Ngoài ra, trống quá trình hồ, các tính chất công nghệ khác của sợi cũng được cải thiện: sợi không bị sổ lông vì các đầu sợi thò ra được kết dính vào thân sợi, tính chất chống mài mòn của
Trang 1CHƯƠNG 3:
TỔ CHỨC LAO ĐỘNG VÀ ĐỊNH MỨC KỸ THUẬT
CỦA QUÁ TRÌNH HỒ SỢI DỌC
I – ĐẶC TRƯNG TÓM TẮT CỦA QUÁ TRÌNH:
Không có một bước công nghệ chuẩn bị sợi dọc nào có giá trị quyết định tới năng suất máy dệt và chất lượng sản phẩm như quá trình hồ
Một máy hồ có thể phục vụ cho cả xưởng dệt trống nhà máy Do đó ta thấy
rõ rằng việc tổ chức quá trình hồ sợi cho đúng đắn là rất quan trọng vì nó làm cho điều kiện lao động trống xưởng dệt được cải thiện
Mục đích của quá trình hồ cơ bản là tạo cho sợi có những tính chất công nghệ mới tạm thời, nhờ đó cho phép sợi đi qua các giai đoạn công nghệ chính trống quá trình dệt được dễ dàng
Trống quá trình hồ người ta cho sợi dọc đi qua chất hồ dung dịch kết dính, ở đây, sợi được ngấm hồ, sau đó sợi được đi qua các trục ép để ép những phần hồ thừa ra, qua sấy và cuối cùng cuộn lên trục dệt
Sợi được ngấm hồ sẽ có độ bền tốt hơn, chống lại sự ma sát ngày càng tăng, trống dung dịch hồ còn có chất làm mềm (dầu, mỡ) để làm cho sợi mềm mại hơn
Độ bền của sợi sau khi hồ tăng lên khá lớn
Ngoài ra, trống quá trình hồ, các tính chất công nghệ khác của sợi cũng được cải thiện: sợi không bị sổ lông (vì các đầu sợi thò ra được kết dính vào thân sợi), tính chất chống mài mòn của sợi được nâng cao (bằng cách bao phủ thân sợi một lớp hồ), tạo cho sợi có độ bền cao và hệ số ma sát giảm, nâng cao độ chịu đựng đối với các tải trọng kéo căng trên máy dệt (quá trình tạo miệng vải)
Việc cải thiện tính chất công nghệ của sợi phụ thuộc nhiều vào việc chuẩn bị chất hồ và chất lượng của vật liệu dính kết hồ, độ ẩm và phần trăm chất dính…
Việc phân bổ sợi dọc từ một số trục mắc lên một trục dệt theo một chiều dài sợi quy định, chiều rộng và số sợi đã tính toán sẽ làm cho việc sử dụng được thuận tiện và cải thiện quá trình công nghệ tiếp sau hồ Chất lượng hồ phụ thuộc và có liên quan nhiều đến quá trình tạo một lớp hồ, sắp xếp sợi dọc có thứ tự, đặt dây tách và que tách, cuộn sợi dọc lên trục dệt, chất lượng của buồng sấy (thùng sấy)… Tất cả các điều này phụ thuộc vào tay nghề của công nhân nấu hồ và công nhân hồ Trống quá trình sản xuất, công nhân hồ cần phải giảm ít nhất lượng sợi phế, điều này ảnh hưởng đến năng suất máy
Trang 2Dạng sợi phế chính trống khâu hồ là đoạn sợi cuối lớp và đầu lớp Phế liệu tạo nên là do việc hãm các trục mắc không đồng đều, tức là tải trọng đặt lên các trục không đúng Sự hãm các trục khác nhau sẽ tạo nên sức kéo dãn trống sợi trên các trục khác nhau, kết quả là trục này sẽ hết trước và trục kia sẽ hết chậm hơn Do
đó việc phân bổ tải trọng đặt vào các trục sẽ cho phép giảm lượng sợi phế đáng kể
Số lượng sợi tở ra từ các trục mắc khi lên một lớp hồ, trước tiên bị ảnh hưởng của chất lượng lớp ngoài cùng của các trục đó Nếu các trục mắc được tổ chức vận chuyển tốt và sắp xếp đúng thì cũng có thể giảm được một phần quan trọng lượng sợi phế
Quá trình hồ sợi dọc được thực hiện một cách có chu kỳ, chu kỳ này được bắt đầu bằng thời kỳ mắc lớp hồ bao gồm các trục mắc, đưa sợi qua dung dịch hồ, qua buồng sấy (thùng sấy), quấn sợi dọc đã được hồ, được sấy khô lên trục dệt theo một chiều dài định trước Sau khi chạy hết lớp hồ thì quá trình hồ lại lặp lại
