LỜI CAM ĐOAN Đề tài tốt nghiệp “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên” chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ TÂM
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN TẠI XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : KT&PTNT
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG THỊ TÂM
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT CHÈ AN TOÀN TẠI XÃ PHÚC XUÂN, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT&PTNT Khoá học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : ThS Hồ Lương Xinh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên” chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp là chuyên ngành của riêng tôi,
đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào khác Các số liệu trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Tác giả khóa luận
Nông Thị Tâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là khâu rất quan trọng của mỗi sinh viên trong quá trình học tập Qua đó giúp cho mỗi sinh viên củng cố lại kiến thức đã học trong nhà trường và ứng dụng trong thực tế, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác có thể vững vàng khi ra trường
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn Th.S Hồ Lương Xinh, em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên”
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, cùng tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt em trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, em xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn Th.S Hồ Lương Xinh đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn
để em hoàn thành khóa luận này
Em xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ UBNN xã Phúc Xuân đã nhiệt tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Em xin cảm ơn bạn bè, người thân và gia đình đã giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu khóa luận
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của
em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy - cô giáo và bạn bè để bài khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Nông Thị Tâm
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất thế giới 19
Bảng 2.2: Các nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới 21
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới qua các thời kỳ 22
Bảng 2.4: Sản lượng chè thế giới qua các năm từ năm 2006 – 2010 23
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế giới năm 2010 24
Bảng 2.6: Mức tiêu dùng chè của một số nước trên thế giới năm 2013 25
Bảng 2.7: Diện tích, sản lượng chè của tỉnh Thái Nguyên qua các năm (2007-2009) 31
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất tại xã Phúc Xuân 40
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng chè tại xã Phúc Xuân từ năm 2012 -2014 42
Bảng 4.3: Một số thông tin chung về các hộ điều tra 45
Bảng 4.4: Phương tiện sản xuất chè của hộ trồng chè an toàn và chè truyền thống 46
Bảng 4.5: Cơ cấu diện tích đất trồng chè của các hộ nghiên cứu 47
Bảng 4.6: Tình hình sản xuất chè an toàn và chè truyền thống của hộ điều tra 48
Bảng 4.7: So sánh chi phí đầu vào bình quân 1 sào chè an toàn so với 1 sào chè truyền thống của hộ điều tra 50
Bảng 4.8: Kết quả sản xuất chè của hộ tính bình quân sào/năm 53
Bảng 4.9: Bảng so sánh hiệu quả sản xuất chè trên một sào/năm của các hộ điều tra năm 2015 54
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
1 GO/CLĐ Tổng giá trị sản xuất/công lao động
2 VA/IC Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian
4 GO/sào Tổng giá trị sản xuất/sào
5 VA/sào Giá trị gia tăng/sào
6 GO/IC Tổng giá trị sản xuất/Chi phí trung gian
7 VA/lđ Giá trị gia tăng/lao động
10 KTNN Kinh tế nông nghiệp
11 NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
12 QĐ-BNN Quyết định - Bộ nông nghiệp
20 BNN&PTNT Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.4 Đóng góp của đề tài 3
1.5 Bố cục Luận văn 4
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về cây chè 5
2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè 7
2.1.3 Những vấn đề chung về mô hình 10
2.1.4 Những khái niệm liên quan đến chè an toàn 13
2.1.5 Hiệu quả trong kinh tế và tiêu chí đánh giá kinh tế 15
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 18
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước 26
2.2.3 Tình hình sản xuất chè tại tỉnh Thái Nguyên 28
2.2.4 Tình hình sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên 31
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
Trang 83.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
3.2 Các câu hỏi nghiên cứu 33
3.3 Nội dung nghiên cứu 33
3.4 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4.1.Phương pháp thu thập thông tin 33
3.4.2.Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 35
3.4.3 Phương pháp phân tích thông tin 35
3.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 36
3.5.1 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất của hộ 36
3.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè 37
3.5.3 Các chỉ tiêu bình quân 38
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 40
4.2 Thực trạng phát triển sản xuất chè ở xã Phúc Xuân - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên 41
4.2.1 Tình hình phát triển sản xuất chè ở xã Phúc Xuân 41
4.2.2 Tình hình chung của nhóm hộ nghiên cứu 44
4.2.3 Tình hình sản xuất chè của các nhóm hộ điều tra 47
4.2.4 Chi phí sản xuất của chè an toàn và chè truyền thống của hộ điều tra 49
4.2.5 Phân tích hiệu qủa sản xuất chè của các hộ điều tra 54
4.2.6 Hiệu quả xã hội của sản xuất chè 56
4.2.7 Một số nhận xét về tình hình phát triển sản xuất chè của hộ nông dân 57
PHẦN 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CHÈ TẠI XÃ PHÚC XUÂN 60
5.1 Một số quan điểm chung về phát triển sản xuất chè 60
Trang 95.1.1 Phát triển sản xuất chè trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng vùng,
từng địa phương 60
5.1.2 Phát triển chè trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn 60
5.1.3 Phát triển sản xuất chè theo hướng sản xuất chè an toàn 61
5.2 Một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè ở xã Phúc Xuân 62
5.2.1 Giải pháp đối với chính quyền địa phương 62
5.2.2 Giải pháp đối với nông hộ 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
Kết Luận 68
Kiến nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
I Tiếng Việt 72
II Tài liệu Internet 73
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thái Nguyên chú trọng phát triển tiềm năng, thế mạnh của cây chè Đại hội đại biểu của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lần thứ mười tám đã xác định: cây chè là cây thế mạnh Mang lại hiệu quả kinh tế cao, cần quan tâm và đầu tư phát triển hơn nữa Tính đến năm 2013, cây chè được phát triển ở 34 tỉnh thành trong cả nước, với diện tích lên đến hơn 130 nghìn ha, cùng với các tỉnh thành có thế mạnh về cây chè khác, sản phẩm chè Thái Nguyên có mặt ở hơn
50 tỉnh, thành phố trên cả nước và một số thị trường quốc tế Thái nguyên là tỉnh đứng thứ hai về diện tích trồng chè trong cả nước, đạt khoảng 185.000 tấn/năm, chiếm 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu chè Cây chè là cây thế mạnh đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người nông dân Thái Nguyên có thu nhập
ổn định, nhiều hộ đã thoát nghèo và làm giàu từ việc trồng chè Đảng bộ Thái Nguyên đã đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên
cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển đổi diện tích trồng chè sang các giống mới theo hướng tạo vùng nguyên liệu tập trung gắn liền vơí công nghiệp chế biến trong thời gian tới Festival trà Thái Nguyên lần thứ hai
- Thái Nguyên đã tổ chức thành công, giúp thúc đẩy việc sản xuất áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng chè Thái Nguyên Nhận thức rõ vai trò của việc sản xuất chè an toàn có ý nghĩa sống còn đối với cây chè, tỉnh Thái nguyên đã và đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè chất lượng, giá trị cao, xây dựng vùng sản xuất theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất thuốc trừ sâu, áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp VietGAP, UTZ Certified… Nằm trong vùng chè đặc sản Tân Cương, HTX chè Tân Hương đã được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn UTZ Certified (tiêu
Trang 11chuẩn về sản xuất các sản phẩm nông sản tốt trên quy mô toàn cầu ) cũng vì thế 100% sảm phẩm của HTX là sản phẩm chè sạch, chè an toàn, chè xanh cao cấp, tiêu thụ tốt ở thị trường nội địa và xuất khẩu
Giá trị của cây chè đem lại hiệu quả rất cao và làm thay đổi phần lớn đời sống kinh tế của những hộ người dân trong HTX Mặc dù vậy nhưng người dân trồng chè vẫn còn gặp khó khăn trong sản xuất cũng như tiêu thụ chè Nhưng sự gắn kết HTX với các doanh nghiệp hay thị trường tiêu dùng còn chưa chặt chẽ, thị trường chủ yếu nội tiêu chưa được tận dụng hết lợi thế
để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển ổn định Quá trình thực hiện đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đối với sản xuất chè và tìm kiếm đầu
ra cho sản phẩm là vấn đề cần được quan tâm và thực hiện hiệu quả hơn nữa
Tuy nhiên, ngành chè của Việt Nam nói chung và của Tỉnh Thái Nguyên nói riêng vẫn còn gặp nhiều khó khăn, giá trị sản xuất của cây chè chưa tương xứng với tiềm năng Vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế thì người trồng chè cần chú trọng những vấn đề gì trong tất cả các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ chè vẫn là vấn đề thời sự và cấp bách khi tiếp cận và mở rộng thị trường mới cũng như là nâng cao giá trị xuất khẩu Chính vì vậy, tôi lựa
chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất chè an toàn tại Xã Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất chè nhằm đưa ra những khuyến nghị cho người trồng chè có sự lựa chọn đúng đắn phương hướng sản xuất chè đạt hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó, đề tài nhằm đưa ra những cơ sở khoa học đóng góp vào việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển cây chè đảm bảo phát huy tối đa các lợi thế của vùng trong sản xuất, chế biến chè hàng hóa phục
vụ cho việc xây dựng và phát triển thương hiệu chè Thái Nguyên
Trang 121.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá thực trạng về sản xuất chè và hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất chè an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân - TP Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
- Đề ra định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế một số mô hình sản xuất chè an toàn trên địa bàn xã Phúc Xuân - TP Thái
Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học
- Góp phần thu thập dữ liệu về thực tiễn sản xuất, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở, tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, lãnh đạo các ban ngành, đưa ra phương hướng để phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu còn tồn tại để giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển nông nghiệp ngày càng vững mạnh
Trang 13- Đánh giá được khó khăn của người dân trong sản xuất chè từ đó đưa
ra giải pháp phù hợp
1.5 Bố cục khóa luận
Bố cục của khóa luận gồm
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè tại xã Phúc Xuân - TP Thái Nguyên
Trang 14PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về cây chè
Chè là thức uống phổ biến thứ hai chỉ sau nước lọc Chè có nguồn gốc
xa xưa từ trung hoa, chè bắt đầu phổ biến ở Anh từ thế kỷ 17 và sau đó lan rộng ra toàn Châu Âu
Với một số lợi ích cho sức khỏe và có khả năng kiểm soát về cân nặng, giảm được huyết áp, giảm nguy cơ mắc bệnh về tim mạch và thậm chí giúp tăng độ bền của xương khớp, chè đã trở thành một trong các sản phẩm được tiêu thụ nhiều nhất toàn cầu [17]
Cây chè hay cây trà trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây
mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè Tên gọi sinensis có nghĩa là “Trung Quốc” trong tiếng Latinh Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và thea viridis Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2m khi được trồng để lây lá Nó có rễ cái dài Hoa chè màu trắng ánh vàng, với 7-
8 cánh hoa Hạt của nó có thể ép để lấy dầu [17]
Chè xanh, chè ô long và chè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở mức độ oxi hóa khác nhau
Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu:
Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới Ngày nay chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao Tác dụng chữa bệnh
và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau:
Trang 15- Cafêin và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng [15]
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn Nhiều thầy thuốc c ̣òn dùng nước chè , đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Theo xác nhận của M.N Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụng làm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè Dựa vào số liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp
và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày E.K Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước, của tình trạng chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C [15]
- Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin
Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càng được mở rộng
Trang 16Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điều kiện không tranh chấp với diện tích trồng cây lương thực, chè là một trong những cây có ưu thế nhất Hiện nay, ta mới sử dụng khoảng 50% đất nông nghiệp Nguồn lao động của ta dồi dào nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, chè là một loại cây yêu cầu một lượng lao động sống rất lớn Do đó việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu lực, vừa để sử dụng hợp lý vừa để phân bổ đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nước Việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân bổ các xí nghiệp công nghiệp chế biến chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do đó làm cho việc phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du và miền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa [11]
2.1.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè
Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản Vì thế để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa
có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè [11]
Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè
a Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây chè, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm
Trang 17Muốn chè có chất lượng cao và có hương vị đặc biệt cần phải trồng chè
ở độ cao nhất định Đa số những nơi trồng chè trên thế giới cần có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800m Chè được trồng và phát triển chủ yếu ở vùng đất dốc, đồi núi, ở những vùng núi cao chè có chất lượng tốt hơn ở vùng thấp
Độ dốc đất trồng chè không quá 300, đất càng dốc thì xói mòn càng lớn, đất nghèo dinh dưỡng chè không sống được lâu Chè là loại cây thân gỗ dễ ăn sâu nên cần tầng đất dầy, tối thiểu 50 cm Cây chè ưa các loại đất thịt và đất thịt pha cát có giữ độ ẩm tốt, thoát nước tốt Độ sâu mực nước ngầm phải sâu hơn thì chè mới sinh trưởng và phát triển tốt được vì cây chè cần ẩm nhưng sợ úng Độ chua của đất là chỉ tiêu quyết định đời sống cây chè, độ chua PH thích hợp nhất là từ 4,5 - 5,5 Nếu độ chua PH dưới 3, lá chè xanh thẫm, sẽ có cây chết Nếu độ chua trên 7,5, cây ít lá, vàng cằn Trồng chè ở các vùng đất trung tính hoặc kiềm cây chè chết dần Ngoài ra thành phần dinh dưỡng cũng quyết định sự sinh trưởng và năng suất cây chè Để cây chè phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: Đất tốt, giàu mùn, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho chè phát triển [11]
+ Điều kiện khí hậu
Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau Nhưng qua số liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 - 2000 mm Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90% Độ ẩm đất từ 70 - 80% Lượng mưa bình quân tháng trên 1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới 100
C hay trên 400C Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22 – 280C Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại Thời vụ thu
Trang 18hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm,
ẩm ướt Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các giống chè lá nhỏ ưa sáng hơn các giống chè lá to [11]
b Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật
+ Giống chè
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất lượng chè thời kỳ dài 30 - 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng Giống chè là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được điều kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh Nguyên liệu phù hợp chế biến các mặt hàng có hiệu quả kinh tế cao Cùng với giống tốt trong sản xuất kinh doanh chè cần có một số cơ cấu giống hợp lý, việc chọn tạo giống chè là rất quan trọng trong công tác giống Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, Phúc Vân Tiên Đây là một số giống chè khá tốt, tập trung được nhiều ưu điểm, cho năng suất và chất lượng búp cao, đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều, trồng trên diện tích rộng, bổ sung cơ cấu giống vùng và thay thế dần giống cũ trên các nương chè cằn cỗi Bên cạnh đặc tính của các giống chè, phương pháp nhân giống cũng ảnh hưởng trực tiếp tới chè nguyên liệu Hiện nay có 2 phương pháp được áp dụng chủ yếu là trồng bằng hạt và trồng bằng cành giâm Đặc biệt phương pháp trồng chè cành đến nay đã được phổ biến, áp dụng rỗng rãi và dần dần trở thành biện pháp chủ yếu trên thế giới cũng như ở Việt Nam [11]
+ Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Cùng với giống mới việc áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất và chế biến cũng là điều kiện cần thiết để tạo ra năng suất cao và chất lượng tốt
Trang 19- Tủ cỏ rác và tưới nước: Tủ cỏ rác tăng năng suất chè 30 - 50% do giữ được ẩm, tăng lượng mùn và các chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất Chè cũng
là cây trồng rất cần nước, nếu cung cấp nước thường xuyên thì năng suất chè nguyên liệu sẽ tăng từ 25 - 40%
- Đốn chè: Là biện pháp kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất, chất lượng chè Kết quả nghiên cứu ở Inđônêxia cho thấy hàm lượng càphêin của nguyên liệu chè đốn cao hơn nguyên liệu chè chưa đốn Ngoài phương pháp đốn, thời vụ đốn cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng chè Thường tiến hành đốn vào thời kỳ cây chè ngừng sinh trưởng, không ra búp từ ngày giữa tháng 12 đến cuối tháng 1 hàng năm nhưng tập trung chủ yếu vào tháng 1
- Bón phân: Bón phân cho chè nhất là chè kinh doanh là một biện pháp kỹ thuật quan trọng quyết định trực tiếp tới năng suất và chất lượng chè búp Chè là cây có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng rãi, nó có thể sống nơi đất rất màu mỡ cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi mà vẫn có thể cho năng suất nhất định Tuy nhiên muốn nâng cao được năng suất, chất lượng thì cần phải bón phân đầy đủ Bón phân cho chè là biện pháp kinh tế kỹ thuật cần thiết để nâng cao năng suất và chất lượng cho chè, nhưng biện pháp này cũng có những tác dụng ngược Bởi nếu bón phân không hợp lý sẽ làm cho năng suất và chất lượng không tăng lên được, thậm chí còn bị giảm xuống Nếu bón đạm với hàm lượng quá cao hoặc bón các loại phân theo tỷ lệ không hợp lý sẽ làm giảm chất Tanin hoà tan của chè, làm tăng hợp chất Nitơ dẫn tới giảm chất lượng chè Vì vậy bón phân cần phải bón đúng cách, đúng lúc, đúng đối tượng và cần cân đối các yếu tố dinh
dưỡng chủ yếu như: Đạm, Lân, NPK, Lali sao cho phù hợp [11]
2.1.3 Những vấn đề chung về mô hình
2.1.3.1 Khái niệm về mô hình
Thực tiễn hoạt động của đời sống, kinh tế, xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp
Trang 20nghiên cứu để tiếp cận Mỗi công cụ và phương pháp nghiên cứu đều có
những ưu điểm riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Theo các cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu riêng Góc độ tiếp cận về mặt vật lý học thì mô hình là cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại Khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi
mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu [9]
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta dễ nhận biết được đối tượng nghiên cứu
Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế
Như vậy, mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu [2]
Trong thực tế, để khái quát hóa các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay một ý tưởng nào đó, người ta thường thể hiện dưới dạng
mô hình Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau
Do đó, ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan niệm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để
mô phỏng và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm và đều được
Trang 21thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu
2.1.3.2 Vai trò của mô hình
Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống như một tổng thể Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống nhờ các mô hình ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của các số liệu quan sát được và các giả định rút ra Nó giúp ta hiểu sâu hơn hệ thống phức tạp và một mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lý hệ thống, giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống [10]
Việc thực hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng người nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng vật nuôi tại một khu vực nào đó Từ đó đưa ra được quyết định tốt nhất nhằm đem lại lợi ích tối đa cho nông dân, phát huy hiệu quả những gì nông dân đã có
+ Mô hình sản xuất
Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội bằng những tiềm năng, nguồn lực và sức lao động của chính mình Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh sự phát triển của công cụ sản xuất - yếu tố không thể thiếu được cấu thành trong nền sản xuất Từ những công cụ thô sơ, công cụ thường thay thế vào đó là các công cụ sản xuất hiện đại, công dụng đa năng đã thay thế một phần rất lớn cho lao động sống và làm giảm hao phí về lao động sống trên một đơn vị sản phẩm Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của nền sản xuất hiện đại
Trong sản xuất, mô hình sản xuất là một trong các nội dung kinh tế của sản xuất, nó thể hiện được sự tác động qua lại của các yếu tố kinh tế, ngoài
Trang 22những yếu tố kỹ thuật của sản xuất, do đó mà: Mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất thể hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế
2.1.4 Những khái niệm liên quan đến chè an toàn
2.1.4.1 Khái niệm về chè an toàn
VietGap (Vietnamese Good Agricultural Pactices ) nghĩa là thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi của Việt Nam Những quy tắc những trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch và sơ chế đảm bảo an toàn Để nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguồn gốc sản phẩm
Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn tại việt nam (gọi tắt là VietGap - Vietnamese Good Agricultural practices) là những nguyên tắc, trình tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch và sơ chế đảm bảo an toàn Để nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy nguồn gốc sản phẩm
Vậy chè an toàn là sản phẩm chè búp tươi được sản xuất phù hợp với các
quy trình đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có trong VietGap (quy trình sản
xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn tại việt nam) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tương đương VietGap, được chế biến theo quy trình chế biến chè an toàn do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành và mẫu điển hình đạt chỉ tiêu an toàn thực phẩm quy định tại phụ luc 3 ( quy định quản lý sản xuất kinh doanh rau quả chè an toàn ) do BNN & PTNN ban hành
Hay Chè an toàn là sản phẩm chè được sản xuất, chế biến, bảo quản theo đúng quy trình kỹ thuật, có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, nitrat, chất điều hoà sinh trưởng và các vi sinh vật có hại dưới mức giới hạn cho phép
Trang 23theo quy định tại Phụ lục 4 và 5 của Quy định Số 43/2007/QĐ-BNN, ngày 16 tháng 5 năm 2007 ban hành quy định quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn của Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn [3]
2.1.4.2 Vai trò của chè an toàn
Sản phẩm chè đã và đang là nhu cầu phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều quốc gia sử dụng chè sau chế biến như là một nhu cầu thiết yếu Điều đó đã được khẳng định ở thị trường tiêu thụ chè đen ở Liên Xô trước đây cũng như là các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản, Irac, Ấn Độ… hiện nay
Trong quá trình phát triển, cây chè đã tự khẳng định được vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Sản phẩm chè không chỉ là nguồn hàng hóa phục vụ nhu cầu dời sống hàng ngày mà còn là mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ngoại tệ lớn
Sản xuất tiêu thụ chè góp phần quan trọng trong xóa đói, giảm nghèo, giải quyết lao động việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người nông dân, khai thác hiệu quả sức lao động hộ nông dân
Phát triển sản xuất chè ở trung du và miền núi góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, hạn chế xói mòn, cải tạo đất, tăng độ phì, góp phần bảo vệ phát triển một nền nông nghiệp bền vững [1]
Sản xuất, tiêu thụ chè mang lại thu nhập cao hơn các loại cây trồng khác Phát triển sản xuất, tiêu thụ chè tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, hội nhập Việc xuất khẩu chè dưới dạng chè thành phẩm như chè đen, chè vàng, chè xanh chất lượng cao cho phép các quốc gia sản xuất, tiêu thụ chè có điều kiện trao đổi hàng hóa, chuyển giao công nghệ với các quốc gia đối tác
Trang 242.1.5 Hiệu quả trong kinh tế và tiêu chí đánh giá kinh tế
2.1.5.1.Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá tŕnh tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế [4]
