1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường hoa kỳ theo hướng phát triển bền vững

144 139 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 616 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động xuất khẩuhàng dệt may Việt Nam sang thị truờng Hoa Kỳ được bắt đầu từcuối năm 2000, song kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Namsang thị trường này thực sự vận hành theo cơ c

Trang 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.

1.1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, tất cả các lĩnh vực kinh tếđều đứng trước cuộc cạnh tranh khốc liệt Ngành dệt may cũngkhông nằm ngoài quy luật chung đó Ngành dệt may luôn là mộttrong những ngành đi đầu, có vai trò quan trọng trong chiến lượcxuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra thị trường thế giới Với tốc độtăng trưởng xuất khẩu khá cao, ngành dệt may đã có những đónggóp không nhỏ vào tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa nói riêng vàtăng trưởng kinh tế nói chung ở Việt Nam

Những thành tựu này là nhờ doanh nghiệp đã chủ động tìm kiếm,gây dựng và củng cố quan hệ bạn hàng với nhiều nhà nhập khẩu lớntrên thế giới, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn lao động dồi dào,khéo tay, có chi phí thấp Triển vọng của ngành dệt may đang sángdần, nhất là khi nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu khởi sắc saucuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

Song, để hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thịtrường Hoa Kỳ thực sự mang tính bền vững, vừa đảm bảo được lợiích kinh tế vừa đảm bảo được lợi ích về xã hội và lợi ích về môitrường là thách thức không nhỏ đối với một ngành mà nguồn

Trang 2

nguyên liệu chủ yếu để sản xuất sản phẩm dệt may là nhập khẩu vànguồn phụ liệu, công nghiệp phụ trợ cho ngành dệt may còn thiếu,yếu và manh mún Đây là một vấn đề cấp thiết mà ngành dệt maycần phải xác định các giải pháp để phát triển bền vững hoạt độngxuất khẩu của mình

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài:

Mặc dù, hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam diễn ra đượchơn 10 năm song nó thực sự trở thành tốp 8 nước có quy mô xuấtkhẩu lớn nhất thế giới là do 4 năm trở lại đây Hoạt động xuất khẩuhàng dệt may Việt Nam sang thị truờng Hoa Kỳ được bắt đầu từcuối năm 2000, song kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Namsang thị trường này thực sự vận hành theo cơ chế thị trường từ năm

2007 sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO.Khái niệm về phát triển bền vững cũng là một khái niệm khá mới

mẻ đối với Việt Nam nói chung và đối với hoạt động xuất khẩuhàng dệt may Việt Nam nói riêng Trong những năm qua, chúng tamặc dù có đề cập đến yếu tố phát triển bền vững nhưng thực tế hoạtđộng vẫn coi trọng yếu tố tăng trưởng hơn là yếu tố phát triển bềnvững

Hoa Kỳ, được đánh giá là một thị trường nhập khẩu hàng dệt maylớn, nhiều tiềm năng nhưng cũng rất nhiều thách thức, bởi các quyđịnh ngặt nghèo từ phía Hoa Kỳ đối với hàng hoá nhập khẩu vàoHoa Kỳ

Trang 3

Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu các giải pháp để đẩy mạnhhoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa

Kỳ, song đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiền cứu đẩymạnh hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trườngHoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững

1.3 Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài:

Trên thực tế hiện nay hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệtmay Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ rất ít chú trọng đến yếu tốphát triển xuất khẩu theo hướng bền vững Các doanh nghiệp vìmục tiêu tồn tại của mình, để đảm bảo duy trì hoạt động, thu hồivốn trong điều kiện kinh tế tài chính còn nhiều khó khăn như hiệnnay luôn đặt mục tiêu tăng trưởng làm yếu tố hàng đầu Với một thịtrường Hoa Kỳ đầy tiềm năng, các doanh nghiệp luôn tìm hướng đicho doanh nghiệp mình ở thị trường này là làm thế nào để có thểxuất khẩu ngày càng nhiều, mang về nhiều lợi ích cho doanhnghiệp