Trống nhiều trường hợp công nhân hồ được thanh toán theo chế độ trả lương theo thời gian, hoặc theo chế độ lương khoán gián tiếp tức là theo năng suất của thợ dệt Cũng vì vấn đề này ở nhiều nhà máy dệt, trống giới cán bộ sản xuất hình thành
tư tưởng cho rằng đối với lao động phục vụ cho máy hồ không cần định mức Tư tưởng này không hoàn sai nhưng nó không xác thực
Nếu nghiên cứu mức gia công của công nhân hồ thì không bắt buộc phải quy định trước các nhiệm vụ cho họ
Như vậy, định mức lao động cho công nhân hồ không phải là chỉ xác định tiền lương sản xuất mà còn cần cho việc áp dụng các phương pháp tổ chức lao động hợp lý, sử dụng sức con người tốt hơn, tính toán cường độ làm việc của thiết bị đúng đắn và tiến hành phân tích được cặn kẽ quá trình hoàn thành các mức năng suất thiết bị
II – TỔ CHỨC LAO ĐỘNG PHỤC VỤ MÁY HỒ:
Có hai công nhân hồ phục vụ cho một máy hồ: một công nhân là thợ cả và một công nhân là thợ thứ
Nhiệm vụ của thợ cả:
- Kiểm tra sự đúng đắn của quá trình bố trí sợi dọc đều đặn có thứ tự;
- Kiểm tra sức căng giữa các thùng sấy và trục dệt;
- Kiểm tra độ ẩm, độ dính và chất lượng sợi dọc qua hồ;
- Quan sát chất lượng dung dịch hồ, sự làm việc của các bộ khống chế, chất lượng sợi mắc;
- Quan sát sự làm việc của máy hồ trống khu vực lắp các trục mắc, khu vực chậu đựng hồ và khu vực sấy;
Trang 3- Quan sát sự làm việc của thợ thứ.
Ngoài công nhân hồ, biên chế trống khâu hồ còn có: phó chủ nhiệm, công nhân nấu hồ, thợ nấu hồ cả, công nhân kiểm tra trục dệt, công nhân vận chuyển Phần lớn trống gian máy hồ còn có một thợ nguội hay một tổ thợ nguội để sửa chữa
Việc thống kê các trục dệt lấy ra khỏi máy, việc thu nhận sợi phế, và cũng như việc ghi nhận trọng lượng, dự trù các trục mắc đặt vào máy hồ do nhân viên thống kê làm, nhân viên này đồng thời cũng thống kê cho cả công đoạn xâu go
1 – Tổ chức chỗ làm việc:
Chỗ làm việc của công nhân hồ cần có các thiết bị kỹ thuật tốt Cần cung cấp
đủ nguyên liệu, điện, hơi, các dụng cụ lao động, vật liệu và các phương tiện cần thiết cho công nhân
Ở nơi làm việc của công nhân hồ thường xuyên có chổi, phao dầu, các móc, tua vít, nhiệt kế Không lệ thuộc gì vào chế độ máy, mỗi công đoạn hồ đều phải có một phòng thí nghiệm để phân tích hóa tính của chất chuẩn bị hồ Để nâng cao chất lượng hồ, việc tổ chức nấu hồ một cách đúng đắn là rất quan trọng Các thùng nấu
hồ cần có nhiệt kế để chỉ mức độ của hồ Trống bộ phận nấu hồ cần có cân và các đĩa tương ứng
Điều kiện lao động của công nhân được cải thiện đáng kể là nhờ bố trí được trên máy hồ những thiết bị khống chế tự động và tự động điều chỉnh quá trình hồ sợi dọc
Nhiệm vụ của công nhân còn phải giữ cho máy sạch, cho dầu mỡ vào máy một cách đều đặn tránh cho sợi bị bẩn và ngăn ngừa những lỗi để lại trống vải do
hồ gây ra
Sợi trên trục mắc được giữ trống công đoạn hồ Mỗi trục mắc được phủ một cái bao và được sắp xếp theo chi số sợi và số lượng sợi trên một trục Khi đó các trục mắc được phân thành nhóm theo chi số của máy mắc
Các chăn hồ dự trữ, dây thừng, dẻ lau, chổi tay và bàn chải để quét sân cần được sẵn sàng ở kho của công đoạn
Các vật liệu bôi trơn được giữ trống các thùng chuyên dùng đặt trống công đoạn hồ
2 – Nhận và giao ca:
Cả hai công nhân hồ trước khi bắt đầu làm việc đều phải mặc quần áo lao động, sau đó cùng với công nhân giao ca cho mình kiểm tra sự làm việc của máy móc, kiểm tra việc mắc các trục mắc, các việc đã khắc phục tốt hoặc còn tồn tại,
Trang 4thông báo về các chỉ thị do phó chủ nhiệm, chủ nhiệm ca và quản đốc xưởng để đưa ra trống ca
Thợ cả trống công đoạn hồ kiểm tra sự sạch sẽ của toàn máy và nơi làm việc, tình hình trạng thái của các dây truyền động của máy, các vòng bi, gối trục của các
bộ phận chuyển động chính của máy, độ kéo căng của sợi, tình trạng thùng sấy, lượng hơi quá nhiệt ở trống thùng sấy, số lượng hiện có của các dụng cụ và chất lượng của nó, kiểm tra các cơ cấu đo, đồng hồ đo chiều dài, các thiết bị khống chế
tự động, chất lượng dung dịch hồ trống bể hồ và số sợi phế
Thợ thứ của khâu hồ phải kiểm tra sự sạch sẽ của máy, độ dính của hồ, kiểm
ra sự bố trí lắp đặt của các trục mắc trên giá hồ và tình hình hãm các trục này, kiểm tra các lỗi trên trục mắc, cũng như kiểm tra các cơ cấu chuyển động khác
Công nhân hồ cần phải báo cáo cho phó chủ nhiệm biết những trục trặc xuất hiện trống quá trình làm việc của thiết bị
Khoảng một giờ trước khi kết thúc ca làm việc công nhân hồ bắt đầu sắp xếp máy móc và chỗ làm việc cho có thứ tự, thợ cả của khâu hồ sẽ mang giao tất cả sợi phế
Khi giao ca người công nhân hồ sẽ thông báo cho người nhận ca về tình hình làm việc của máy móc, trạng thái của máng hồ, thông báo các chỉ thị, thông báo của phó chủ nhiệm và trưởng ca; khi kết thúc ca công nhân hồ sẽ giao lại thiết bị và chỗ làm việc theo yêu cầu đã định Nếu chưa giao ca hoặc chỉ bàn giao cho trưởng
ca thì công nhân hồ không được ngừng làm việc
III – CƠ SỞ TÍNH TOÁN MỨC GIA CÔNG CỦA CÔNG NHÂN HỒ:
Công việc của công nhân hồ bao gồm một số thao tác phức tạp
1 – Chuẩn bị máy để lên lớp hồ mới:
Ngừng cấp hơi, nâng trục nén, lấy tải trọng đặt ở các trục mắc đã chạy hết sợi, cắt sợi dọc, làm sạch máy cho chạy sợi, lấy các trục mắc ra và dọn dẹp
2 – Lên lớp hồ mới:
Đánh dấu và đặt các trục mắc có sợi lên giá, cố định các trục mắc, chắp các sợi dọc thành một lớp và nối lại các nút, đặt đồng hồ, đặt que tách, dây tách, luồn các nút, dàn sợi dọc cho đều, cho hơi vào thùng sấy, hạ trục nén và guồng dìm, bọc vải nỉ và vải len vào trục nén, lấy trục dệt ra và lắp trục dệt mới vào, cắt bỏ những mấu gút, loại sợi đứt
3 – Chuẩn bị mở máy sau một thời kỳ dừng máy (dừng máy hàng ngày hoặc sau
hai ca liền):
Trang 5Công nhân kiểm tra sự sạch sẽ của máy, chất lượng sợi trên các trục mắc và
sự vững vàng của các trục này trên giá, các đường ống hơi và ống khí an toàn trống các thùng sấy;
Kiểm tra tình hình bôi trơn máy móc, mở bộ phận tụ khí, cho thêm hồ vào bể
hồ tới mức quy định, gia nhiệt cho dung dịch hồ trống bể hồ tới nhiệt độ cần thiết cho quá trình công nghệ;
Nâng áp lực hơi lên một áp lực cho trước, kim của áp lực kế chỉ tới vạch đỏ trước khi thôi không gia nhiệt cho hồ;
Gạt bỏ các váng bọt ở trên mặt hồ ở bể hồ, đóng rờ le điện của bộ phận khống chế điều chỉnh mức hồ, cho máy chạy (bắt đầu chạy chậm, sau đó chạy hết tốc độ)
Trống quá trình hồ một lớp hồ, công nhân hồ phải lắp các trục dệt mới sau khi đã tháo trục dệt đã gia công xống, đặt que tách và dây tách, loại các sợi đứt, cắt các chỗ sợi cộm, quan sát thiết bị đo mức độ hồ, áp lực hơi trống thùng sấy, nhiệt
độ, độ ẩm và độ lên hồ của sợi dọc, cũng như phải quan sát trạng thái kỹ thuật chung của máy
Công nhân hồ làm việc theo phương pháp đứng canh
Như vậy, công nhân hồ không phải là công nhân đứng nhiều máy và mức gia công (HB) của công nhân này cũng là mức năng suất thiết bị (H) tức là:
Ta lấy thời gian hồ hết một lớp hồ làm chu kỳ làm việc của máy móc Như
vậy, mức năng suất của thiết bị tính bằng số lớp hồ trống một ca được xác định theo công thức:
Trống đó:
T – Thời gian của một ca làm việc (phút)
Tb – Thời gian phục vụ chỗ làm việc của công nhân (phút), không trùng với thời gian máy
Ta – Thời gian công nghệ phụ (phút), không trùng với thời gian máy
- Năng suất lý thuyết của máy tính bằng số lớp hồ trống một ca (A) được xác định theo công thức:
Trang 6T
T
A =
(3)
- Thời gian máy làm xống một lớp hồ được xác định theo công thức:
100
) 100
(
n
y c
M
v
P L
=
Trống đó:
Lc – Chiều dài mắc có ích (m)
Py – Phần trăm sợi phế
vn – Tốc độ dài của quá trình hồ khi chạy ở tốc độ bình thường (m/phút)
- Chiều dài mắc có ích được xác định theo công thức:
Trống đó:
Ld – Chiều dài sợi dọc trên trục dệt (m)
nd – Số lượng trục dệt của lớp hồ
- Chiều dài sợi dọc trên trục dệt được xác định theo công thức:
Trống đó:
G – Khối lượng sợi dọc trên trục dệt (kg)
N – Chi số thực tế của sợi
md – Số sợi dọc kể cả sợi biên
- Tốc độ dài của quá trình hồ khi chạy bình thường được tính gần đúng theo công thức:
Trống đó:
W – Lượng hơi ẩm được sấy khô trên mặt sấy (kg/giờ), người ta xác định cho từng loại máy một, nó phụ thuộc vào công suất máy
Trang 7b – Hệ số quy ước (%) tính theo công thức:
t
t u
K
K P
b
100
) 100
=
Trống đó:
Pu – Độ lên hồ thực tế (%)
Kt – Nồng độ hồ theo % tinh bột, có thể được xác định theo công thức:
s
k t
v
W g
K = ( 100 − )
Trống đó:
g – Lượng tinh bột hay bột (kg) trống 1000 lít dung dịch hồ
vs – Khối lượng hồ (lít)
Wk – Hàm lượng ẩm của vật liệu dính kết (%) có thể được xác định theo công thức:
100
a
b a
Wk = −
Trống đó:
a – Khối lượng tinh bột trước khi cân (g)
b – Khối lượng tinh bột sau khi cân (g)
Đa số các công việc của máy hồ đều được thực hiện khi máy chạy tốc độ chậm và như chúng ta gọi là máy “bò” (luồn các nút, đặt que tách và dây tách, cắt các vòng sợi cuốn, rải sợi trên lược) Trống phần lớn các nhà máy dệt, theo kinh nghiệm, tốc độ của máy trống quá trình chạy chậm bằng 8% so với tốc độ máy chạy bình thường Thời gian cần thiết để làm các thao tác này được liệt vào phần thời gian công nghệ phụ, không trùng với thời gian máy và làm trống quá trình máy chạy chậm, được xác định theo công thức:
Trang 8t n x
v
v v
t
Trống đó:
t – Định mức thời gian làm các thao tác
vt – Tốc độ dài của quá trình hồ chạy với tốc độ “bò” (m/phút)
Trống công thức trên, đại lượng n
t n
v
v
( −
có thể coi là một hằng số C Nếu tốc độ chậm bằng 8% so với tốc độ chạy bình thường thì:
92 , 0 100
8
100 − =
=
C
(12)
- Thời gian công nghệ phụ (Ta) cần thiết để làm xống một lớp mắc được xác định theo công thức:
T a = a 1 + a 2 + a 3 + a 4 + a 5 (giây) (13) Trống đó:
- Thời gian cần thiết để làm các thao tác phức hợpdo công nhân hồ làm với mục đích chuẩn bị lên lớp hồ mới (a1), thời gian này được chia ra làm hai dạng A và B
A – Tiêu hao thời gian phụ thuộc vào số trục mắc trống một lớp (giây) và được định mức cho từng trục, bao gồm:
+ Lấy các tải trọng ra khỏi các trục mắc (cho phép 3 giây/trục);
+ Lau sạch và tở các sợi đọng lại trên trục (cho phép 25 giây/trục);
+ Lấy trục mắc ra khỏi giá và đưa vào một nơi đã định (cho phép 43 giây/trục)
Tổng cộng là 71 giây cho 1 trục.
B – Các tiêu hao thời gian không lệ thuộc vào số lượng trục mắc trống một lớp và được định mức trực tiếp cho một lớp (giây), bao gồm:
+ Nâng trục ép và guồng dìm (cho phép 5 giây/lớp);
+ Cắt sợi dọc của một lớp sau khi đã thay xống (cho phép 23 giây/lớp)
Tổng cộng là 28 giây cho 1 lớp.
Do đó ta có:
Trang 9a 1 = 71.n m + 28 (giây) (14) Trống đó:
nm – Số trục mắc cho một lớp
- Tiêu hao thời gian cho các thao tác phức hợp do công nhân hồ làm để lên lớp hồ mới (a2), tiêu hao này có ba dạng A’, B’, C’
A’ – Tiêu hao thời gian phụ thuộc vào số trục mắc trống một lớp (giây) và định mức cho từng trục, bao gồm:
+ Đánh dấu và đặt các trục mắc đầy sợi lên giá (cho phép 60 giây/trục);
+ Cố định các trục mắc này trên các giá (cho phép 20 giây/trục);
+ Đặt các tải trọng (cho phép 5 giây/trục);
+ Chắp các sợi của các trục mắc thành một lớp (cho phép 18 giây/trục);
+ Nối các đầu sợi của lớp mới lắp với lớp cũ (cho phép 10 giây/trục)
Tổng cộng là 113 giây.
B’ – Thời gian tiêu hao không phụ thuộc vào số lượng trục mắc (giây) và được định mức cho từng lớp, bao gồm:
+ Luồn các nút qua máy (làm trống khi máy chạy chậm, cho phép 200 giây/trục); + Đặt đồng hồ đo (cho phép 50 giây/lớp)
C’ bao gồm:
+ Tiêu hao thời gian phụ thuộc vào số sợi dọc (giây) và được định mức cho từng lớp
+ Dàn đều sợi vào lược (làm trống khi máy chạy chậm, cho phép 185 giây/1000 sợi) Tổng số cho một lớp:
Do đó ta có:
a 2 = 113.n m + 200.C + 50 + (185.C m d / 1000) (giây) (17)
Trang 10- Tiêu hao thời gian để làm các thao tác phức hợp do công nhân hồ làm để lấy các trục hồ đã làm xống và lắp các trục dệt mới (a3), thời gian này phụ thuộc vào số lượng trục dệt, gồm các công việc sau:
+ Lấy các trục dệt đã hồ xống (cho phép 32 giây/trục);
+ Lắp các trục dệt mới (cho phép 34 giây/trục)
Do đó ta có:
- Tiêu hao thời gian làm các thao tác phức hợp để đặt que tách và dây tách trống khi máy chạy chậm (a4), thời gian này phụ thuộc vào số trục dệt chạy từ một lớp mắc và phụ thuộc vào số trục mắc, bao gồm các yếu tố sau:
+ Đặt các dây tách (làm trống khi máy chạy chậm, cho phép 11 giây/lần);
+ Rút que tách (cho phép 4 giây/que);
+ Đặt que tách (làm trống khi máy chạy chậm, cho phép 15 giây/trục)
Do đó ta có:
a 4 = (26C + 4).n d ( n m – 1) (giây) (19) Trống đó:
(nm – 1) – Số lượng que tách và dây tách đặt vào cho mỗi trục dệt
- Tiêu hao thời gian cho các thao tác phức hợp do công nhân hồ làm để loại sợi đứt, cắt các sợi quấn vòng (a5), làm trống khi máy chạy chậm, tiêu hao thời gian này phụ thuộc vào chiều dài sợi trống lớp mắc phụ thuộc vào số lần lặp lại Thời gian này bao gồm:
+ Loại sợi dọc đứt (cho phép 22 giây/lần);
+ Cắt sợi quấn vòng (cho phép 30 giây/lần)
- Số lần sợi dọc bị đứt trống một lớp mắc (K0) được xác định theo công thức:
Trống đó:
K0’ – Số lần sợi đứt trên 1.000.000 m sợi đơn trống lớp mắc
- Số lượng vòng sợi quấn trống một lớp mắc (X) được xác định theo công thức: