1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng cộng sản trung quốc lần thứ XVIII năm 2012

104 509 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tốc độ phát triển cực kỳ nhanh chóng hơn 30 năm cải cách mở cửa tại Trung Quốc, dẫn đến việc sản sinh nhiều từ ngữ mới trong đó không thể không tính là những thuật ngữ mới đã phần nà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========

LÂM TUYỀN QUÂN (LIN QUAN JUN)

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI

ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2012

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========

LÂM TUYỀN QUÂN (LIN QUAN JUN)

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC LẦN THỨ

XVIII NĂM 2012

Chuyên ngành : Ngôn ngữ học

Mã số : 60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học : TS Đỗ Thúy Nhung

Hà Nội – năm 2015

Trang 3

1

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Đỗ Thúy Nhung, người đã hướng dẫn và chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình làm luận văn Cảm ơn cô vì những định hướng và sự động viên khích lệ, giúp em hoàn thành luận văn này

Em xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học và khoa Đông phương học và đã tận tình truyền thụ và giúp đỡ những tri thức cho em trong suốt thời gian vừa qua Em xin kính chúc các thầy cô dồi dào sức khoẻ để cống hiến nhiều hơn nữa cho sự nghiệp trồng người

Trang 4

2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, dưới

sự hướng dẫn của TS Đỗ Thúy Nhung, có kế thừa một số nghiên cứu liên quan

đã được công bố, những tài liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, khách quan, có xuất xứ cụ thể, rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng về luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Lâm Tuyền Quân

Trang 6

4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê một số từ đơn tiết ………28

Bảng 2.2: Phân loại thuật ngữ từ đa tiết……… 34

Bảng 2.3: Thống kê quán ngữ……… 40

Bảng 3.1: Thống kê thuật ngữ mới……… 54

Trang 7

5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

3 Phạm vi nghiên cứ và đối tượng nghiên cứu………10

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

4.1.Mục đích nghiên cứu: 10

4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu: 11

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa của luận văn 11

7 Cấu trúc của luận văn 11

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12

1.1 Khái quát về thuật ngữ và thuật ngữ chính trị xã hội 12

1.1.1 Thuật ngữ 12

1.1.1.1 Thế nào là thuật ngữ? 12

1.1.1.2 Tính chất của thuật ngữ 15

1.1.2 Thuật ngữ chính trị xã hội 18

1.1.2.1 Tiền đề xã hội cho hệ thống thuật ngữ chính trị xã hội 18

1.1.2.2 Khái niệm thuật ngữ chính trị xã hội 18

1.1.2.3 Đặc trưng nghĩa thuật ngữ chính trị xã hội 20

1.2 Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012 23

1.2.1 Bối cảnh lịch sử 23

1.2.2 Nội dung và tầm quan trọng của Báo cáo chính trị 25

Tiểu kết: 26

CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO TỪ NGỮ TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐCS TRUNG QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM 2012 27

2.1 Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong Báo cáo chính trị 27

2.1.1 Khảo sát một số hư từ có vai trò quan trọng trong việc cấu tạo thuật ngữ trong Báo cáo 28

Trang 8

6

2.1.1.1 “的” 30

2.1.1.2 “和” 32

2.1.1.3 “在” 33

2.1.1.4 “向” 33

2.1.2 Khảo sát một số thuật ngữ đa tiết 34

2.1.2.1 Cấu trúc thuật ngữ đa tiết 35

2.1.2.2 Ngữ nghĩa của thuật ngữ đa tiết 36

2.2 Khảo sát về một số thuật ngữ có tần xuất xuất hiện cao trong Báo cáo… 44

2.2.1 Khảo sát thuật ngữ “经济”………45

2.2.2 Khảo sát thuật ngữ “科学” ……… 47

2.3 Nhận xét……… 49

Tiểu kết: 51

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT THUẬT NGỮ MỚI TRONG BÁO CÁO VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM………… ………53

3.1.Danh sách thuật ngữ mới trong Báo cáo chính trị 53

3.2 Đổi mới về nội dung nghĩa……….……… …55

3.3 Thuật ngữ mới trong Báo cáo chính trị đại hội Đảng lần thứ XVIII và liên hệ với tiếng Việt………62

3.3.1 Sự tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt trong lịch sử……… 63

3.3.2 Thuật ngữ mới trong Báo cáo đại hội Đảng lần thứ XVIII và liên hệ với tiếng Việt………67

Tiểu kết:……… 79

KẾT LUẬN……….80

Trang 9

sử dụng nhiều nhất trên thế giới Ngôn ngữ không phải là bất biến, với mỗi một ngôn ngữ ở một quốc gia, tại một thời điểm nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể

sẽ sản sinh ra những từ ngữ mới mang ý nghĩa hoàn toàn mới, và những từ ngữ này đã và sẽ góp phần làm phong phú hơn nữa ngôn ngữ của quốc gia đó

Với tốc độ phát triển cực kỳ nhanh chóng hơn 30 năm cải cách mở cửa tại Trung Quốc, dẫn đến việc sản sinh nhiều từ ngữ mới trong đó không thể không tính là những thuật ngữ mới đã phần nào làm thay đổi diện mạo của tiếng Hán nói chung và thuật ngữ chính trị xã hội nói riêng Hơn nữa, thuật ngữ chính trị xã hội là một lĩnh vực đặc biệt, luôn phản ánh sâu sắc diện mạo chính trị của một quốc gia, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Hơn 25% từ Hán Việt có tư cách là những đơn vị hoạt động tự do không khác gì các từ thuần Việt (trong tiếng Việt) Các yếu tố Hán Việt nằm trong tiếng Việt với tư cách là thành viên tiếng Việt Trong số những từ Hán Việt đó, có 20% đề cập đến lĩnh vực chính trị xã hội

Thuật ngữ chính trị xã hội trong từ điển “Thuật ngữ chính trị xã hội tiếng Hán hiện đại”: là những từ chuyên nghiệp mang ý nghĩa, hình thức đặc biệt và

hình thành trong những hoạt động Đảng và chính phủ trong quá trình xử lí sự vụ nội chính và ngoại giao Văn kiện báo cáo của các lần đại hội của Đảng đóng vai

Trang 10

8

trò rất quan trọng đối với việc vận dụng và phổ biến những thuật ngữ chính trị xã hội cho nhân dân đại chúng Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và cụ thể về Thuật ngữ chính trị trong các báo cáo đại hội của Đảng Cộng Sản (ĐCS) Trung Quốc, vì thế, chúng tôi lựa chọn khảo sát thuật ngữ chính trị trong báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012– một trong những báo cáo mang tính trọng đại trong lịch sử Trung Quốc – báo cáo đường lối mới nhất của ĐCS Trung Quốc trong giai đoạn xây dựng “Kế hoạch 2015” xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Trung Quốc

Trong bài luận văn này, tôi đi vào nghiên cứu, khảo sát hệ thuật ngữ chính trị xã hội mới xuất hiện trong Báo cáo của BCH TW ĐCS Trung Quốc tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII, có liên hệ với tiếng Việt, luận văn muốn góp phần vào việc nghiên cứu sự phát triển của thuật ngữ chính trị xã hội Trung Quốc nói chung và một số ảnh hưởng tới tiếng Việt nói riêng

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Ngôn ngữ phát triển theo thời gian, mang tính lịch sử cụ thể Vì vậy để có cái nhìn toàn diện về lịch sử phát triển của một ngôn ngữ nào đó thì việc nghiên cứu diện mạo của từng bộ phận của nó trong từng giai đoạn là rất cần thiết Sự phát triển của ngôn ngữ nói chung gắn liền với sự phát triển của xã hội Nghiên cứu thuật ngữ trong ngôn ngữ học cũng là một trong những đóng góp lớn của ngành nghiên cứu ngôn ngữ học

Trên thế giới đã từng xuất hiện nhiều nhà ngôn ngữ học công bố những công trình nghiên cứu ngôn ngữ mang tầm vóc lớn như nhà ngôn ngữ học người

Mỹ Bloomfield Leonard Ông là một trong những nhà ngôn ngữ học dẫn đầu cho

sự phát triển ngôn ngữ học cấu trúc tại Hoa Kỳ trong những năm 1930, 1940 Sự

ảnh hưởng của cuốn sách “Language”, London, 1935 của ông đã mô tả toàn diện

ngôn ngữ học cấu trúc Mỹ Ngoài những đóng góp cho nền ngôn ngữ Hoa Kỳ,

Trang 11

phẩm: “ Studies in Vietnamese (Annamese) grammar” , University of California

Những tác phẩm của các nhà ngôn ngữ học Âu Mỹ cũng có ảnh hưởng lớn đến nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam

Nghiên cứu ngôn ngữ học không chỉ phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, mà

từ lâu các nước Châu Á cũng đã tiến hành nghiên cứu để thấy được sự phát triển của ngôn ngữ quốc gia Trung Quốc là một đất nước có bề dày về lịch sử văn hóa Tiếng Hán là thứ tiếng được dùng phổ biến ở Trung Quốc, và nó có tầm ảnh hưởng lớn đến các nước trong và ngoài khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên…và Việt Nam Việt Nam có những hơn 1000 năm chịu dưới sự thống trị của các nhà nước triều đình phong kiến Trung Quốc, nên Việt Nam bị ảnh hưởng bởi văn hóa Hán và đặc biệt là ngôn ngữ từ phương Bắc tràn xuống Cho đến ngày nay, ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Việt vẫn còn rất sâu sắc, các yếu tố Hán còn tồn tại và phong phú thêm yếu tố Việt trong tiếng Việt Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Việt của các học

giả Trung Hoa cũng như Việt Nam, một số tác giả tiêu biểu như: Sử Hữu Vi “Từ ngoại lai trong tiếng Hán” nhà xuất bản Thương Vụ, 2000; Phạm Văn Khoái

“Một số vấn đề về Hán văn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX” Đề tài

đặc biệt cấp Đại học quốc gia, mã số: QG.0313, Hà Nội, 2005; Nguyễn Thiện

Giáp “Từ vựng học tiếng Việt”, nhà xuất bản Giáo dục, 1985; Nguyễn Văn Khang “Từ ngoại lai trong tiếng Việt”, học viện khoa học xã hội, 2006

Tuy đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Việt, nhưng hiện tại chưa có một tác phẩm nào nghiên cứu vể thuật ngữ chính trị xã

Trang 12

10

hội trong các báo cáo chính trị đại hội ĐCS Trung Quốc cũng như Việt Nam Nên trong bài luận văn này, tôi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu diện mạo thuật ngữ chính trị xã hội trong “Báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012”, tìm ra những thuật ngữ mới xuất hiện trong giai đoạn 1978 đến 2012,

thông qua cuốn từ điển “现代汉语新词语词典” “Từ điển tân từ ngữ Hán ngữ hiện đại” do Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận chủ biên, nhà xuất bản Từ Thư,

Thượng Hải, Trung Quốc, tháng 4 năm 2000 và cuốn “Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng” do Kim Quan Đào, Lưu Thanh Phong chủ biên, nhà xuất bản Pháp Luật,

từ đó liên hệ so sánh với từ tiếng Việt ở Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu

Khảo sát thuật ngữ và thuật ngữ chính trị xã hội trong “Báo cáo chính trị của BCH TW ĐCS Trung Quốc tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012”

Phạm vi thời gian: Khảo sát các thuật ngữ trong “Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012” so sánh đối chiếu với

từ điển “现代汉语新词语词典” “Từ điển tân từ ngữ Hán ngữ hiện đại” do

Kháng Thế Dũng, Lưu Hải Nhuận chủ biên, nhà xuất bản Từ Thư, Thượng Hải, Trung Quốc, tháng 4 năm 2000, cuốn “Nghiên cứu về lịch sử tư tưởng” do Kim Quan Đào, Lưu Thanh Phong chủ biên, nhà xuất bản Pháp Luật

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu:

Thông qua khảo sát từ đơn tiết và từ đa tiết trong báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012, chúng tôi rút ra được danh sách các thuật ngữ và thuật ngữ mới mới xuất hiện trong báo cáo đại hội đảng lần thứ 19, sau

đó phân tích đặc điểm của các thuật ngữ này về mặt cấu trúc, nội dung Luận văn

Trang 13

11

muốn góp phần vào việc nghiên cứu sự phát triển thuật ngữ chính trị xã hội của Trung Quốc nói chung và một số ảnh hưởng tới tiếng Việt

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Từ mục đích trên, luận văn đề ra nhiệm vụ như sau:

1) Khảo sát sự hiện diện vốn từ trong báo cáo đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII

2) Các biểu hiện mới về từ ngữ và nghĩa.(So sánh với năm 1978)

3) Liên hệ với Việt Nam

5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp và thủ pháp như: phân tích thống kê số lượng, phân loại; phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa thuật ngữ

so sánh liên hệ với tiếng Việt

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu cụ thể của luận văn về khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII, góp phần vào nghiên cứu đặc điểm của thuật ngữ chính trị xã hội tại Trung Quốc, sự ảnh hưởng của những thuật ngữ đó đối với tiếng Việt

Kết quả nghiên cứu cũng góp phần vào nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt

Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp cho việc dạy và học tiếng Việt và tiếng Hán Nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Hán của sinh viên và cán bộ nghiên cứu trong ngành

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao

gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài

Trang 14

12

Chương 2 Diện mạo từ ngữ trong báo cáo chính trị tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012

Chương 3 Khảo sát thuật ngữ mới trong Báo cáo và liên hệ với Việt Nam

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Khái quát về thuật ngữ chính trị xã hội

1.1.1 Thuật ngữ

1.1.1.1 Thế nào là thuật ngữ?

Thuật ngữ là một đề tài có sức cuốn hút đối với nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới cũng như ở Trung Quốc Hiện nay trong ngôn ngữ học có một số lượng vô cùng lớn các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ, thậm chí còn

có thể viết cả một cuốn sách về “Khái niệm thuật ngữ là gì?” Vậy thế nào là thuật ngữ?

Có những định nghĩa chỉ ra sự phân định giữa một bên là thuật ngữ còn một bên là từ thông thường Cả về hình thức và nội dung không thể tìm thấy ranh giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn thuật ngữ Đường ranh giới hiện thực, khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một đường ranh giới ngoài ngôn ngữ Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt – đó là chức năng gọi tên

Theo cuốn “Từ điển Tân Hoa” Trung Quốc, thuật ngữ là: 各门学科中用

以表示严格规定的意义的专门用语 Từ ngữ chuyên môn biểu thị ý nghĩa quy định nghiêm ngặt trong các môn khoa học Thuật ngữ không phải là những từ

Trang 15

13

vựng biệt lập, mà là những bộ phận riêng của ngôn ngữ thống nhất Các thuật ngữ chính trị - xã hội, thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn có hình thức cấu tạo là từ (từ đơn - từ ghép) có số lượng lớn, trong đó chủ yếu là những thuật ngữ

là từ ghép, đặc biệt là từ ghép chính phụ Các thuật ngữ có hình thức cấu tạo là cụm từ (ngữ định danh) lại có số lượng ít, chiếm tỉ lệ khiêm tốn

Một số nhà ngôn ngữ học khác lại xác định thuật ngữ trong mối quan hệ giữa nó với khái niệm Chẳng hạn, các soạn giả của “Đại Bách khoa toàn thư Xô

Viết” đã định nghĩa: “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định hóa về sự vật hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng

cho phạm vi chuyên môn đó” [27; tr1]

Một số nhà khoa học khác lại nhấn mạnh vấn đề khái niệm và định nghĩa

thuật ngữ: “Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một ký hiệu tương ứng với một khái niệm…Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân”

“Thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức Định nghĩa này có liên quan với một khái niệm khoa học nào đó.” “ Thuật ngữ là từ chuyên môn để dẫn chứng giải thích ý nghĩa biểu thị các quy định chặt

chẽ trong các môn khoa học” [27; tr1]

Trong cuốn: “Đại từ điển bách khoa toàn thư” của Trung Quốc định nghĩa:

“Thuật ngữ là từ ngữ chuyên dùng của các ngành khoa học, thuật ngữ có thể là

từ, cũng có thể là cụm từ, dùng để biểu thị chính sách sự vật, hiện tượng, đặc tính, quan hệ và quá trinh thuộc các lĩnh vực chuyên môn như: kỹ thuật sản xuất,

khoa học, nghệ thuật, cuộc sống xã hội…”[26; tr.236]

Trang 16

14

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực thuật ngữ và những định nghĩa về thuật ngữ ngày một đầy đủ hơn và chính xác hơn

Năm 1962, trong “Giáo trình Việt ngữ, tập II”, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ trong đó đồng thời có sự nhấn mạnh rằng thuật ngữ không phải chỉ biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng

khoa học nhất định Theo ông,“Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lí, ngành hóa học, ngành toán học, thương mại, ngoại giao, chính trị xã hội…Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ

có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa

học, kỹ thuật nhất định” [1; tr3]

Trong giáo trình “Từ vựng tiếng Việt” xuất bản năm 1978 và tiếp đến là giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” xuất bản năm 1985, tái bản 1998, Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra quan niệm ngắn gọn nhưng nêu được đầy đủ những đặc

trưng cần và đủ của thuật ngữ Theo ông, “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và những cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [5; tr308-309] Thuật ngữ theo Nguyễn Thiện Giáp có thể được cấu

tạo dựa trên cơ sở từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng

Qua những định nghĩa được nêu trên ta có thể thấy thuật ngữ là từ và cụm

từ nhưng không giống với từ và cụm từ thông thường Từ ngữ thông thường có thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ như thái độ đánh giá con người, khen, chê…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể có đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả một khái niệm hay

Trang 17

15

một khách thể Nói cách khác, thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng của một ngôn ngữ, chúng biểu thị khái niệm xác định trong các ngành khoa học kỹ thuật, chính trị xã hội nên thuật ngữ phải tuân thủ tính nghiêm ngặt của nó

Từ đó, chúng tôi rút ra được một số đặc điểm cần chú ý xung quanh khái niệm thuật ngữ là:

- Về mặt cấu trúc: Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ

- Về mặt nội dung (mặt biểu nghĩa): Thuật ngữ biểu thị duy nhất một

nghĩa – một khái niệm

- Về mặt sử dụng: Thuật ngữ được sử dụng trong một ngành nhất định,

một lĩnh vực khoa học nhất định

Từ những đặc điểm như trên, thuật ngữ được hiểu một cách ngắn gọn là:

“Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng được sử dụng trong một ngành khoa học cụ thể”

1.1.1.2 Tính chất của thuật ngữ

Thuật ngữ là những từ hoặc cụm từ cố định dùng để biểu thị chính xác các khái niệm và đối tượng thuộc lĩnh vực của mỗi ngành khoa học Vì thế thuật ngữ mang tính chất, đặc điểm sau:

*Tính chính xác: Nói đến thuật ngữ thuộc các ngành khoa học trước hết

phải nói đến tính chính xác Điều đó có nghĩa là thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm khoa học mà không gây nhầm lẫn Một thuật ngữ lí tưởng là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm, tuy nhiên không thể đòi hỏi thuật ngữ phản ánh đầy đủ mọi phương diện, mọi khía cạnh của khái niệm Thậm chí cá biệt có trường hợp thuật ngữ phản ánh một đặc trưng không cơ bản, nhưng đó là đặc trưng đủ để khu biệt thuật ngữ ấy với thuật ngữ khác

Trang 18

16

*Tính hệ thống: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu Thuật ngữ là một bộ

phận của ngôn ngữ Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống riêng Thuật ngữ của mỗi nước cũng có hệ thống riêng Vì vậy nói đến thuật ngữ là phải nói đến tính hệ thống

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng tính hệ thống là một đặc trưng về nội dung, một số khác lại coi đây là tiêu chuẩn về hình thức Còn theo chúng tôi thì nhắc đến tính hệ thống của thuật ngữ thì cần chú ý đến cả hai mặt: hệ thống khái niệm (xét về nội dung) và hệ thống các biểu thị (xét về hình thức) Tính hệ thống của các biểu thị thuật ngữ thường được thể hiện rõ ràng qua mối liên hệ liên tưởng và mối quan hệ ngữ đoạn của các tín hiệu trong ngôn ngữ Tất cả các thuật ngữ gọi tên khái niệm đều phải cố gắng phối hợp với quốc tế, công tác điều phối cần phải được tiến hành thông qua tổ chức tiêu chuẩn thế giới ISO

*Tính quốc tế: Các khái niệm khoa học mà thuật ngữ biểu thị là tài sản

chung của toàn nhân loại, do đó nó mang tính quốc tế Các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Nhật, tiếng Hàn chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Hán, đặc biệt là về khía cạnh từ vựng, do vậy mà vốn từ văn hóa hầu hết đều có nguồn gốc từ tiếng Hán nên có thể nói hầu như toàn bộ hệ thống thuật ngữ đều dựa trên cơ sở các yếu tố gốc Hán

*Tính đơn nghĩa: Thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói hay viết

ra thì làm cho người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học tương ứng với nó Vì thuật ngữ nằm trong một hệ thống thuật ngữ nhất định nên thuật ngữ chỉ có một nghĩa, khác với từ thông thường có tính đa nghĩa Tính đơn nghĩa ở đây được hiểu là đơn nghĩa trong một ngành, một lĩnh vực chuyên môn nhất định, nghĩa là đảm bảo tính chính xác của thuật ngữ

Trang 19

17

*Tính ngắn gọn, xúc tích: Thuật ngữ cần phải có tính ngắn gọn Thuật ngữ cũng như danh từ nói chung mang tính chất định danh Một thuật ngữ dài thì thường có tính chất miêu tả hay định nghĩa Tính chất này không những làm cho

hệ thống ký hiệu bị xộc xệch méo mó mà có khi còn làm lu mờ, thậm chí còn có thể phá vỡ tính chất của bản thân nó Do đó, muốn cho kết cấu của thuật ngữ được chặt chẽ, đảm bảo tính chất định danh của thuật ngữ thì về mặt hình thức đòi hỏi thuật ngữ phải ngắn gọn, cô đọng

*Tính ổn định: Một khi thuật ngữ đã được đặt tên, không dễ dàng thay

đổi trừ phi đặc biệt quan trọng Ví dụ: Thuật ngữ atom (nguyên tử) trong tiếng Anh, vốn dĩ để chỉ đơn vị nhỏ nhất không thể phân chia cấu tạo nên vật chất, sau

đó vật lí học phát triển đã chứng minh “nguyên tử” vẫn có thể phân chia, nhưng người ta vẫn không vì thế mà thay đổi thuật ngữ atom này để duy trì tính ổn định của thuật ngữ

*Tính sản sinh: Một thuật ngữ sau khi đã được xác định, có thể xuất phát

từ thuật ngữ cũ thông qua phương pháp tạo từ và tổ hợp từ phái sinh ra thuật ngữ mới Ví dụ: Thuật ngữ “tính toán” trong tiếng Hán, có thể thông qua phương

pháp cấu tạo tổ hợp từ mà phái sinh những thuật ngữ mới như “补/运算” bổ sung/ tính toán, “反演/运算” nghịch đảo/tính toán, “对偶/运算” ghép đôi/ tính toán, “全同/运算” toàn đồng/tính toán, “非/全同/运算” phi/toàn đồng/tính toán,

“等价/运算” đẳng giá/tính toán, “非/等价/运算” phi/đẳng giá/tính toán, “异/运

算” khác/tính toán, tất cả những thuật ngữ này đều là những tổ hợp từ

Thành phần có thể sản sinh trong thuật ngữ tốt nhất là có tác dụng tạo từ tương đối lớn, dễ dàng tạo thành hay phái sinh những thuật ngữ mới có liên

Trang 20

18

quan đến nó Ví dụ: những ngữ tố biểu thị khái niệm màu xanh trong tiếng Hán khi đứng trước những ngữ tố khác có thể cấu thành những thuật ngữ như “绿,

青, 黛”( lục, thanh, đại), “绿色”(màu xanh lá), “绿树成荫”(bóng cây rợp mát),

“绿莹莹” (óng ánh xanh), “绿灯” (đèn xanh), “绿化”( lục hóa), “绿茶”(trà xanh), “绿内障”(bệnh glôcôm), “绿卡”(thẻ xanh), “绿油油”(xanh mướt), “绿豆”(đậu xanh) Khi đứng sau những ngữ tố khác nó lại có thể cấu thành những thuật ngữ như “叶绿素”(chất ChlorophyII), “橄榄绿”(xanh cốm), “桃红柳绿” (đào hồng liễu biếc), “青山绿水”(non nước xanh biếc)…Tác dụng tạo từ của

“绿” mạnh hơn nhiều so với “青, 黛” Khi tạo ra những thuật ngữ mới tốt hơn hết là chọn những ngữ tố có khả năng tạo từ cao, chỉ khi nào cần thêm sắc thái

tu từ hay phân biệt đặc trưng mới cần những ngữ tố có sắc thái tu từ nhưng tác dụng tạo từ tương đối thấp

1.1.2 Thuật ngữ chính trị xã hội

1.1.2.1 Tiền đề xã hội của thuật ngữ chính trị xã hội

Trong hệ thống ngôn ngữ thì lớp thuật ngữ là bộ phận đặc sắc nhất, nhạy cảm nhất xét trong quan hệ ngôn ngữ với văn hoá và phát triển, nó được xem như bức tranh phản chiếu, là diện mạo toàn cảnh từ ngữ ghi dấu trạng thái tri thức, trạng thái sáng tạo tiếp biến của một đất nước một dân tộc thời kỳ tiến hoá

đi lên Chính vì vậy sự ra đời, sự hình thành của một hệ thuật ngữ mới cần có những cơ sở tiền đề xã hội nhất định Theo GS TS Lê Quang Thiêm thì nó phải cần có sáu tiền đề:

Trang 21

19

- Một là khái niệm phạm trù khoa học của thuật ngữ phải được biểu hiện trong một hình thức nhất định Hình thức đó phải là chữ viết và là chất liệu ngôn ngữ dân tộc

- Hai là thuật ngữ được tiếp nhận và sáng tạo do chủ thể của dân tộc, đất nước Chủ thể đó là các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội có uy tín của giới trí thức

- Ba là hệ thuật ngữ sáng tạo và tiếp nhận phải có ý thức, có nhu cầu tự thân đòi hỏi của chủ thể hoạt động khoa học và nhu cầu cấp thiết của tiến bộ xã hội

- Bốn là biểu hiện của hệ thuật ngữ ở mức độ này phải có một số lượng nhất định , chất lượng đúng là thuật ngữ và có tính hệ thống

- Năm là thuật ngữ khoa học không chỉ là khoa học kĩ thuật và công nghệ

mà bao gồm cả khoa học xã hội và nhân văn - bộ phận các ngành khoa học rất quan trọng của tri thức loài người

- Sáu là phải có nhận thức lí luận nhất định về đặt thuật ngữ và biểu hiện của hệ thuật ngữ phải đa dạng

Hệ thống thuật ngữ này không chỉ là hệ thống thuật ngữ chính trị thông thường mà chúng là những từ biểu thị các khái niệm có giá trị văn hoá mới (văn hoá của thế giới) nhưng lại được diễn đạt bằng vỏ ngôn ngữ có vẻ quen thuộc với các nhà Nho Ví dụ như: bác ái 博爱, nhân dân 人民, giáo dục 教育, kinh tế 经

济, văn hóa 文化, phát tài 发财, mật thiết 密切, xã hội 社会, quốc gia 国家, mậu dịch 贸易, chính hiệp 政协, khoa học 科学, tự nhiên 自然, kiến trúc 建筑, tài

Trang 22

管理, đại biểu 代表, tuyển cử 选举, quyền lợi 权利, trách nhiệm 责任, quí tộc

贵族, an phận 安分, lí tưởng 理想, thế giới 世界, chính biến 政变, tính tình 性情, phi pháp 非法, công lí 公理, vệ sinh 卫生, lịch sử 历史, địa lí 地理, thiên văn 天

文, sinh vật 生物, vật lí 物理, khoáng sản 矿产, hoá học 化学, công nghệ 工艺, tài sản 财产, hộ khẩu 户口, phổ thông 普通, công bằng 公平, mại quốc 卖国, lạm dụng 滥用, kỹ nghệ 技术, thiết yếu 必要, hợp đồng 合同, cải cách 改革, mục tiêu 目标, chỉnh đốn 整顿, kiên trì 坚持, kiêu ngạo 骄傲, diễn viên 演员,sản phẩm 产品, nông nghiệp 农业, địa chất học 地质学

Trang 23

21

1.1.2.2 Khái niệm thuật ngữ chính trị xã hội

Thuật ngữ chính trị xã hội là những từ ngữ chuyên môn thường được dùng trong các ngành khoa học, chính trị xã hội mà nội dung của chúng là đánh dấu biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm, phạm trù; những sáng chế, phát minh, phát kiến; những tri thức trong các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác nhau về tự nhiên, xã hội, tư duy

1.1.2.3 Đặc trưng nghĩa thuật ngữ chính trị xã hội

Về phương diện ngôn ngữ học, mối quan hệ tương quan giữa thuật ngữ và

hệ thống thuật ngữ được chú ý đến các phạm trù đa nghĩa, đơn nghĩa của các đơn

vị ngôn ngữ Thuật ngữ có thể biểu thị chính xác, tập trung và tiết kiệm tối đa các khái niệm chung và riêng gắn liền với hoạt động khoa học kỹ thuật, chính trị

xã hội của con người Yêu cầu chủ yếu đối với thuật ngữ là nghĩa đơn của nó Thuật ngữ chính trị xã hội biểu thị khái niệm chung về các vấn đề chính trị xã hội, các lĩnh vực trong đời sống của con người hoặc là một chuyên ngành hẹp ở giai đoạn phát triển nhất định của chúng

Thuật ngữ chính trị xã hội có số lượng nhiều vô kể tương ứng với số lượng hoạt động khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội không hạn chế của con người Các thuật ngữ này xuất hiện một cách tự phát trong lòng ngôn ngữ toàn dân, hoặc do hình thức vay mượn từ ngôn ngữ khác, theo quy định và trật tự hệ thống, được thể hiện đặc biệt rõ ràng trong khoa học: thực vật học, động vật học, hóa học hay các vấn đề chính trị xã hội, pháp luật, giáo dục Thuật ngữ chính trị xã hội làm phong phú ngôn ngữ toàn dân

Thuật ngữ chính trị xã hội làm nổi bật các vấn đề chính trị và xã hội của mỗi quốc gia Thực chất nghĩa thuật ngữ là nghĩa phái sinh trên cơ sở ban đầu của từ ngữ thông thường hoặc trên cơ sở một hay một vài nét nghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu hiện của từ Thuật ngữ có thể được ra đời từ sự thay đổi ý nghĩa

Trang 24

22

của từ nhiều nghĩa thông thường (nghĩa biểu niệm) Đó là trường hợp mặt biểu hiện (vỏ ngữ âm) của từ và cái biểu vật giữ nguyên không thay đổi, còn ý nghĩa thì thay đổi Thuật ngữ chính trị xã hội cũng dựa trên nguyên tắc này mà biểu hiện ý nghĩa

Nhìn một cách tổng quát, có thể thấy các thuật ngữ trong tiếng Trung cũng như trong các ngôn ngữ đã phát triển khác hình thành nhờ ba con đường cơ bản: 1) Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường; 2) Cấu tạo những thuật ngữ tương ứng với thuật ngữ nước ngoài bằng phương thức sao phỏng; 3) Mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài (thường là những thuật ngữ có tính quốc tế) Thuật ngữ chính trị

xã hội ở Trung Quốc chủ yếu được hình thành nhờ con đường thứ nhất và con đường thứ ba Trong quá trình phát triển, thuật ngữ chính trị xã hội ở Trung Quốc ngày càng dễ hiểu dễ dùng đối với quảng đại quần chúng Rất nhiều các thuật ngữ thuộc lĩnh vực chính trị xã hội, khoa học xã hội và nhân văn được hình thành từ các từ ngữ đời sống hàng ngày Nói cách khác, quá trình thuật ngữ hóa các từ ngữ thông thường đã làm giảm bớt tính bác học của thuật ngữ, làm cho

chúng có một diện mạo gần gũi với quần chúng hơn Ví dụ: 自由资源 tài nguyên

tự do, 预算 dự toán, 个人所得税 thuế thu nhập cá nhân 市场经济 thị trường

kinh tế, 西部大开发 cuộc khai thác miền Tây lớn, 中国特色 mang đặc sắc

Trung Quốc, “三个代表” thuyết “Ba đại biểu”

Như đã biết bất kì một loại ngôn ngữ nào đều không khép kín hoàn toàn, tiếng Hán cũng không ngoại lệ Quy luật phát triển bên trong của tiếng Hán quyết định sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và các ngôn ngữ khác, tiếng Hán hấp thụ những yếu tố ngôn ngữ mới, bổ sung những điều còn thiếu sót cả về mặt nội dung và hình thức của chính bản thân nó, để từ đó tạo ra diện mạo mới cho

Trang 25

23

tiếng Hán Trong quá trình tiếp xúc với các ngôn ngữ khác, tiếng Hán đã nhận rất

ra nhiều khái niệm và sự vật mà bản thân tiếng Hán vốn chưa có, vì vậy nó sẽ

hấp thụ những khái niệm mới này Ví dụ như: 超市 (market), 热狗 (hot dog), 热

线 ( hot line)… có thể nói nhu cầu tự thân của ngôn ngữ chính là nguyên nhân

bên trong hình thành nên từ ngoại lai

Mặt khác, để có thể hình thành nên lớp từ ngoại lai thì ngoài nguyên nhân bên trong còn có nguyên nhân bên ngoài Những nguyên nhân bên ngoài này thậm chí còn có tác dụng mở đường, mang tính chất quyết định cho việc ra đời

từ ngoại lai Trong quá trình giao tiếp, người bản địa sẽ phải vận dụng tất cả các

từ bản ngữ nhưng nếu trong hệ thống từ bản ngữ còn thiếu hoặc không có những

từ liên quan đến các lĩnh vực mới thì người bản địa buộc phải tiếp thu những yếu

tố ngôn ngữ nước ngoài, sau đó sáng tạo ra từ mới phù hợp, rồi đưa những từ đó vào trong hệ thống từ vựng ngôn ngữ của mình Chính việc giao lưu tiếp xúc lẫn nhau giữa các dân tộc, các nền văn hóa khác nhau là nguyên nhân bên ngoài hình thành nên từ ngoại lai

Hầu hết các từ ngoại lai xuất hiện trong tiếng Hán đều không phải là ngẫu nhiên mà chính là sản phẩm của quá trình thay đổi phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa của Trung Quốc, đồng thời cũng là kết quả của xu hướng quốc tế hóa, bên cạnh đó cũng có mối quan hệ nhất định với tâm lí sử dụng ngôn từ của một

Trang 26

để đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh

Đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII được diễn ra từ ngày 8 đến ngày

14 tháng 11 năm 2012 tại Bắc Kinh Đến tham dự đại hội có sự góp mặt của 2,270 đại biểu chính thức, 145 đại biểu dự khuyết, đại diện cho trên 39,000,000 đại biểu trên cả nước Trong đại hội, ông Hồ Cẩm Đào đã phát biểu khai mạc đại

hội và đứng lên đọc báo cáo bản báo cáo chính trị “Vững vàng tiến theo con đường CNXH đặc sắc Trung Quốc và phấn đấu vì xây dựng toàn diện xã hội khá giả” Trong bài diễn văn khai mạc của Hồ Cẩm Đào, ông đã đề xuất tư tưởng quan trọng là “Đi theo con đường của riêng mình, xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc” Đại hội đã thông qua “Bản đính chính chương trình điều lệ ĐCS

Trung Quốc”, đáp ứng yêu cầu xây dựng toàn diện xã hội khá giả, thực hiện tập trung dân chủ, hệ thống các tổ chức Đảng và quần chúng nhân dân, thực hiện đầy

đủ hơn các quy định kỷ luật Đảng Đại hội đã thông qua “Nghị quyết được nêu

ra trong báo cáo chính trị đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVII” và “Nghị quyết về báo cáo công tác của Ủy ban kiểm tra kỷ luật Trung ương” Qua đó, đại

Trang 27

25

hội đã bầu ra BCH TW mới gồm 205 ủy viên chính thức và 171 ủy viên dự khuyết, lựa chọn ra 172 ủy viên làm Ủy ban cố vấn Trung ương và 90 ủy viên nằm trong Ủy ban kiểm tra kỷ luật Trung ương BCH TW khóa XVIII đã họp và bầu ông Tập Cần Bình là tổng bí thư ĐCS Trung Quốc, quyết định Tập Cần Bình

là chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Phê chuẩn Tập Cận Bình là chủ nhiệm

Ủy ban cố vấn Trung ương và Vương Kỳ Sơn là bí thư thứ nhất Ủy ban kiểm tra

kỷ luật Trung ương

1.2.2 Nội dung và tầm quan trọng của Báo cáo chính trị

“Báo cáo chính trị ĐCS Trung Quốc” được Hồ Cẩm Đào phát biểu trong

đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII diễn ra tại Bắc Kinh năm 2012 Đây là báo cáo tổng kết kết quả đã đạt được sau khi thực hiện 8 nhiệm vụ đã được đề ra trong đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVII diễn ra tại Bắc Kinh năm 2007 và

đề ra nhiệm vụ mới cho “xây dựng toàn diện xã hội khá giả, xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc” trong thời gian tới Báo cáo chính trị tại đại hội là báo cáo

có ý nghĩa quan trọng kể từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XVII ĐCS Trung Quốc,

đánh dấu sự đẩy mạnh giai đoạn xậy dựng xã hội khá giả, trong tiến trình lịch sử

của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa Báo cáo của Hồ Cẩm Đào nêu lên nhiệm vụ chung trong thời kỳ mới của ĐCS Trung Quốc là:

- Giành thắng lợi mới CNXH đặc sắc Trung Quốc, xây dựng toàn diện xã hội khá giả và làm cho công cuộc cải cách mở cửa ngày càng sâu sắc hơn Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN và thúc đẩy chuyển đổi mô thức phát triển kinh tế Vững bước tiến trên con đường phát triển chính trị CNXH đặc sắc Trung Quốc và thúc đẩy cải cách thể chế chính trị Vững vàng thúc đẩy xây dựng cường quốc văn hóa XHCN Tăng cường xây dựng xã hội trong việc cải thiện dân sinh và quản lí sáng tạo Đẩy mạnh xây dựng văn minh môi trường sinh thái Đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng và quân đội

Trang 28

26

- Phong phú thực tiễn “Một nước hai thể chế” và thúc đẩy thống nhất tổ quốc Tiếp tục xúc tiến sự nghiệp cao cả vì hòa bình và phát triển của loài người -Toàn diện nâng cao trình độ khoa học hóa xây dựng của Đảng

Như vậy, các nhiệm vụ được nêu ra trong báo cáo đã cho thấy như toàn diện xây dựng xã hội khá giả và cải cách sâu sắc hơn nữa ở Trung Quốc đầu những năm 2010 đang rất cấp bách Một lần nữa khẳng định nhiệm vụ hàng đầu của Trung Quốc chính là xây dựng toàn diện xã hội khá giả, vững vàng đi theo con đường CNXH đặc sắc Trung Quốc

Báo cáo chính trị không chỉ có ý nghĩa lịch sử như một văn bản báo cáo thông thường vạch ra các nhiệm vụ, công tác mà Đảng và nhân dân Trung Quốc cần phải thực hiện trong thời gian đó, báo cáo còn là một văn bản có ý nghĩa lớn cho việc khảo sát nghiên cứu các thuật ngữ chính trị xã hội Chính vì báo cáo ra đời trong thời kỳ Trung Quốc xây dựng toàn diện XHCN, đi sâu thực hiện cải cách mở cửa cho nên ngôn từ trong báo cáo cũng có tầm ảnh hưởng nhất định đến chính sách ngôn ngữ của Trung Quốc lúc bấy giờ Chính vì thế sự lựa chọn báo cáo chính trị do Hồ Cẩm Đào phát biểu tại đại hội ĐCS Trung Quốc lần thứ XVIII năm 2012 là hoàn toàn chính xác Thông qua khảo sát, hệ thống các thuật ngữ chính trị xã hội ta có thể thấy được đường lối ĐCS Trung Quốc đang hướng tới, và qua đó thấy được chính sách ngôn ngữ Trung Quốc đề ra

Tiểu kết:

Trên đây luận văn đã trình bày một cách ngắn gọn một số vấn đề lí luận về thuật ngữ và thuật ngữ chính trị xã hội Trên cơ sở phân tích quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học chúng tôi rút ra được khái niệm của thuật ngữ:

“Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ, biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng

và được sử dụng trong một lĩnh vực khoa học cụ thể‟‟ sẽ được làm cơ sở cho

công việc khảo sát, miêu tả của tôi Bên cạnh đó, các đặc điểm nhận diện thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với các lớp từ khác trong từ vựng cũng đã được hệ

Trang 29

CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO TỪ NGỮ TRONG BÁO CÁO CHÍNH TRỊ TẠI ĐẠI HỘI ĐCS TRUNG QUỐC LẦN THỨ XVIII NĂM

2012

2.1 Khảo sát từ ngữ trong Báo cáo chính trị

Báo cáo chính trị không chỉ đơn thuần là bản báo cáo về các vấn đề chính trị, báo cáo còn nêu lên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, khoa học kỹ thuật nên trong báo cáo xuất hiện rất nhiều các từ ngữ thuộc các lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở khảo sát bản báo cáo, tôi đưa ra diện mạo của thuật ngữ dưới dạng từ ngữ đơn tiết và đa tiết

Trang 30

lệ lớn trong mỗi một tác phẩm Cho đến ngày nay, trong ngôn ngữ Hán hiện đại,

số lượng từ đơn tiết đã giảm đi đáng kể mà thay vào đó là sự gia tăng số lượng từ

đa tiết (song tiết và đa tiết) Từ đơn tiết biểu thị bằng một chữ ô vuông Ví dụ: 风

gió; 党 Đảng…Đây là những từ được biểu thị bằng một đơn vị văn tự - một chữ

ô vuông Một từ gồm một âm tiết được gọi là từ đơn tiết

Toàn văn báo cáo chính trị đại hội XVIII có 29,071 chữ (tự) thì có đến 4,864 chữ (tự) chiếm 16.7% toàn văn là từ đơn tiết bao gồm cả trợ từ, hư từ, liên

từ, giới từ, danh từ, động từ, tính từ…Trong đó phải kể đến một số từ đơn tiết được xuất hiện nhiều lần trong văn bản như:

BẢNG 2.1: THỐNG KÊ MỘT SỐ TỪ ĐƠN TIẾT

STT Từ Số lần xuất hiện Tỷ lệ số lần xuất hiện so với các từ

đơn tiết trong văn bản (%)

Trang 31

Đặc điểm của liên từ là liên từ trong câu chỉ có tác dụng kết nối, không thể dùng độc lập, không thể đảm nhiệm các thành phần của câu “和” là liên từ thuộc loại chỉ có thể kết nối các từ ngữ, không thể dùng để nối kết các câu, thậm chí không thể nối kết các cụm động từ, cụm động từ, cụm tính từ…“和” thuộc liên

từ ngang hàng, dù đơn vị mà nó nối kết là từ hay câu thì mối quan hệ giữa chúng đều ngang hàng “党和政府”, hai thành phần được nối kết đều không phân chính phụ Ngoài liên từ “和” trong bài còn tồn tại một số liên từ khác như “同, 跟, 与,

而, 并, 以及” đây cũng là những liên từ giống với “和”, chỉ dùng để nối các từ với nhau Một số liên từ khác cũng được dùng trong báo cáo như “但是, 于是” dùng để nối kết các phân câu và đoạn với nhau, có từ xuất hiện ở đầu câu như

“但是”, hay giữa câu như “于是” và có từ ở phía sau như “就, 所以, 而且”

Đặc điểm của trợ từ là một loại từ đặc biệt vừa mang tính đặc biệt vừa mang tính đặc thù lại rất quan trọng Trợ từ đều phụ thuộc vào từ, từ tố hoặc câu, không thể sử dụng độc lập và hầu hết các trợ từ đều phụ thuộc vào các đơn vị

Trang 32

“上, 开” (chỉ sự bắt đầu) xuất hiện 44 lần chiếm 0.9% 2) Trợ từ kết cấu chủ yếu dùng để biểu thị rõ quan hệ kết cấu, chủ yếu gồm các kết cấu như: “的” (chỉ rõ các thành phần phía trước là định ngữ) xuất hiện 515 lần chiếm 10.6%; “地”(chỉ

rõ thành phần phía trước là trạng ngữ) xuất hiện 64 lần chiếm 1.3%; “得” (chỉ rõ thành phần phía sau là bổ ngữ) xuất hiện 35 lần chiếm 0.7%; “所” (chỉ rõ thành phần mang nó tương đương như một danh từ) xuất hiện 14 lần trong báo cáo…3) Trợ từ ngữ khí thường đứng ở cuối câu, dùng để biểu thị các ngữ khí như nghi vấn, suy đoán, thỉnh cầu gồm một số trợ từ cơ bản như: “呢, 了, 的” 4) Một số trợ từ khác biểu thị số lượng, phạm vi như: “等, 来, 把”

Đặc điểm của giới từ: Giới từ chủ yếu kết hợp với danh từ, đại từ và cụm danh từ để tạo thành cụm giới từ, nó bổ nghĩa cho động từ, tính từ hoặc cả câu về các mặt đối tượng, thời gian, nơi chốn, phương thức…Có các loại giới từ như giới từ chỉ thời gian“在, 从, 当, 由, 于, 到”; Giới từ chỉ nơi chốn, phương hướng

“在, 从, 到, 向”; Giới từ chỉ đối tượng “给, 为, 把, 由”; Giới từ chỉ công cụ “用,

Trang 33

từ hoặc đoản ngữ, ví dụ “共同的感觉”…đứng sau định ngữ còn biểu thị mối quan hệ sở hữu giữa từ và từ ngữ trung tâm, ví dụ “党的领导,农民生活的提高” Khi “的”đứng ở cuối câu có thể tạo thành kết cấu chữ “的”, khi đó từ “的” thay thế cho người hoặc vật, ví dụ “艰巨的, 重大的…” Khi “的” làm phó từ nó thường biểu thị mức độ chính xác Tuy nhiên, trong bản báo cáo này, từ “的” chủ yếu đảm nhiệm là một trợ từ, trợ từ nhấn mạnh mức độ mối quan hệ giữa từ và

từ ngữ trung tâm

Ví dụ: “此时此刻,我们有一个共同的感觉: 经过九十年艰苦奋斗, 我们党团结带领全国各族人民, 把贫穷落后的旧中国变成日益走向繁荣富强的新中国,中华民族伟大复兴展现出光明前景。我们对党和人民创造的历史伟业倍加自豪, 对党和人民确立的理想信念倍加坚定, 对党肩负的历史任务

倍加清醒.”“Giờ phút này, chúng ta có một cảm nhận chung: Trải qua chín

Trang 34

32

mươi năm với bao phấn đấu gian khổ, Đảng ta đã dẫn dắt toàn dân đoàn kết, đưa Trung Quốc từ nghèo nàn lạc hậu thành một Trung Quốc ngày càng phồn vinh giàu mạnh, công cuộc phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa đã mở ra viễn cảnh tương lai xán lạn Chúng ta ngày càng từ hào về sự nghiệp do Đảng

và nhân dân sáng tạo, ngày kiên định với lí tưởng của Đảng, ngày càng tỉnh táo hơn với sứ mệnh lịch sử của Đảng.”

Đoạn văn trên có tất cả 119 chữ (tự) thì có 6 chữ “的” Trợ từ “的” không

có nghĩa thực tại nhưng ý nghĩa ngữ pháp của nó là nghĩa sở hữu Ví dụ: 我的梦

想, 我的生活 , “的” thường dùng trong những trường hợp sở hữu Nghĩa của

“的” khi đứng giữa trung tâm từ và định ngữ có tác dụng hạn định tu sức tương đương với “之” trong Hán ngữ cổ đại Khi “的” xuất hiện làm thành kết cấu chữ

“的” nhằm hạn định tu sức cho trung tâm ngữ

Trang 35

Một đoạn văn ngắn đã sử dụng đến 6 liên từ “和”, liên từ liên kết hai bộ phận có quan hệ ngang bằng nhau: “巨大优越性和强大生命力, 自豪感和凝聚力”

Khi “在” là phó từ thì nó mang ý nghĩa giống “正在” ví dụ: “在建造, 在

建设, 在创造” “在” ngoài mang tính chất là giới từ và phó từ, khi “在” đứng

Trang 36

34

sau động từ nó biểu thị khả năng, giống với “得”, và khi nó còn có thể biểu thị một ngữ khí nhất định trong câu

2.1.1.4 “向 ”

Từ “向” được sử dụng nhiều thứ sáu với 78 lần xuất hiện chiếm 1.5% tổng

số lần xuất hiện các từ đơn tiết trong văn bản báo cáo

“在这里,我代表中共中央,向全国各族人民,向各民主党派、各人民团体和各界爱国人士,向香港特别行政区同胞、澳门行政区同胞和台湾同胞以及广大侨胞,向一切关心和支持中国现代化建设的各国朋友,表

示衷心的感谢!” “ Vào giờ phút này, tôi đại diện trung ương ĐCS Trung Quốc, bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với các nhân dân toàn quốc, với các đảng phái dân chủ, các đoàn thể và các nhân sĩ yêu nước, đồng bào đặc khu Hồng Kông, đặc khu Ma Cao, Đài Loan cũng như các đông đảo kiều bào, tất cả bạn bè các nước quan tâm và ủng hộ công cuộc xây dựng hiện đại hóa đất nước Trung Quốc”

Như vậy trong giới hạn khảo sát báo cáo chính trị tại đại hội XVIII cho thấy, những từ đơn tiết xuất hiện chiếm số lượng không nhiều, chủ yếu các từ đơn tiết thuộc thành phần phụ có tác dụng tu sức cho câu Tuy chúng là những thành phần phụ nhưng lại có vai trò rất quan trọng không thể thiếu trong mỗi câu tiếng Hán, các thành phần phụ gia này mang lại cho tiếng Hán những sắc thái khác nhau, làm phong phú ngôn từ cùng ý nghĩa của mỗi câu tiếng Hán

2.1.2 Khảo sát một số thuật ngữ đa tiết

Trước kia, trong Hán ngữ cổ đại, từ đơn tiết là chủ yếu Cùng với sự phát triển của xã hội, do nhiều nhu cầu khác nhau mà từ đa tiết được sản sinh, bổ

Trang 37

35

khuyết cho sự thiếu hụt từ đơn tiết trong giao tiếp Ngày nay, từ đa tiết xuất hiện nhiều trong giao tiếp hàng ngày cũng như các văn bản, chính sách mang tính trọng đại Có thể định nghĩa từ đa tiết là từ gồm hai âm tiết trở lên, ở đây ta có thể gọi là từ song tiết và từ đa tiết

2.1.2.1 Cấu trúc thuật ngữ đa tiết

Từ đa tiết được phân thành hai loại: từ song tiết và từ ba âm tiết trở lên

(1) Từ song tiết: Là những từ gồm hai âm tiết, có các loại như: Từ ghép chính phụ, đẳng lập, trùng điệp và láy…

Từ ghép chính phụ: Từ có 2 tiếng trở lên trong đó tiếng phụ bổ xung nghĩa cho

tiếng chính,không thể tách thành từ đơn được Chúng được tạo thành do phương thức ghép hai từ đơn thành một chỉnh thể, hoặc ghép kết hợp hai từ đơn theo quan hệ chính phụ, nghĩa của một thành tố trở thành nghĩa của từ ghép Ví dụ: 美

味 mỹ vị, 好书 hảo thư…

Từ ghép đẳng lập: Ghép hai từ đơn có ý nghĩa giống nhau hoặc tương tự nhau,

hoặc ghép hai từ trái nghĩa với nhau tạo thành nghĩa chung bao hàm ý nghĩa của

hai thành tố Ví dụ: 国家 Quốc gia, 政府 Chính phủ, 法律 Pháp luật, 天下 Thiên hạ…

Từ ghép trùng lặp: Ghép hai từ đơn có kết cấu ngữ âm và ý nghĩa nội hàm hoàn

toàn giống nhau Sau khi ghép thành một chỉnh thể, trở thành một từ ghép song

âm (được ghi lại bằng hai chữ ô vuông giống nhau về cả ba mặt: hình thể, âm đọc và ý nghĩa) Thường được dùng để chỉ toàn thể, toàn bộ, khắp lượt, liên tục

lặp đi lặp lại Ví dụ: 人人 Nhân nhân, 家家 Gia gia…

Trang 38

36

Từ láy: Ghép hai tự lại với nhau thành một chỉnh thể không thể tách rời, cùng

biểu thị một ý nghĩa Trong tiếng Hán, mỗi tự - âm tiết ở dạng đầy đủ gồm ba thành phần: thanh mẫu (phụ âm đầu); vận mẫu (vần) và thanh điệu

(2) Từ đa tiết: Là những từ có hai âm tiết trở lên, ví dụ: 共产党 Đảng cộng sản, 工农兵 Công nông binh, 摩托车 Ma thác xa…

2.1.2.2 Ngữ nghĩa của thuật ngữ đa tiết

Trong quá trình khảo sát và phân loại từ đơn tiết và đa tiết trong báo cáo, tôi nhận thấy rằng, số lượng từ đa tiết chiếm tỷ lệ lớn, tổng số từ đa tiết (gồm cả song tiết và đa tiết), cụm từ (đoản ngữ, thành ngữ và quán ngữ) có trong báo cáo

là khoảng 621 từ Có thể thấy rõ trong bảng thống kê dưới đây:

BẢNG 2.2: PHÂN LOẠI THUẬT NGỮ TỪ ĐA TIẾT

Stt Nội dung khảo sát

Phân loại

Đa tiết

Tổng số từ Song tiết Đa tiết

(1) Khảo sát từ song tiết

Từ song tiết chiếm phần lớn trong vốn từ vựng tiếng Hán Mọi sự vật nói chung cũng như ngôn ngữ nói riêng đều đi từ quá trình đơn giản đến phức tạp, sự phát triển của Hán ngữ cũng tuân theo quy luật này Sự phát triển của ngôn ngữ

Trang 39

37

đi liền với sự phát triển của xã hội Khi xã hội Trung Quốc có những biến động mạnh, sự tiếp xúc văn hóa giữa Trung Hoa và các nước trên thế giới ngày càng mạnh mẽ thì ngày càng nhiều các sự vật hiện tượng mới xuất hiện, nhu cầu về giao tiếp nâng cao Do đó tiếng Hán nhằm để phục vụ cho nhu cầu giao tiếp cũng phải chịu những sự biến đổi lớn, các từ song tiết xuất hiện ngày càng nhiều, vấn

đề song tiết hóa, đa tiết hóa được đề cập rộng rãi Và trong khuôn khổ một bản báo cáo chính trị, các từ song tiết xuất hiện với số lượng lớn đồng thời được tác giả dùng lặp đi lặp lại nhiều lần, đó chính là dụng ý thể hiện ý nghĩa của bản Báo cáo mà tác giả đưa ra Bộ phận này là: 191 từ chiếm 30,7% tổng số từ đa tiết có trong báo cáo

- Lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật: 改革 cải cách, 发展 phát triển, 经济 kinh

tế, 经营 kinh doanh, 国民 quốc dân, 企业 xí nghiệp, 生产 sản xuất…

Đây là những từ ngữ được sử dụng nhiều trong các vấn đề kinh tế: 改革 cải cách

ở đây chỉ cải cách về mặt kinh tế, trong báo cáo của Hồ Cầm Đào có đề cập đến

vấn đề cải tổ kinh tế Trung Quốc Ông cho rằng: “Công cuộc xây dựng toàn diện

xã hội khá giả đến năm 2020 là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu” nên cần phải cải

cách Nếu thực hiện được các mục tiêu kinh tế thì thực lực kinh tế, thực lực quốc phòng của Trung Quốc sẽ được tăng lên rất nhiều “党的基本路线是党和国家的生命线, 必须坚持把以经济建设为中心同四项基本原则、改革开放这两个基本点统一于中国特色社会主义伟大实践, 既不妄自菲薄, 也不妄自尊大,

扎扎实实夺取中国特色社会主义新胜利” “Đường lối cơ bản của đảng là mạch sống của đảng và nhà nước, phải luôn kiên trì lấy“xây dựng kinh tế” cùng

“bốn nguyên tắc cơ bản” làm trọng tâm, cải cách mở cửa 2 điểm cơ bản này

Trang 40

38

hoàn toàn đúng với thực tiễn của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, tức là không hạ thấp tự ti và cũng không tự cao tự đại, dần dần từng bước giành được thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc.”

- Lĩnh vực chính sách, pháp luật chính trị: 报告 báo cáo, 战略 chiến lược, 战线 chiến tuyến, 政治 chính trị, 改革 cải cách, 体制 thể chế, 民主 dân chủ, 军队

quân đội, 法制 pháp chế…

Trong phần nói về thúc đẩy cải cách thể chế chính trị và kiên trì đi theo con đường phát triển CNXH đặc sắc Trung Quốc, báo cáo của Hồ Cầm Đào nói phải tiếp tục hoàn thiện thể chế chính trị và thể chế lãnh đạo nhà nước Chế độ

nhà nước hiện nay của Trung Quốc là “chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân”

改革 cải cách ở đây chính là cải cách chính trị, cải cách bộ máy nhà nước, cải cách đảng, dân chủ, “công cuộc xây dựng chính trị dân chủ XHCN giành được thành tích rõ rệt”, “必须继续积极稳妥推进政治体制改革, 发展更加广泛、更

加充分、更加健全的人民民主” “Cần phải tiếp tục tích cực đẩy mạnh cải cách

thể chế chính trị, phát triển sâu rộng hơn, kiện toàn hơn dân chủ nhân dân”

- Lĩnh vực đời sống văn hóa, xã hội giáo dục: 社会 xã hội, 团结 đoàn kết, 理论

lí luận, 群众 quần chúng, 实力 thực lực, 教育 giáo dục…

Một trong những yêu cầu cấp bách để một đất nước đi lên trên con đường phát triển, đó là vấn đề dân sinh xã hội và cũng đã được Hồ Cầm Đào nhấn mạnh

trong Báo cáo Trung Quốc cần mau chóng thực hiện: “Tăng cường xây dựng xã hội, cân phải lấy đảm bảo và cải thiện dân sinh làm trọng điểm, giải quyết tốt những vấn đề lợi ích trực tiếp nhất thực tế nhất mà được người dân quan tâm

Ngày đăng: 11/05/2016, 19:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG 2.1: THỐNG KÊ MỘT SỐ TỪ ĐƠN TIẾT - Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng cộng sản trung quốc lần thứ XVIII năm 2012
BẢNG 2.1 THỐNG KÊ MỘT SỐ TỪ ĐƠN TIẾT (Trang 30)
BẢNG 2.2: PHÂN LOẠI THUẬT NGỮ TỪ ĐA TIẾT - Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng cộng sản trung quốc lần thứ XVIII năm 2012
BẢNG 2.2 PHÂN LOẠI THUẬT NGỮ TỪ ĐA TIẾT (Trang 38)
BẢNG 2.3:  QUÁN NGỮ - Khảo sát thuật ngữ chính trị xã hội trong báo cáo chính trị tại đại hội đảng cộng sản trung quốc lần thứ XVIII năm 2012
BẢNG 2.3 QUÁN NGỮ (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w