ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHẠM ĐỨC NGHĨA NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM ĐỨC NGHĨA
NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM ĐỨC NGHĨA
NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG VIỆC BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC Chuyên ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số : 60 31 27
Người hướng dẫn: PGS TS Trần Minh Trưởng
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trần Minh Trưởng
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Đức Nghĩa
Trang 4LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô trong Khoa Khoa học Chính trị Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia
Hà Nội, gia đình và bạn bè – những người luôn động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Trần Minh Trưởng, người Thầy đã nhiệt tình định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2014
Học viên
Phạm Đức Nghĩa
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦA HỒ CHÍ MINH 8
1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc 8
1.2 Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh 26
1.2.1.1 Nguyên tắc đặt lợi ích chân chính của dân tộc, của nhân dân lên trên hết 24 1.2.1.2 Những nguyên tắc ứng xử mềm dẻo, linh hoạt và có sách lược 26
1.2.2.3 Nguyên tắc đề cao đàm phán hòa bình, tránh xung đột vũ trang 269
1.2.2.4 Nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ 326
1.2.2.5 Nguyên tắc ứng xử ngoại giao phải thể hiện quan điểm độc lập, chủ động, không trông chờ, ỷ lại, không phụ thuộc bên ngoài 35
1.2.2.6 Nguyên tắc ứng xử tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế 38
1.2.2.7 Nguyên tắc ứng xử bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ ngoại giao 40
Chương 2 VẬN DỤNG NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO CỦAHỒ CHÍ MINH ĐỂ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 45
2.1 Tình hình thế giới và trong nước tác động tới hoạt động ngoại giao bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hiện nay 45
2.2 Vận dụng nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 55
Trang 62.2.1 Đối với các nước láng giềng có chung biên giới đất liền 55
2.2.2 Ứng xử đối với các nước tranh chấp, xâm phạm chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay 64
2.2.3 Ứng xử đối với các cường quốc trên thế giới 69
2.2.4 Đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài 82
2.2.5 Đối với dư luận và các lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới 85
2.3 Một số bài học kinh nghiệm trong trong ứng xử ngoại giao nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hiện nay 87
2.3.1 Ngoại giao và đàm phán về chủ quyền lãnh thổ phải có nguyên tắc song cũng phải linh hoạt, mềm dẻo 87
2.3.2 Phối hợp chặt chẽ giữa các mặt trận chính trị, kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, trong đó ngoại giao phải là một vũ khí tiến công để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hiện nay 88
2.3.3 Ngoại giao phải biết đánh giá đúng tình hình trong nước và quốc tế, đánh giá đúng mục đích và động cơ của đối tác để đưa ra những ứng xử kịp thời đúng đắn, đồng thời phải biết tranh thủ và chớp lấy thời cơ 90
2.3.4 Xây dựng đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, tăng cường đoàn kết mở rộng hợp tác quốc tế, phát huy tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung 92
KẾT LUẬN 94
KHUYẾN NGHỊ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 71
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội lần VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1991) đã khẳng định:
“Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng” Đảng ta đã nhận thức được những giá trị có ý nghĩa chiến lược, đúng đắn và phù hợp với thực tế cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh Ngày nay, trước yêu cầu của tình hình mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội Chủ nghĩa trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát triển mạnh mẽ, các mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia – dân tộc và vùng lãnh thổ ngày càng gia tăng; hoạt động ngoại giao, hội nhập và mở cửa không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
mà còn tạo ra thế và lực góp phần quan trọng trong việc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của đất nước Thực tế đã cho thấy những luận điểm trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về ngoại giao được Đảng ta vận dụng trong quan hệ quốc tế hiện nay đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ càng chứng tỏ tính đúng đắn trong tư tưởng ngoại giao của Người Qua đó, chúng ta có thể khẳng định
tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh thực sự là kho tàng lý luận, là cẩm nang cho hoạt động ngoại giao và quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta
Trong giai đoạn hiện nay, trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế xã hội thế giới, các mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển đa dạng và phong phú, mang nhiều sắc thái và nội dung mới Giao lưu và hội nhập quốc tế vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, giàu - nghèo, mạnh – yếu Đối với Việt Nam, một nước nhỏ, tiềm lực kinh tế và khoa học kĩ thuật còn thấp kém, muốn rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với thế giới để phát triển kinh tế xã hội của đất nước đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại Do vậy, Đảng ta xác định một trong những định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta là “mở cửa và hội nhập”, đẩy mạnh việc quan hệ ngoại giao với tất cả các nước trong cộng
Trang 82
đồng quốc tế, với phương châm “đa phương hóa, đa dạng hóa” các mối quan
hệ quốc tế Trước bối cảnh hội nhập đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước cần phải có những chính sách, chiến lược, phương pháp ngoại giao phù hợp với tình hình mới để vừa có thể khẳng định được vị thế quốc gia trên trường quốc tế, vừa
ổn định được tình hình kinh tế - chính trị, tránh được sự thiệt thòi bất bình đẳng trong các mối quan hệ quốc tế
Đặc biệt, vấn đề “Biển Đông” và “Chủ quyền biển, đảo” hiện nay đã và đang diễn ra trong bối cảnh ngày càng phức tạp và căng thẳng Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền của mình với quần đảo Hoàng sa của Việt Nam, không những thế từ ngày 02/5/2014 đến 16/7/2014 Trung Quốc ngang nhiên bất chấp luật pháp quốc tế đã đặt giàn khoan Hải dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Đảng và Nhà nước ta phải có phương pháp ứng xử ngoại giao đúng đắn để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc nói chung và chủ quyền biển đảo của đất nước nói riêng
Như vậy, việc nghiên cứu và xây dựng đường lối, chiến lược, phương pháp ngoại giao và nghệ thuật ứng xử ngoại giao được coi là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng và Nhà nước ta hiện nay để bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ quốc gia – dân tộc Việt Nam cần phải có đường lối, chiến lược, phương pháp ngoại giao đúng đắn phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay và phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực ngoại giao cụ thể, có như vậy mới có thể đảm bảo cho sự phát triển và ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, sự khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Chính vì lẽ đó, việc
nghiên cứu đề tài “Nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam giai đoạn hiện nay” có ý nghĩa khoa học, thực tiễn và mang tính thời sự sâu sắc
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu và luận bàn về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và sự
Trang 93
vận dụng của Đảng ta trong thời kì đổi mới” của TS Đinh Xuân Lý, Nxb
CTQG, 2007, tác giả đã đi sâu vào việc tìm hiểu những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, thành tựu của hoạt động đối ngoại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, quá trình Đảng ta nhận thức và vận dụng tư tưởng
đối ngoại Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới; cuốn sách “ Phương pháp và
phong cách Hồ Chí Minh” của GS Đặng Xuân Kỳ, Nxb LLCT, 2004 cũng đã
trình bày một số vấn đề có liên quan đến khái niệm “phương pháp” và “phong cách” Hồ Chí Minh, tác giả xây dựng hệ thống các phương pháp cách mạng
và hệ thống các phong cách đặc trưng tiêu biểu của Hồ Chí Minh, từ đó tác giả cũng khẳng định tầm quan trọng của việc nghiên cứu và vận dụng sáng
tạo phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; cuốn sách “Tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh” của nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao Nguyễn Dy Niên,
Nxb CTQG, 2002 đã đi sâu vào việc tìm hiểu một số vấn đề về nguồn gốc hình thành tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, trình bày những luận điểm và quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề thế giới, thời đại, quan hệ quốc tế, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, ngoại giao Việt Nam, đưa ra một số phương pháp, phong cách và nghệ thuật đặc sắc trong hoạt động quốc tế và ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và sự vận dụng tư tưởng, phong cách, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc
tế của nước ta trong giai đoạn mới, tác giả còn khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một hệ thống lý luận ngoại giao và trường phái ngoại giao Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ đối ngoại ngày càng cao của đất nước; công
trình nghiên cứu: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại - Một số nội dung cơ
bản, của Đỗ Đức Hinh, Nxb CTQG, 2005 nội dung cuốn sách phản ánh một
cách khái quát, có hệ thống những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối ngoại qua đó rút ra một số nhận xét ban đầu về tư tưởng đối ngoại Hồ Chí
Minh Trong công trình nghiên cứu “Hồ Chí Minh - Nhà tư tưởng lỗi lạc” của
GS Song Thành cũng đã bàn tới “tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí
Trang 10Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu như: Viện Quan hệ quốc tế:
Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác ngoại giao, Nxb Sự thật, Hà Nội 1990;
Nguyễn Phúc Luân: Ngoại giao Hồ Chí Minh - Lấy chí nhân thay cường bạo NXB Công an Nhân dân H 2003; Đinh Xuân Lý: Tư tưởng Hồ Chí Minh về
đối ngoại và sự vận dụng của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, NXB.CTQG
2007; Vũ Dương Huân: Tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, NXB Thanh niên 2005; Phan Ngọc Liên (chủ biên): Hồ Chí Minh – Những hoạt động quốc
tế NXB.QĐND Hà Nội 1994; Đặng Văn Thái: Hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Pháp NXB.CTQG.Hà Nội 2004;
Trần Minh Trưởng: Hoạt động Ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 1954
đến 1969, NXB CANN.Hà Nội 2005; Nxb Hà Nội: Việt Nam hội nhập ASEAN: hợp tác và phát triển H 1997; Nguyễn Minh Tú: Kinh tế Việt Nam trước thế kỉ 21: Cơ hội và thử thách NXB Chính trị quốc gia, H.1998; Vụ
chính sách thương mại (Bộ Thương mại): Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương, NXB Chính trị quốc gia, 1998; Ủy ban quốc gia về hợp tác
kinh tế quốc tế: Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế NXB Chính trị quốc gia, H.2000; Võ Thanh Thu (chủ biên): Quan hệ thương mại- đầu tư giữa Việt
Nam và các nước thành viên ASEAN, NXB Tài Chính, 1998; Phạm Đức
Thành – Trương Duy Hòa: Kinh tế các nước Đông Nam Á, thực trạng và triển
Trang 11nước ta giai đoạn hiện nay Do vậy, đề tài: “Nguyên tắc ứng xử ngoại giao của
Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam giai đoạn hiện nay” là một đề tài mới, vấn đề mà đề tài nêu ra hiện nay vẫn là
một khoảng trống trong nghiên cứu khoa học về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
+ Nhằm đề xuất và làm rõ hệ thống những luận điểm về nguyên tắc
ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
+ Vận dụng những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để đưa ra cách thức ứng xử ngoại giao với một số chủ thể trong quan hệ quốc tế, nhằm bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam Qua đó nêu lên một số kinh nghiệm mang tính chất giải pháp về chính sách ngoại giao trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Viện Nam hiện nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Nghiên cứu làm rõ cơ sở hình thành và nội dung những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
Trang 126
+ Làm rõ vai trò của hoạt động ngoại giao đối với việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc trong giai đoạn hiện nay của nước ta
+ Đề xuất một số nguyên tắc, cách thức ứng xử ngoại giao đối với một
số chủ thể trong quan hệ quốc tế để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam
+ Rút ra một số bài học kinh nghiệm trong việc ngoại giao bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề “Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao
của Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của tổ quốc giai đoạn hiện nay”
5 Phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp lịch sử - lôgíc; các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác: tổng hợp, so sánh, thống kê, chứng minh…
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về các nguyên tắc ứng
xử ngoại giao Hồ Chí Minh và sự vận dụng để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước trong giai đoạn hiện nay Qua đó cũng đề xuất một số kinh nghiệm trong hoạt động ngoại bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam hiện nay
Trang 137
Luận văn là một công trình khoa học, có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao; là tài liệu cho sinh viên chuyên ngành ngoại giao và quan hệ quốc tế
Luận văn là tài liệu tham mưu cho hoạt động ngoại giao của các cá nhân chức trách và các tổ chức làm công tác ngoại giao của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo luận văn bố cục gồm 02 chương:
Chương 1: Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh Chương 2: Vận dụng những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 148
Chương 1 NHỮNG NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ NGOẠI GIAO
CỦA HỒ CHÍ MINH 1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của ngoại giao trong việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền dân tộc
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
“Nguyên tắc” là thuật ngữ chỉ “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải
tuân theo trong một loạt việc làm”[40,694] Những vấn đề mang tính nguyên
tắc là không thể thay đổi, bất di bất dịch, đã được quốc tế thừa nhận, hoặc đó
là những giá trị pháp lý không có sự thay đổi trong bất kỳ tình huống, điều kiện nào Ví dụ: Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, giữ gìn độc lập dân tộc là vấn đề mang tính nguyên tắc, không thể đưa ra bất cứ lý do gì để vi phạm, đổi chác, dù đối tác đó là ai
“Ngoại giao”: Là thuật ngữ chỉ sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ
quyền lợi quốc gia mình và để góp phần vào việc giải quyết những vấn đề
quốc tế chung; Chỉ sự giao thiệp với bên ngoài, người ngoài “Hoạt động ngoại giao”: “Là thuật ngữ để chỉ việc làm cụ thể của các vị lãnh đạo, các
chính khách, các nhà ngoại giao chuyên nghiệp để thực hiện công tác ngoại giao” [9,7]
“Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh”: nguyên Bộ Trưởng Bộ Ngoại
Giao Nguyễn Dy Niên đã đưa ra khái niệm: “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí
Minh là một hệ thống những nguyên lý, quan điểm quan niệm về các vấn đề thế giới và thời đại, về đường lối quốc tế, chiến lược, sách lược, chính sách đối ngoại và ngoại giao Việt Nam thời kì hiện đại Tư tưởng này còn được thể hiện trong hoạt động đối ngoại thực tiễn của Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước Việt Nam”[32,89]
Vậy, nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh là gì? Cần phải hiểu khái niệm này như thế nào? Để xây dựng khái niệm này, trên cơ sở khái niệm,
“nguyên tắc” và khái niệm “ngoại giao”, “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh”
Trang 159
chúng tôi bước đầu đưa ra khái niệm “nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh” như sau:
“Nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh”: là một hệ thống
những luận điểm mà Hồ Chí Minh sử dụng để ứng xử với các chủ thể trong hoạt động ngoại giao và quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, bảo vệ lợi ích và chủ quyền của nhân dân
và dân tộc đồng thời góp phần tích cực vào phong trào vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
Khái niệm về “chủ quyền quốc gia dân tộc”: Chủ quyền quốc gia ở
đây được hiểu là chủ quyền Nhà nước dân tộc, được biểu hiện dưới dạng một lượng quyền xác định, là tập hợp các quyền mà Nhà nước dân tộc có Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính cố hữu, không tách rời Nhà nước dân tộc,
dưới dạng các quyền của Nhà nước
Chủ quyền quốc gia dân tộc thông thường được biểu hiện trên hai mặt chủ yếu chủ quyền trong đối nội và chủ quyền trong đối ngoại Chủ quyền trong đối nội như: quyền của quốc gia - dân tộc trên địa bàn lãnh thổ, thể chế chính trị … chủ quyền trong đối ngoại như: quyền của quốc gia – dân tộc trên chính trường quốc tế, trong các tổ chức quốc tế mà quốc gia đó là thành viên (được tham gia hay bị hạn chế bởi các thể chế, chế định, luật pháp quốc tế)
Chủ quyền quốc gia được xem xét trên hai bình diện:
Một là: Thẩm quyền cai trị tuyệt đối của Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ Nhà nước dân tộc (Nhà nước dân tộc là Chủ thể trực tiếp thực hiện quyền lực)
Hai là: Tập hợp những quy định hạn chế của xã hội công dân (của dân tộc) đối với Nhà nước (Nhà nước dân tộc là chủ thể gián tiếp thực hiện quyền lực, là vật mang quyền lực)
Khái niệm lãnh thổ quốc gia: Lãnh thổ quốc gia xuất hiện cùng với sự
ra đời của nhà nước Ban đầu lãnh thổ quốc gia chỉ được xác định trên đất liền dần dần mở rộng ra trên biển, trên trời và trong lòng đất Lãnh thổ quốc gia:
Trang 1610
Là một phần của trái đất Bao gồm: vùng đất, vùng nước, vùng trời trên vùng đất và vùng nước, cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn
và riêng biệt của một quốc gia nhất định
Các bộ phận cấu thành lãnh thổ quốc gia
- Vùng đất: Gồm phần đất lục địa, các đảo và các quần đảo thuộc chủ quyền quốc gia
- Vùng nước: Vùng nước quốc gia là toàn bộ các phần nước nằm trong đường biên giới quốc gia
- Vùng lòng đất: là toàn bộ phần nằm dưới vùng đất và vùng nước thuộc chủ quyền quốc gia Theo nguyên tắc chung được mặc nhiên thừa nhận thì vùng lòng đất được kéo dài tới tận tâm trái đất
-Vùng trời: là khoảng không bao trùm lên vùng đất và vùng nước của quốc gia
-Vùng lãnh thổ đặc biệt: Tàu thuyền, máy bay, các phương tiện mang
cờ dấu hiệu riêng biệt và hợp pháp của quốc gia , hoạt động trên vùng biển quốc tế, vùng Nam cực, khoảng không vũ trụ ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia mình được thừa nhận như một phần lãnh thổ quốc gia
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là quyền
tối cao, tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên
Trang 17- Quốc gia có quyền tự do lựa chọn phương hướng phát triển đất nước, thực hiện những cải cách kinh tế, xã hội phù hợp với đặc điểm quốc gia.Các quốc gia khác các tổ chức quốc tế phải có nghĩa vụ tôn trọng sự lựa chọn đó
- Quốc gia tự quy định chế độ pháp lí đối với từng vùng lãnh thổ
- Quốc gia có quyền sở hữu hoàn toàn tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ của mình
- Quốc gia thực hiện quyền tài phán (xét xử) đối với những người thuộc phạm vi lãnh thổ của mình (trừ những trường hợp pháp luật quốc gia , hoặc điều ước quốc tế mà quốc gia đó tham gia là thành viên có quy định khác)
- Quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thích hợp đối với những Công ty đầu tư trên lãnh thổ mình
- Quốc gia có quyền và nghĩa vụ bảo vệ, cải tạo lãnh tổ quốc gia theo nguyên tắc chung quốc tế, có quyền thay đổi lãnh thổ phù hợp với pháp luật
và lợi ích của cộng đồng dân cư sống trên lãnh thổ đó
1.1.2 Vai trò của ngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn lại chặng đường lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc dưới thời đại
Hồ Chí Minh, chúng ta nhận thấy Người rất quan tâm và chú trọng tới hoạt động ngoại giao trong quá trình đấu tranh cách mạng giành độc lập của nước nhà Chính vì lẽ đó mà hoạt động ngoại giao của Hồ Chí Minh góp phần
Trang 1812
không nhỏ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc
Tăng cường ngoại giao và quan hệ quốc tế sẽ góp phần tranh thủ sự
ủng hộ của thế giới đối với cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền dân tộc chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Hợp tác quốc tế là một nhiệm vụ chiến lược trong đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản Ngay từ 1930 trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới” cho nên cách mạng nước ta muốn được giành thắng lợi cần có sự đoàn kết, hợp tác, và sự giúp đỡ của các lực lượng cách mạng trên thế giới
Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra được vai trò của sự đoàn kết, hợp tác quốc tế bằng khẩu hiệu trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “ vô sản các nước đoàn kết lại” Đồng thời chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhấn mạnh hợp tác quốc tế vừa là nhu cầu, vừa là nghĩa vụ của mỗi quốc gia Để giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội tiến lên chủ nghĩa cộng sản tất yếu phải có sự hợp tác, quan hệ giữa các lực lượng cách mạng, lực lượng tiến bộ trên thế giới Thông qua đó và các dân tộc bị áp bức và vô sản quốc tế sẽ đoàn kết bên nhau, ủng
hộ nhau trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược và chủ nghĩa
bộ trên thế giới; nhưng “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” Phải thực hành chính sách đối ngoại rộng mở, chính sách mở
Trang 1913
cửa và hợp tác, chính sách hoà bình và quan hệ tốt; tránh đối đầu, và không gây thù oán với một ai Trong quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, cần
tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp
lực lượng đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều cấp độ Trong hoạt động đối ngoại phải phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hoá
Ngoại giao và quan hệ quốc tế của cách mạng Việt Nam là một trong những nhân tố quyết định đến sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong cuộc chiến chống thực dân xâm lược và thống trị
Trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc câu kết với nhau, kẻ thù của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc có tính chất quốc tế cao, chúng bắt tay hợp tác với nhau cùng thống trị bóc lột các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc, đòi hỏi các dân tộc thuộc địa phải đoàn kết huy động mọi lực lượng vào cuộc đấu tranh chống
kẻ thù chung, không những thế các dân tộc thuộc địa phải biết đoàn kết và có
mối liên hệ với phong trào công nhân ở chính quốc Bởi vì “ chủ nghĩa đế
quốc là một con đỉa hai vòi, một vòi bám vào chính quốc, một vòi bám vào thuộc địa Muốn đánh bại chủ nghĩa đế quốc phải đồng thời cắt bỏ cả hai cái vòi của nó đi, tức là phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, phải xem cách mạng vô sản ở thuộc địa như là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản” [21,267] Nhận thức
được vai trò của vũ khí đối ngoại trong giai đoạn chiến tranh hiện đại, Hồ Chí
Minh cho rằng “ngày nay ngoại giao ai thuận hơn thì thắng” [22,514] Thông
qua hợp tác và quan hệ quốc tế, sẽ phát huy được thế mạnh, hạn chế được khó khăn, quan hệ quốc tế là phương thức để kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, phát huy sức mạnh của mỗi quốc gia, thông qua đó bảo vệ vững chắc được chủ quyền của dân tộc, bảo vệ và đem lại lợi ích cho dân tộc
Bác tiếp tục khẳng định vai trò của ngoại giao, chủ quyền ngoại giao là
chuẩn mực, là biểu hiện của một nhà nước độc lập Giai đoạn 1945 – 1946
Trang 2014
trong thương lượng đàm phán với Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì phấn đấu giữ vững chủ quyền ngoại giao coi vấn đề “có ngoại giao riêng” là một nhân tố quan trọng để hoàn chỉnh nền độc lập, Người nói “nếu như quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp” Theo Người thì chủ quyền ngoại giao là một bộ phận quan trọng của chủ quyền quốc gia, nó còn là một thuộc tính của một nhà nước tự do độc lập không ai có thể tước đoạt được Chủ quyền ngoại giao còn có nghĩa là nhân dân, chính phủ ta có toàn quyền điều hành nền ngoại giao và định ra chính sách đối ngoại của mình, không phụ thuộc, ràng buộc vào chính sách đối ngoại và một thể chế của nước khác
Ngoại giao theo Hồ Chí Minh còn là một vũ khí cách mạng tiến công cách mạng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Theo Hồ Chí Minh: “ngoại giao có vai trò quan trọng trong việc chủ động vận dụng sách lược lợi dụng sự khác nhau về lợi ích để phân hóa thế lực
kẻ thù, làm suy yếu từng bộ phận, đi đến cô lập và đánh thắng kẻ thù chính trong từng thời kì cách mạng” Từ 1945 – 1969 các đợt chỉ đạo tiến công địch của Chủ tịch Hồ Chí Minh có rất nhiều đợt tiến công bằng ngoại giao nhằm kìm chế xung lực địch, phân hóa kẻ thù, thể hiện thiện chí của ta muốn giải quyết cuộc xung đột thông qua hòa bình đàm phán, buộc địch phải xuống thang và luôn tạo ra một cục diện kết hợp giữa “đánh và đàm” Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu Thứ hai là đánh bằng ngoại giao Thứ ba mới là đánh bằng binh”[25,3]
1.2 Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
1.2.1 Cơ sở hình thành nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh
1.2.1.1 Truyền thống ứng xử văn hóa và ngoại giao Việt Nam
Việt Nam, nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, lại giáp biển Đông
có vị trí địa - chính trị quan trọng trong giao lưu và quan hệ quốc tế Trong lịch sử, để tồn tại và khẳng định chủ quyền của mình, dân tộc ta phải thường xuyên đối phó với các thế lực xâm lăng như chống lại các thế lực xâm lược
Trang 2115
phương Bắc hàng ngàn năm, nhờ đó mà ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước trải qua hàng ngàn năm lịch sử đã hình thành nên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Qua những minh chứng lịch sử dựng nước và giữ nước chúng ta có thể
tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung Các thế hệ ông cha của dân tộc đã để lại những tư tưởng yêu nước, bài học kinh nghiệm và phương pháp ngoại giao
là cơ sở nền tảng cho quá trình dựng nước và giữ nước sau này Ngay từ thời Bắc thuộc mặc dù sau những trận đánh thắng quân xâm lược phương Bắc nhưng ông cha ta vẫn mở rộng quan hệ “bang giao” và luôn coi trọng “hòa khí” giữa Đại Việt và triều đình phong kiến phương Bắc, “tuy thể hiện sự thuần phục nhưng vẫn giữ thế độc lập tự chủ của nước mình” hàng năm vẫn cho sứ giả sang chầu và cống nạp triều đình phong kiến phương Bắc đó là để giữ “hòa khí, hòa bình” trong quan hệ với nước lớn Trung Quốc
Những tư tưởng khẳng định ý thức dân tộc, chủ quyền dân tộc cũng là
sự thể hiện một quan điểm, nguyên tắc và phương pháp ngoại giao trong quan
hệ với nước ngoài Bài Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt nêu rõ:
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
Hay trong “Bình Ngô Đại Cáo” Nguyễn Trãi cũng từng khẳng định tư tưởng yêu nước và chủ quyền dân tộc:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, hùng cứ một phương”
Trang 22Từ thời họ Khúc đến Dương Đình Nghệ (931 -937) trong khi thế lực còn yếu đã biết khôn ngoan dùng danh nghĩa (Tiết độ sứ) với bộ máy cai trị của bọn đô hộ phương Bắc vờ thuần phục Trung Hoa để có thể vừa củng cố chuẩn bị lực lượng vừa có thể tự trị khẳng định chủ quyền dân tộc Tới thời Trần (thế kỉ XIII, XIV), trong quan hệ với Chămpa ở phía Nam vua Trần đã biết sử dụng chính sách “ki mi” gả Huyền Chân Công chúa cho vua Chămpa cũng nhờ đó mà ổn định được tình hình phía nam và mở rộng thêm bờ cõi Đại Việt (vua Chămpa đã dâng hai châu, châu Ô và châu Lý cho nhà Trần) Ngoài
ra dưới thời Lê Lợi (thế kỉ XV) ngoại giao cũng đã trở thành công cụ sắc bén
để củng cố tăng cường thực lực khi nghĩa quân còn yếu cũng như khi nghĩa quân đang trên đà thắng lợi”, đặc biệt có thể nói tới “thư dụ Vương Thông” của Nguyễn Trãi là một biểu hiện của phương pháp ngoại giao “tâm công” nhằm tránh sử dụng binh đao Đây chính là biểu hiện của tư tưởng ngoại giao lấy hòa hiếu và hòa bình làm trọng và làm nguyên tắc trong quan hệ bang giao với các nước khác của ông cha ta ngày xưa
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy Hồ Chí Minh đã tiếp thu và thấm đượm những yếu tố của chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hóa, truyền
Trang 23Truyền thống văn hóa Việt Nam như truyền thống đoàn kết, hòa hợp và dung hòa, tính cộng đồng, truyền thống nhân văn nhân đạo, tinh thần thủy chung, tinh thần tự tôn dân tộc, tự chủ chủ quyền, sự linh hoạt mềm dẻo của con người Việt Nam bởi yều tố văn hóa sông nước và nhiệt đới, đã tạo nên những đặc điểm về tư tưởng ngoại giao còn in đậm dấu ấn trong nhà ngoại giao thiên tài Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đã kề thừa phát huy những truyền thống, yếu tố văn hóa đó lên tầm cao mới đối với vấn đề ngoại giao Chính
Hồ Chí Minh là hiện thân của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng thủy chung, là người đặt nền móng cho ngoại giao đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, và cũng là người hiện thân cho sự ngoại giao nhân nghĩa bởi chính sách đối sử với tù binh Mỹ “máu của người Việt hay máu của Người Mỹ đổ xuống cũng đều là máu”
Trong khi nhìn nhận và đánh giá những tư tưởng của ngoại giao truyền thống Việt Nam so với tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh chúng ta nhận thấy,
tư tưởng ngoại giao của Người thấm nhuần tư tưởng ngoại giao truyền thống dân tộc Đó là sự thấm nhuần tư tưởng luôn có ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; tư tưởng yêu hòa bình và sự hòa hiếu; đó còn là sự phát triển kế thừa tinh thần nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn, tinh thần tự tôn dân tộc của ngoại giao truyền thống
Như vậy, có thể khẳng định truyền thống ngoại giao Việt Nam với tư tưởng đặc trưng là một nền ngoại giao yêu “hòa bình, hòa hiếu” mang bản chất chủ nghĩa nhân văn, thấm đượm chính nghĩa, với mục tiêu đối ngoại nhất quán là kiên quyết bảo vệ đất nước bảo vệ tôn vinh danh dự của quốc gia văn
Trang 2418
hiến, một nền ngoại giao ứng xử khôn ngoan, linh hoạt, hài hòa, giữa tính nguyên tắc và sách lược mềm dẻo… đó là một trong những cơ sở quan trọng góp phần hình thành nên nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh
1.2.1.2 Lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin về quan hệ quốc tế, đoàn kết quốc tế vô sản
Mác, Ăng ghen và Lênin là những lãnh tụ của giai cấp vô sản, các ông
đã nhận thức một cách rất sâu sắc về mối quan hệ quốc tế giữa các nước tư bản và yêu cầu đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân trên phạm vi toàn thế giới Mác và Ăngghen cho rằng: chủ nghĩa tư bản có tính chất quốc tế hóa ngày càng cao, song chúng vừa bắt tay hợp tác với nhau, lại vừa mâu thuẫn với nhau Trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” (2/1848) Mác và Ăngghen đã kêu gọi “vô sản các nước đoàn kết lại” và khẳng định “vô sản giai cấp toàn thế giới đều là anh em” Đến thời Lênin khẩu hiệu đó của Mác và Ăngghen tiến tục được phát triển thành “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”, Lênin còn cho rằng: “cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào chống chủ nghĩa đế quốc
ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch…và vấn đề dân tộc chỉ là một bộ phận chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản” [28,78] Đặc biệt trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, các ông luôn luôn chủ trương thành lập ra tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân (Quốc tế I; II; III) để lãnh đạo và đoàn kết phong trào công nhân, ủng hộ phong trào cách mạng thế giới Mặt khác, Lênin cũng đã từng nói: các nước xã hội chủ nghĩa ra đời trước có nghĩa vụ quốc tế giúp các nước thuộc địa và phụ thuộc đi theo con đường cách mạng vô sản tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, đây chính là biểu hiện của
tư tưởng đối ngoại mang tinh thần quốc tế vô sản
Khi Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, lý luận cách mạng khoa học và tiến bộ của giai cấp vô sản, cũng từ đó Người trở thành một nhà Mácxít chân chính Người đã thấm nhuần quan điểm giai cấp và thế giới
Trang 25bạn bè thế giới và Người quan niệm “bốn phương vô sản đều là anh em” Đó
chính là biểu hiện của sự thống nhất với tư tưởng của Lênin: “ cách mạng ở phương Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô dịch” Không ai khác, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng và thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em đối với Việt Nam và tranh thủ sự ủng hộ của thế giới đối với Việt Nam
Hồ Chí Minh luôn căn cứ vào điều kiện cụ thể của cách mạng ở từng giai đoạn và căn cứ vào bối cảnh thế giới để tiến hành các hoạt động ngọai giao phù hợp Người luôn đặt vấn đề cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ
với cách mạng thế giới và những vấn đề thế giới, Người xác định “cách mạng
Việt Nam phải là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, phải đứng
về phía vô sản giai cấp và các dân tộc bị áp bức” Người đã vận dụng, kế
thừa và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét và giải quyết các vấn đề về đối ngoại, ngoại giao cho cách mạng Việt Nam Ví dụ như trong giai đoạn cách mạng
1945 -1946 trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, căn cứ vào điều kiện cách mạng và nắm vững tình hình của Pháp và Tưởng, trước 6/3/1946 Người chủ trương hòa với Tưởng để kiên quyết chống Pháp ở Nam Bộ để bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ, nhưng sau 6/3/1946 Người lại kí Hiệp định sơ
bộ để hòa hoãn với Pháp đuổi Tưởng về nước điều đó tránh được nguy cơ phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc Như vậy, Hồ Chí Minh đã căn cứ
Trang 2620
vào tình hình thực tiễn bối cảnh lịch sử nhất định mà có những sách lược ngoại giao phù hợp nhờ đó mà bảo vệ và giữ vững được chính quyền cách mạng, có thời gian hòa hoãn chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến trường
kì nhất định sẽ nổ ra
Đối với Hồ Chí Minh, việc tiếp thu học tập chủ nghĩa Mác - Lênin không phải nhằm mục đích học lý luận, vì lý luận mà ở chỗ phải nắm vững lập trường quan điểm và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết những vấn đề của cách mạng đặt ra Người nhắc nhở những người cách mạng “ phải học tập tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin; học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng” Trên thực tế ta cũng dễ dàng nhận thấy những phương pháp hoạt động ngoại giao của Người cũng luôn thấm nhuần quan điểm, lập trường, tư tưởng, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin
1.2.1.3 Tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới
Trong cuộc đời hoạt động của mình Hồ Chí Minh không ngừng tìm hiểu nghiên cứu các tư tưởng, học thuyết chính trị- xã hội và những tinh hoa văn hóa nhân loại: ở phương Đông đó là Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, binh pháp Tôn Tử, chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn, tư tưởng và kinh nghiệm cách mạng giải phóng dân tộc ở Trung Quốc, Ấn Độ… ở phương Tây
đó là tư tưởng dân chủ, nhân văn của thời kỳ phục hưng, thế kỷ ánh sáng, tư tưởng cách mạng tư sản châu Âu, châu Mỹ, và tư tưởng thiên chúa giáo
Với mỗi học thuyết tư tưởng, trường phái chính trị Người đều nhận thấy cái ưu và cái hạn chế của nó Người luôn kiến giải cho phù hợp với tâm thức văn hóa Việt Nam, Người lựa chọn những yếu tố tích cực làm giàu kiến thức và tư tưởng của mình
Trang 2721
Đối với các học thuyết tôn giáo Người khẳng định “Học thuyết Khổng
Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giê Su có ưu điểm
là lòng nhân ái cao cả, chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta” [10,51]
Kế thừa tư tưởng của Nho giáo, Hồ Chí Minh đã có nhiều bài nói, bài viết mang sắc thái tư tưởng Nho giáo Tại buổi lễ bế mạc lớp chỉnh huấn cán
bộ Đảng Dân Chính các cơ quan Trung ương (6/1953) Bác nói: “ mọi người đều biết rõ ai là bạn, ai là thù trên thế giới, trong nước và trong mình Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù trên thế giới, muốn đánh thắng thực dân và phong kiến địa chủ là kẻ thù trong nước thì trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình, phải chính tâm tu thân”[26,82] Nói chuyện với cán bộ ngoại giao năm 1964 Bác nhận xét: ngày xưa xứ thần ta đi xứ thì phải làm sao “bất nhục quân diện” nghĩa là đi sứ không được làm nhục đến vua mình Nếu làm được như thế thì được thưởng, nếu làm sai thì phải giáng chức hoặc mất đầu Bác còn biết tiếp thu tư tưởng “thế giới hòa đồng” trong Nho giáo vì ngay từ nhỏ đã được tiếp thu nền giáo dục Nho học, nếu như Khổng
Tử có câu “tứ hải giai huynh đệ” thể hiện tinh thần thế giới hòa đồng thì Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định:
“Quan san muôn dặm là nhà
Bốn phương vô sản đều là anh em”
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu rất kỹ phép dùng binh của Tôn Tử, một nhà quân sự danh tiếng của Trung Quốc thời Xuân – Thu, Người viết
“nguyên tắc của Tôn Tử chẳng những dùng về quân sự đúng mà dùng về chính trị cũng rất hay” Tại bài “Đánh bằng mưu” Bác nêu lên bài học dùng ngoại giao để thắng địch “… dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu Thứ hai
là đánh bằng ngoại giao Thứ ba mới đánh bằng binh”[22, 518] Tại bài
“Quân tranh” Người viết “chưa biết mưu mô của các nước thì không thể ngoại giao” [22,527] Ở bài “Kế hoạch” Bác cho rằng “ngoại giao ai thuận hơn, thì
Trang 2822
thắng”[22, 514] tức là trong việc dùng binh, hai bên đánh nhau ai thuận hơn
về ngoại giao thì sẽ giành được thắng lợi
Đối với tư tưởng của Tôn Dật Tiên, Bác hiểu rất rõ chủ nghĩa Tam dân
là “dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc” và hiểu rõ chính sách ngoại giao của cách mạng Trung Quốc từ năm 1911 là “ liên Nga, liên Cộng, phù trợ công nông”
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và các quyền con người đã được các cuộc cách mạng tư sản ở Pháp và Mỹ đề cao, đồng thời Bác cũng nêu bật những hạn chế của các cuộc cách mạng ấy “
Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay nhưng công nông vẫn cứ cực khổ”[21,270] ; “cách mạng Pháp đã bốn lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu tính cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi ách áp bức Cách mạng An Nam nên nhớ điều ấy”[20,274]
Quá trình hoạt động cách mạng Hồ Chí Minh đã quan sát, phân tích các diễn biến của chính trị quốc tế và ngoại giao thế giới Nhờ đó mà Người đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm ngoại giao quý báu
Ngay từ năm 1919 Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp đưa bản Yêu sách của nhân dân An Nam tới hội nghị Vécxây, đây là một trong những hoạt động có tính chất đối ngoại đầu tiên của Bác Qua hoạt động này Người đã rút ra được kết luận: những lời tuyên bố tự
do của các nhà chính trị tư bản trong chiến tranh thật ra chỉ là những lời đường mật để lừa bịp các dân tộc, Người đã nhận ra được “chủ nghĩa Uynxơn chỉ là trò bịp bợm” Vì thế mà những yêu sách của ông Nguyễn cũng như của các dân tộc bị áp bức khác không có kết quả gì và muốn giải phóng dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình và lực lượng của bản thân mình
Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, vì lợi ích của các nước đế quốc, giai cấp tư sản và chủ nghĩa đế quốc đã thực hiện chính sách ngoại giao can thiệp, chẳng hạn như sự xâu xé can thiệp vào Trung Quốc của các nước phương Tây, trước hết là giữa các tập đoàn quân phiệt làm suy yếu Trung
Trang 2923
Quốc, làm cho kẻ thù bên ngoài lợi dụng thực hiện chính sách “đục nước béo cò” Từ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã nhận ra một điều, đó là đối với kẻ thù thì phải kiên quyết không được thỏa hiệp Tháng 2/1946 Bác Hồ viết “chúng ta phải học tập gương anh dũng của dân tộc Trung Hoa trong hồi kháng chiến Mất Thượng Hải giữ gìn Nam Kinh, mất Nam Kinh giữ gìn Hán Khẩu, mất Hán Khẩu giữ gìn Trùng Khánh, đến Trùng Khánh vẫn chuẩn bị để nếu cần thì giữ nơi khác, quyết kháng chiến, còn một tấc đất, còn một người dân thì còn đấu tranh, lúc nào cũng sẵn sàng và không bao giờ do dự hoang mang” “Kinh nghiệm Trung Quốc bày cách thực hiện trường kì kháng chiến và toàn dân kháng chiến bằng quân sự (dũng cảm, kỉ luật), bằng chính trị (đoàn kết, trật tự), bằng ngoại giao (thêm bạn bớt thù)”[23,187]
Thực tế lịch sử đã cho thấy ngoại giao Xô Viết cũng đem lại nhiều bài học quan trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong vòng vây của chủ nghĩa
tư bản, trong điều kiện chiến tranh thế giới thứ hai (1939 -1945) những hoạt động ngoại giao của Liên Xô đã góp phần rất quan trọng trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô Cuối những năm 1930 các nước phát xít ráo riết chuẩn bị gây chiến tranh thế giới Anh và Pháp thi hành chính sách nhượng bộ các nước phát xít nhằm đẩy Đức và Nhật gây chiến với Liên
Xô Tháng 7/1938 quân đội Nhật Bản tấn công Liên Xô ở khu vực hồ Khaxan
và 5/1939 tấn công Mông Cổ (đồng minh của Liên Xô), tại châu Âu 9/1938 Anh, Đức, Pháp, Italia thỏa thuận tại Muyních về Tiệp Khắc, đồng thời Đức, Anh, Pháp tuyên bố “không xâm phạm lẫn nhau” Trong bối cảnh đó Liên Xô phải một mình đối đầu với Đức và Nhật từ hai phía, nhưng ngày 23/8/1939 Liên Xô và Đức đã kí hiệp ước “không xâm phạm lẫn nhau” Bản hiệp ước này đã khoét sâu các mâu thuẫn trong hàng ngũ các bên đối phương, kéo dài tình trạng hòa hoãn cho Liên Xô được gần hai năm Như vậy, nguyên tắc ứng
xử trong ngoại giao Hồ Chí Minh có cơ sở hình thành từ sự tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới
Trang 3024
1.2.1.4 Tố chất và bản lĩnh ngoại giao Hồ Chí Minh
Có thể nói chính trí tuệ và tài năng xuất chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra một phong cách, phương pháp và nghệ thuật ứng xử ngoại giao riêng của Người Quá trình khảo sát thực tiễn, hoạt động cách mạng, sự tiếp xúc các nền văn hóa lớn trên thế giới khiến Người tích lũy được tri thức
và kinh nghiệm để từ đó vận dụng, ứng xử trong việc đưa ra các phương pháp ngoại giao đúng đắn, phù hợp, trong việc hoạch định chủ trương đường lối, chính sách ngoại giao của cách mạng Việt Nam Người thực sự là một nhà ngoại giao thiên tài
Hồ Chí Minh là người có tố chất sáng tạo, tư duy độc lập, không bao giờ tiếp thu một cách nguyên si, máy móc những tư tưởng, học thuyết và kinh nghiệm cách mạng thế giới, mà Người tiếp thu và vận dụng các tư tưởng, học thuyết đó một cách chọn lọc, sáng tạo và phát triển Điều đó ta có thể minh chứng qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Người khẳng định: “chủ nghĩa cộng sản xâm nhập vào châu Á dễ hơn là châu Âu”; “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào, lịch
sử châu Âu, mà châu Âu là gì, đó chưa phải là toàn thể nhân loại”
Với tư duy độc lập, Người đã chủ động và quyết đoán trong việc xác định đúng vị trí, vai trò, lợi ích của Việt Nam trong quan hệ quốc tế và đánh giá khách quan môi trường quốc tế, xác định đúng thời cơ, thách thức để từ đó
có chính sách và phương pháp đối ngoại cho phù hợp, phục vụ cho lợi ích dân tộc và đảm bảo chủ quyền quốc gia
Ngoài ra những phẩm chất thuộc về cá nhân Hồ Chí Minh còn là những
tư chất thông minh bẩm sinh, tư duy linh hoạt, óc phê phán, khả năng phán đoán và tinh thần nhân văn, nhân đạo, yêu nước, yêu thương con người đã được hình thành và hun đúc trong con người Hồ Chí Minh từ rất sớm:
Ngay từ nhỏ Bác đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước (1911) với tư tưởng “cứu nước, cứu dân” Sau bao năm bôn ba hoạt động cách mạng Người
đã tích lũy cho mình được nhiều kinh nghiệm quý báu và một lượng tri thức
Trang 3125
phong phú, những tố chất “thiên bẩm” của Người ngày càng được bộc lộ Hồ Chí Minh là Người biết dự đoán thời cuộc, dự đoán được xu thế phát triển của tình hình thế giới và của cách mạng Việt Nam, ngay từ những năm đầu chiến tranh thế giới thứ hai, Người nhận định “chiến tranh đế quốc phát xít là điều kiện cho cách mạng bùng nổ” Trong Di chúc Người đã chắc chắn một điều
“cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn” Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Người cũng đã dự báo trước “ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”[34, 244]
Ở Hồ Chí Minh còn có tấm lòng nhân đạo của chủ nghĩa ngoại giao nhân văn Các chủ trương biện pháp của Người luôn hướng tới hòa bình chống chiến tranh, luôn muốn giải quyết vấn đề cách mạng bằng phương pháp hòa bình “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng”
Hồ Chí Minh còn có bản lĩnh ngoại giao rất táo bạo, mềm dẻo và kiên quyết Ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công Bác Hồ đã viết lời kêu gọi Liên Hợp Quốc gửi các nước thường trực: “nước Việt Nam sẵn sàng thực hiện chính sách mở cửa và hợp tác” Những ngày đầu xây dựng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Người còn có tư tưởng hợp tác với Mỹ, với dự định
cử 50 thanh niên sang Mỹ để học tập khoa học kỹ thuật, nhờ nước Mỹ đào tạo Bản lĩnh ngoại giao đó còn tiếp tục được thể hiện khi mà Bác Hồ sang Pháp để thương lượng kí kết Hiệp định sơ bộ 6/3 và Tạm ước 14/9/1946 giữa bối cảnh ý đồ trở lại xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã rõ ràng, nhưng Bác vẫn “lên máy bay của Pháp, sang Pháp” để đàm phán
Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định nguyên tắc ứng xử ngoại giao Hồ Chí Minh có cơ sở hình thành từ những yếu tố cơ bản sau: truyền thống ứng
xử văn hóa và truyền thống ngoại giao Việt Nam; Lý luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin về quan hệ quốc tế; tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây và kinh nghiệm ngoại giao thế giới; cùng với tố chất và bản lĩnh ngoại giao của Hồ Chí Minh
Trang 3226
1.2.2 Những nguyên tắc ứng xử ngoại giao của Hồ Chí Minh
1.2.2.1 Nguyên tắc đặt lợi ích chân chính của dân tộc, của nhân dân lên trên hết
Trong quan hệ quốc tế, quyền lợi của quốc gia, dân tộc, của nhân dân phải đặt lên hàng đầu, không có sự hy sinh, nhân nhượng Hồ Chí Minh nói:
“Điều gì mang lại lợi ích cho đất nước, cho nhân dân, đó là chân lý”
Mục tiêu đối ngoại cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh là bảo đảm lợi
ích quốc gia, như: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hạnh phúc, tự do của nhân dân Người nói “muốn làm gỡ
cũng cần vỡ lợi ích của dân tộc mà làm”
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đường lối đối ngoại và hoạt động
ngoại giao Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trước hết, trên hết
Qua đối ngoại, Người muốn gửi đến các nước trên thế giới thông điệp khẳng định: 1) Việt Nam là một nước độc lập; 2) Việt Nam thực hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị với các nước “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hoà bình” [25,21]
Đây là nguyên tắc tối thượng, trong quan hệ quốc tế phải luôn luôn nhớ
và thực hiện nghiêm túc, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, điều kiện gì cũng không được vi phạm quyền lợi quốc gia, dân tộc, hoặc lấy quyền lợi quốc gia, dân tộc làm điều kiện “đổi chác” Trong điều kiện đặc biệt, để thực hiện sách lược cách mạng, chỉ có thể hy sinh quyền lợi bộ phận, quyền lợi giai cấp, chứ không được hy sinh quyền lợi quốc gia, dân tộc Nguyên tắc này đã được Hồ Chí Minh thực thi trong những năm đầu cách mạng mới thành công Thể hiện qua các chỉ thị: “Hòa để tiến” của Đảng, việc chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra Tuyên bố tự giải tán Đảng (11/1945), thực chất là lùi một bước để tiến thêm hai bước, (tuyên bố giải tán nhưng kỳ thực Đảng rút vào bí mật) Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, dù có nhân nhượng với thực dân Pháp trong việc ký
Trang 3327
Hiệp định Sơ bộ 6-3, Tam ước 14-9, nhưng trong các điều khoản căn bản buộc Pháp phải tôn trọng, đó là những vấn đề mang tính nguyên tắc: nước Việt Nam là một quốc gia độc lập trong khối Liên hiệp Pháp, có quân đội riêng, được quyền tự chủ về ngoại giao, có quân đội riêng Đó là một ví dụ sinh động về việc thực thi nguyên tắc trong quan hệ quốc tế của Hồ Chí Minh
1.2.2.2 Nguyên tắc ứng xử mềm dẻo, linh hoạt và có sách lược để thực hiện mục tiêu chiến lược
Nguyên tắc này được thể hiện điển hình nhất qua khẳng định của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1945 – 1946 “ Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Bất luận trong hoàn cảnh nào, trong quan hệ quốc tế cũng phải kiên định về mục tiêu chiến lược, luôn luôn giữ thế tiến công, nhưng biết nhân nhượng, thỏa hiệp đúng lúc, đúng nguyên tắc để giành thắng lợi từng bước, đi tới thắng lợi hoàn toàn (Dĩ bất biến, ứng vạn biến) Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích bất
di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” [26,319]
Sự linh hoạt phải trên cơ sở giữ vững nguyên tắc
Mục tiêu nhất quán của Đảng và nhân dân ta đã được Hồ Chí Minh nêu
rõ là: "Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
Kiên định mục tiêu đó, tuy nhiên, trong quá trình phát triển của cách mạng, căn cứ vào tương quan lực lượng và tình hình quốc tế, mục tiêu chung
đó thường được cụ thể hoá thành những mục tiêu cụ thể và có sự điều chỉnh
linh hoạt, cho phù hợp với diễn biến của tình hình Điều quan trọng là, mục
tiêu từng bước phải tạo cơ sở vững chắc để tiến đến mục tiêu chiến lược cuối cùng
Tháng 8 năm 1945, nước ta giành được độc lập trong điều kiện khó khăn dồn dập, thù trong giặc ngoài ra sức hoạt động phá hoại, lật đổ, việc Hồ Chí Minh đứng ra ký Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) và Tạm ước (14-9-1946) là một bước nhân nhượng cần thiết Về danh nghĩa là nhân nhượng, “hợp tác” với kẻ
Trang 3428
thù, nhưng thực chất là nhằm phân hoá và loại bớt kẻ thù, (với Hiệp định Sơ
bộ 6-3-1946, chúng ta đã đuổi được 20 vạn quân Tưởng về nước, tập trung lực lượng đối phó với quân Pháp), tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, không tránh khỏi
Là người kiên quyết đấu tranh cho mục tiêu độc lập và thống nhất Tổ quốc, song Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là nhà ngoại giao có biệt tài thương lượng, có đầu óc thực tế, biết tìm ra mẫu số chung cho mỗi cuộc đối thoại Vì vậy, Người thường nhắc nhở cán bộ ta: Trong vấn đề đối ngoại, ngoại giao và quan hệ quốc tế, phải kiên trì, Chớ nôn nóng, muốn đạt ngay mục tiêu cuối cùng, đôi khi phải biết nhân nhượng, phải biết thắng từng bước Cuộc đàm phán của Việt Nam tại Hội nghị Pari (Pháp) trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hơn 5 năm! Trong thời gian đàm phán, chúng ta kiên trì đấu tranh, “kết hợp giữa đánh và đàm”, buộc Mỹ phải lùi từng bước (ví dụ bước đầu là ngừng ném bom miền Bắc), cuối cùng buộc phải ký Hiệp định và rút quân về nước
Mềm dẻo, linh hoạt và sách lược nhưng theo Hồ Chí Minh sự mềm dẻo, linh hoạt, sách lược phải có giới hạn, không được tùy tiện, không được làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc, đó chi là những sách lược tạm thời “Tạm ước ngày 14 tháng 9 là một bước nhân nhượng cuối cùng Nhân
nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc” Hồ Chí Minh kiên quyết đấu tranh để nước ta “có ngoại giao riêng”,
vì “nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp” [24,70]
Như vậy, Trong quá trình đi tới mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đánh giá đúng tình hình quốc tế và so sánh lực lượng ở từng thời điểm cụ thể để vận dụng sách lược một cách linh hoạt, mềm dẻo, giành thắng lợi từng bước
Căn cứ vào thực lực cách mạng và tương quan lực lượng trong những thời điểm nhất định, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đề ra những hình thức
Trang 3529
đấu tranh thích hợp, những khẩu hiệu sách lược để tranh thủ mọi lực lượng có thể tranh thủ được trên trường quốc tế ủng hộ Việt Nam độc lập Trong thời gian 1945-1946, ta nêu khẩu hiệu “Hoa- Việt thân thiện”; khi đàm phán với Pháp về Hiệp định Sơ bộ 6 tháng Ba 1946, ta chấp nhận Việt Nam “tự do”, khi sang Pháp ta nêu lên vấn đề Việt Nam “độc lập, thống nhất trong Liên hiệp Pháp” Tháng Mười 1949, trả lời câu hỏi của báo Thái Lan về vấn đề trung lập, Hồ Chí Minh nói : “Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam Một nước rất có thể trung lập giữa hai cường quốc, thí dụ nước Thụy Sĩ” [24,676]
Năm 1960, để tập hợp lực lượng quốc tế rộng rãi ủng hộ cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ta, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đề ra chủ trương miền Nam Việt Nam “hoà bình, trung lập”, tham gia tích cực phong trào không liên kết
1.2.2.3 Nguyên tắc đề cao đàm phán hòa bình, tránh xung đột vũ trang
Tư tưởng hòa bình và chống chiến tranh xâm lược là một nội dung đặc trưng của tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Ngoại giao Hồ Chí Minh luôn hướng tới mục đích vì một nền hòa bình, hợp tác và phát triển Đây là tư tưởng có cội nguồn từ tư tưởng hòa hiếu, yêu hòa bình và nhân văn trong truyền thống văn hóa Việt Nam, đó cũng là tư tưởng đối ngoại của các nước
xã hội chủ nghĩa Nhưng đối với Hồ Chí Minh, lấy hòa bình làm trọng nhưng không có nghĩa là nhượng bộ cho kẻ địch lấn tới, giải quyết các vấn đề bằng phương pháp hòa bình nhưng không có nghĩa là không dùng vũ lực, cần phải dùng vũ lực khi cần thiết; hòa bình không có nghĩa là vô nguyên tắc, hòa bình phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định về lợi ích quốc gia và chủ quyền dân tộc
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm
Trang 3630
cướp nước ta một lần nữa Không, chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”
Đến đầu năm 1947 Bác nói “ chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu
người Việt và người Pháp ngừng chảy, những dòng máu đó chúng tôi đều quý
không thể làm suy giảm tinh thần nhân văn, nhân đạo, yêu hòa bình, chống chiến tranh của Bác Sửa lại cách viết của một nhà thơ Người cho rằng:
“không có trận đánh đẫm máu nào là đẹp cho dầu thắng lợi lớn” Trong Thư gửi chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp năm 1947 có đoạn Người viết
“nhân dân Việt Nam chỉ muốn hòa bình, một nền hòa bình thực sự, để kiến
thiết quốc gia với sự cộng tác của những người bạn Pháp chân chính”[24,11]
Năm 1958 tại Hội nghị những người Ấn nghiên cứu các vấn đề quốc tế, Bác Hồ nêu rõ chủ trương nguyện vọng thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình: “ để thống nhất đất nước Việt Nam bằng phương pháp hòa bình, mọi biện pháp đều phải xuất phát từ nguyện vọng hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ toàn dân, phải phù hợp với hiệp định Giơnevơ, đồng thời chiếu
cố đến sự tồn tại của hai chế độ khác nhau ở Miền Nam… về quan hệ quốc tế chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình”[29, 5]
Như vậy, Hồ Chí Minh đã bằng mọi biện pháp và cố gắng trong quan
hệ ngoại giao Việt Nam với các nước khác trên thế giới và ngay cả đối với kẻ thù đó là một tư tưởng ngoại giao vì một nền hòa bình Điều đó thống nhất với Hiến chương Liên hợp quốc đã nêu rõ nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc là “giải quyết các chanh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình” Trong quan hệ quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm của dân
tộc Việt Nam “nhân dân Việt Nam vĩnh viễn không cho bất cứ kẻ nào xâm
lược nước mình, đồng thời cũng vĩnh viễn không xâm lược nước khác”[27, 4]
Các nước trên thế giới tăng cường trao đổi, quan hệ với nhau trên quan điểm xây dựng một môi trường hòa bình, thân thiện, cùng theo đuổi chính
Trang 37sự.”[31,48]
Khi phải tiến hành cuộc đấu tranh một mất một còn với bọn thực dân để giành độc lập dân tộc, Người cũng luôn luôn tìm kiếm mọi cơ hội có thể hợp tác để thay cho một cuộc chiến bạo lực Hồ Chí Minh nói: “Về quan hệ quốc
tế, chúng tôi luôn luôn trung thành với chính sách hòa bình và hợp tác giữa các nước trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình” [31,48]
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn thể hiện tư tưởng nhất quán, mong muốn đoàn kết, hợp tác hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, sắc tộc, địa lý Quan điểm của Người giờ đây trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ quốc tế, không chỉ đúng với đường lối đối ngoại của Việt Nam,
mà với tất cả các quốc gia trên thế giới
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, muốn giữ được độc lập dân tộc và phát triển đất nước, phải tăng cường đoàn kết và hợp tác quốc tế, lấy tinh thần thiện chí, hoà bình để giải quyết những bất đồng, trên cơ sở gắn lợi ích dân tộc với lợi ích các nước trong khu vực và lợi ích chung của nhân loại Đặc biệt, trong điều kiện quan hệ quốc tế hiện nay, xu thế toàn cầu hoá không cho phép bất
cứ một quốc gia nào, dù mạnh đến đâu có thể tách mình ra khỏi thế giới, đặc biệt là những vấn đề mang tính toàn cầu, nếu không đoàn kết, hợp tác thì không thể nào giải quyết được Ví dụ: vấn đề ô nhiễm môi trường, vấn đề hiệu ứng nhà kính, vấn đề nguồn nước Trong bối cảnh đó, người ta lại thấy
Trang 38đi ngược với xu thế của thời đại, xu thế của sự phát triển Tuy nhiên, có thể nói, những vấn đề cơ bản của thời đại ngày nay cùng xu hướng phát triển của
nó đã được Hồ Chí Minh tiên liệu, giải quyết từ những năm đầu thập niên năm mươi của thế kỷ trước
Bởi vì Người đã nhìn thấy cho dù thế giới có biến chuyển thế nào, thì nhu cầu về hoà bình, độc lập dân tộc, về quyền con người của nhân dân ở tất
cả các quốc gia vẫn không hề thay đổi Cho nên, chỉ có thể hợp tác với nhau, cùng nhau theo đuổi chính sách chung sống hoà bình, cùng phát triển Quan điểm đó cũng chính là nền tảng lý luận, là chiếc cầu trên con đường nhận thức đưa Việt Nam bước vào thế giới hiện đại
1.2.2.4 Nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của các dân tộc
Trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, quyền dân tộc được coi là một trong những nội dung nổi bật, quyền dân tộc cơ bản vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu trong quan hệ ngoại giao Các quyền dân tộc cơ bản bao gồm: độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, trong
đó quyền dân tộc tự quyết là một nội dung có tầm quan trọng hàng đầu
Hồ Chí Minh đã kế thừa Cương lĩnh dân tộc của Lênin và tư tưởng tự
do, bình đẳng của các cuộc cách mạng tư sản Trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), Người khẳng định chủ quyền của các dân tộc:
“ Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống,
Trang 3933
quyền tư do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Lời bất hủ ấy trong bản tuyên
ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các
dân tộc trên thế giới đề sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tư do Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được [23, 1]
Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định
chủ quyền của Việt Nam với thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
độc lập và thật sự đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ
Ngày 2 tháng giêng năm 1947 trả lời các nhà báo, Bác Hồ khẳng định
quyền cơ bản của dân tộc “tự do, độc lập là quyền trời của mỗi dân tộc”[24, 7]
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II do Hồ Chí Minh
chủ trì, trong Luận cương cách mạng Việt Nam có đoạn viết “chính sách
ngoại giao của ta là chính sách ngoai giao có tính chất dân tộc và dân chủ Nguyên tắc cơ bản của chính sách đó là bảo vệ toàn vẹn độc lập, dân chủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia, ủng hộ phong trào giải phóng dân
Độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là tư duy nổi bật và nhất quán trong toàn bộ hoạt động chính trị của Nguyễn Ái Quốc Xuyên suốt tư tưởng đó là nguyên lý mà Hồ Chí Minh đã khái quát nên: “muốn người ta giúp cho thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”
Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống yêu nước và tư tưởng tự tôn dân tộc của Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi – Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ… chủ nghĩa yêu nước niềm tự tôn dân tộc được nâng nên tầm cao mới, được Bác đúc kết thành chân lý: “không có gì quý hơn độc lập tự do”; “
Trang 4034
chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Trong quan hệ quốc tế và ngoại giao phải độc lập, tự chủ, tự cường không lệ thuộc vào nước khác, song độc lập không có nghĩa là
cô lập “có sự tri viện của Liên Xô và Trung Quốc về vật chất vũ khí trang bị,
ta sẽ đỡ khó khăn hơn, nhưng giành được thắng lợi phải do nỗ lực của chính bản thân ta quyết định” [30, 270] Trong quan hệ quốc tế chúng ta phải độc
lập về chính trị, về đường lối đối ngoại theo Hồ Chí Minh độc lập nghĩa là
chúng tôi điều khiển mọi công việc của chúng tôi không có sự can thiệp ở
mình để có thể có ưu thế trong quan hệ quốc tế và ngoại giao “thực lực như cái chuông, ngoại giao như cái tiếng, chuông có to thì tiếng mới lớn”[29, 235]
Trong lời tuyên bố của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cùng chính phủ các nước trên thế giới 1950: “ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ nước nào tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam để cùng nhau bảo vệ hòa bình và xây đắp dân chủ thế giới” [25 ,8]
Trong quá trình xây dựng kinh tế ở Miền Bắc khi rút ra bài học về sự áp dụng kinh nghiệm của nước ngoài Bác khẳng định “ không trú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng là phạm chủ nghĩa giáo điều Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại” [27, 99]
Độc lập tự chủ đòi hỏi phải đảm bảo lợi ích dân tộc chính đáng, thực hiện các quyền dân tộc cơ bản trong điều kiện lợi ích của các dân tộc đan xen chồng chéo Độc lập tự chủ tự cường xa lạ với sự biệt lập và chủ nghĩa biệt phái Để chiến thắng kẻ thù hùng mạnh gấp nhiều lần thì Bác luôn chủ trương tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế Mục tiêu của đoàn kết hợp tác quốc tế là tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, sự hợp tác và giúp