Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Tân Sơn thuộc vùng đệm của Vườn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ DUYÊN
Tên đề tài:
NGHÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỌ NÔNG DÂN TẠI XÃ TÂN SƠN THUỘC VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : KT&PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ DUYÊN
Tên đề tài:
NGHÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỌ NÔNG DÂN TẠI XÃ TÂN SƠN THUỘC VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN SƠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : KT&PTNT
Khóa học : 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn : Th.s Đỗ Hoàng Sơn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện khóa luận này đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, Ngày 30 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nông Thị Duyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập tại trường và sau hơn 4 tháng thực tập tốt nghiệp tại cơ sở em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Kinh Tế và PTNT; Các phòng ban cùng các thầy giáo, cô giáo đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, giúp em có những kiến thức mới trong quá trình thực tập tại cơ sở cũng như ngoài xã hội
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.S Đỗ Hoàng
Sơn đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn tới cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn, người dân xã Tân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp đỡ
để em có điều kiện được thực tập và nâng cao sự hiểu biết
Trong thời gian thực tập khóa luận, bản thân em đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hoàn thiện khóa luận Tuy nhiên, với thời gian ngắn và hạn chế về kiến thức nên chuyên đề của em khó tránh khỏi những thiếu sót Vậy kính mong các thầy cô và giáo viên hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, tạo điều kiện
để khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nông Thị Duyên
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Tân Sơn 28
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Tân Sơn 2012 – 2014 31
Bảng 4.4: Tình hình phát triển một số giống cây trồng chính của xã 34
Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của xã từ năm 2012 – 2014 35
Bảng 4.6: Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Tân Sơn năm 2014 38
Bảng 4.7: Phân loại kinh tế hộ theo tự đánh giá của các hộ 41
Bảng 4.8: Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương 41
Bảng 4.9: Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra 42
Bảng 4.10: Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra 43
Bảng 4.11: Các chỉ tiêu thu nhập – chi phí của 3 nhóm kinh tế hộ 44
Bảng 4.12: Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ 47
Bảng 4.13: Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các nhóm hộ 48
Bảng 4.14: Diện tích các loại đất đai theo nhóm hộ điều tra 49
Bảng 4.15: Nhân khẩu lao động của các hộ điều tra 50
Bảng 4.16: Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra 50
Bảng 5.1: Chiến lược sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 56
DANH MỤC HÌNH Hình 4.1: Cơ cấu diện tích đất đai của xã Tân Sơn năm 2014 28
Trang 6WTO : Tổ chức thương mại thế giới
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
LSNG : Lâm sản ngoài gỗ
CSHT : Cơ sở hạ tầng
Ngân hàng CSXH: Ngân hàng chính sách xã hội
Ngân hàng NN & PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Mục tiêu chung 4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Ý nghĩa của đề tài 4
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 4
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 5
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 5
1.5 Cấu trúc của khóa luận 6
Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
2.1 Cơ sở lý luận 7
2.1.1 Khái niệm VQG, vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 7
2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững 10
2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 11
2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 16
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 17
2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam 18
2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu 21
Trang 8Phần 3ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 23
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 23
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp chung 24
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 24
3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu 26
Phần 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 28
4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội 30
4.1.3 Điều kiện về hạ tầng cơ sở 36
4.1.4 Những vấn đề tồn tại chính trong phát triển kinh tế - xã hội 38
4.1.5 Đánh giá chung về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp – nông thôn xã Tân Sơn 39
4.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG TẠO SINH KẾ CỦA CÁC HỘ NGHIÊN CỨU 40
4.2.1 Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu 40
4.2.2 Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 43
4.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực của hộ 48
4.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai 48
Trang 94.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng lao động của các hộ 49
4.3.3 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn sản xuất 50
4.3.4 Đánh giá thực trạng kinh nghiệm sản xuất 51
4.3.5 Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất 52
4.3.6 Đánh giá điều kiện thị trường 53
4.3.8 Đánh giá các điều kiện vốn xã hội 53
4.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển kinh tế hộ ở vùng đệm – Nguyên nhân của nó 54
Phần 5 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN XÃ TÂN SƠN THUỘC VÙNG ĐỆM VQG XUÂN SƠN 56
5.1 Xây dựng chiến lược cải thiện sinh kế cho các hộ dân vùng đệm 56
Bảng 5.1: Chiến lược sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 56
5.2 Các giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 60 5.2.1 Các giải pháp đề xuất để cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 60
5.2.2 Các giải pháp định hướng để tạo sinh kế mới cho các hộ nông dân vùng đệm 61
5.3 Đề xuất/kiến nghị 61
KẾT LUÂN 63
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Vườn quốc gia (VQG) Xuân Sơn là một vườn quốc gia nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 49/2002/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2002 Với tổng diện tích vùng đệm 18.369 ha, trong đó diện tích vùng lõi là 15.048 ha khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là 11.148 ha, phân khu phục hồi sinh thái kết hợp bảo tồn di tích lịch sử: 3.000 ha phân khu hành chính, dịch vụ: 900 ha Điểm đặc trưng của Xuân Sơn là vườn quốc gia duy nhất có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi (2.432 ha) Xuân Sơn được đánh giá là rừng có đa dạng sinh thái phong phú, đa dạng sinh học cao, đa dạng địa hình kiến tạo nên đa dạng cảnh quan Diện tích vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn là 18.639
ha, bao gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài và một phần các xã: Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, đều cùng huyện Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 80 km, Hà Nội 120 km [19]
Một trong những điểm khác biệt tại các địa phương vùng đệm của VQG so với các vùng miền núi khác đó là nguồn sinh kế từ rừng đã giảm hoặc không còn khi VQG được thành lập Vì vậy, sinh kế và sinh kế bền vững tại các vùng đệm của VQG là mối quan tâm hàng đầu của các hộ nông dân tại nơi đây Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường, tự nhiên Phần lớn người dân ở khu vực vùng đệm vườn quốc gia tạo thu nhập từ hoạt động nông nghiệp trong khi
đó vẫn sử dụng tài nguyên từ VQG như một nguồn cung cấp thực phẩm, cây thuốc, nước uống và nước cho sản xuất nông nghiệp, nơi chăn thả gia súc Những vấn đề khó khăn trong đời sống, sản xuất của cư dân vùng đệm các VQG như:
Trang 11+ Khi xây dựng các VQG làm cho người dân vùng đệm (trong và ngoài) thiếu đất để canh tác, đặc biệt là canh tác nương rẫy Nguồn thu từ rừng của người dân giảm hoặc không còn, do những quy định trong quản lý bảo vệ VQG
+ Vùng đệm các VQG hầu hết là vùng sâu, vùng khó khăn có hạ tầng cơ
sở kém phát triển đã hạn chế giao thương kinh tế và đi lại khó khăn Bên cạnh
đó, trình độ sản xuất lạc hậu nên năng suất, sản lượng thấp Hầu hết các xã vùng đệm của VQG có tỷ lệ hộ nghèo cao
+ Vùng đệm các VQG là nơi sinh sống chủ yếu của cộng dân tộc ít người, vẫn còn nhiều hủ tục thói quen lạc hậu (cưới hỏi, ma chay, bình đẳng giới, khai thác sử dụng tài nguyên,… ) gây tốn kém, lãng phí nguồn lực của hộ, tài nguyên
tự nhiên
+ Trình độ quản lý, tổ chức và kỹ thuật sản xuất của các hộ nông dân vùng đệm hạn chế nên sinh kế của họ trở nên bấp bênh Bên cạnh đó, sự thiếu thông tin và thiếu sự giúp đỡ kịp thời phù hợp từ bên ngoài cũng làm cho sản xuất và đời sống của các hộ nông đân khó khăn và thiếu tính bền vững
Hiện nay, người dân vùng đệm các VQG đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của các VQG Ngược lại, sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, giảm các nguồn thu nhập, tác động xấu tới điều kiện kinh tế của người dân và gia tăng độ rủi ro cho người dân có sinh kế phụ thuộc vào rừng
Tìm kiếm giải pháp cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm, trong khi vẫn bảo tồn bền vững tài nguyên rừng của VQG là vô cùng cấp thiết Đánh giá thực trạng sinh kế, các nguồn lực sinh kế làm cơ sở cho việc đề xuất những biện giải pháp cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm VQG Xuân Sơn
có ý nghĩa không chỉ thực tiễn mà còn có ý nghĩa cả về lý luận Những giải pháp sinh kế phù hợp tại vùng đệm sẽ giúp cho các hộ nông dân phát triển những sinh
Trang 12kế mới, cải thiện những sinh kế hiện có và khai thác có hiệu quả các nguồn lực sinh kế hiện có một cách bền vững tạo thêm được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho họ Phát triển sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG Xuân Sơn bền vững sẽ góp phần hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng
Xã Tân Sơn huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ là một xã thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Sơn có diện tích tự nhiên 2889,14 ha, với tổng dân số 4223 người trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường Kinh tế của
xã Tân Sơn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo 38,3% Năm
2002 VQG Xuân Sơn được thành lập, các hộ nông dân vùng đệm vốn sống dựa vào rừng bị tác động ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống, việc làm, thu nhập và thậm chí cả các giá trị văn hóa truyền thống Các hộ nông dân vùng đệm VQG Xuân Sơn trước đây vốn quen với phương thức kiếm sống truyền thống là khai thác các sản phẩm từ rừng, canh tác nương rẫy, nhưng từ khi thành lập Vườn Quốc gia nguồn thu từ rừng không còn, không còn đất để canh tác nương rẫy nên hầu hết các hộ nông dân vùng đệm đời sống còn nhiều khó khăn Tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm Tân Sơn là vô cùng cấp thiết góp phần giảm áp lực lên công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại VQG Xuân Sơn
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Tân Sơn thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Xuân Sơn”
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích được các tiềm năng, những tồn tại và nguyên nhân của nó trong những hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân xã Tân Sơn thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Xuân Sơn Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài nhằm tìm kiếm và đề xuất những giải pháp cho việc cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã nghiên cứu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này đã giúp tác giả nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài cũng giúp tác giả nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu và bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cấp thiết ngoài thực tiễn
Trang 14- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn tại các vùng miền núi, những người làm công tác phát triển và bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam
1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng
để chính quyền các cấp đưa ra được các dự án, đề án cho phát triển kinh tế, cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm
- Đối với Ban quản lý VQG Xuân Sơn, kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc đưa ra những giải pháp đảm bảo hài hòa được mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng VQG và sinh kế của người dân vùng đệm
- Những giải pháp mà đề tài đề xuất là những gợi mở, những định hướng giúp các hộ nông dân vùng đệm VQG có thể cải thiện và phát triển những sinh kế mới nhằm đảm bảo về mặt thu nhập và việc làm trong tương lai
- Đối với tác giả của đề tài, thông qua nghiên cứu này đã nâng cao được những hiểu biết về thực tế phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG nói riêng
1.4 Những đóng góp mới của đề tài
- Góp phần làm sáng tỏ thực tế những khác biệt trong hoạt động sinh kế của các hộ nông dân tại vùng đệm VQG Xuân Sơn so với các vùng nông thôn miền núi khác
- Đề tài cũng làm rõ được mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn tài nguyên rừng VQG Xuân Sơn với những hoạt động sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm
- Phát hiện và làm rõ những tiềm năng cho cải thiện sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG Xuân Sơn làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu
Trang 151.5 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu và sơ đồ, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm có 5 phần chính sau: Phần I: Mở đầu
Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần V: Các giải pháp
Trang 162.1.1.1 Khái niệm về Vườn Quốc gia (VQG)
Theo Quyết định số 62 /2005/QĐ-BNN ngày 12 tháng 10 năm 2005 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn [1]: Vườn quốc gia là một khu vực
tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và các hoạt động du lịch sinh thái được kiểm soát và có ít tác động tiêu cực
Theo Liên Minh Quốc tế Bảo Tồn Thiên Nhiên Và Tài Nguyên Thiên
Nhiên (IUCN) : Vườn quốc gia: là một khu vực đất hay biển được bảo tồn
bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại Vườn quốc gia được bảo
vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động – thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế ( IUCN) loại II [15]
2.1.1.2 Khái niệm về vùng đệm
* Khái niệm về vùng đệm trên thế giới
Tư duy về khái niệm quản lý vùng đệm đã phát triển qua 3 giai đoạn trên thế giới như sau:
Trang 17– Giai đoạn đầu: Các vùng đệm chủ yếu được xác định như là những phương tiện bảo vệ con người và mùa màng để tránh sự tấn công và phá hoại của động vật sống trong các khu bảo tồn và rừng
– Giai đoạn kế tiếp (10-20 năm trước đây): Các vùng đệm đã được xem như là những phương cách để bảo vệ các khu bảo tồn tránh khỏi những tác động tiêu cực của con người
– Giai đoạn hiện nay: Vùng đệm thường được áp dụng đồng thời cho việc giảm thiểu các hoạt động của con người lên các khu bảo tồn với việc hướng tới những nhu cầu và mong muốn về kinh tế – xã hội dưới tác động của dân số (những đối tượng sử dụng tài nguyên của KBT trước đây)
Hiện tại chưa có một định nghĩa chung về vùng đệm trên phạm vi toàn thế giới mà chỉ có các định nghĩa và sự mô tả khác nhau về vùng đệm ở cấp quốc gia hoặc tổ chức quốc tế, chẳng hạn:
Chương trình con người và sinh quyển của UNESCO đã đưa ra khái niệm vùng đệm ở mức độ cấu trúc Sơ đồ cấu trúc của KBT của UNESCO gồm 3 vùng sau:
+ Vùng hạt nhân
+ Vùng đệm sơ cấp
+ Vùng đệm thứ cấp
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN định nghĩa vùng đệm như sau:
” Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của KBT và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của KBT và chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống quanh KBT Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống
kinh tế – xã hội của các cư dân sống trong vùng đệm” [15]
Trang 18Khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định số 08/2001/
QĐ – TTg của Chính phủ như sau: “Vùng đệm là vùng rừng hoặc vùng đất đai, mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và Khu BTTN; có tác động ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ” Một lần nữa vùng đệm đƣợc xác định nằm ngoài KBT và
không thuộc KBT [13]
- Vùng đệm đƣợc hình thành dựa theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng [4]
thì Điều 3 Khoản 15 nêu: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu rừng đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng”;
Theo Luật Đa dạng sinh học [5] quy định tại Điều 3, Khoản 30 thì “Vùng đệm là vùng bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn”;
Đến năm 2006, ranh giới vùng đệm với đƣợc quy định trong Quyết định
186/2006/QĐ - TTg tại Điều 24, Khoản 2 “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên” [ 11] Theo Quyết định này
vùng đệm đƣợc chia thành 2 loại chính: Vùng đệm có dân sinh sống và vùng đệm không có dân sinh sống Vị trí vùng đệm: nằm liền kề ngoài VQG, bao quanh VQG và không thuộc VQG
– Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm:
Trang 19+ Ranh giới phía bên trong vùng đệm: là ranh giới giữa VQG và vùng đất đai bao quanh VQG
+ Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: là ranh giới giữa vùng đất bao quanh VQG với vùng đất không trực tiếp bao quanh VQG; ranh giới đó thường được xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: vách núi, đường mòn, đường ô tô, đường sông, đường sắt, các con suối, hồ chứa nước…
2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững
Sinh kế: sinh kế là một khái niệm rộng bao gồm các phương tiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội, và văn hóa mà các cá nhân, gia đình hoặc nhóm xã hội
sỡ hữu để tạo ra thu nhập hoặc có thể sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ
Sinh kế bền vững: năm 1992 Chambers và Gordo đưa ra khái niệm về
sinh kế bền vững ở cấp độ gia đình: “Một Sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc duy trì và tăng cường khả năng và tài sản, đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo
ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương và toàn cầu, trong ngắn và dài hạn Sinh
kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ với vấn đề nghèo đói“ [17]
Tài sản sinh kế:
Tài sản sinh kế gồm 5 loại:
- Nguồn lực con người: bao gồm kỹ năng, kiến thức và sự giáo dục từng
cá nhân và các thành viên trong gia đình, sức khỏe, thời gian và khả năng làm việc của họ để đạt được những kết quả sinh kế
- Nguồn lực xã hội: đề cập đến mạng lưới và mối quan hệ xã hội, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để từ đó có được những cơ hội và lợi ích khác nhau
Trang 20- Nguồn lực tự nhiên: là các cơ sở các nguồn tự nhiên ( của một hộ hoặc một cộng đồng ) mà con người trông cậy vào, ví dụ như đất đai, mùa màng, vật nuôi, rừng, nước và các nguồn tài nguyên biển
- Nguồn lực tài chính: là các nguồn lực tài chính mà con người có được như nguồn thu thập tiền mặt và các loại hình tiết kiệm khác nhau, tín dụng và các luồng thu nhập tiền mặt khác như lương hưu, tiền do thân nhân gửi về hay những trợ cấp của nhà nước
- Nguồn lực vật chất: bao gồm các công trình hạ tầng và xã hội cơ bản và các tài sản của hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước và năng lượng, nhà ở và các đồ dùng, dụng cụ trong gia đình
2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ
Khái niệm Hộ: Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã
hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai
Hộ Nông Dân: Hộ Nông Dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông
nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Kinh Tế Hộ: là hình thức tỏ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội
trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung; mọi quyết định trong sản xuất-kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [18]
Trang 212.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế -
xã hội các vùng đệm VQG
Chương trình 135 đến Chương trình giảm nghèo nhanh, bền vững ở 62 huyện nghèo: khoản 4 điều 1 theo quyết định số 551/QĐ – TTg của thủ tướng Chính Phủ
4 Nội dung
a Hỗ trợ phát triển sản xuất:
- Hỗ trợ giống, phân bón, vật tư phục vụ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế ;
- Hỗ trợ làm chuồng trại chăn nuôi, cải tạo diện tích nuôi trồng thủy sản;
- Hỗ trợ vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm
- Hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho người dân tham quan, học tập, nhân rộng mô hình;
- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo hỗ trợ phát triển sản xuất, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú
- Hoàn thiện các công trình để đảm bảo chuẩn hóa trạm y tế xã
Trang 22- Hoàn thiện các công trình để đảm bảo chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn
xã, xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ trên địa bàn thôn, bản
- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã, thôn, bản
- Các công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số
- Duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng cơ sở
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng
Điều 34 Trách nhiệm quản lý vùng đệm
1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trách nhiệm như sau:
a) Tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng đệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn xâm hại vào khu rừng đặc dụng
b) Quản lý, sử dụng tài nguyên rừng đúng quy định hiện hành của Nhà nước và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được duyệt
c) Phối hợp với Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức triển khai thực hiện dự án đầu tư vùng đệm
2 Ban quản lý khu rừng đặc dụng có trách nhiệm
a) Tổ chức các biện pháp thu hút cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia quản lý khu rừng đặc dụng và thực hiện dự án đầu tư vùng đệm
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã lập và tổ chức thực hiện dự án đầu tư vùng đệm
3 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cư trú hoặc có các hoạt động trong vùng đệm có trách nhiệm, quyền tham gia thực hiện, phối hợp quản
lý dự án đầu tư vùng đệm
Trang 23Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020
Điều 8 Hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng
1 Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng dân cư thôn bản vùng đệm để đồng quản lý rừng đặc dụng; mức hỗ trợ mỗi thôn bản là 40 triệu đồng/thôn, bản/năm
2 Khoản kinh phí này được chi cho các nội dung: Đầu tư nâng cao năng lực phát triển sản xuất (khuyến nông, khuyến lâm, giống cây, giống con, thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ); hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hoá…)
3 Ban quản lý rừng đặc dụng được giao quản lý kinh phí này theo quy định của quản lý kinh phí sự nghiệp kinh tế hiện hành Dự toán chi tiết hỗ trợ đầu tư vùng đệm hàng năm phải do thôn bản lập kế hoạch đề xuất; Ban quản lý rừng đặc dụng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã họp bàn với từng thôn bản để đồng phê duyệt (không phải lập dự án đầu tư) Kế hoạch chi tiêu này phải gắn với kế hoạch, cam kết bảo vệ rừng đặc dụng; thôn, bản nào thực hiện bảo vệ rừng không tốt, Ban quản lý rừng đặc dụng có quyền chuyển vốn hỗ trợ cho thôn bản khác Cộng đồng dân cư tổ chức giám sát thực hiện nội dung này theo quy định về chế độ dân chủ cơ sở
Quyết định số: 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng
Điều 24 Vùng đệm của Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
1 Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng
Trang 242 Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các
xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
3 Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng
Cơ quan chính quyền nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng
4 Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng a) Diện tích rừng phòng hộ, rừng sản xuất nằm trong vùng đệm, Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao, cho thuê rừng cho các tổ chức, hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư thôn theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
b) Rừng phòng hộ, rừng sản xuất trong vùng đệm được quản lý theo quy định tại các Chương III và Chương IV Quy chế này
5 Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp và các chủ rừng đối với vùng đệm a) Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xây dựng các dự án phát triển kinh tế - xã hội, sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp, định canh định cư trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện để ổn định và nâng cao đời sống của người dân trong vùng đệm nằm trong ranh giới hành chính của cấp huyện b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện dự án đã được phê duyệt quy định tại điểm a khoản 5 Điều này; tuyên truyền, vận động nhân
Trang 25dân trong xã có những hoạt động tích cực tham gia bảo vệ và phát triển vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; xây dựng và thực hiện các biện pháp ngăn chặn sự xâm hại của người dân ở vùng đệm vào vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
c) Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các chủ rừng trong vùng đệm có trách nhiệm phối hợp với Ban quản lý rừng vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG
Nghiên cứu trên thế giới mô hình của các vườn quốc gia ở Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc,…
- Trung Quốc là một nước đông dân cư nhất thế giới xấp xỉ 1,13 tỉ Theo thống kê diện tích rừng của Trung Quốc tổng cộng là 10.137 tỉ m2 với tỉ lệ đất phủ rừng là 13,29% chiếm 3% diện tích toàn thế giới Trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, dân tộc Dai ở Vân Nam đã nổi tiếng là thông minh vận dụng thiên nhiên một cách tinh vi và kinh tế
Trong thời gian dài thực hành các loại cây, người Dai đã tìm ra phương pháp nhận diện “ tìm ra cái khác trong giống, tìm ra cái giống trong cái khác nhau”, xây dựng “ hệ thống hai chỉ định để phân loại cây” Họ giáo dục con cháu họ cách sử dụng các loại cây từ đời này sang đời khác dưới dạng các bài thơ trào phúng và các câu tục ngữ do tổ tiên để lại Ví dụ khi thu hoạch tre, độ dài ngắn nhất có thể cắt đốn đi nên ngắn hơn 25% tổng độ dài, những câu tục ngữ “ đốn tre chừa lại búp non” Sử dụng tài nguyên thực vật một cách thích hợp, bền vững trong thời gian dài, dân tộc Dai đã hình thành nền văn minh canh tác riêng của họ người Dai đã hiểu ra ý nghĩa của việc bảo vệ rừng “
không có rừng thì không có nước, không có nước thì không có đất, không có đất thì không có thức ăn và không có thức ăn thì không có sự sống” Và “ đốn
Trang 26cây làm bạn giàu lên trong thời gian ngắn, nhưng những quả đồi trọc làm thế
Các dẫn chứng trên cho thấy rằng vai trò to lớn của cộng đồng dân địa phương trong việc bảo vệ rừng và bảo vệ vườn quốc gia,khu bảo tồn họ gìn giữ những tri thức bản địa vô cùng phong phú và đa dạng tự nguyện bảo vệ nơi sinh sống một cách bền vững [17]
2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG
Một số các hoạt động phát triển cộng đồng và thông qua đó để giáo dục bảo tồn như: trồng rừng phục hồi hệ sinh thái bằng nhiều loài cây bản địa nhiều mục đích, chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, trồng nấm, gieo ươm cây có nguồn gốc tại chổ để phục vụ công tác trồng rừng và khai thác tiềm năng sẳn có của địa phương phục vụ cuộc sống con người Một số mô hình vườn cây kinh tế, cải tạo vườn tạp,… đang được triển khai ở nhiều nơi trong vùng đệm
Cũng nhờ sự trợ giúp về kỹ thuật và kinh phí của chương trình tài trợ các dự
án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF/SGP) và Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức (DED) thông qua sự điều phối với các tổ chức quần chúng trên địa bàn, một số mô
Trang 27hình sản xuất tăng thu nhập cho cộng đồng được áp dụng cho các điểm nóng trong vùng Đó là các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tận dụng tối đa tiềm năng hạn hẹp của đất đai để sản xuất nông nghiệp, mô hình sử dụng bếp tiết kiệm củi trong cộng đồng
Cũng trong phạm vi của sự trợ giúp từ các tổ chức quốc tế, các Vườn Quốc Gia đã tổ chức nhiều khóa tập huấn về bảo tồn đa dạng sinh học cho địa phương,
tổ chức định kỳ hàng tháng các cuộc tiếp xúc, giao lưu và tọa đàm với cộng đồng từng thôn bản trong vùng đệm về các chủ để có liên quan đến bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, xây dựng mô hình khoán bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở thôn Hiện nay, các Vườn Quốc Gia đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khảo sát các điểm du lịch sinh thái trong vùng đệm để có thể giúp cộng đồng khai thác, quản lý và thu hồi nguồn lợi từ các điểm du lịch này Đây có thể nói là một hoạt động rất mới và rất quan trọng đang được cộng đồng và chính quyền địa phương ủng hộ tích cực
Ngoài các hoạt động giáo dục bảo tồn và trợ giúp phát triển kinh tế-xã hội vùng đệm, cũng cần có một sự quan tâm đặc biệt hơn nữa để có thể khuyến khích cộng đồng cùng tham gia với Vườn trong công tác bảo tồn Vườn Đó chính là mô hình bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở các địa bàn khác nhau trong vùng đệm
2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam
Năm 2009 Vườn quốc gia Xuân Sơn thực hiện dự án “Cải thiện đời sống cho người dân trong và ngoài Vườn quốc gia Xuân Sơn – góp phần quản
lý rừng bền vừng “ đã đầu tư cho người dân thuộc 3 xã trong vùng dự án xây dựng 150 bếp cải tiến với mục tiêu giảm thiểu tác động của người dân vào rừng lấy củi sau khi hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng thì nhận thấy hiệu quả của việc sử dụng bếp cải tiến đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối
Trang 28với người dân như sử dụng tiết kiệm củi từ 3- 4 lần so với sử dụng bếp thông thường, tiết kiệm được công lao động và thời gian Điều quan trọng hơn cả đã làm giảm tình trạng người dân vào rừng lấy củi Hiện nay, đã có nhiều hộ gia đình trong thôn, xã trong Vườn quốc gia Xuân Sơn học tập và làm theo [19] Huyện Tân Sơn có tổng diện tích tự nhiên 68.858 ha trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 61.089 ha chiếm 89 % Đây là một lợi thế cho người dân cũng như chính quyền địa phương trong việc định hướng và trồng các loài cây thích hợp với diện tích đất lâm nghiệp trên theo điều kiện lập địa của từng khu vực Cây Khoai tầng vàng vốn là một loại trong tập đoàn khoai tầng rất nổi tiếng không những ở Phú Thọ và còn các tỉnh lân cận khác Là giống Khoai
có chất lượng cao dẻo, thơm lõi củ vàng nên có tên là khoai tầng vàng Thích nghi với điều kiện trồng tại các khu vực đồi núi có độ dốc từ 5 - 150
, ít sâu bệnh Giống khoai này được người dân tộc Dao, Mường vùng cao giữ gìn từ bao đời nay Tuy nhiên, hiện tại diện tích trồng Khoai tầng ở khu vực Huyện Tân Sơn còn ít, manh mún, chưa có cánh bảo quản hợp lý chưa chủ động nên giống khoai truyền thống này đang bị suy giảm về diện tích cũng như chất lượng, năng xuất thấp Hơn thế những vùng trồng khoai tầng vàng đều là địa bàn vùng xâu, vùng xa, khiến cho việc tiêu thụ sản phẩm bị hạn chế Đồng bào chủ yếu là tự sản tự tiêu, chưa có thói quen sản xuất hàng hoá
Trước nguy cơ mai một đi giống khoai quý, Năm 2011, Vườn quốc gia Xuân Sơn phối hợp với Trung tâm thực nghiệm sinh học nông nghiệp công nghệ cao thuộc Viện di truyền nông nghiệp, đã triển khai thực hiện mô hình thử nghiệm “ Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô để sản xuất khoai tầng vàng” tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn Sau thời gian trồng, theo dõi tình hình sinh trưởng và phát triển của cây khoai tầng vàng đã nhận thấy đây là giống khoai bản địa nên thích nghi tốt với vùng đất khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn, không sâu bệnh, năng suất đạt được từ 700 – 1000 kg/sào, thời gian
Trang 29trồng đến khi thu hoạch khoảng 6 - 8 tháng Với những thành công bước đầu làm cơ sở để cung cấp nguồn giống, triển khai nhân rộng cho người dân gây trồng, chuyển giao khoa học kỹ thuật Để giúp người dân địa phương trông thâm canh, nâng cao năng xuất cây trông, cải thiện đời sồng, phát triển kinh tế
xã hội trong vùng, bảo tồn được nguồn gen Hơn nữa việc phát triển nhân rộng cây Khoai tầng vàng tạo tiền đề cho việc sản xuất các loài rau đặc sản hướng đến việc sản xuất hàng hóa, tạo thương hiệu cho sản phẩn phục vụ nhu cầu du lịch trong tương lai và góp phần quản lý rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn bền vững [22]
Tại Vườn Quốc Gia Bạch Mã, Ban quản lý VQG đã và đang nỗ lực cải thiê ̣n cuô ̣c sống của những người dân đi ̣a phương Cuộc sống của ho ̣ phu ̣ thuô ̣c vào viê ̣c khai thác nguồn lợi rừng tự nhiên ta ̣i khu vực rừng đê ̣m Từ năm 2008, Trường đa ̣i ho ̣c Nông nghiê ̣p và Công nghê ̣ Tokyo (TUAT) đã tiếp
câ ̣n vấn đề này thông qua viê ̣c phổ biến viê ̣c sử du ̣ng đa mu ̣c đích than củi và dấm gỗ đối với dân cư làng Khe Su sống cạnh Vườn quốc gia Do vâ ̣y, đời sống của người dân đã được cải thiê ̣n thô ng qua viê ̣c ngăn ngừa bê ̣nh ỉa chảy
ở lợn do được nuôi bằng than củi và dấm gỗ hoặc các sản phẩm rau hữu cơ sử dụng các loại phân bón từ than củi (bokashi và phân compôt)Tuy nhiên, người dân đi ̣a phương có nguyê ̣n vo ̣ng được trợ giúp kỹ thuật nhiều hơn nữa vì nhu cầu ngày càng tăng về phát triển các kỹ năng trồng tro ̣t để sản xuất bền vững , như kiểm soát di ̣ch bê ̣nh và các loài gây hại cho rau, chăn nuôi, và tiếp thị sản phẩm Trong tương lai, số lượng khách du l ịch đến Vườn quốc gia Bạch Mã
sẽ tăng nhanh , và Vườn quốc gia Bạch mã mong muốn có thể cung cấp cho
khách du lịch các sản phẩm nông nghiệp tin cậy và an toàn trong vùng đệm
Do đó, Vườn quốc gia Bạch Mã đã đề nghi ̣ TUAT phổ biến công nghệ nuôi trồng tổng hợp dựa trên sử dụng than củi nhằm mục đích đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân địa phương và phát triển du lịch sinh thái vùng nông thôn [20]
Trang 302.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu
- Vốn vật chất ở một số nơi không được đảm bảo Kết cấu hạ tầng còn yếu kém nhất là giao thông liên xã, liên thôn/bản còn khó khăn, có một số thôn, bản không có đường đi kiên cố,…
- Vốn xã hội còn hạn chế: hợp tác trong sản xuất nhất là hợp tác với các dân tộc thiểu số khác sống trên cùng địa bàn còn yếu, tự ti, có lúc còn định kiến dân tộc, vai trò của các tổ chức truyền thống cũng như luật tục, quy định bản làng đang giảm sút…
- Vốn tài chính yếu: nguồn thu tài chính chủ yếu dựa vào các nguồn thu tiền mặt có được do tiết kiệm, đi làm thuê, bán sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm thủ công và khoản trợ cấp của nhà nước,…
- Vốn con người còn nhiều bất cập: Thể lực yếu thể hiện các chỉ số về chiều cao, cân nặng cũng như tuổi thọ đều thấp hơn so với bình quân chung của cả nước, dân tộc tình trạng không biết đọc, biết viết tiếng phổ thông còn cao
- Vốn tự nhiên ngày càng khan hiếm: Đất sản xuất ngày càng ít, rừng bị khai thác kiệt quệ, tàn phá năng nề, suy thoái nghiêm trọng, quyền sử dụng, sở hữu rừngvà đất rừng của đồng bào DTTS không còn nhiều, diện tích rừng nghèo kiệt nhiều,nguồn nước bị ô nhiễm do khai thác bừa bãi, không quản lý được các tài nguyên thiên nhiên
- Việc giáo dục nâng cao nhận thức đa dạng sinh học vẫn chưa đồng bộ, không liên tục, phụ thuộc nhiều vào các điều kiện bên ngoài; chưa có cơ quan đầu mối về giáo dục đa dạng sinh học nên thiếu sự tổ chức chỉ đạo thực hiện; giáo dục
đa dạng sinh học chưa đến được với các cộng đồng dân cư vùng sâu, vùng xa, nơi rất cần tăng cường nhận thức về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; phương pháp và hình thức giáo dục chưa phong phú và chưa phù hợp
Trang 31- Sức ép của gia tăng dân số, đặc bệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng
xa Đói nghèo cũng là một thách thức quan trọng, hạn chế trình độ nhận thức của người dân, do đó giáo dục để thay đổi nhận thức cũng như hành vi trở nên cực kỳ khó khăn cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia [19]
Trang 32Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ nông dân vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn và các hoạt động tạo sinh kế của họ
- Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến môi trường sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm và các nguồn lực sinh kế của các hộ
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng sinh kế của các hộ nông dân, tìm kiếm những tiềm năng làm cơ sở cho việc cải thiện sinh kế của họ Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế của các hộ nông dân tại xã Tân Sơn thuộc vùng đệm VQG Xuân Sơn Các nội dung có liên quan đến phong tục tập quán, các dự án cho phát triển vùng đệm, các chính sách đối với vùng đệm cũng được đề tài đề cập nhưng không nghiên cứu sâu
3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu tại xã Tân Sơn thuộc vùng đệm của VQG Xuân Sơn
- Địa điểm điều tra cụ thể các hộ tại các thôn/bản là Khu Lèn, Khu Hoạt, Khu Thừ 2, Khu Hòa
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thơi gian nghiên cứu: Từ 05/01/2014 đến 05/04 /2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu
- Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ
Trang 33- Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của các hộ nông dân ở vùng đệm VQG – Nguyên nhân của nó
- Định hướng, mục tiêu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm
- Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Để thu thập các thông tin, số liệu cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa số liệu; phương pháp quan sát; phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia đã được áp dụng với các công
cụ đa dạng như bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, các thông tin được phân tích
và kiểm tra chéo với các đối tượng khác nhau như cán bộ thôn, xã, VQG và người dân
* Phỏng vấn hộ gia đình
Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ xã, cán bộ thôn và người dân, tác giả đề tài thấy rằng các hộ nông dân tại các thôn trong vùng đệm VQG tương đối đồng nhất Vì vậy, việc lựa chọn hộ điều tra tại các thôn được thực hiện một cách ngẫu nhiên Cả xã có 8 khu và chọn ra 4 khu gồm 2 khu có diện tích đất rừng thuộc VQG và 2 khu không có diện tích thuộc VQG Tổng số hộ của 4 khu là 421
hộ : Khu Thừ 2 có 120 hộ, Khu Lèn 124 hộ, Khu Hòa có 119 hộ, Khu Hoạt có
Trang 34125 hộ từ tổng số hộ của từng khu ta chia cho tổng số hộ của cả 4 khu lấy theo tỉ
lệ 25% số hộ ( 15 hộ/ khu) được chọn để điều tra Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ sẽ được bàn bạc cùng các trưởng thôn/bản dựa trên danh sách hộ tổng số
hộ
Bộ câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ sung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình chủ yếu là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số ít các câu hỏi
mở nhằm làm rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày đầy đủ trong Phụ lục
và bảo tồn tài nguyên rừng VQG
Để phân tích số liệu đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê mô tả: nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, tài sản sinh kế của các hộ nông dân, cộng đồng vùng đệm VQG
- Phương pháp lịch sử: Nhằm so sánh, đối chiếu với thông tin đã có trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có kết luận phù hợp
Trang 35- Phương pháp phân tích định tính SWOT được áp dụng để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức trong phát triển sinh kế vùng đệm
Kết hợp phân tích định tính và định lượng các số liệu, thông tin Sử dụng các phần mềm Excel để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ nông dân vùng đệm
3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế
- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO, IC, VA, Pr
- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/LĐ, Pr/DT,…
Để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến hiệu quả các mô hình, khóa luận đã sử dụng phương pháp SWOT
Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng lao động
- Cơ cấu lao động tại địa phương
- Tỷ suất sử dụng sức lao động và tỷ lệ lao động được thuê mướn, đổi công trong tổng lao động sử dụng
- Giá tiền công và chi phí thuê lao động
- Mức trang bị máy móc, thiết bị cho lao động
- Năng suất lao động
- Giá trị sản xuất do một lao động sáng tạo ra
Các chỉ tiêu đánh giá về sử dụng đất đai
- Diện tích và tỷ lệ đất đai đã sử dụng cho nông lâm nghiệp trên quỹ đất
- Diện tích và cơ cấu diện tích đất đai trong nông nghiệp chưa được sử dụng
Trang 36KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Tân Sơn là một trong những xã nằm ở vùng thượng huyện Tân Sơn, cách trung tâm huyện 17 Km về phía Tây Xã Tân Sơn có tổng diện tích đất tự nhiên 2889,14 ha, với vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Kiệt Sơn
- Phía Tây giáp xã Lai Đồng
- Phía Đông giáp xã Thạch Kiệt, Tân Phú
- Phía Nam giáp xã Xuân Sơn, Xuân Đài
Vị trí xã Tân Sơn tương đối thuận lợi cho việc giao thương với các xã khác và trung tâm huyện Tân Sơn do có hệ thống trục đường giao thông chính
đã được kiên cố và trải nhựa
4.1.1.2 Địa hình, đất đai
- Địa hình: Tân Sơn là xã miền núi có địa hình phức tạp, núi cao xen lẫn các thung lung nhỏ hẹp, độ dốc địa hình chạy dài theo hướng dốc dần từ Đông Bắc sang Tây Nam thoải dần từ Xuân Đài, Đồng Sơn về Lai Đồng, Kiệt Sơn Trên địa bàn có các dãy núi cao từ 800m và thấp dần đến 100m, dưới các dãy núi có nhiều suối chia cắt gây khó khăn trong việc đi lại đặc biệt là trong mùa mưa lũ Về thung lũng đồng bằng, hầu hết là thung lũng nhỏ hẹp, các dải đất hẹp nằm xen lẫn đồi núi Nhận xét chung về địa hình của xã thì thuận lợi nhất
là phát triển nông nghiệp, chủ yếu là phát triển trồng rừng và cây lương thực
- Đất đai: Đất đai của xã Tân Sơn phần lớn là đất dốc phù hợp với sản xuất lâm nghiệp, đất dành cho sản xuất lúa và cây màu ngắn ngày chiếm diện tích nhỏ Có thể thấy rằng, đất đai quyết định đến sinhh kế của người dân rất
Trang 37lớn, nó có ảnh hưởng đến việc quyết định loại hình sinh kế của mỗi hộ nông dân địa phương
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Tân Sơn
(Nguồn: UBND xã Tân Sơn)
Hình 4.1: Cơ cấu diện tích đất đai của xã Tân Sơn năm 2014
Trang 38Nhóm đất nông nghiệp: Nhìn vào bảng số liệu và sơ đồ ta thấy toàn xã có
tổng diện tích đất tự nhiên là 2.889,14 Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 2.645,20ha, chiếm tỷ lệ 91,56% Trong nhóm đất này thì diện tích đất sản
xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 14,78% Trong đó chủ yếu là trồng lúa
Đất lâm nghiệp: được người dân sử dụng để trồng các loại cây lâm nghiệp như Keo, Mỡ, Có diện tích 2.442,41ha chiếm 76,10%, chủ yếu là đất rừng tự nhiên và đất rừng sản xuất
Đất nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã có 19,66ha chiếm tỉ lệ 0,68% Do điều kiện địa hình xã không có nhiều diện tích mặt nước ao hồ và các khe suối thì nhỏ hẹp nên các hộ không mở rộng quy mô, chỉ nuôi với quy mô nhỏ phục
vụ bữa ăn gia đình là chính
Nhóm đất phi nông nghiệp:
Đất ở: được phân bố ở các nơi khu dân cư xã, tập trung các cơ quan, ban ngành của xã có diện tích 24,53 ha chiếm 0,85%
Đất sông suối và mặt nước có 20,34 ha chiếm 0,70% diện tích đất tự nhiên Có các khe suối, hồ chứa phục vụ cho sản xuất, cung cấp nước tưới và một số mục đích khác Diện tích này quá thấp không đủ đáp ứng nhu cầu Đất chưa sử dụng: đất chưa sử dụng của xã còn 193,39ha chiếm 6,69% tổng diện tích đất tự nhiên Số diện tích này còn khá nhiều, chưa tận dụng được hết vào sản xuất
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu thủy văn
- Khí Hậu: Tân Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu
ảnh hưởng của khí hậu trung du miền núi phía Bắc, với những đặc trưng chủ yếu sau:
+ Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 22 – 25◦C, nhiệt độ cao nhất là 39◦C nhiệt độ thấp nhất là 8◦C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6
(35◦C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (14◦C)