Nó càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước việt nam ta.[8] C
Trang 1NÔNG THẾ DUY
Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TẠI THỊ TRẤN NÀ PHẶC - HUYỆN NGÂN SƠN - TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014
Thái Nguyên - 2014
Trang 2NÔNG THẾ DUY
Tên đề tài:
“THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ TẠI THỊ TRẤN NÀ PHẶC - HUYỆN NGÂN SƠN - TỈNH BẮC KẠN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS Bùi Đình Hòa Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên - 2014
Trang 3đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo
TS Bùi Đình Hòa đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập
và giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ
Ủy ban nhân dân thị trấn Nà Phặc, đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Sinh viên
Nông Thế Duy
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo của Nhà Trường, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình dạy và học của các trường Đại học nói chung và của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng
Đây là khoảng thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp cho sinh viên làm quen dần với thực
tế sản xuất, từ đó nâng cao được trình độ chuyên môn, nắm bắt được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, tạo cho mình tác phong làm việc nghiêm túc, đáp ứng được yêu cầu của thực tế sản xuất, góp phần nhỏ vào sự nghiệp phát triển đất nước
Từ những mục tiêu đó, được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn, được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của thầy giáo TS Bùi Đình Hòa và sự
tiếp nhận của cơ sở, tôi đã thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại thị trấn Nà Phặc - huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian thực tập có hạn cũng như năng lực của bản thân còn hạn chế nên khóa luận của tôi không tránh khỏi những thiếu sót tôi rất mong nhận được sự quan tâm chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy cô giáo, bạn bè để đề tài của tôi hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Nà Phặc qua 3 năm
(2011- 2013) 21
Bảng 4.2 Tình hình dân số và lao động thị trấn Nà Phặc giai đoạn 2011 - 2013 22
Bảng 4.3 Tình hình trồng trọt và chăn nuôi của thị trấn 24
Bảng 4.4 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 31
Bảng 4.5 Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra 32
Bảng 4.6 Lao đông và nhân khẩu nhóm hộ điều tra 33
Bảng 4.7 Kết quả sản xuất lúa và hoa màu của hộ điều tra 34
Bảng 4.8 Chi phí sản xuất lúa và hoa màu trên 1 sào của nhóm hộ điều tra 35 Bảng 4.9 Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi 37
Bảng 4.10 Chi phí ngành chăn nuôi của nhóm hộ điều tra 38
Bảng 4.11 Kết quả sản xuất hoạt động phi nông nghiệp 39
Bảng 4.12 Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra 40
Trang 6UBND : Ủy ban nhân dân
VA : Giá trị gia tăng
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.1.1.1 Khái niệm về hộ 4
1.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân 5
1.1.1.3 Khái niệm về kinh tế nông hộ 5
1.1.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ 6
1.1.3 Phân loại nông hộ 6
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân 7
1.2 Cơ sở thực tiến của đề tài 11
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông dân ở một số nước trên thế giới 11 1.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trong khu vực 12 1.3 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta 13
1.3.1 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở việt nam 13
1.3.2 Xu hướng phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta 14
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu 16
Trang 82.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 16
2.2.2 Phương pháp điều tra chọn mấu 17
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 17
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả 17
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 17
2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ 17
2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của hộ 18
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh đời sống của hộ 18
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội địa bàn thị trấn Nà Phặc 19
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 19
3.1.1.1 Vị trí địa lý 19
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo 19
3.1.1.3 Khí hậu 19
3.1.1.4 Thủy văn 20
3.1.1.5 Điều kiện về đất đai 20
3.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế xã hộ trên địa bàn 22
3.1.2.1 Dân số và lao động 22
3.1.2.2 Giá trị sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2011 - 2013 23
3.1.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng của thị trấn 26
3.1.4 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ tại thị trấn Nà Phặc 28
3.1.4.1 Thuận lợi 28
3.1.4.2 Khó khăn 29
3.2 Thực trạng tình hình sản xuất và kinh doanh kinh tế hộ nông dân thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn 30
3.2.1 Chỉ tiêu phân loại hộ 30
Trang 93.2.2 Khái quát chung về nhóm hộ điều tra 31
3.2.3 Điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ 32
3.2.3.1 Điều kiện về đất đai 32
3.2.3.2 Điều kiện về lao động và nhân khẩu 33
3.2.3.3 Kết quả sản xuất của nhóm hộ điều tra 34
3.3.2.4 Tổng hợp và đánh gia thu nhập của nhóm hộ 40
3.3 Một số giải pháp phát triển kinh tế hộ tại thị trấn Nà Phặc 41
3.3.1 Định hướng phát triển kinh tế hộ ở thị trấn Nà Phặc 41
3.3.2 Một số giải pháp chung phát triển kinh tế nông hộ tại
thị trấn Nà Phặc 41
3.3.2.1 Giải pháp về đất đai 41
3.3.2.2 Giải pháp về vốn 42
3.3.2.3 Giải pháp phát triển về nguồn nhân lực 42
3.3.2.4 Giải pháp về khoa học kỹ thuật 43
3.3.2.5 Giải pháp về cơ sở hạ tầng 43
3.3.2.6 Giải pháp về thị trường 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
1 Kết luận 45
2 Kiến nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
I Tiếng việt 48
II Internet 48
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Nà Phặc qua 3 năm
(2011- 2013) 21
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động thị trấn Nà Phặc
giai đoạn 2011 - 2013 22
Bảng 3.3 Tình hình trồng trọt và chăn nuôi của thị trấn 24
Bảng 3.4 Thông tin cơ bản về nhóm hộ điều tra 31
Bảng 3.5 Tình hình sử dụng đất của nhóm hộ điều tra 32
Bảng 3.6 Lao đông và nhân khẩu nhóm hộ điều tra 33
Bảng 3.7 Kết quả sản xuất lúa và hoa màu của hộ điều tra 34
Bảng 3.8 Chi phí sản xuất lúa và hoa màu trên 1 sào của nhómhộ điều tra 35 Bảng 3.9 Kết quả sản xuất ngành chăn nuôi 37
Bảng 3.10 Chi phí ngành chăn nuôi của nhóm hộ điều tra 38
Bảng 3.11 Kết quả sản xuất hoạt động phi nông nghiệp 39
Bảng 3.12 Tình hình thu nhập của nhóm hộ điều tra 40
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nông nghiệp là một trong 2 ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nó càng trở nên quan trọng đối với một quốc gia với gần 80% dân số sống ở nông thôn và gần 70% lao động làm việc trong các ngành thuộc lĩnh vực nông nghiệp như đất nước việt nam ta.[8]
Có thể khẳng định trong quá trình phát triển nông nghiệp nông thôn, kinh tế hộ nông dân giữ vai trò không thể thiếu, đó là đơn vị đặc thù và phù hợp với thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp của nước ta hiện nay Cùng với sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế của nhà nước, kinh tế hộ nông dân được coi trọng và đã thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp nước ta
Như vậy kinh tế hộ nông dân đã tỏ ra là một đơn vị kinh tế phù hợp với đặc thù sản xuất nông nghiệp, góp phần vào vấn đề giải quyết việc làm xây dựng cuộc sống nông thôn mới, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người trong các mặt của đời sống
Mặc dù trong những năm qua kinh tế hộ đã đạt được những thành tựu
to lớn như: đưa giống cây trồng vật nuôi có năng suất và chất lượng cao vào sản xuất, cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình sản xuất nông nghiệp đã từng bước được cải thiện, nâng cấp cùng với chính sách hỗ trợ ưu đãi của nhà nước Tuy nhiên kinh tế hộ còn tồn tại những mặt cơ bản cần được giải quyết:
- Sản xuất kinh tế hộ hiện nay chủ yếu là hoạt động sản xuất nông nghiệp, khó áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất do diện tích đất của người dân nhỏ, thiếu tập trung
- Mâu thuẫn giữa dân số và thiếu việc làm, kết hợp với tính thời vụ trong nông nghiệp tạo nên hiện tượng dư thừa lao động dấn đến năng suất lao động thấp
Trang 12- Tình trạng thiếu kiến thức, thiếu vốn trong quá trình đầu tư luôn là tình trạng trung của các hộ gia đình, khó xác định việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
- Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính chất lẫy công làm lãi, năng suất chất lượng chưa cao, tiềm năng chưa được khai thác một cách triệt để
Những tồn tại này chủ yếu thường gặp phải ở các tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa… gây trở ngại cho tiến trình phát triển chung của đất nước Nà Phặc là thị trấn thuộc huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn nền sản xuất chủ yếu vấn dựa vào nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế hộ của thị trấn nói riêng đang từng bước phát triển theo đà phát triển chung của cả nước song không tránh khỏi những mâu thuẫn còn tồn tại cần được giải quyết
Xuất phát từ thực trạng đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
và giải pháp phát triển kinh tế nông hộ tại thị trấn Nà Phặc - huyện Ngân Sơn - tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Trang 133 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên củng cố kiến thức đã được học, vận dụng và phát huy những kiến thức đã được học vào thực tế, nâng cao kỹ năng, kiến thức trong quá trình thực tập từ đó rút ra những kinh nghiệm để phục vụ cho sau này
* Ý nghĩa trong thực tiến
Kết quả của đề tài nghiên cứu giúp UBND thị trấn Nà Phặc đánh giá được thực trạng phát triển kinh tế, xã hội cũng như thực trạng phát triển kinh
tế hộ nông dân là cơ sở để các cấp lãnh đạo tại địa phương đưa ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, phát huy nhũng lợi thế, đưa ra phương hướng phát triển kinh tế trong thời gian tới, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân tại địa phương
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm về hộ
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hộ:
Trong một số từ điển kinh tế người ta định nghĩa về hộ như sau: “hộ là tất cả những người sống chung một mái nhà, nhóm người nào đó bao gồm cả những người cùng chung một huyết tộc và những người làm công”.[9]
Liên hợp quốc cho rằng: “hộ là những người cùng sống chung một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quý”.[9]
Tại hội thảo quốc tế lần thứ 2 về quản lí nông trại tại Hà Lan (năm 1980) các đại biểu nhất trí cho rằng: “hộ là đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tiêu dùng, xem như là một đơn vị kinh tế”.[9]
Từ các quan điểm trên có thể hiểu hộ được hiểu như sau:
- Thứ nhất, hộ là tập hợp chủ yếu và phổ biến những thành viên có trung huyết thống, tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ thành viên không phải chung huyết thông (con nuôi)
- Thứ hai, hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế, có nguồn lực lao động và phân công lao động chung; có ngân quý trung và được phân phối lợi ích theo thỏa thuận có tính chất gia đình
- Thứ ba, hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù cùng chung huyết thống bởi vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể không phải là một đơn vị kinh tế (gia đình có nhiều thế hệ sinh sông cùng chung huyết thống song độc lập về ngân quý)
Trang 151.1.1.2 Khái niệm hộ nông dân
Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường
và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”
Theo ông Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề
cá và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn” [4]
Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn” [3]
Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50%
số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”.[10]
1.1.1.3 Khái niệm về kinh tế nông hộ
Theo Trần Văn Hà thì: “kinh tế nông hộ là đơn vị khai thác kinh doanh nông nghiệp của những người cùng sống chung một mái nhà Người chủ sản xuất là trưởng gia, là chủ hộ cùng những thân nhân sử dụng tổng hợp những yếu tố lao động, đất, vốn, phương tiện sản xuất tác động vào môi trường sinh thái để làm ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất của gia đình và cộng đồng xã hội”
Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất tiêu dùng của nền kinh tế nông thôn, kinh tế nông hộ chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất và các yếu tố khác nhằm đạt thu nhập cao nhất Kinh tế nông hộ là một hình thức
Trang 16cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp
1.1.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ
- Về mặt kinh tế: Các thành viên trong nông hộ được gắn bó với nhau dựa trên những quan hệ thật sự bình đẳng đó là quan hệ sở hữu về tài sản, quan hệ phân phối các nguồn thu nhập và chủ trương và chi tiêu Đó là những lợi ích về mặt kinh tế cho nên trong gia đình gia đình gắn bó và cảm thông với nhau
- Về quản lý phân công lao động: Trong nông hộ việc quản lý và phân công lao động khác hẳn với các ngành nghề khác là người quản lý cũng là người trực tiếp lao động Do đó việc phân công lao động hết sức thuận lợi, hợp lý vì mọi người đều hiểu nhau về năng lực và trình độ Hơn nữa vì mục đích của mỗi thành viên trong nông hộ cũng thống nhất là làm thế nào để gia đình giàu có, động lực đó cũng thúc đẩy mọi người làm hết mình và có tính tự giác cao, điều mà không có hình thức kinh doanh nào
có được
- Về tài sản và tư liệu sản xuất: Các thành viên trong hộ đều bình đẳng,
sử dụng chung mọi tài sản phục vụ cho sản xuất và đời sống của gia đình, mọi người đều hiểu rõ tính chất giá trị của tài sản cho nên họ đều có ý thức sử dụng và bảo quản cao nhất Bởi vì chúng cũng là những yếu tố kinh tế của gia đình (Chu Văn Vũ, 1995)[5]
1.1.3 Phân loại nông hộ
- Hộ thuần nông là các hộ có thu nhập chủ yếu từ ngành trồng trọt và chăn nuôi Đặc trưng của các hộ này là chịu ảnh hương của điều kiện tự nhiên lớn Trong sản xuất nông nghiệp kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế được
Trang 17phát triển từ thấp lên cao từ tự cung thự cấp sang sản xuất hàng hóa Vì vậy căn cứ vào mức độ phát kinh tế nông hộ ta có thể chia ra các nhóm sau:
Nhóm kinh tế nông hộ sinh tồn: Là dạng phát triển thấp của kinh tế hộ, các hộ thuộc nhóm này chỉ sản xuất một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của gia đình họ Họ hầu như không hoặc có rất ít vốn
để sản xuất, công cụ tô sơ lạc hậu dấn đến năng suất thấp họ tiến hành sản xuất dựa trên kinh nghiệm là chủ yếu
Nhóm hộ kinh tế tự túc: Nhóm này sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho nhu cầu của gia đình hằng ngày, sản xuất còn manh mún, lạc hậu ít tìm tòi sáng tạo luôn hài lòng với bản thân nên hiệu quả trong sản xuất còn rất thấp
Nhóm hộ sản xuất nhỏ: Trong quá trình sản xuất có một bộ phân nông dân làm ăn khá giả ngoài phần sản xuất để phục vụ gia đình còn phần dư thừa thì bán ra ngoài thị trường đây là nhóm hộ biết làm ăn nhưng chưa thật sự mạnh dạn trong đầu tư
Nhóm hộ sản xuất hàng hóa lớn: đây là những loại hộ sản xuất hàng hóa, nên các nhóm hộ này đã biết phát triển loại hình mang đặc trưng quy mô gia trại
Ngoài loại hộ thuần nông nói trên còn có nhóm hộ kiêm ngành nghề dịch vụ: đây là loại hình sản xuất nông nghiệp, họ biết tận dụng những thứ có sẵn của cha ông để lại như các ngành nghề truyền thống được chuyên lại nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình tận dụng lao động những lúc nông nhàn
ở nông thôn Vì thế loại hộ này có vốn để sản xuất kinh doanh và có kiến thức
về thị trường
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ nông dân
Ta có thể khái quát một số nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế nông hộ như sau:
Trang 18* Nhóm nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý và đất đai
Vị trí địa lý có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của kinh tế hộ nông dân Những hộ nông dân có vị trí thuận lợi như: Gần đường giao thông, gần các cơ sở chế biến nông sản, gần thị trường tiêu thụ sản phẩm, gần các khu công nghiệp, đô thị lớn… sẽ có điều kiện phát triển kinh tế hơn những vùng xa xôi hẻo lánh Ngành sản xuất chủ yếu của hộ nông dân là nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế trong quá trình sản xuất Do vậy quy mô đất đai, địa hình và thổ nhưỡng có liên quan mật thiết tới từng loại sản phẩm, tới số lượng và chất lượng sản phẩm, tới giá trị và lợi nhuận thu được từ sản phẩm
- Khí hậu thời tiết và môi trường sinh thái
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Điều kiện thời tiết, khí hậu, lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… có mối quan
hệ chặt chẽ đến sự hình thành và sử dụng các loại đất Thực tế cho thấy ở những nơi có thời tiết khí hậu thuận lợi, có tài nguyên phong phú sẽ hạn chế những bất lợi và rủi ro, có cơ hội hơn trong phát triển kinh tế
Môi trường sinh thái cũng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế hộ nông dân, nhất là nguồn nước Bởi vì những loại cây trồng và gia súc tồn tại theo quy luật sinh học, nếu môi trường thuận lợi thì cây trồng, vật nuôi phát triển tốt, năng suất cao, còn ngược lại sẽ chậm phát triển, năng suất thấp từ đó dẫn đến hiệu quả sản xuất kém
* Nhóm nhân tố thuộc kinh tế và tổ chức, quản lý
Đây là nhóm yếu tố có liên quan đến thị trường và các nguồn lực chủ yếu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nông dân nói riêng
Trang 19- Trình độ học vấn và kỹ năng lao động: Người lao động phải có trình
độ học vấn kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất tiên tiến Trong sản xuất phải giỏi chuyên môn, kỹ thuật, trình độ quản lý mới có thể mạnh dạn áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm mang lại lợi nhuận cao Điều này là rất quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngoài ra còn phải có những tố chất của một người dám kinh doanh.(Phạm Vân Đình, 1998) [2]
- Vốn
Trong sản xuất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng, vốn là điều kiện đảm bảo cho các hộ nông dân về tư liệu sản xuất, vật tư nguyên liệu cũng như thuê nhân công để tiến hành sản xuất Vốn là điều kiện không thể thiếu, là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng trong nông thôn bao gồm: Đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, trang thiết bị nông nghiệp… đây là những yếu tố quan trọng trong phát triển sản xuất kinh tế hộ nông dân, nơi nào có cơ sở hạ tầng đảm bảo, được trú trọng vào quy hoạnh thì các hoạt động sản xuất cũng dễ
Trang 20dàng hơn kéo theo đó thu nhập người dân cũng tăng đời sống của nông hộ được ổn định và cải thiện đáng kể
- Thị trường
Nhu cầu thị trường sẽ quyết định hộ sản xuất sản phẩm gì? Với số lượng bao nhiêu và theo tiêu chuẩn chất lượng như thế nào? Trong cơ chế thị trường, các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn loại sản phẩm mà thị trường cần trong điều kiện sản xuất của họ, từ đó kinh tế hộ nông dân mới có điều kiện phát triển Thị trường là yếu tố quyết định đến lợi nhuận sản phẩm của nông hộ nên nó góp phần rất quan trọng nơi nào gần thị trường tiêu thụ thì sẽ gặp rất nhiều thuận lợi như: Không mất thời gian và chi phí vận chuyển, sản phẩm được tiêu thụ nhanh hạn chế bị hư hỏng
- Hình thức và mức độ liên kết hợp tác trong mối quan hệ sản xuất kinh doanh
Để đáp ứng nhu cầu thị trường về sản xuất hàng hóa, các hộ nông dân phải liên kết hợp tác với nhau để sản xuất, hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật và giúp nhau tiêu thụ sản phẩm Ngoài ra các hộ cần hợp tác với các tổ khác để nhằm
hỗ trợ phát triển kinh tế Nhờ có các hình thức liên kết, hợp tác mà các hộ nông dân có điều kiện áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, và năng suất lao động
* Nhóm nhân tố thuộc khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Kỹ thuật canh tác
Do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng khác nhau, với yêu cầu giống cây trồng, vật nuôi khác nhau đòi hỏi phải có kỹ thuật canh tác khác nhau Trong nông nghiệp, tập quán, kỹ thuật canh tác của từng vùng, từng địa phương có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông hộ
- Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Trang 21Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật, vì nó đã tạo ra cây trồng vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt Thực
tế cho thấy những hộ biết áp dụng tiến bộ kỹ thật về giống, công nghệ sản xuất, hiểu biết thị trường, dám đầu tư lớn và chấp nhận những rủi ro trong sản xuất thì đạt hiệu quả kinh tế cao và lợi nhuận lớn từ các sản phẩm nông nghiệp Như vậy, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới và sản xuất nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển
* Nhóm nhân tố thuộc quản lý vĩ mô của Nhà nước
Nhóm nhân tố này bao gồm các chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước như: Chính sách thuế, chính sách ruộng đất, chính sách bảo hộ, trợ giá nông sản phẩm, miễn thuế dòng sản phẩm mới, chính sách cho vay vốn, giải quyết việc làm, chính sách đối với đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới… Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế nông hộ và là công
cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả và sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho các hộ nông dân phát triển kinh tế
Tóm lại: Từ các yếu tố ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế hộ nông dân, có thể khẳng định hộ nông dân sản xuất tự cấp tự túc muốn phát triển kinh tế cần phá vỡ kết cấu kinh tế khép kín của hộ để chuyển sang sản xuất với quy mô lớn và chính sách kinh tế là tiền đề, là môi trường để đầu tư, đưa tiến bộ kỹ thật mới vào sản xuất để kinh tế hộ hoạt động có hiệu quả
1.2 Cơ sở thực tiến của đề tài
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông dân ở một số nước trên thế giới
Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của các nước nhất là lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, trang trại, nông thôn đã có nhiều kinh nghiệm quý báu để chúng ta học tập
Quá trình phát triển kinh tế hộ trên thế giới diễn ra mạnh mẽ từ những hộ phát triển sản xuất từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa, từ sản xuất tiểu
Trang 22nông sang sản xuất trang trại Mặc dù trong nền sản xuất nông nghiệp trên thế giới tồn tại nhiều hình thức khác nhau Song các hộ nông dân, các trang trại gia đình vẫn là lực lượng chủ yếu sản xuất ra các mặt hàng nông sản phẩm, đáp ứng nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người Các hộ nông dân đang đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Từ năm 1980 ở các nước Đông Ấn, kinh tế hộ được đánh giá là kinh tế phụ của gia đình, nhưng trên thực tế nó lại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
Ở Hunggari sản phẩm hàng hóa nông trại gia đình chiếm 60% tổng sản paahmr hàng hóa thu được từ nông thôn
Ở Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được nhũng thành tựu hết sức kinh ngạc trong phát triển kinh tế hộ Họ có mô hình “hộ tự chịu trách nhiệm” là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông thôn
Ở Thái Lan đã sử dụng kinh tế hộ theo mô hình kinh tế trang trại nhỏ, chủ yếu là để phát triển sản xuất nông nghiệp, họ đã đạt được tốc độ phát triển cao và khá ổn định
Nhìn chung hầu hết ở các nước trên thế giới kể cả nước phát triển và nước đang phát triển đều coi trọng kinh tế hộ, vì đây là đơn vị kinh tế tự chủ, phù hợp với đặc thù trong sản xuất nông nghiệp
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trong khu vực
- Thái lan: Trong những năm gần đây Thái Lan là một nước đứng đầu
về xuất khẩu gạo trên thế giới Là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển và ổn định Để thúc đẩy kinh tế hộ phát triển chính phủ Thái Lan điều tiết các chính sách hợp lý như bình ổn giá, tín dụng trong nông nghiệp nên kinh tế của người dân khá ổn định
- Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung
Trang 23Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho
sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông
- Malaysia:
Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng Bên cạnh đó chính phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao
và ổn định hơn
Trên đây là những kinh nghiệm phát triển kinh tế nông hộ ở một số nước trong khu vực có điều kiện tự nhiên gần giống với nước ta Qua việc tìm hiểu, xem xét những kinh nghiệm đó chúng ta có thể tìm thấy những bài học quý giá, đồng thời xác định được sự khác biệt về đặc điểm kinh tế
xã hội riêng của nước mình để đưa ra những chủ trương đường lối phát triển sao cho phù hợp
1.3 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở nước ta
1.3.1 Quá trình phát triển kinh tế nông hộ ở việt nam
- Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này đại bộ phận nông dân đi làm thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu
cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ
- Từ năm 1955 đến năm 1959: Sau khi Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và Chính Phủ ta đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích „„Người
Trang 24cày có ruộng” Chính nhờ cải cách ruộng đất cùng với công tác khuyến nông
đã tạo điều kiện cho kinh tế nông hộ phát triển
- Từ năm 1960 đến năm 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, song đây cũng là tập thể thể hiện rõ tính yếu kém của mình, thời kỳ này kinh tế nông hộ không được coi trọng Đây là thời kỳ xuống dốc của nền kinh tế nước ta
- Từ năm 1981 đến năm 1987: Chỉ thị 100 CT/TW được Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành, quyết định chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đây là việc làm có ý nghĩa trong việc thực hiện quyền tự chủ trong sản xuất hộ nông dân đời sống của nhân dân phần nào được cải thiện, nhờ vậy mà sản lượng lương thực tăng lên liên tiếp
- Từ năm 1988 đến nay: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính Trị và Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 10 về „„Đổi mới quản lý kinh
tế trong nông nghiệp và nông thôn” Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn đổi mới Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập Hàng loạt những chính sách đổi mới đó đã tạo được động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan
1.3.2 Xu hướng phát triển kinh tế hộ nông dân ở nước ta
Nhu cầu của con người ngày càng tăng, dân số ngày một đông hơn trong khi đó nguồn lực sản xuất có hạn đặc biệt là đất đai Vì thế trong cơ chế kinh tế mới, nông nghiệp nông thôn sẽ phải có bước đi mới Hiện nay ở nông thôn quá trình chuyển đổi sử dụng đất và tích tụ ruộng đất ngày càng cao, tạo điều kiên thuận lợi cho việc cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp tiến tới nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn Cùng với xu hướng chung của kinh tế nông nghiệp, kinh tế nông hộ có thể phát triển theo 2 xu hướng sau:
Trang 25- Xu hướng thứ nhất là: một bộ phận nông hộ sẽ trở thành các chủ thể sản xuất kinh doanh độc lập; nói một cách khác, một bộ phận kinh tế tự cấp tự túc sẽ chuyển sang kinh tế hàng hóa Kết quả của quá trình tích tụ ruộng đất
sẽ hình thành các trang trai nông nghiệp, trang trai này sẽ có điều kiện đầu tư khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn nhằm đem lại lợi nhuận cao hơn
- Xu hướng thứ hai: một bộ phận nông hộ khác ngày càng gia tăng tích lũy sự thiếu hụt, do vậy, sẽ trở thành lao động làm thuê Đây cũng là một xu hướng của kinh tế tự cấp tự túc biến thành kinh tế hàng hóa, chính vì vậy nó được coi là xu hướng phát triển
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là kinh tế các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn
Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về địa điểm
Đề tài nghiên cứu tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
* Về thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ 11/8/2014 đến 30/11/2014
* Về nội dung
- Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thị trấn Nà Phặc
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn thị trấn Nà Phặc
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế cho từng nhóm hộ
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế hộ gia đình ơ thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Tài liêu nghiên cứu được thu thập từ các cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hộ, các công trình đã công bố, các báo cáo tổng kết của cơ quan chức năng về dân số, lao động, đất đai, tình hình sản xuất, thu thập từ tạp chí, internet…
Trang 27* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp quan sát: là quan sát trực tiếp hay gián tiếp đẻ nắm được thông tin về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu
- Điều tra bằng bản hỏi: nội dung của phiếu điều tra chủ yếu tìm hiểu thông tin của hộ,tình hình sản xuất cũng như đời sống của hộ
- Phỏng vấn bán cấu trúc: là phương pháp phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi đã xây dựng sắn nhằm tìm hiểu mức sống của người dân, các chính sách của nhà nước đã và đang tác động đối với người dân, thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiên những chinh sách đó
2.2.2 Phương pháp điều tra chọn mấu
Điều tra chọn mấu là không tiến hành điều tra toàn bộ các hộ gia đình trên địa bàn mà chi điều tra một số hộ nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp thống kê: số liệu điều tra được xử lý trên máy tính (Excel, Word) để tổng hợp số liệu, phân tích số liệu theo mục đích nghiên cứu
2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả
- Phân tổ thống kê: theo nhóm hộ, quy mô diện tích, vùng sinh thái để
là cơ sở cho việc so sánh phân tích
- So sánh: so sánh giữa các chỉ tiêu nghiên cứu, các vùng, các nhóm hộ với nhau Thông qua so sánh để tính được mức độ điển hình
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
- Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân/hộ
- Số nhân khẩu, lao động bình quân/ hộ
- Trình độ văn hóa của chủ hộ
Trang 282.3.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của hộ
- Tổng giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị các sản phẩm và dịch vụ
hộ đạt được trong một thời gian nhất định (thường là một năm )
- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm trong một thời kì sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA): là chỉ số phản ánh kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập thuần túy của nông hộ sản xuất, bao gồm cả công lao động và lợi nhuận trong thời kì sản xuất
2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh đời sống của hộ
- Tổng thu nhập của hộ
- Cơ cấu các khoản thu
- Thu nhập tinh trên nhân khẩu
- Tổng chi của hộ
- Cơ cấu các khoản chi
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội địa bàn thị trấn Nà Phặc
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Nà Phặc có diện tích đất tự nhiên 6.304,37 ha và ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp xã Trung Hòa
- Phía Đông giáp xã Thượng Quan, Thuần Mang, Vân Tùng
- Phía Nam giáp xã Lãng Ngâm
- Phía tây giáp huyện Ba Bể
Quốc lộ 3 là tuyến giao thông chính chạy xuyên suốt qua địa bàn thị trấn, tạo điều kiện thuận lợi về vị trí của thị trấn trong quá trình giao lưu, phát triển kinh tế - xã hội với các địa phương khác
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Nà Phặc có các kiểu địa hình khác nhau: Địa hình núi cao trung bình, địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung lũng, địa hình đồi bát úp và các đồng bằng nhỏ hẹp, độ dốc lớn, diện tích đồi núi chiếm khoảng 90% diện tích đất tự nhiên, diện tích tương đối bằng phẳng chiếm khoảng 10% đất nông nghiệp chủ yếu là ruộng bậc thang và các bãi bồi dọc theo suối
3.1.1.3 Khí hậu
Nà Phặc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa một năm có 2 mùa
rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 30- Nhiệt độ trung bình hằng năm thấp 20,70C sự chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tương đối cao Tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 nhiệt độ trung bình là 26,100C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 11,900C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng vật nuôi
- Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8; còn vào tháng 11 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí khá cao 83,0%, cao nhất vào tháng 7,8,9,10 từ 84 - 86% thấp nhất tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn huyện không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm
- Chế đọ gió trên địa bàn huyện xuất hiện hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa đông nam, tốc độ gió bình quân 1- 3 m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trung bình từ 2 -3 m/s, thời kỳ chuyển từ mùa Hạ sang Đông tốc độ gió yếu nhất trong năm
- Bão ít ảnh hưởng vì năm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao
3.1.1.4 Thủy văn
Hệ thống thủy văn trên địa bàn thị trấn chịu ảnh hưởng chính của nguồn suối Nà Phặc, suối Bản Mạch có lưu vực nhỏ, độ dốc lớn dòng chảy lớn nên thường gây ngập cục bộ và sói lở khi có mưa lớn xảy ra
3.1.1.5 Điều kiện về đất đai
Thị trấn Nà Phặc có tổng diện tích đất tự nhiên là 6.304,37 ha Chủ yếu
là đất rừng đồi núi Tình hình sử dụng đất của thị trấn Nà Phặc được thể hiện qua bảng 3.1
Trang 31Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Nà Phặc qua 3 năm
(2011- 2013) Chỉ tiêu
DT (ha)
III Đất nuôi trồng thủy
Về đất sản xuất nông nghiệp giảm dần qua các năm, năm 2011 diện tích đất nông nghiệp là 718,24 ha đến năm 2013 diện tích giảm xuống chỉ còn 708,05 ha đã giảm 10,19 ha so với năm 2011 Nguyên nhân là do quá trình sản xuất nông nông nghiệp không hiệu quả dấn đến bỏ đất hoang hay chuyển đổi mục đích sử dụng đất
Đất lâm nghiệp năm 2011 là 4987,97 ha đến năm 2013 giảm xuống chỉ còn 4976,29 ha đã giảm so với năm 2011 Nguyên nhân là do một số người dân tự ý phát đồi làm nương rẫy, cháy rừng
Trang 32Đất nuôi trồng thủy sản căn bản trong 3 năm có giảm nhưng không đáng kể
Đất chưa sử dụng của thị trấn qua 3 năm có tăng về diện tích nguyên nhân là do người dân bỏ hoang đất hoặc chuyển đổi mục đích nhưng chưa sử dụng đến
3.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế xã hộ trên địa bàn
3.1.2.1 Dân số và lao động
Cùng với đất đai, lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng tong mọi quá trình sản xuất của các ngành nghề, điều này cũng thể hiện rõ trong sản xuất nông nghiệp nhất là khi trình độ cơ giới hóa ở nước ta còn ở mức thấp
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động thị trấn Nà Phặc giai đoạn 2011 - 2013
2012/
2011
2013/
2012 Tốc độ phát triển bình quân qua các năm là 101,33%, trong đó năm
Trang 332012 so với năm 2011 tăng 175 người với tốc độ phát triển là 102,74%, năm
2013 so với năm 2012 tăng 114 người với tốc độ phát triển là 101,74%
Tổng số hộ năm 2011 là 1598 hộ và năm 2013 là 1662 hộ như vậy qua
ba năm đã tăng lên 34 hộ Cụ thể năm 2011 tổng số hộ nông nghiệp là 1038
hộ, đến năm 2013 tăng lên đến 1064 hộ, tăng 26 hộ với tốc độ phát triển bình quân qua ba năm là 101,25% Tổng số hộ phi nông nghiệp năm 2012 là 562
hộ, năm 2011 là 560 hộ, năm 2013 là 568 hộ với tốc độ phát triển qua 3 năm
là 101,72%
Về lao động: Lao động trong thị trấn chia thành hai nhóm chính là lao động nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp Trong năm 2013 lao động nông nghiệp là 2.002 người, lao động phi nông nghiệp là 2019 người
Nguyên nhân của việc gia tăng lao động phi nông nghiệp là do kinh tế
xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là ở khu vực trung tâm thị trấn Người dân từ các vùng nông thôn đổ về thị trấn làm việc ngày càng tăng Song lao động ít được đào tạo nghề nên dân lao động từ nông thôn ra làm chủ yếu là lao động chân tay
Năm 2013, bình quân nhân khẩu/hộ là 4,09 người/hộ, bình quân lao động là 2,46 lao động/hộ Trung bình trong 3 năm lao động bình quân/hộ tăng 1,11 % Lực lượng lao động ngày một tăng lên về số lượng và chất lượng, góp phần thúc đẩy kinh tế của thị trấn phát triển
3.1.2.2 Giá trị sản xuất kinh doanh của xã qua 3 năm 2011 - 2013
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế trong khu vực, nền kinh tế của thị trấn đã và đang ngày càng phát triển Trong những năm gần đây, nhờ
có đường lối đổi mới, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của các cấp Đảng ủy trên địa bàn, kinh tế đã có bước chuyển biến tích cực, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh
và dịch vụ còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đã đạt kết quả tốt, góp
Trang 34phần quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế trên địa bàn thị trấn Nhìn chung tình hình kinh tế của toàn thị trấn đã có tăng năm sau cao hơn năm trước, thu nhập của người dân cũng tăng lên đáng kể
Bảng 3.3 Tình hình trồng trọt và chăn nuôi của thị trấn
Trong giai đoạn 2011 - 2013 ngành trồng trồng trọt của thị trấn phát
triển ổn định về diện tích và sản lượng qua các năm
Diện tích trồng lúa năm 2011 là 280,34 ha đến năm 2013 giảm xuống
còn 265,30 ha, giảm xuống 15,04 ha, tốc độ phát triển của năm 2012 so với
năm 2011 cũng giảm xuống là 14,27 ha.Tốc độ phát triển của diện tích trồng lúa giai đoạn 2011-2013 bị giảm xuống là 2,69% Nguyên nhân dẫn đến diện tích đất trồng lúa trên địa bàn giảm là vì người dân trồng lúa chủ yếu để phục
vụ cuộc sống hàng ngày của họ, một phần diện tích trồng lúa được chuyển sang trồng các loại cây khác và do ảnh hưởng của thời tiết khô hạn kéo dài không đủ nước tưới tiêu nên diện tích đất trồng lúa giảm dần qua các năm
Diện tích trồng ngô năm 2011 là 236,14ha năm 2013 diện tích trồng ngô tăng lên mức 243,11ha tăng 6,97 ha so với năm 2011 Tốc độ phát triển của diện