Các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế:
Quan điểm thứ nhất: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng nhịp độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm xã hội hoặc tổng sản phẩm quốc dân, hiệu quả cao khi nhịp độ tăng trưởng của các chỉ tiêu đó cao và hiệu quả có nghĩa là không lãng phí Một nền kinh tế có hiệu quả khi nó nằm trên đường giới hạn năng lực sản xuất đặc trưng bằng chỉ tiêu sản lượng tiềm năng của nền kinh
tế, sự chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng thực tế và sản lượng thực tế là sản lượng tiềm năng mà xã hội không sử dụng được phần bị lãng phí
Quan điểm thứ hai: Hiệu quả là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng là đại diện cho mức sống của nhân dân, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của nền sản xuất xã hội
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh về chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó
Quan điểm thứ tư: Hiệu quả của một quá trình nào đó, theo nghĩa chung là mối quan hệ tỷ lệ giữa hiệu quả (theo mục đích) với các chi phí sử dụng (nguồn lực) để đạt được kết quả đó
Trang 25Tóm lại: Hiệu quả kinh tế là thể hiện quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí nguồn lực bỏ ra Khi kết quả đạt được chỉ bằng với chi phí bỏ
ra là lãng phí nguồn lực, khi sử dụng tiết kiệm nguồn lực để đạt được một kết quả nhất định là hiệu quả kinh tế cũng khác nhau nhưng vẫn phải dựa trên nguyên tắc so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí nguồn lực bỏ ra [4]
2.1.5.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm của Mác thì bản chất hiệu quả kinh tế xuất phát từ yêu cầu của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội Đó là sự đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Hiệu quả kinh tế
là một phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc trưng phức tạp nên việc xác định
và so sánh hiệu quả kinh tế và vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn và mang tính tương đối Hiệu quả là chỉ tiêu phản ánh có ý nghĩa khác nhau với từng loại nông
hộ Đối với những hộ nông dân nghèo, đặc biệt là vùng kinh tế tự cung tự cấp thì việc tạo ra nhiều sản phẩm là quan trọng Nhưng khi đi vào hạch toán kinh tế trong điều kiện lấy công làm lãi thì người nông dân chú ý tới thu nhập, còn đối với những hộ nông dân sản xuất hàng hóa, trong điều kiện thuê, mướn lao động thì lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng và đó là vấn đề hiệu quả
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của nhà sản xuất là thu được lợi nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế Do đó hiệu quả kinh tế có liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào (Inputs) và các yếu tố đầu ra (Outputs) của quy trình sản xuất kinh doanh Việc xác định các yếu tố đầu vào
và đầu ra của quá trình sản xuất sẽ gặp phải những khó khăn nhất định
+ Đối với yếu tố đầu vào:
Do các tư liệu sản xuất tham gia vào quy trình sản xuất không đồng nhất và trong nhiều năm có thể rất khó xác định giá trị đào thải và chi phí sửa chữa lớn nên việc tính toán khấu hao và phân bổ chi phí để xác định các chỉ tiêu hiệu quả có tính chất tương đối
Trang 26Do sự biến động không ngừng của cả thị trường nên việc xác định chi phí cố định là không chính xác mà chỉ có tính tương đối
Một số yếu tố đầu vào rất khó lượng hóa như: Thông tin, tuyên truyền,
cơ sở hạ tầng nên không thể tính toán được một cách chính xác
+ Đối với yếu tố đầu ra:
Phần lớn những kết quả sản xuất đầu ra có thể lượng hóa được một cách cụ thể nhưng cũng có những yếu tố không thể lượng hóa được như: Bảo vệ môi trường, năng lực cạnh tranh của nhà sản xuất, khả năng tạo việc làm
Hiệu quả kinh tế với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội Vì vậy, nghiên cứu đánh giá hiệu quả kinh tế không dừng lại ở mức độ đánh giá mà còn thông qua đó tìm ra các giải pháp để phát triển một cách tốt hơn
Vậy bản chất của hiệu quả kinh tế xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao hơn của mọi thành viên trong xã hội Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và tiết kiệm thời gian làm việc
Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt hiệu quả tối đa và chi phí tối thiểu Nó được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực Chi phí sử dụng nguồn lực bao gồm cả chi phí cơ hội
2.1.5.3 Hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn đánh giá
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế chung nhất có liên quan trực tiếp đến nền sản xuất hàng hoá và tất cả các phạm trù, các quy luật kinh tế khác
Trang 27Hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở mức đặc trưng quan hệ so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá cũng khác nhau
Tùy theo nội dung của hiệu quả mà có tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế quốc dân và hiệu quả của các doanh nghiệp, xí nghiệp Có thể coi thu nhập tối đa trên một đơn vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay
Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thỏa mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra, trong nền kinh tế thị trường còn đòi hỏi yếu tố chất lượng và giá thành thấp để tăng khả năng cạnh tranh Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao động bỏ ra
Đối với cây chè tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải đứng trên góc
độ hạch toán kinh tế, tính toán các chi phí, các yếu tố đầu vào từ đó tính toán được đầu ra Xác định mối tương quan kết quả giữa đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được đó chính là lợi nhuận
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
Hiện sức tiêu thụ chè trên thế giới đạt mốc 3 tỷ một ngày, với các giống chè được sản xuất ở Châu Phi, Cận Đông Nam Mĩ và khu vực Châu Á Trong mức sản xuất và tiêu thụ hiện nay thực tế thấy rằng chè thực sự là loại hang hóa toàn cầu Dưới đây là danh sách các quốc gia nhập chè lớn nhất trên thế giới năm 2013 với thứ bậc gần như không đổi trong những năm trở lại đây [18]
Trang 28Bảng 2.1: Các quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất thế giới
Các nước xuất khẩu chè lớn nhất
thế gới
Sản lượng xuất khẩu (Tấn/năm)
Sri Lanka sản xuất và xuất khẩu chè được coi là một lính vực quan trọng trong nền kinh tế của quốc gia Châu Á này, chiếm 20% GDP của Sri Lanka Ngành chè ở đây được thương mại hóa rất sớm từ năm 1847, phát triển rất tốt trong điều kiện mát mẻ và ẩm ướt của Sri Lanka Được coi là nước sản xuất chè lớn thứ 4 thế giới và thứ 2 danh sách các nhà sản xuất chè lớn nhất thế giới Hằng năm sản xuất được 327.500 tấn chè trong đó 318.329 tấn được xuất khẩu sang cộng đồng quốc tế, đạt mức giá trị 1,48 tỷ USD/năm 23% tổng lượng chè xuất khẩu trên thế giới của Sri Lanka với lợi nhuận chiếm đến 60% lợi nhuận trong các ngành xuất khẩu của quốc gia này
Trang 29Trà là thức uống không thể thiếu ở Trung Quốc Quốc gia này được coi
là nhà sản xuất trà lớn nhất toàn cầu Trung Quốc đã thống trị thị trường xuất khẩu chè của thế giới cho đến năm 1880 và hiện đang đứng thứ 3 trên thế giới Tuy nhiên phần lớn các loại chè được trồng và tiêu thụ ngay trong nội địa Trung Quốc và chỉ có một phần nhỏ được xuất khẩu ra thị trường quốc tế Với sản lượng đạt mức 1.640.310 tấn chỉ 299.789 tấn được xuất khẩu ra bên ngoài đạt mức giá trị 965.080.000 USD Trung quốc hiện đóng góp 35% tổng lượng chè tiêu thụ trên thế giới
Ấn độ cũng luôn được coi là một trung tâm lớn trên thế giới về hoạt động sản xuất chè Chiếm đến 23% sản lượng chè toàn cầu, hằng năm Ấn Độ sản xuất khoảng 966.733 tấn chè và xuất khẩu khoảng 203.207 tấn với giá trị 867.143.000 USD Đạt mức 12% về sản lượng chè xuất khẩu trên toàn cầu Chè của Ấn Độ được một số chuyên gia đánh giá tốt nhất trên thế giới nhờ xử
lý tốt và liên tục mở rộng các thị trường chiến lược
Chè tại Việt Nam được sản xuất chủ yếu là trên quy mô thương mại
và công nghiệp, có khoảng 147.900 tấn chè được sản xuất mỗi năm có giá trị 204.018.000 USD trên thị trường quốc tế Giá chè xuất khẩu bình quân từ Việt Nam là 1.340 USD/tấn đạt mức cao so với các nước khác Tuy nhiên chè Việt Nam đã được xuất khẩu đến 61 quốc gia trên thế giới, trong đó một số lượng nhỏ là được xuất khẩu sang Châu Âu và Mĩ, Đài loan và Pakistan là hai quốc gia gần như nhập khẩu toàn bộ các nguồn cung cấp chè từ Việt Nam
Vấn đề tiêu thụ chè được nhập khẩu trên thị trường rộng lớn khắp thế giới Trong đó có 5 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đó là Ai Cập, các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh và Liên Bang Nga [18]
Trang 30Bảng 2.2: Các nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới
Các nước nhập khẩu chè lớn nhất
thế giới Sản lượng nhập khẩu (tấn/năm)
và Sri Lanka là 2 quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất vào Nga, hiện nay trong đó có
Ấn Độ chiếm thị phần khá nhỏ do giá thành cao tại Anh, kể từ khi đế quốc Anh đang ở đỉnh cao của nó, chè đã được coi là thức uống rất cao cấp ở vương quốc này Do đó Anh được coi là một trong những quốc gia đi đầu trong việc tiêu thụ chè đạt mức 1,9kg một người, mỗi năm Việc sản xuất chè túi đã tiếp tục làm tăng mức tiêu thụ chè trong cả nước, khoảng 165 triệu tách trà được tiêu thụ mỗi ngày ở Anh Có khoảng 157.593 tấn chè trị giá 367.564.000 USD được nhập khẩu hằng năm vào Anh Hoa Kỳ các loại trà trở nên phổ biến và ngày được tiêu thụ nhiều hơn sau những năm 90 của thế kỷ trước
Các tiểu vương quốc Ả Rập (UAE) đứng thứ 4 trong sách những nhà nhập khẩu chè lớn nhất thế giới, nhưng cũng là quốc gia hàng đầu thế giới trong việc tái sản xuất loại chè Chè được nhập khẩu vào UAE ở dạng thô và
Trang 31sau đó các doanh nghiệp trong nước sẽ chọn lọc, chế biến và đóng gói rồi bán
ra thị trường thế giới với giá trị cao hơn khoảng 109.575 tấn chè được nhập khẩu vào UAE hằng năm, cao hơn 10% so với thập kỷ trước Hằng năm một lượng chè giá 485.768.000 USD được đưa vào trong nước chủ yếu là Ấn Độ
và Trung Quốc Sau đó xuất khẩu sang các nước khác như Iran và Oman sau khi được tinh chế đóng gói
Ai Cập là quốc gia đứng đầu trong các nhà nhập khẩu chè của Châu Phi
và hiện nhập khẩu khoảng 23% tổng lượng trà được cung cấp từ Kenya Chè
là đồ uống của quốc gia Ai Cập, biến loại hàng hóa này trở thành một trong những mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất ở đất nước bắc phi này, khoảng 107.586 tấn chè được nhập khẩu hằng năm trị giá 308.452.000 USD và phần lớn là nhập khẩu ở Kenya và Sri Lanka Chính phủ Ai Cập coi đây là một loại cây trồng chiến lược và coi Kenya là nơi rất tốt để xây dựng đồn điền chè Với nhu cầu ngày càng tăng giá trị xuất khẩu chè CTC vào Ai Cập
Cơ cấu khối lượng chè xuất khẩu sang các mước của Kenya Đất nước đứng đầu về sản xuất và xuất khẩu sang các nước
Sản lượng chè ở các nước tăng cao trong vài thập kỷ gần đây Sản lượng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya Srilanka Sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nước: Indonesia và Thổ Nhĩ
Kì Trên 20 nghìn tấn có 9 nước, trong đó có Việt Nam [18]
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè thế giới qua các thời kỳ
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lƣợng (1000 tấn)
Trang 32Qua số liệu thống kê diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm qua cho thấy:
- Diện tích chè thế giới tăng mạnh trong 30 năm từ năm 1961 – 1990, trong 20 năm trở lại đây diện tích chè có chiều hướng nhanh năm 1990 diện tích là 2237,78 ha đến năm 2010 diện tích đã là 3213,56 nghìn ha Theo thống
kê năm 2010, diện tích chè thế giới tương đối cao đã đạt 3,11 triệu ha trong
đó diện tích chè của Châu Á chiếm 88,56%, Châu Phi là 9,7%
- Năng suất chè thế giới tăng nhanh qua các năm, từ 7,2 tạ khô/ha (năm 1961) đến 14,46 tạ khô/ha (năm 2010)
- Sản lượng chè tăng nhanh qua các thập kỷ, năm 2010 đạt 4518,06 nghìn tấn, với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ và tăng mạnh nhất vào giai đoạn từ năm
Châu Á 3111,02 3299,20 3548,15 3607,89 3766,34 Trung Quốc 1047,35 1183,00 1274,98 1375,78 1467,47
Ấn Độ 949,00 973,00 987,00 972,70 991,18 Sri lanka 310800,00 305,22 318,70 290,00 282,30 Việt Nam 151,00 164,00 173,50 185,70 198,47
(Nguồn: Theo FAO Start Citation, 2010)
Trang 33Mặc dù có 85 quốc gia trồng chè trên thế giới với quy mô khác nhau, phân bố khắp 5 châu: Châu Á (20 nước), Châu Phi (21 nước), Châu Mỹ (12 nước), Châu Đại Dương (3 nước), Châu Âu (Liên Xô (cũ) và Bồ Đào Nha) Tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nước như: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Sri Lanka, Nhật Bản, chiếm trên 60% tổng sản lượng chè thế giới Cuối thế kỷ XX, nước chè là một loại nước uống bảo vệ sức khỏe lý tưởng của 50% dân số thế giới, tiêu dùng rất phổ biến chỉ xếp sau nước lọc
Theo số liệu tổng hợp của FAO (2010), tính đến năm 2010 năng suất trung bình trên thế giới đạt được 14,46 tạ khô/ha Thái lan là nước có năng suất bình quân cao nhất thế giới đạt 34,56 tạ khô/ha Sản lượng chè khô trên toàn thế gới đạt 4518,06 nghìn tấn Đứng đầu thế giới là Trung Quốc có sản lượng cao nhất đạt 1467,47 nghìn (chiếm 32,4 % tổng sản lượng chè trên thế giới) [20]
Bảng 2.5: Diện tích, năng suất, sản lượng chè của một số nước trên thế
giới năm 2010
STT Tên nước Diện tích
(1000 ha)
Năng suất (tạ khô/ha)
Sản lượng khô (1000 tấn)
Trang 34Theo ông Rajesh Gupta, giám đốc hiệp hộ các nhà thế giới chè toàn cầu, số liệu ước tính của tổ chức này cho thấy tổng sản lượng chè 5 tháng đầu năm toàn cầu đạt 612,48 nghìn tấn, so với mức sản lượng 649,56 nghìn tấn cùng kì năm 2010
Sản lượng chè Kenya suy giảm 33,69 nghìn tấn, giảm xuống mức 149,51 nghìn tấn Sản lượng chè của Uganda giảm 5,27 nghìn tấn (xuống mức 9,93 nghìn tấn) Sản lượng chè giảm 7,8 nghìn tấn, xuống mức 25,9 nghìn tấn tại Indonesia và giảm 1,7 nghìn tấn, xuống mức 31,1 nghìn tấn tại Malawi
Sản lượng chè tại Sri Lanka tăng 1,59 nghìn tấn, lên mức 139,7 nghìn tấn Zimbabwe và Bangladesh cũng thông báo vụ chè bội thu Sản xuất chè tại
Ấn Độ tăng 8,67 nghìn tấn, lên mức 243,61 nghìn tấn Sản lượng chè tại miền Bắc Ấn Độ tăng 11,23 nghìn tấn, chạm mức 146,74 nghìn tấn Trong khi đó, sản lượng chè tại miền Nam Ấn Độ giảm 2,56 nghìn tấn, xuống mức 96,87 nghìn tấn [14]
50 năm trở lại đây, lượng tiêu dùng chè và sản lượng chè trên thế giới tăng trưởng nhanh Nguyên nhân tăng trưởng lượng tiêu dùng một là do nhân khẩu tăng, hai là do mức tiêu dùng bình quân đầu người tăng
Theo số liệu thống kê năm 2011 của thế giới ta có mức tiêu dùng chè của một số nước trên thế giới được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.6: Mức tiêu dùng chè của một số nước trên thế giới năm 2013
ĐVT: Kg/người
Tên nước Anh Irac Thổ
Nhỹ Kỳ
Ai Cập Australia
Ấn
Độ Mỹ
Trung Quốc
Mức tiêu dùng
bình quân 2.97 2.61 1.82 1.54 1.42 0.65 0.55 0.45
(Nguồn: Số liệu thống kê năm 2013)
Trang 35Những nước có mức tiêu dùng cao bình quân đầu người là Anh 2.97
kg, Irac 2.61 kg ,Thổ Nhỹ Kỳ 1.82 kg, Ai Cập 1.54 kg, Australia 1.42 kg
Ấn Độ, Mỹ, Trung Quốc có mức tiêu dùng chè bình quân trên đầu người thấp tương ứng là: 0.65 kg, 0.55 kg và 0.45 kg nhưng dân số đông nên lại là những nước tiêu dùng lượng chè hàng năm rất lớn [12]
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trong nước
Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, năm 2011 xuất khẩu chè của Viêt Nam giảm về lượng nhưng tăng về kim ngạch so với năm 2010, với lượng xuất khẩu là 133,9 nghìn tấn, trị giá 204 triệu USD, giảm 1,9 về lượng nhưng tăng 2,02 về giá trị Chè bẩn chính là một trong số những nguyên nhân dẫn đến năm qua chè Việ Nam xuất khẩu giảm
Đứng đầu về thị trường nhập khẩu chè từ Việt Nam là thị trường Đài Loan với 20,3 nghìn tấn, chiếm 15,1% thị phần, trị giá 26,1 triệu USD, giảm 6,27% về lượng và giảm 1,16% về giá trị so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ hai là thị trường Pakistan, với lượng xuất khẩu trong nam là 17,6 nghìn tấn, trị giá 32,5 triệu USD giảm 33,02% về lượng và giảm 29,68 % về giá trị so với năm 2010
Nhìn chung năm 2011, xuất khẩu chè sang các thị trường đều giảm so với năm 2010, ngoại trừ Indonesia, Đức và Saudi Arabia tăng nhẹ
Hiện xuất khẩu chè nước ta đang đứng thứ 5 thế giới, chè Việt Nam đang có mặt tại 110 quốc gia và lãnh thổ Thương hiệu “CheViet” đã được đăng ký và bảo
hộ tại 70 thị trường quốc gia và khu vực Một số thị trường lớn của Việt Nam như Nga, Đức, Trung Quốc, Pakistan, với trên 160 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu chè Ngoài tính kinh tế, cây chè còn mang tính xã hội Cây chè Việt Nam là cây trồng gắn bó với vùng trung du và vùng núi với trên 400.000 hộ nông dân tham gia sản xuất, giá trị sản xuất bình quân đạt bình quân là 68 triệu đồng/ha, có nơi 90-100 triệu đồng/ha Tuy năng suất chè Việt Nam đạt mức bình quân của thế giới, nhưng giá bán thấp, chỉ bằng 60-70% giá bình quân trên thế giới [13]
Trang 36Hạn chế của chè nước ta là chất lượng không đồng đều, lẫn nhiều tạp chất, chủ yếu xuất khẩu ở dạng thô, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao Trong những năm đổi mới gần đây, ngành chè đã có những bước tiến vượt bậc cả về nông nghiệp và công nghiệp chế biến Diện tích trồng chè (đặc biệt là những diện tích trồng bằng giống chè giống mới) không ngừng được mở rộng và triển khai ở hầu khắp các tỉnh có trồng chè
Đến nay, cả nước có khoảng hơn 615 doanh nghiệp, kinh doanh chế biến chè với qui mô lớn, vừa và nhỏ Hàng nghìn hộ tham gia sản xuất chế biến chè qui mô gia đình đã làm ra 90-100 nghìn tấn chè khô và xuất khẩu được trên 74 nghìn tấn Trong đó, hơn 70% sản lượng là sản phẩm chè đen Diện tích trồng chè đạt khoảng 108.000 ha Tuy nhiên, sản phẩm chè xuất khẩu Việt Nam còn có nhiều điểm yếu như chất lượng chưa cao, còn có nhiều khuyết tật và chưa có uy tín trên thị trường thế giới Giá bán chè đen của Việt Nam bình quân chỉ đạt 1,0 - 1,2 USD/kg, trong khi giá bán bình quân của các nước khác từ 1,4 - 1,8 USD/kg Nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng giá trị hàng hoá là việc làm cấp bách của ngành chè Việt Nam
Chất lượng của các sản phẩm chè lại được nói đến như hệ quả của sự mất 27 cân đối giữa sự phát triển ồ ạt của các cơ sở chế biến chè dẫn đến việc khai thác cạn kiệt các vùng nguyên liệu Tình trạng đó cũng sẽ đe dọa không nhỏ đến mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành chè [13]
Ngoài ra, còn có hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công bán công nghiệp cùng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộn ướp hương đóng gói chè Do thiếu nguyên liệu nên nhiều cơ sở không quan tâm đến chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên chè, giá cả thu mua không hợp lý nên không khuyến khích người sản xuất coi trọng chất lượng nguyên liệu, thiếu chăm sóc vườn chè đúng quy cách, dẫn đến năng suất chè bình quân của cả nước chỉ đạt 5,7 tấn/ha (mà nếu chăm sóc tốt nhiều vườn chè cho năng suất 20-25 tấn/ha) [20]
Trang 37Bên cạnh đó, trang thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè Việt Nam được xuất khẩu ở dạng nguyên liệu, chè thành phẩm mới chỉ chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu chè nguyên liệu chiếm xấp xỉ 80%
Chất lượng chè kém đi thì xuất khẩu sẽ giảm sút Với cơ cấu trên 2/3 sản lượng chè được sản xuất dành cho xuất khẩu, trong khi chỉ có non 1/3 tiêu dùng trong nước Chính vì thế, khi kim ngạch xuất khẩu giảm tất yếu sẽ dẫn đến chuyện đình đốn trong sản xuất
Mặc dù đứng thứ 5 thế giới về diện tích và sản lượng chè xuất khẩu, tuy nhiên khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm nước ta còn nhiều hạn chế đã dẫn đến giá bán và thu nhập của người trồng chè còn thấp Trong 10 năm qua, mặc dù ngành chè đã có sự tăng trưởng đáng kể cả về diện tích, năng suất, sản lượng nhưng vẫn còn không ít yếu kém, bất cập [19]
2.2.3 Tình hình sản xuất chè tại tỉnh Thái Nguyên
2.2.3.1 Tiềm năng thế mạnh về sản xuất cây chè của Thái Nguyên
Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (19000 ha), cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè Do thiên nhiên ưu đãi
về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè
Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao Theo phân tích của Viện Khoa học Kỹ thuật NLN miền Núi phía Bắc, chất lượng nguyên liệu chè Thái Nguyên có ưu điểm khác biệt với chất lượng nguyên liệu của các vùng chè khác Từ những đặc điểm phẩm chất trên, nguyên liệu chè Thái Nguyên có nội chất đáp ứng được yêu cầu của nguyên liệu để sản xuất chè xanh chất lượng cao
Bên cạnh thế mạnh được thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu thích hợp với sản xuất chè Người làm nghề chè tỉnh Thái Nguyên có kỹ thuật chăm sóc, thu hái và chế biến chè rất tinh xảo, với đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân nghề chè, bằng những công cụ chế biến thủ công, truyền thống, đã
Trang 38tạo nên những sản phẩm chè cánh đẹp, thơm hương chè, hương cốm, uống
“có hậu” với vị chát vừa phải, đượm ngọt, đặc trưng của chè Thái Nguyên, với chất lượng và giá trị cao; 100% sản phẩm của làng nghề chè là sản phẩm chè xanh, chè xanh cao cấp, chủ yếu tiêu thụ nội địa và có xuất khẩu
Những hộ làm nghề chè đã hình thành lên những làng nghề truyền thống Từ năm 2008 đến năm 2012 đã có 59 làng nghề sản xuất, chế biến chè được UBND tỉnh quyết định công nhận trên địa bàn 5 huyện, 1 thành phố Thái Nguyên Những làng nghề này từ lâu đã gắn liền với văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc tỉnh Thái Nguyên [16]
2.2.3.2 Tình hình sản xuất
Sản xuất chè ở Thái Nguyên còn chủ yếu là sản xuất quy mô hộ Tuy vậy, do đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, tăng đầu tư thâm canh chè mang lại hiệu quả kinh tế cao Trong những năm vừa qua, diện tích, năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên không ngừng tăng:
+ Năm 2011: 18199 ha, sản lượng chè búp tươi đạt 18100 tấn
+ Đến năm 2012 diện tích chè toàn tỉnh khoảng 18.600 ha, năng suất đạt
109 tạ/ha, sản lượng đạt 18500 tấn chè búp tươi tăng 2,2% so với năm 2011
+ Đến năm 2013 diện tích chè toàn tỉnh khoảng 19.000 ha, năng suất đạt
110 tạ/ha , sản lượng đạt 19000 tấn chè búp tươi tăng 2,7% so với năm 2012
Tỉnh Thái Nguyên đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu giống chè theo hướng giảm giống chè Trung du tăng các giống chè nhập nội và các giống chè trong nước chọn tạo, lai tạo Năm 2011, cả tỉnh trồng mới và trồng thay thế 1.000 ha chè bằng các giống mới có năng suất và chất lượng cao Đến năm 2015, cơ cấu giống mới đạt 60%, giống chè Trung du còn 40%
- Xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè búp tươi:
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh, chè xanh cao cấp gồm các giống: Trung du, LDP1, TRI 777, Kim Tuyên, Phúc Vân Tiên, Bát tiên, Keo Âm
Trang 39Tích, phân bố chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, Phổ Yên, chiếm tỷ lê 80 - 85% nguyên liệu chè chè búp tươi
Vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất chè đen gồm các giống: Trung du, LDP2, TRI 777, chủ yếu phân bố ở các huyện Định Hoá, một phần ở huyện Đại
Từ, Đồng Hỷ, Phú Lương, chiếm tỷ lệ 10 - 15% lượng nguyên liệu chè búp tươi
- Sản xuất chè an toàn ở tỉnh Thái Nguyên: Hiện nay tỉnh Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho việc thu hút đầu tư sản xuất chè hàng hóa chất lượng, giá trị cao; xây dựng vùng sản xuất nguyên liệu chè an toàn theo hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng phân bón vô cơ, hóa chất trừ sâu; áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt GAP, từ khâu sản xuất đến khâu chế biến thành phẩm cuối cùng gắn quy trình sản xuất với việc ược chứng nhận bởi các tổ chức chứng nhận trong nước và quốc tế (VietGAP, GlobalGAP, Uzt Certified…) Chương trình chuyển đổi giống mới và ứng dụng các biện pháp canh tác tiên tiến sản xuất chè theo hướng an toàn, đã nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị chè Thái Nguyên [16]
2.2.3.3 Chế biến, tiêu thụ chè ở Thái Nguyên
∗ Chế biến:
Chế biến chè ở Thái Nguyên theo 2 phương thức chủ yếu:
- Chủ yếu là chế biến theo phương pháp thủ công, truyền thống theo quy mô hộ Sản xuất chế biến chè từ lâu đã gắn liền với đời sống xã hội và bản sắc văn hoá các dân tộc tỉnh Thái Nguyên Phương pháp chế biến này chiếm khoảng trên 80% sản phẩm chè Thái Nguyên Chế biến chè theo phương pháp truyền thống hiện đang mang lại giá trị, hiệu quả kinh tế rất cao
- Chế biến chè theo dây truyền công nghiệp: đối với sản phẩm chè đen theo công nghệ CTC và OTD; đối với các sản phẩm chè xanh
Trang 40∗ Tiêu thụ:
Sản phẩm chè Thái Nguyên hiện chủ yếu là tiêu thụ nội địa
Sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỷ lệ thấp, giá trị xuất khẩu không cao Thị trường xuất khẩu chủ yếu sang các nước Trung Quốc, Anh, Pakistan, Liên bang Nga, Đài Loan… [16]
2.2.4 Tình hình sản xuất chè an toàn tại Thái Nguyên
Đối với Thái Nguyên, cây chè được tỉnh xác định là cây công nghiệp chủ lực Tính đến hết năm 2009, toàn tỉnh có 17.309 ha chè, trong đó có 16.053ha chè đang trong giai đoạn kinh doanh Năng suất đạt 98,8tạ/ha, sản lượng đạt 158.702 tấn búp tươi Trong giai đoạn 2006-2010, mỗi năm Thái Nguyên tổ chức trồng mới và trồng lại trên 600ha chè Năng suất chè búp tươi tăng dần qua các năm, năm 2001 đạt 59,22 tạ/ha đến năm 2009 đạt 98,8 tạ/ha
Bảng 2.7: Diện tích, sản lƣợng chè của tỉnh Thái Nguyên
qua các năm (2007-2009)
Phân theo KV Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Tốc độ PT BQ
DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn) DT(%) SL(%)
Tổng số 16726 140182 16994 149255 17309 158702 101,7 106,4
Trong đó:
TP Thái Nguyên 1134 10846 1158 12211 1207 13040 103,1 109,6
TX Sông Công 500 3871 505 4241 515 4385 101,5 106,4 Huyện Định Hoá 1996 16170 2026 16877 2052 18017 101,4 105,5 Huyện Võ Nhai 538 2602 560 2827 583 3080 104,1 108,7 Huyện Phú Lương 3604 31010 3650 32170 3725 34960 101,6 106,2 Huyện Đồng Hỷ 2571 22563 2609 23750 2669 24950 101,9 105,1 Huyện Đại Từ 5098 43223 5152 46124 5196 48520 100,9 105,9 Huyện Phú Bình 96 656 101 662 101 680 102,5 101,8 Huyện Phổ Yên 1189 9241 1233 10393 1261 11070 102,9 109,4
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên)