đã thừa nhận rằng đại dương, biển, đảo và các vùng ven

bờ biển tạo thành một thể thống nhất và cốt yếu của hệ sinh thái trên trái đất và chúng lànhững đối tượng đang được quan tâm đối với an ninh lương thực toàn cầu, đối với việcduy trì nền kinh tế thịnh vượng và ổn định của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc giađang phát triển Các chính phủ cùng cam kết hành động ở tất cả các cấp độ (địa phương,quốc gia, khu vực, toàn cầu) trong đó có việc tăng cường quản lý tổng hợp, đa ngành, đalĩnh vực đối với vùng biển khơi và vùng ven bờ biển ở cấp quốc gia; khuyến khích vàgiúp đỡ các quốc gia ven biển xây dựng cơ chế, chính sách cho việc quản lý tổng hợpvùng ven bờ biển

Trang 31

Mỗi quốc gia khi tiến hành đánh giá tiềm năng của một chương trình Quản lý tổnghợp vùng ven bờ, đều có cách tiếp cận riêng của mình đến việc bảo tồn tài nguyên và sẽđối mặt vói những đặc thù riêng của vùng ven bờ Tốt nhất là làm sao cho chương trìnhQLTHVB trở thành nhiệm vụ chính trị của các chính quyền trung ương hoặc địa phương

và có được những hoạt động phù hợp trong nhiệm vụ bảo tồn tài nguyên

Trong suốt gần 3 thập kỷ qua, nhiều chương trình, dự án, chiến lược, kế hoạch quản

lý các vùng ven bờ biển trên thế giới đã được xây dựng và áp dụng vào thực tế với cácquy mô, phạm vi, mục tiêu và nội dung khác nhau như:

- Chương trình quản lý vùng ven bờ biển của Liên minh Châu Âu

- Chương trình quản lý tài nguyên biển châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê

- Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển biển Hắc Hải

- Khung Chiến lược quản lý vùng ven bờ biển của Hoa Kỳ

- Khung quản lý vùng ven bờ biển Vương Quốc Anh

- Chương trình quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Cộng hòa Tanzania

- Chương trình quản lý tổng hợp Cộng hòa Maldives

- Kế hoạch quản lý vùng ven bờ biển Victoria, Úc

- Chiến lược quản lý vùng ven bờ biển Cape Town, Nam Phi

Tại khu vực Đông Á, từ năm 1994 đến 1999, Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) đã cấp

8 triệu đô la cho Chương trình khu vực về Ngăn ngừa và Quản lý các biển Đông Á, xúctác cho các hoạt động giải quyết các vấn đề môi trường biển của Khu vực Trong giaiđoạn này, Chương trình đã xây dựng 2 dự án quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển trìnhdiễn cấp khu vực, đó là:

- Dự án trình diễn quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển tại Batangas, tại Philippin

- Dự án trình diễn quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển tại Hạ Môn, Trung QuốcChương trình này sau đó được mở rộng sang pha 2 (2000-2006), có tên mới là

"Chương trình hợp tác khu vực trong Quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA)với đóng góp từ GEF là 16,2 triệu đô la và từ các quốc gia thành viên và các nhà tài trợkhác là 12,5 triệu đô la Các quốc gia chia sẻ quan điểm, triển khai các chiến lược và kếhoạch hành động để đảm bảo cho các biển Đông Á có thể tiếp tục cung cấp các sản phẩm

và dịch vụ giá trị của chúng, đóng góp vào sự phồn vinh của các quốc gia trong Khu vực.Trong pha 2 này, 6 dự án trình diễn quốc gia về quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển

đã được xây dựng tại 6 nước là:

Trang 32

- Sihanoukville (Căm-pu-chia)

- Nampo (Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên)

- Bali (Inđô-nê-xi-a)

- Port Klang (Ma-lai-xi-a)

- Chonburi (Thái Lan)

- Đà Nẵng (Việt Nam)

Các điểm quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển song song (là những địa phương ápdụng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển theo cách tiếp cận của PEMSEA, nhận được tưvấn và hỗ trợ kỹ thuật từ PEMSEA, nhưng hoạt động bằng nguồn kinh phí không của

PEMSEA) bao gồm:

Mạng lưới các địa phương áp dụng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển trong khuônkhổ PEMSEA được hình thành và hoạt động có hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho cácđịa phương có dự án của Việt Nam tham gia, trao đổi kiến thức và chia sẻ kinh nghiệmtrong các hoạt động cụ thể của mình

Bên cạnh đó, các dự án quản lý các điểm nóng về môi trường cấp tiểu vùng và tiểukhu vực cũng đã được xây dựng và triển khai trong khuôn khổ PEMSEA, tập trung vàovấn đề “nóng” của từng tiểu vùng, tiểu khu vực đó:

- Vịnh Manila: quản lý nước thải

- Eo biển Malacca: quản lý an toàn môi trường hàng hải

- Biển Bohai: Quản lý mâu thuẫn sử dụng đa ngành

- Vịnh Thái Lan: ứng phó sự cố tràn dầu

Các dự án này cũng sử dụng cách tiếp cận quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển, thamgia chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và hỗ trợ mạng lưới các địa phương áp dụng quản lýtổng hợp vùng ven bờ biển của PEMSEA

I.2.2 Tình hình quản lý tổng hợp và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam

I.2.2.1 Vị thế và tiềm năng của biển và vùng ven bờ biển Việt Nam

Ba phần tư Việt Nam trên biển, cứ khoảng 1 km2 đất liền thì có gần 3 km2 vùngbiển đặc quyền kinh tế, gấp khoảng 1,6 lần trung bình của thế giới Cùng với vùngbiển rộng, Việt Nam còn có bờ biển dài hơn 3.260km (không kể bờ các đảo) chạy theohướng gần kinh tuyến và bình quân cứ 1km đường bờ biển có 100 km2 đất liền (tức làchỉ số biển khoảng 0,01), trong khi tỉ lệ này của thế giới là 0,06 Diện tích vùng biển

Trang 33

đặc quyền kinh tế của Việt Nam gấp 3 lần diện tích đất liền (khoảng 1.000.000 km2)với trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở ven bờ và ngoài khơi thuộc vùngbiển chủ quyền Đây là nét đặc trưng cơ bản về sự phân hoá lãnh thổ của Việt Nam,tạo cho nước ta có tính đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, nguồn lợi thuỷ sinh vật vàtiềm năng phát triển kinh tế biển-ven biển

Biển Việt Nam cũng chiếm một vị trí địa chính trị rất quan trọng trên bình đồ thếgiới và khu vực với tuyến hàng hải quốc tế lớn từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dươngcắt qua Vùng ven bờ biển là cửa ngõ hướng ra biển, nhiều khu vực ven biển và cụmđảo có thể phát triển thành những căn cứ hậu cần-dịch vụ cho các hoạt động biển xa,xây dựng thành các trung tâm kinh tế biển-đảo, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh

tế quốc tế Đồng thời đây cũng là một vùng biển phức tạp, luôn xảy ra những cuộctranh chấp kéo dài liên quan đến chủ quyền trên biển

Từ xa xưa, người Việt cổ đã xác lập cho mình một “nguồn gốc biển” ngay từtrong huyền thoại qua cuộc chia tay giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ Biển đã thực sựgắn bó với người dân Việt từ ngàn đời, là chỗ dựa sinh kế cho hàng chục triệu người.Nhưng đến nay vùng biển ven bờ nước ta đứng trước tín hiệu hết cá tôm, ngư dân gặpnhiều khó khăn, sinh kế của người dân ven biển và hải đảo bị ảnh hưởng Biển cũngluôn khắc nghiệt với con người, hoạt động trên biển và vùng ven bờ biển nước tathường chịu nhiều rủi ro, như: bão, lũ, nước dâng trong bão, ô nhiễm và suy thoái môitrường ven biển,

Bên cạnh đó, cũng phải nhấn mạnh rằng, mặc dù là quốc gia biển lớn, nhưngViệt Nam chưa từng là “quốc gia hàng hải”, chưa từng được công nhận là “cường quốcbiển”, mà vẫn là một quốc gia có trình độ khai thác biển lạc hậu so với khu vực nhưmột Luật gia biển người Canađa đã nhận xét khi ông đến Việt Nam năm 1989

Biển và vùng ven bờ biển thực sự là di sản thiên nhiên của dân tộc, là chỗ dựatinh thần và vật chất cho người dân Việt Nam hôm nay và mai sau Vì vậy, bảo vệ môitrường và tài nguyên biển và vùng ven bờ biển đã được Chính phủ và các địa phươngquan tâm, nhưng do thiếu cơ chế phối hợp liên ngành, nên hiệu quả sử dụng và quản lýcòn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng

Với tiềm năng và lợi thế như vậy, Việt Nam đã xác định nghề cá, hàng hải, dulịch và dầu khí là những ngành kinh tế biển then chốt trong Chiến lược biển Việt Namđến năm 2020 Và để phát triển kinh tế, vùng ven bờ biển và hải đảo tiếp tục là cácmảng không gian tiềm năng và là hướng ưu tiên phát triển trong thời gian tới Tỷ trọng

Trang 34

đóng góp GDP từ kinh tế biển khá lớn và ngày càng tăng: trong các năm 2003-2005,GDP của kinh tế biển đạt 12-13% tổng GDP cả nước, nếu tính cả vùng ven bờ biểnkhoảng 39-40% Trong kinh tế biển, khoảng 95-96% thuộc về đóng góp của các hoạtđộng diễn ra trên biển như khai thác dầu khí (33-34%), đánh bắt hải sản (25-26%),hàng hải và dịch vụ cảng (16-20%) và du lịch biển (17-20%) Vùng biển và ven biểncũng đóng góp lớn cho xuất khẩu, đạt hơn 5,8 tỷ USD vào năm 2003, chủ yếu dầu khí

và thủy hải sản Dự kiến phấn đấu đến năm 2020 đóng góp GDP từ khu vực này luôncao hơn bình quân trong các khu vực nội địa khoảng 1,3-1,5 lần Nâng tỷ trọng GDPcủa kinh tế biển và vùng ven bờ biển lên khoảng 15-16% tổng GDP cả nước, vàkhoảng 55-60% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước vào năm 2020

Nơi có tiềm năng phát triển đa ngành

Như trên đã nói, vùng ven bờ biển (coastal area) là không gian chuyển tiếp giữalục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác của các quá trình lục địa (chủ yếu sông)

và quá trình biển (chủ yếu sóng, dòng chẩy và thủy triều), giữa quá trình nội sinh vàngoại sinh, giữa các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người Nó bao gồm phần lụcđịa ven biển và vùng biển ven bờ liền kề (Chua Thia-Eng, 2006)

Đây là các hệ thống tự nhiên quan trọng làm tiền đề cho phát triển kinh tế biển,đảo, đặc biệt đối với kinh tế du lịch, hàng hải và nghề cá Sự phong phú, đa dạng vàgiầu có các loại hình tài nguyên thiên nhiên khiến cho vùng ven bờ biển trở thành đốitượng phát triển của nhiều ngành (đa ngành – multiple use) Các hoạt động phát triển ởđây luôn cạnh tranh và thường dẫn đến mâu thuẫn lợi ích giữa những người sử dụngtài nguyên bờ (coastal resources) Trong bối cảnh đó, cần có mô thức quản lý mới, cần

có cơ chế phối hợp liên ngành và lồng ghép các yếu tố tự nhiên và nhân tác trong quátrình quản lý vùng ven bờ biển

Vùng ven bờ biển nước ta có khoảng 2.700 hòn đảo lớn, nhỏ các loại với tổngdiện tích gần 1.700 km2, và đường bờ biển kéo dài trên 3.260km (không tính bờ cácđảo) với 114 cửa sông, 12 đầm phá (lagoon), 44 vũng biển (bay) và khoảng 126 bãi cátbiển đẹp Theo Viện Tài nguyên Thế giới (2000), vùng ven bờ biển là nơi có mức độ

đa dạng sinh học (ĐDSH) cao Các sinh vật sống ở vùng ven bờ biển tồn tại dưới dạng

các quần xã, quần thể, sinh cảnh và các hệ sinh thái Trong vùng biển và ven bờ Việt

Nam đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinhthái (HST) điển hình Ngoài ra, trên vùng ven bờ biển nước ta còn hiện diện các vùngđất ngập nước (ĐNN) với các kiểu loại khác nhau và chủ yếu thuộc về nhóm ĐNN ven

Trang 35

biển (coastal wetland) và ĐNN triều (tidal wetland) có môi trường nước mặn, lợ phân

bố từ mực triều cao xuống đến độ sâu 6m nước Các HST ĐNN này đóng vai trò rấtquan trọng trong việc điều hoà và cung cấp nước, giữ ổn định mực nước ngầm và cungcấp tiềm năng cho nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Tính toán sơ bộ cho thấy diện tích mặtnước mặn, lợ có khả năng phát triển NTTS ở vùng triều nước ta khoảng 1.130.000 ha.Diện tích trồng lúa, cói và làm muối năng suất hiệu qủa thấp ở ven biển có thể chuyểnđổi sang NTTS còn khoảng gần 500.000 ha Diện tích các vùng đầm phá tập trung ởcác tỉnh miền Trung (từ Thừa Thiên-Huế đến Bình Thuận) có khả năng phát triển thuỷsản khoảng 12.000 ha và có thể đưa trên 500.000 ha mặt nước vùng ven bờ vào pháttriển NTTS Ngoài ra, có khả năng đưa 20.000 ha vùng bãi ngang sát biển vào NTTSvới điều kiện phải bảo vệ nguồn nước ngầm ngọt có ý nghĩa sống còn đối với ngườidân trong vùng

Ngoài ra, vùng ven bờ và hải đảo còn có nguồn năng lượng biển tiềm năng (từsóng, dòng chẩy và thuỷ triều) và năng lượng gió - là những nguồn năng lượng sạch cóthể sử dụng ‘vĩnh cửu’ mà đến nay còn chưa được chú ý đầu tư khai thác Dọc ven

biển đã phát hiện được các sa khoáng khoáng vật nặng của các nguyên tố hiếm quí như

titan, ziacon và xeri; vật liệu xây dựng và cát thuỷ tinh phân bố rộng rãi dọc ven biển

và dưới đáy biển với trữ lượng khá Theo đánh giá sơ bộ, tiềm năng diện tích để pháttriển đồng muối ven biển nước ta từ 50 đến 60 ngàn ha

Các đe doạ đến môi trường vùng ven bờ biển

Vùng ven bờ biển mặc dù có nhiều chức năng và vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu

sử dụng tài nguyên biển và bờ ngày một tăng, đồng nghĩa với sự gia tăng các sức ép lênmôi trường và tài nguyên ở đây Các chất thải không qua xử lý từ các lưu vực và vùng ven

bờ biển được đưa ra biển ngày càng nhiều, làm cho nhiều vùng biển ven bờ có nguy cơ bịthiếu ôxy trên diện rộng, khiến cho một số loài chim biển và sinh vật biển bị đe doạ Một

số loài hải sản kinh tế ở các vùng cửa sông ven biển cũng tích lũy các chất gây ô nhiễmđộc hại trong cơ thể của mình, con người ăn phải có hại cho sức khỏe

Các báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm trình Quốc hội đã chỉ ra: chất lượngmôi trường biển và vùng ven bờ tiếp tục bị suy giảm Môi trường vùng nước ven bờ đã bị

ô nhiễm dầu, kẽm và chất thải sinh hoạt Chất lượng trầm tích đáy biển ven bờ - nơi cư trúcủa nhiều loài sống đáy - cũng bị ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn của Trung Quốc, Mỹ vàCanada Hàm lượng hoá chất bảo vệ thực vật chủng Andrin và Endrin của các mẫu sinhvật đáy ở các vùng cửa sông ven biển phía Bắc đều cao hơn giới hạn cho phép ĐDSH

Trang 36

động vật đáy ở ven biển miền Bắc và thực vật nổi ở miền Trung suy giảm rõ rệt Hiệntượng thuỷ triều đỏ và bùng phát tảo nở hoa xuất hiện thường xuyên hơn, tuy quy môkhông lớn, ở ven bờ miền Trung, như ở Nha Trang và Đà Nẵng,

Hiện nay ở vùng biển Việt Nam có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thácdầu khí Ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, hoạt động này còn phát sinhkhoảng 5.600 tấn chất thải rắn, trong đó có 20-30 % là chất thải rắn nguy hại còn chưa cóbãi chứa và nơi xử lý Sự cố tràn dầu và thải dầu cặn vẫn tiếp tục xảy ra nhiều, đôi khitrên diện rộng và gây thiệt hại lớn Từ năm 1994-2007 đã xác định được khoảng trên 50

vụ tràn dầu với số lượng dầu tràn trên 5.000 tấn, và đôi khi trên diện rộng (năm 2007)

Từ vùng kinh tế trọng điểm ven biển phía Nam đã thải vào các sông một lượng nướcthải sinh hoạt là 113.216 m3/ngày và nước thải công nghiệp-312.330 m3/ngày Sông SàiGòn, sông Vàm Cỏ đã bị axit hoá nặng (tương ứng pH = 4,4-5,0 và 3,8-4,0) do rửa trôiphèn từ các sông rạch và chất thải gây nên ở vùng nước ven bờ, dự kiến đến năm 2010chất thải sẽ tăng rất lớn: dầu khoảng 35-160 tấn/ngày, nitơ tổng số 26-52 tấn/ngày và tổngamonia 15-30 tấn/ngày Ở miền Bắc, các sông Cầu, Đáy, Nhuệ cũng bị ô nhiễm nặng vàcuối cùng đều có thể thải ra biển nếu không được sử lý tốt

Nước ngầm bị khai thác quá mức phục vụ nuôi tôm và các dịch vụ đi kèm dẫn đếnhiện tượng thâm nhập mặn và lún sụt địa tầng cục bộ như vùng rìa phía đông nam bán đảo

Cà Mau Đặc biệt ở những khu vực nuôi tôm trên cát ven biển miền Trung, nơi nguồnnước ngầm tự nhiên không lớn và khan hiếm, trong khi nhu cầu nước cho vùng nuôi ngàycàng tăng Tổn thất ĐDSH vùng ven bờ biển: giảm số lượng loài, một số loài bị tiệtdiệt, dẫn đến giảm năng suất khai thác tự nhiên vùng ven bờ biển Đã có khoảng 85 loàihải sản có mức độ nguy cấp khác nhau, trong đó có nhiều loài vẫn đang là đối tượng bịtập trung khai thác

Không thể kể hết các tác động đến môi trường và tài nguyên bờ do con người gây ra,nhưng thực tế con người đã nếm trải đủ thất bại và thiệt hại do những hành vi thiếu khônkhéo trong khai thác và sử dụng tài nguyên bờ Chính vì thế, cộng đồng thế giới và cácquốc gia phải nỗ lực nhiều hơn nữa, bền bỉ và khôn khéo để vừa khai thác vừa bảo tồnmôi trường biển để duy trì cuộc sống ổn định cho loài người, đặc biệt là cộng đồng venbiển

Công ước Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển: các hoạt độngtrên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy biển, thải các chất

Trang 37

độc hại ra biển, vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm không khí Tuy nhiên, để đơngiản người ta thường ghép chúng vào hai nhóm chính: ô nhiễm nguồn lục địa (land-basedpollution), loại này chiếm tới trên 50% luợng gây ô nhiễm biển; phần còn lại thuộc vềnhóm ô nhiễm nguồn biển (sea-based pollution) Theo GESAMP (1990) trên 90% tất cảhoá chất, phế thải và vật liệu khác đưa vào vùng ven bờ đều được tích tụ lại trong trầmtích đáy, trong các vùng đất ngập nước, trong các rạn san hô viền bờ và các hệ sinh thái(HST) khác ở vùng ven bờ biển, và vùng ven bờ là nơi tập trung cao các chất gây ô nhiễmnguồn khác nhau

Do nhu cầu phát triển kinh tế, các đối tượng nuôi thuỷ sản cũng đa dạng (ngao, sò,tôm, cá nước lợ,…), cùng với việc khai thác gỗ củi bừa bãi khiến cho diện tích rừng ngậpmặn (RNM) ngày càng bị thu hẹp, môi trường rừng bị suy thoái và nguồn lợi thuỷ sản venbiển bị cạn kiệt Theo Viện Tài nguyên Thế giới (2000, 2002), khoảng 80% rạn san hô vàthảm cỏ biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi ro, trong đó 50% ở tình trạng rủi ro cao

Về tình trạng rạn: khoảng 20% rạn ở Việt Nam có độ phủ san hô sống nghèo (độ phủ 25%), 60% thuộc loại thấp (26-50%), 17% còn tốt (51-75%) và chỉ 3% rất tốt (>75%).Tình trạng các HST ven bờ như vậy ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến khả năng chống đỡvới thiên tai (kể cả sóng thần) của vùng ven bờ biển

0-Với hơn 3.260 km đường bờ biển và hai đồng bằng châu thổ lớn, Việt Nam là mộttrong nhiều quốc gia sẽ bị tác động mạnh của BĐKH Theo dự báo của Ngân hàng thếgiới (2007), nếu mực nước biển dâng thêm 1m sẽ gây ảnh hưởng tới đời sống của 10,8%dân số Việt Nam sống tập trung tại các vùng châu thổ; nếu dâng 95cm thì khoảng 16%diện tích đất ven bờ sẽ bị ngập lụt, và khoảng 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốcdân (GDP) bị đe dọa Rõ ràng, đó là vấn đề cấp bách không những trước mắt mà cả lâudài của Việt Nam Theo báo cáo của Cơ quan quốc tế về BĐKH (2007), biến đổi và biếnthiên khí hậu gây ảnh hưởng đến thủy sản, nghề cá và cộng đồng ngư dân Nhiệt độ tăng,mực nước biển dâng và thay đổi lượng mưa làm cho các hệ sinh thái, sản lượng đánh bắt

cá, cơ sở hạ tầng và sinh kế nghề cá dễ bị tổn thương

I.2.2.2 Các thách thức chủ yếu đối với QLTHVB

Về mặt xã hội

Khoảng cách giàu nghèo giữa các cộng đồng nông thôn ven biển vẫn ngày mộttăng Tỷ lệ nghèo đói cao sẽ rất khó cho việc đầu tư phát triển theo hướng công nghiệphóa, hiện đại hóa Còn người nghèo, túng quẫn vẫn sẵn sàng “thế chấp tương lai”, vì

Trang 38

họ không còn gì ngoài bản năng tồn tại Kết cục họ đã rơi vào một vòng luẩn quẩn:

nhu cầu sinh kế-khai thác quá mức-cạn kiệt nguồn lợi-nghèo khó như sơ đồ dưới đây:

Trang 39

Bao thế hệ người Việt đã hình thành thói quen ứng xử biển cả rất đặc trưng:

khai hoang lấn biển để phát triển nền văn minh nông nghiệp, phần rất nhỏ tiến ra biển kiếm sống bằng nghề đánh cá Suốt một thời gian dài chúng ta lúng túng với

cách lựa chọn “tiến ra biển”, trong khi năng suất trồng lúa ở vùng ven bờ biển rấtthấp, còn người nông dân vẫn “thiếu cá biển trong bữa ăn hàng ngày” Có thể nói,ảnh hưởng của lối tư duy nông nghiệp và phong cách nông dân trong cách ứng xửvới biển cả nói trên còn mãi cho đến ngày nay Thậm chí, theo Phiên An “Ngay cảkhi sống nhờ biển, ngư dân Việt Nam vẫn hướng về nông nghiệp, làng của họ được

tổ chức ở nơi có nguồn nước ngọt, có đất đai mầu mỡ để làm thêm nghề nông Có

lẽ, người Việt đã cố kéo nếp sống của ruộng đồng ra biển và có thể nhìn thấy điều

đó trong tập quán sống của họ” Còn Nguyên Ngọc trong Chuyện Ông già trên núi Hòn Nghệ thì cho rằng: “ có lẽ một trong những “chỗ yếu” rất đáng chú ý của dân

tộc ta là chúng ta rất sợ biển; đất nước quay mặt ra biển, có đến mấy nghìn cây số

bờ biển, mà suốt lịch sử chúng ta có bao giờ dám đi ra biển xa, biển lớn, ra đạidương đâu, chỉ quanh quẩn ven bờ, khư khư bám chặt lấy đất liền”

Khoảng 20 triệu người dân ven biển có sinh kế phụ thuộc trực tiếp hoặc giántiếp vào nguồn tài nguyên biển và vùng ven bờ biển Nhưng họ rất dễ bị tổn thương

từ do thiên tai và sự cố môi trường vùng ven bờ biển, đặc biệt là dưới tác động củabiến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, trong khi họ không có điều kiện tiếp cậnthông tin, nhận thức về tài nguyên và môi trường vùng ven bờ biển còn rất hạn chế

Nhu cầu sinh kế

Khai thác quá mức

Suy thoái môi trường và cạn kiệt nguồn lợi

Nghèo khó

Trang 40

Có thể nói, quản lý nhà nước về biển và vùng ven bờ biển thiếu thống nhất, cònchồng chéo và chưa liên ngành Đã có nhiều cơ quan quản lý khác nhau liên quan đếnvùng ven bờ biển, nhưng vẫn chồng chéo về chức năng và nhiệm vụ, trong khi cónhững mảng trống bị bỏ ngỏ không ai có trách nhiệm giải quyết Theo từng vấn đề/lĩnhvực cũng xảy ra tình hình tương tự Ví dụ, đến cuối năm 2003, vấn đề quản lý các khubảo tồn thiên nhiên mới được làm sáng rõ hơn qua quyết định của Chính phủ giao việcquản lý các khu bảo tồn biển (KBTB) cho Bộ Thủy sản, đất ngập nước cho Bộ Tàinguyên và Môi trường và rừng cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chương trình Nghị sự 21 (CTNS-21) của Việt Nam về các định hướng phát triển bền vững cũng được Chính phủ thông qua vào cuối năm 2004, hiện đang ở giai

đoạn triển khai thí điểm ở 6 tỉnh và 3 ngành kinh tế (Công nghiệp, Thủy sản, Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn) Chính phủ đã thành lập Hội đồng Quốc gia về Pháttriển bền vững (PTBV) do 01 Phó Thủ tướng làm Chủ tịch với các thành viên thuộccác bộ, ngành và địa phương Văn phòng CTNS-21 quốc gia cũng được thiết lập ở Bộ

Kế hoạch và Đầu tư với tư cách là cơ quan thường trực chỉ đạo việc thực hiện PTBV.Các bộ và địa phương sẽ thành lập Ban chỉ đạo PTBV ngành/địa phương Tuy nhiên,vẫn thiếu vắng sự phối hợp theo cách tiếp cận liên ngành giữa các cơ quan quản lý, cơquan khoa học, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương trong việc sử dụng

và quản lý tài nguyên vùng ven bờ biển

Hoàn toàn chưa có thiết chế tổ chức với quyền lực đủ mạnh ở cấp quốc gia, cókhả năng phối hợp liên ngành để điều hòa lợi ích chung của các ngành, của người dân

và giữa các mảng phúc lợi kinh tế-xã hội và môi trường theo các nguyên tắc của quản

lý tổng hợp vùng ven bờ biển Các nỗ lực gần đây của Bộ Tài nguyên và Môi trườngtrong việc thử đề xuất một mô hình thí điểm hiện nay về thiết chế tổ chức cho quản lýtổng hợp vùng ven bờ biển ở Việt Nam chưa đáp ứng được những đòi hỏi nói trên, cònchưa “đủ tầm”

Mặc dù rải rác cũng đã có một số mô hình quản lý dựa vào cộng đồng hoặc tựquản của nhân dân địa phương thành công bước đầu, như: thiết lập khu bảo tồn biểnRạn Trào (Khánh Hòa), một vài khu bảo tồn RNM Vạn Ninh (Khánh Hòa), Phù Long-Cát Bà (Hải Phòng) và bảo tồn rùa ở Ninh Thuận, đồng quản lý nghề cá ở Hải Lạng(Quảng Ninh) Nhưng chưa có mô hình ổn định sau khi các dự án thí điểm kết thúc,cho nên không thể nhân rộng các mô hình Đóng góp của các tổ chức quần chúng-xãhội như Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Thiếu niên, các Hội nghề nghiệp (cựuchiến binh, nghề cá ) đã bước đầu phát huy tác dụng thông qua phát động một sốphong trào Công tác giáo dục và đào tạo môi trường biển đã được triển khai trongcộng đồng và trong các bậc học Tuy vậy, vai trò và sự tham gia của người dân địa

Ngày đăng: 12/05/2016, 10:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Asley B., Nguyễn Ngọc Sinh, Hứa Chiến Thắng, 1998. Hiện trạng môi trường biển và đới bờ Việt Nam. Tuyển tập Môi trường Biển Việt Nam”. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng môi trường biển và đới bờ Việt Nam". Tuyển tập Môi trường Biển Việt Nam
2. Hồ Nhân Ái, 2009. Quản lý tổng hợp trong quản lý ven bờ và đại dương – thực tiễn ở Việt Nam, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, số 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp trong quản lý ven bờ và đại dương
3. Lê Đức An, 1982. “Những nét chung về lịch sử địa hình đới ven biển Thuận Hải–Minh Hải”. Thông tin KHKT ĐC,11: 18-23, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những nét chung về lịch sử địa hình đới ven biển Thuận Hải–Minh Hải”
5. Lê Đức An (chủ biên) và nnk, 1995: “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ biển Việt nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển”, Báo cáo tổng hợp đề tài KT.03.12. Viện Địa lý, Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống đảo ven bờ biển Việt nam trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội biển
7. Nguyễn Tác An, Nguyễn Kỳ Phùng, Trần Bích Châu, 2008. Quản lý tổng hợp đới ven biển ở Việt Nam: mô hình và triển vọng. Hội thảo Khoa học Kỷ niệm 5 năm thành lập Khoa học kỹ thuật Biển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tổng hợp đới ven biển ở Việt Nam: mô hình và triển vọng
8. Nguyễn Biểu, Đào Mạnh Tiến và nnk, 2001. “Điều tra địa chất tìm kiếm khoáng sản rắn vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000”. Lưu trữ Trung tâm Địa chất và Khoáng sản Biển, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra địa chất tìm kiếm khoáng sản rắn vùng biển nông ven bờ (0-30m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000”
9. Trương Văn Bốn, 2006. “Dự tính mực nước thủy triều ven biển vịnh Bắc Bộ bằng phần mềm Mike 21 HD”. Tạp chí khoa học công nghệ Thủy Lợi số 3/10, 2006. Lưu trữ Trường Đại học Thủy lợi, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự tính mực nước thủy triều ven biển vịnh Bắc Bộ bằng phần mềm Mike 21 HD”
10. Nguyễn Trần Cầu, Nguyễn Văn Vinh và nnk, 1991 . Vùng tự nhiên – kinh tế - xã hội và ý nghĩa của nó đối với quy hoạch sản xuất. Tạp chí Hội nghị các khoa học về Trái đất. Viện khoa học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng tự nhiên – kinh tế - xã hội và ý nghĩa của nó đối với quy hoạch sản xuất
11. Lưu Văn Diện, Vũ Thị Lưu, 2000. “Một số nhận xét về xu thế biến động môi trường vùng biển Việt Nam - Tài nguyên và Môi trường biển Việt Nam (Tập VIII) ”.Trang 125-135, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Văn Diện, Vũ Thị Lưu, 2000. “Một số nhận xét về xu thế biến động môi trường vùng biển Việt Nam -" Tài nguyên và Môi trường biển Việt Nam (Tập VIII) ”
12. Nguyễn Bá Diến (chủ biên), 2006 Chính sách pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững, Trung tâm Luật biển và hàng hải quốc tế, ĐHQGHN- Khoa luật, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững
Nhà XB: NXB Tư pháp
14. Nguyễn Địch Dỹ và nnk, 1995. “Báo cáo kết quả ngiên cứu Đệ Tứ “Địa chất Đệ Tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan”. Mã số KT.01 – 07. Lưu trữ Viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo kết quả ngiên cứu Đệ Tứ “Địa chất Đệ Tứ và đánh giá tiềm năng khoáng sản liên quan”
17. Vũ Hòa, Lê Tơn và nnk, 1991 – 2001. “Lập bản đồ độ sâu biển nông ven bờ Việt Nam, tỷ lệ1/500.000”. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Lập bản đồ độ sâu biển nông ven bờ Việt Nam, tỷ lệ1/500.000”
18. Nguyễn Chu Hồi và nnk, 2000. Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển biển Việt Nam, đảm bảo an toàn sinh thái và phát triển bền vững.Báo cáo đề tài cấp nhà nước 06 – 07. Lưu trữ Bộ Khoa học và Công nghệ - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển biển Việt Nam, đảm bảo an toàn sinh thái và phát triển bền vững
19. Nguyễn Chu Hồi, 2008. Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Hạ Long Quảng Ninh. Lưu trữ Trung tâm thông tin Khoa học công nghệ quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Hạ Long Quảng Ninh
22. Nguyễn Văn Khánh, Phạm Văn Hiệp, Đai, 2009 “Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng Cd và Pb của loại hiếm vùng cửa sông ở thành phố Đà Nẵng”. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 1(130) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu sự tích lũy kim loại nặng Cd và Pb của loại hiếm vùng cửa sông ở thành phố Đà Nẵng”
98. Để Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, 8-2006. http://www.molisa.gov.vn/ Link
102. Luật Quản lý tổng hợp đới bờ số 6217 năm 1972 của Hoa Kỳ, trên trang web http://ipl.unm.edu/cwl/fedbook/czma.html Link
103. Quản lý tổng hợp biển phục vụ phát triển bền vững đăng trên http://www.vfej.vn/vn/chi_tiet/19260/quan_ly_tong_hop_tai_nguyen_bien_phuc_vu_phat_trien_ben_vung Link
105. Quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển: phương thức tối ưu đang trên: http://www.nea.gov.vn/tapchi/Toanvan/07-2k3-26.htm106. Tạp chí Biển Việt Nam, Số 1+2/2009 Link
128. Summary of Ocean and Coastal programs, trên trang web http://www.un.org/esa/agenda21/natlinfo/countr/japan/index.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ tiếp cận và phương pháp nghiên cứu - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 1.1 Sơ đồ tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (Trang 78)
Bảng 2.1. Nhiệt độ trung bình (oC) tháng và năm đới bờ Việt Nam - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.1. Nhiệt độ trung bình (oC) tháng và năm đới bờ Việt Nam (Trang 82)
Bảng 2.12: Phân vùng kiểu chế độ nước sông dải ven biển Việt Nam - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.12 Phân vùng kiểu chế độ nước sông dải ven biển Việt Nam (Trang 180)
Bảng 2.26: Phân loại ô nhiễm bụi các tỉnh, thành ven biển - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.26 Phân loại ô nhiễm bụi các tỉnh, thành ven biển (Trang 218)
Bảng 2.27: Phân loại ô nhiễm SO 2  các tỉnh, thành ven biển Tỉnh, thành SO 2 (mg/m 3 ) Phân loại Vùng - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.27 Phân loại ô nhiễm SO 2 các tỉnh, thành ven biển Tỉnh, thành SO 2 (mg/m 3 ) Phân loại Vùng (Trang 220)
Bảng 2.28. Đề xuất phân vùng quản lý theo mức độ ô nhiễm các tỉnh, - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.28. Đề xuất phân vùng quản lý theo mức độ ô nhiễm các tỉnh, (Trang 222)
Bảng 2.30. Hàm lượng trung bình của các nguyên tố trong nước biển thế giới và giới - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Bảng 2.30. Hàm lượng trung bình của các nguyên tố trong nước biển thế giới và giới (Trang 230)
Hình 3.3. Mô hình xung đột giữa nhóm nuôi trồng thuỷ sản và nhóm du lịch - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 3.3. Mô hình xung đột giữa nhóm nuôi trồng thuỷ sản và nhóm du lịch (Trang 400)
Hình 6. XĐMT giữa hai nhóm khai thác khoáng sản và du lịch - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 6. XĐMT giữa hai nhóm khai thác khoáng sản và du lịch (Trang 403)
Hình  3.7. . XĐMT giữa hai nhóm khai thác khoáng sản và du lịch - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
nh 3.7. . XĐMT giữa hai nhóm khai thác khoáng sản và du lịch (Trang 403)
Hình 3.8. Xung đột giữa nhóm hoạt động giao thông vận tải với - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 3.8. Xung đột giữa nhóm hoạt động giao thông vận tải với (Trang 404)
Hình 8. Xung đột giữa nhóm hoạt động du lịch với các nhóm khác trong khai thác sử - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 8. Xung đột giữa nhóm hoạt động du lịch với các nhóm khác trong khai thác sử (Trang 405)
Hình 9. Xung đột môi trường giữa khai thác tài nguyên và bảo tồn tài nguyên - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 9. Xung đột môi trường giữa khai thác tài nguyên và bảo tồn tài nguyên (Trang 406)
Hình 10. XĐMT giữa nhóm khai thác tài nguyên rừng và bảo tồn rừng - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Hình 10. XĐMT giữa nhóm khai thác tài nguyên rừng và bảo tồn rừng (Trang 407)
Sơ đồ phân vùng sử dụng  vịnh   Batangas   và   Tập  atlas quản lý môi trường  vịnh Batangas - Bao cao tong hop KC 09 27 nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển việt nam
Sơ đồ ph ân vùng sử dụng vịnh Batangas và Tập atlas quản lý môi trường vịnh Batangas (Trang 497)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w