Song một thực trạng nổi cộm đối với toàn bộ bức tranh kinh tế xãhội Việt Nam hiện nay là sự mất cân bằng trong cơ cấu kinh tế, sựphân hoá giàu nghèo trong đời sống xã hội, nguồn tài nguyên thiênnhiên ngày càng cạn kiệt, môi trường đất, nước, không khí ngàycàng ô nhiễm trầm trọng Trước thực trạng nêu trên, tôi quyết địnhlựa chọn đề tài” Phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sangthị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững” để làm đề tàinghiên cứu của mình

Trang 4

1.4 Mục đích nghiên cứu:

Phân tích những thực trạng về xuất khẩu hàng dệt may Việt Namsang thị trường Hoa Kỳ trong các năm qua, yếu tố tác động để pháttriển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳtheo hướng phát triển bền vững.Từ đó đưa ra các giải pháp để pháttriển xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam của Hoa Kỳ theo hướngphát triển bền vững

1.5 Phạm vi nghiên cứu:

Do thời gian nghiên cứu có hạn và điều kiện nghiên cứu của mộtcao học viên nên các số liệu được sử dụng để phân tích thực trạng từnăm 2009 trở lại đây và đề xuất giải pháp đến năm 2015 để giúpHiệp hội dệt may Việt Nam nói riêng và ngành dệt may Việt Namnói chung trong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sangthị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững

1.6 Kết cấu luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và tài liệu tham khảo, luậnvăn có kết cấu gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu phát triển xuất khẩu hàng Dệt

may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển xuất khẩu

theo hướng phát triển bền vững.

Trang 5

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và phân tích thực trạng phát

triển xuất khẩu hàng Dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững.

Chương 4: Đề xuất giải pháp để phát triển xuất khẩu hàng Dệt

may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ theo hướng phát triển bền vững.

Trang 6

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2.1 Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu:

2.1.1 Khái niệm xuất khẩu:

Xuất khẩu được hiểu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụđược sản xuất trong nước cho khách hàng nước ngoài trên cơ sởdùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, tiền tệ ở đây phải là ngoại

tệ đối với một bên hoặc đối với cả hai bên

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong một lĩnh vực, mọi điều kiện nềnkinh tế xã hội từ hàng tiêu dùng cho đến hàng sản xuất công nghiệp,

từ máy móc thiết bị cho tới các công nghệ kỹ thuật cao Tất cả cáchoạt động trao đổi đó nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốcgia vào trao đổi

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rất rộng cả về phạm vikhông gian lẫn điều kiện thời gian Nó có thể diễn ra trong một ngàyhay cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể tiến hành trên phạm vilãnh thổ của một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau

2.1.2 Tính tất yếu, vai trò của xuất khẩu:

2.1.2.1 Tính tất yếu của việc mở rộng hoạt động xuất khẩu:

Hoạt động xuất khẩu là một yếu tố quan trọng để mỗi quốc gia pháttriển trình độ quản lý cũng như tiếp thu những khoa học cộng nghệ

Trang 7

kỹ thuật mà nhân loại phát minh ra chúng Do những điều kiện kinh

tế khác nhau mỗi quốc gia có thế mạnh về một lĩnh vực này nhưnglại yếu về lĩnh vực khác Để có thể dung hoà được nguy cơ và lợithế sử dụng tối đa các cơ hội sẵn có nhằm tạo ra sự cân bằng trongqúa trình sản xuất và tiêu dùng giữa các quốc gia, điều này chỉ cóthể giải quyết được nhờ các hoạt động trao đổi quốc tế Nhận thứcđược điều đó đảng và nhà nước ta đã có những hướng đi mới trongđường lối chính sách của mình Từ tư tưởng tự cung, tự cấp đến naychúng ta tạo mọi điều kiện để mở rộng giao lưu kinh tế với bênngoài, mở cửa để thu hút mọi nguồn đầu tư

2.1.2.2 Vai trò của xuất khẩu:

Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế, nókhông phải là những hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệthống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cảbên trong và bên ngoài nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hoáphát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bước nângcao mức sống của nhân dân Vì vậy, xuất khẩu đóng vai trò đặc biệtquan trọng đối với các doanh nghiệp cũng như phát triển kinh tế củamỗi quốc gia

Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia

Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đốivới các quốc gia, các lý thuyết về tăng trưởng và phát triển kinh tếchỉ ra rằng để tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia cần

có bốn điều kiện là : Nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật

Trang 8

công nghệ Hầu hết các quốc gia đang phát triên như Việt Nam đềuthiếu vốn và kỹ thuật, để có vốn và kỹ thuật thì con đường ngắnnhất là phải thông qua thương mại quốc tế.

Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoáhiện đại hoá đất nước

Công nghiệp hoá với bước đi phù hợp là con đường tất yếu để khắcphục tình trạng nghèo nàn lạc hậu nhưng công nghiệp hoá đòi hỏiphải có lượng vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị kỹ thuật côngnghệ tiên tiến

Nguồn vốn nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau :Đầu tư nước ngoài, vay nợ, các nguồn viện trợ, thu từ các hoạt động

du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ trong nước

Các nguồn như đầu tư nước ngoài, viện trợ hay vay nợ … có tầmquan trọng không thể phủ nhận được, song việc huy động chúngkhông phải dễ dàng, hơn nữa đi vay thường chịu thiệt thòi và phảitrả về sau này

Do vậy, xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất, xuất khẩu tạo tiền

đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô tăng trưởng của nền kinhtế

Xuất khẩu thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và pháttriển sản xuất

Dưới tác động của xuất khẩu cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thếgiới đã và đang thay đổi mạnh mẽ xuất khẩu làm chuyển dịch cơ

Trang 9

cấu kinh tế của mỗi quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp vàdịch vụ.

Có hai cách nhìn nhận về tác dụng của xuất khẩu đối với sản xuất vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế

Một là : Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùngnội địa Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm pháttriển, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờvào sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm

vi nhỏ và tăng trưởng chậm

Hai là : Có thị trường thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất vàxuất khẩu, quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấukinh tế, thúc đẩy sản xuất, thể hiện ở các điểm sau

 Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cùng cơ hội pháttriển chẳng hạn như khi phát triển sản xuất ngành may mặc thì kèmtheo phát triển ngành dệt và ngành nhuộm và ngành công nghiệpphụ trợ cho may mặc…

 Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm gópphần ổn định sản xuất, tạo lợi thế kinh doanh nhờ quy mô

 Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào

mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia Vì ngoại thương chophép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớnhơn nhiều giới hạn sản xuất của quốc gia đó

Trang 10

 Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩu chuyên môn hoá, tăngcường hiệu quả sản xuất của từng quốc gia, khoa học càng phát triểnthì sự phân công lao động càng sâu sắc.

Với đặc điểm quan trọng là tiền tệ được sử dụng làm phương tiệnthanh toán, xuất khẩu góp phần quan trọng làm tăng dự trữ ngoại tệquốc gia Đặc biệt đối với những nước đang phát triển, đồng tiềnkhông có khả năng chuyển đổi thì ngoại tệ thu được nhờ xuất khẩuđóng vai trò quan trọng trong việc điều hành về cung cầu ngoại tệ

ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triểnkinh tế, thực tế đã chứng minh rằng những nước có tốc độ phát triểnkinh tế cao là những nước có nền ngoại thương phát triển mạnh vànăng động

Xuất khẩu tác động tích cực tới giải quyết công ăn việc làm cảithiện đời sống nhân dân

Xuất khẩu là công cụ giải quyết nạn thất nghiệp trong nước theoINTERNATIONAL TRADE 1986 – 1990 ở mỹ và các nước côngnghiệp phát triển, xuất khẩu tăng lên được 1 tỷ USD thì sẽ tạo nênkhoảng 35.000 – 40.000 chỗ làm trong nước, còn ở các nước đangphát triển như Việt Nam có thể tạo ra hơn 50.000 chỗ làm

Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mốiquan hệ kinh tế đối ngoại

Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động chủ yếu cơ bản và là hìnhthức ban đầu của kinh tế đối ngoại, Từ đó nó thúc đẩy các mối quan

hệ khác phát triển như du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế … ngược

Trang 11

lại sự phát triển của các ngành này sẽ góp phần thúc đẩy hoạt độngxuất khẩu phát triển.

Đối với doanh nghiệp

Vươn ra thị trường nước ngoài là xu hướng chung của các quốc gia

và các doanh nghiệp Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương pháttriển kinh tế đối ngoại theo hướng “đa dạng hoá thị trường ngoàinước, khai thác có hiệu quả các thị trường có hiệp định mậu dịch tự

do, thị trường tiềm năng, tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu,phấn đấu cân bằng xuất nhập khẩu Chủ động tham gia vào mạngphân phối toàn cầu, phát triển hệ thống phân phối các sản phẩm cólợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu

cho hàng hoá Việt Nam ( Văn kiện đại hội đảng XI) Hoạt động xuất

khẩu có vai trò to lớn trong hoạt động ở các doanh nghiệp, thể hiệntrên các điều sau:

 Hoạt động xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp phát triển là vấn

đề sống còn đối với doanh nghiệp ngoại thương Mở rộng thịtrường, đẩy mạnh số lượng hàng hoá tiêu thụ trên thị trường quốc tếlàm tăng tốc độ quay vòng vốn, có cơ hội mở rộng quan hệ buônbán kinh doanh với nhiều đối tác nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng

có lợi

 Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nướctham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả vàchất lượng, buộc doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuấtphù hợp với thị trường, từ đó đề ra các giải pháp nhằm củng cố và

Trang 12

nâng cao hiệu quả trong công tác quản trị kinh doanh, đồng thời cóngoại tệ để đầu tư cho quá trình sản xuất cả về chiều rọng lẫn chiềusâu

 Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đượcnhiều lao động, tạo ra thu nhập ổn định, tạo ngoại tệ nhập khẩu vậtphẩm tiêu dùng, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân đồng thời thuđược ngoại tệ

 Mặt khác thị trường quốc tế là một thị trường rộng lớn, nóchứa đựng nhiều cơ hội cũng như rủi ro, những doanh nghiệp kinhdoanh trên thị trường nếu thành công có thể tăng cao thế lực, uy tíncủa doanh nghiệp mình trong cả nước và nước ngoài, thành côngdoanh nghiệp lại có nhiều cơ hội để tái đầu tư phát triển sản xuất.Qua các hợp đồng làm ăn kinh tế, các mối quan hệ của doanhnghiệp ngày càng được mở rộng, thế lực và uy tín của doanh nghiệpkhông ngừng được nâng cao

 Việt nam là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nghèonàn, lạc hậu Nhưng nhân tố thuộc về tiềm năng như tài nguyênthiên nhiên, lao động … dồi dào ngược lại những nhân tố như vốn,

kỹ thuật, trình độ quản lý lại thiếu Vì vậy chiến lược “ Hướng vàoxuất khẩu” về thực chất là giải pháp “Mở cửa” nền kinh tế để tranhthủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài kết hợp với tiềm năng trongnước là lao động và tài nguyên thiên nhiên nhằm mục đích đưa nềnkinh tế Việt Nam tăng trưởng và phát triển tiến kịp các nước pháttriển trong khu vực và thế giới Xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ,

Trang 13

còn nhằm mục đích nhập khẩu những thiết bị hiện đại, chuyển giaocông nghệ tiên tiến để thực hiện ba chương trình kinh tế lớn và dầndần cải thiện đời sống vật chất nhân dân.

2.1.3 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu

Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động rất phức tạp và chịu nhiều rủi

ro, đặc biệt có rất nhiều hình thức xuất khẩu, mỗi công ty cần lựachọn cho mình hình thức xuất khẩu phù hợp với hàng hoá, tiềm lựccủa doanh nghiệp mình để đảm bảo điều kiện của hợp đồng, hai bêncùng có lợi

2.1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu hàng hoá dịch vụ dochính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuấttới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình

Ưu điểm của xuất khẩu trực tiếp

 Giảm bớt chi phí trung gian, làm tăng giá trị gia tăng trên mộtđơn vị sản phẩm xuất khẩu, góp phần tăng lợi nhuận cho doanhnghiệp

 Có thể liên hệ trực tiếp với thị trường và khách hàng nướcngoài biết được nhu cầu của khách hàng và tình hình bán hàng nếu

có thể thay đổi sản phẩm và những điều kiện bán hàng trong trườnghợp cần thiết để đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường

Nhược điểm của xuất khẩu trực tiếp

 Rủi ro trong kinh doanh cao

Trang 14

 Yêu cầu nghiệp vụ của cán bộ trong lĩnh vực kinh doanh xuấtnhập khẩu cao.

2.1.3.2 Xuất khẩu gia công uỷ thác

Xuất khẩu gia công uỷ thác là hình thức kinh doanh trong đó đơn vịngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩmcho xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bênnước ngoài, đơn vị được hưởng phí uỷ thác theo thoả thuận với các

xí nghiệp uỷ thác

Ưu điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác

 Doanh nghiệp không cần bỏ vốn lớn vào kinh doanh nhưngvẫn thu được lợi nhuận

 Rủi ro ít hơn và việc thanh toán chắc chắn hơn

 Học tập được những kinh nghiệm quản lý của người nướcngoài

 Nhập được những thiết bị công nghệ cao, tạo vốn để xây dựng

cơ sở vật chất ban đầu

Nhược điểm của xuất khẩu gia công uỷ thác

 Giá gia công rẻ mạt và bị chi phối từ phía nước ngoài

 Không được tiếp xúc trực tiếp với thị trường để điều chỉnh sảnxuất kinh doanh cho phù hợp

2.1.3.3 Phương thức mua bán đối lưu

Là phương thức trong đó người mua đồng thời là người bán vàngười bán đồng thời là người mua, hai bên trao đổi nhau với tổng tỷ

Trang 15

giá hàng tương đương nhau, việc giao hàng diễn ra đồng thời, mụcđích của trao đổi buôn bán là để sử dụng ( không phải để bán).

Phương thức mua bán đối lưu góp phần vào thúc đẩy mua bán chocác trường hợp mà những phương thức mua bán khác không thểvượt qua được, ví dụ khi bị cấm vận, trong trường hợp nhà nướcquản chế ngoại hối, khi thị trường tiền tệ không ổn định, khi không

có tiền

Nguyên tắc của buôn bán đối lưu: Cân bằng về tổng trị giá, cơ cấu

của hàng hoá, điều kiện cơ sở giao hàng

Ưu điểm của phương thức mua bán đối lưu :

 Tránh được sự lừa đảo, rủi ro về mặt giá cả

 Trong những trường hợp đặc biệt có thể có một bên giaotrước, bên kia trả lại sau

Nhược điểm của phương thức mua bán đối lưu:

 Tính chất mềm dẻo, linh hoạt của thị trường không thực hiệnđược

2.1.3.4 Phương thức mua bán tại hội chợ, triển lãm

Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ, được tổ chức vào một thờigian và ở vào một địa điểm cố định trong một thời gian nhất định,tại đó người bán đem trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc vớingười mua để ký kết hợp đồng mua bán

Triển lãm là việc trưng bày giới thiệu những thành tựu của một nềnkinh tế hoặc của một ngành kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật.Liên quan chặt chẽ đến ngoại thương là cuộc triển lãm công thương

Trang 16

nghiệp Tại đó người ta trưng bày các loại hàng hoá nhằm mục đíchquảng cáo để mở rộng khả năng tiêu thụ.

Ngày nay, triển lãm không chỉ là nơi trưng bày giới thiệu hàng hoá

mà còn là nơi được ký kết các hợp đồng kinh tế, mở rộng thị trường,quảng cáo, xúc tiến … tại hội chợ và triển lãm đặc biệt là mặt hàngthủ công mỹ nghệ

2.1.3.5 Giao dịch qua trung gian:

Giao dịch qua trung gian là hình thức giao dịch trong đó bên muahoặc bên bán thông qua người thứ ba đứng ra tiến hành công việcmua bán thay cho mình Những công việc này có thể nghiên cứu thịtrường, đàm phán ký kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng Đây làphương thức giao dịch phổ biến, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạchxuất khẩu của thế giới Thông thường người thứ ba ở đây là ngườimôi giới hoặc đại lý

 Ưu điểm của phương thức giao dịch qua trung gian

Giao dịch qua trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho việc kinhdoanh hơn như mở rộng kênh phân phối, mạng lưới kinh doanh, amhiểu thị trường, đặc biệt người uỷ thác có thể có lợi về cơ sở vậtchất của người trung gian, tiết kiệm được chi phí kinh doanh

 Nhược điểm của phương thức giao dịch qua trung gian

Lợi nhuận bị chia sẻ do phải trả thù lao cho người trung gian thêmvào đó là doanh nghiệp khó kiểm soát được hoạt động của ngườitrung gian, do đó khó kiểm soát được hoạt động của thị trường

2.1.3.6 Giao dịch tái xuất:

Trang 17

Giao dịch tái xuất là phương thức giao dịch trong đó hàng hoá mua

về với mục đích để tái xuất khẩu thu lợi nhuận chứ không phải vớimục đích phục vụ tiêu dùng trong nước Giao dịch này luôn luôn thuhút ba nước, nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu Vìvậy, người ta còn gọi là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác

 Ưu điểm giao dịch tái xuất :

Thúc đẩy buôn bán đặc biệt trong một số trường hợp phương thứcgiao dịch khác không thể vượt qua được, đó là thúc đẩy buôn bángiữa hai nước không có mặt hàng phù hợp với yêu cầu của mình,mua bán theo hình thức tái xuất có thể thu được lãi bằng ngoại tệmạnh, có thể giúp các nước bị cấm vận, vẫn có thể tiến hành buônbán được với nhau

 Nhược điểm giao dịch tái xuất

Phương thức này đòi hỏi sự nhạy bén tình hình thị trường và giá cả,

sự chính xác và chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán

2.2.Khái niệm và tính tất yếu của phát triển.

2.2.1 Khái niệm về phát triển:

Phát triển là sự tăng trưởng về chiều rộng, chiều sâu, hiệu suất vàhiệu quả của hoạt động nào đó Phát triển là một quá trình diễn biếngồm nhiều thành tố khác nhau: Kinh tế, kỹ thuật, xã hội, chính trị,văn hoá và không gian Mỗi thành tố ấy lại là một quá trình tiếnhoá, nhằm biến một xã hội nông nghiệp – “ phụ thuộc” vào thiênnhiên thành một xã hội công nghiệp hiện đại – “ít phụ thuộc” vào

Trang 18

thiên nhiên.(trích Giáo trình: Môi trường và phát triển bền vững – tác giả Nguyễn Đình Hòe).

2.2.2 Tính tất yếu của phát triển:

Ở phần lớn các khu vực trên thế giới, thực tế đã ngày càng chứng tỏphát triển là sự tiến hành đồng thời những cuộc tiến hoá trên 4 bìnhdiện: kinh tế, không gian, xã hội chính trị và văn hoá có nghĩa là:

Phát

triển =

Côngnghiệphoá

+

Thànhthịhoá

+

Quốctếhoá

CÁC NỘI DUNG PHÁT TRIỂN Xuất phát điểm Xu hướng phát triển

Kinh tế Cơ cấu công nghiệp,

kinh tế chủ yếu dựa vàonông nghiệp - người sảnxuất nhiều, người muahạn chế, sản xuấtnguyên liệu và trao đổitiền tệ hoá ít

Cơ cấu công nghiệp – 2/3 sốngười lao động làm việctrong khu vực dịch vụ, ngườisản xuất hạn chế, nhiều ngườimua, trao đổi hoàn toàn tiền

tệ hoá

Trang 19

Không gian Trên 80% dân cư sống

dàn trải trên các vùngtrồng trọt (mô hình nôngthôn)

Đô thị hoá – trên 80% dân cưtập trung trong những khônggian địa lý hạn chế (mô hình

hệ thống đô thị)

Xã hội chính

trị

Tổ chức cộng đồng đơngiản, quy mô nhỏ (làng)

Quốc tế hoá - tổ chức cộngđồng phức tạp, quy mô lớn,thể chế phong phú (dântộc/thế giới)

Văn hóa Gia đình, cộng đồng,

dân tộc có vai trò nổi bậttrong các mối quan hệ

xã hội (văn hoá, truyềnthống)

Phương tây hoá, chủ nghĩa cánhân, quan hệ xã hội đượcthực hiện chủ yếu thông quamôi giới của đồng tiền (môhình văn hoá thành thị quốctế)

Biểu 01: Các nội dung phát triển

Có thể nói phát triển là quy luật chung của mọi thời đại, của mọiquốc gia Phát triển là mục tiêu trung tâm của chính phủ, phát triển

là trách nhiệm chính trị của các Quốc gia

2.3 Lý luận và ứng dụng của phát triển bền vững:

2.3.1.Quan điểm phát triển bền vững trên thế giới:

Trong hơn ba thập kỷ qua, nhiều giáo trình, tài liệu và các thoả ướcquốc tế đã đề cập đến chủ đề phát triển bền vững Mặc dù đây làmột thuật ngữ vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng ý nghĩa của

Trang 20

nó về cơ bản đã đạt được sự đồng thuận cao và đã luôn được quantâm, phát triển và hoàn thiện

Với việc đưa ra quan điểm biện chứng về mối quan hệ giữa conngười và giới tự nhiên, học thuyết Mác đã là một trong những họcthuyết đầu tiên đề cập đến triết lý phát triển bền vững

Trong những thập kỷ 1960 và 1970, các vấn đề môi trường đã đượcnhiều nước nhận thức Những người theo chủ nghĩa Malthus mới(neo-Malthusian) đã tiên đoán về sự bùng nổ dân số ở các nướcđang phát triển và sự mở rộng quy mô công nghiệp có thể làm choTrái đất trở thành hành tinh không thể sinh sống được

Trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Thế giới

về Môi trường và phát triển (WCED) năm 1997 cũng đã đưa ra kháiniệm về phát triển bền vững, theo đó, thừa nhận mối liên kết chặt

chẽ giữa môi trường và phát triển Theo WCED, "phát triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của họ"

Nhiều người cho rằng khái niệm về phát triển bền vững của WCEDkhó lượng hoá và khó có những quy chế rõ ràng, cụ thể cho chínhranh giới giữa phát triển bền vững và phát triển không bền vững.Tuy vậy, khái niệm này đã góp phần làm giàu thêm tư liệu về pháttriển bền vững; đây là khái niệm về phát triển bền vững rõ ràng nhất

và được sử dụng rộng rãi nhất Khái niệm này đã đưa ra khuôn khổ

Trang 21

để lồng ghép giữa các chính sách môi trường và các chiến lược pháttriển với tầm nhìn dài hạn.

Đến Hội nghị Liên Hợp quốc về Môi trường và Phát triển (năm

1992 tại Rio De Janeiro, Braxin), khái niệm về phát triển bền vững

đã được chấp thuận một cách rộng rãi Tại Hội nghị Thượng đỉnhTrái đất lần này, các nước đã thông qua Chương trình Nghị sự 21,một chương trình hành động toàn cầu nhằm giải quyết các vấn đềmôi trường và phát triển Đến đây, nhiều người lập luận rằng cuộctranh luận về môi trường và phát triển đã được hội tụ và đưa ra nhậnđịnh: để đạt được sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường phải làmột phần không thể tách rời của quá trình phát triển và không thểtách biệt khỏi quá trình đó

Uỷ ban Phát triển bền vững của Liên Hợp quốc (CDS) đã bổ sungmột khía cạnh thứ tư của phát triển bền vững, đó là thể chế Bốnkhía cạnh này hiện nay là khuôn khổ báo cáo về thực hiện Chươngtrình nghị sự 21 Thể chế của phát triển bền vững chính là yếu tốchủ quan của con người chi phối cả ba lĩnh vực kinh tế, xã hội, môitrường Phát triển bền vững không thể thực hiện được nếu không cóthể chế ổn định, phù hợp để thúc đẩy sự phát triển hài hoà trên cả bamặt kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 22

Biểu 02: Quan điểm về phát triển bền vững

Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững

đã được tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi Lần đầu tiên phát triểnbền vững đã trở thành chủ đề của một diễn đàn quan trọng nhất củathế giới Trong xu thế toàn cầu hoá, tại Hội nghị này, quan điểm vềphát triển bền vững được chú trọng với nội dung cụ thể là thu hẹpkhoảng cách giữa các nước giàu và các nước nghèo, xoá bỏ nghèođói, nhưng không làm ảnh hưởng đến môi sinh Hội nghị đã thôngqua hai văn kiện quan trọng: Tuyên bố chính trị Johannesburg và Kếhoạch thực hiện Hai văn kiện này khẳng định sự cấp thiết phải thựchiện phát triển kinh tế trong tương quan chặt chẽ với bảo vệ môitrường và bảo đảm công bằng xã hội ở tất cả các quốc gia, các khuvực và trên phạm vi toàn cầu

Như vậy, các khái niệm về phát triển bền vững đã thay đổi từ nghĩahẹp liên quan chủ yếu đến vấn đề môi trường sang nghĩa rộng liênquan đến sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường Cáckhái niệm đều có ba đặc điểm chung: (i) điều kiện con người mongmuốn: duy trì một xã hội đáp ứng các nhu cầu chung của họ; (ii)

Trang 23

điều kiện hệ sinh thái bền vững: hệ sinh thái duy trì khả năng hỗ trợ

sự sống của con người và bản thân hệ sinh thái; (iii) tính bình đẳng:

sự chia sẻ công bằng các lợi ích và các gánh nặng - giữa các thế hệhiện tại và thế hệ tương lai và trong bản thân thế hệ hiện tại Mặc

dù, chưa có một khái niệm "chuẩn xác", nhưng các học giả đã cảnhbáo về sự không lường trước được những khiếm khuyết của sự pháttriển bền vững và cần cảnh giác với thực tiễn Vì vậy, việc làm rõnhững vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững vận dụngvào điều kiện cụ thể của Việt Nam để đưa nền kinh tế nước ta tớigiàu có, thịnh vượng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng

Tóm lại "phát triển bền vững là sự phát triển vừa đáp ứng được nhu cầu của các thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các yêu cầu của họ"

Phát triển xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững là sự gia tănghoạt động xuất khẩu về chiều rộng, hoặc chiều sâu hoặc hiệu suất vàhiệu quả của hoạt động xuất khẩu mà đáp ứng được nhu cầu của cácthế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trongviệc đáp ứng nhu cầu của họ

2.3.2 Bản chất và ứng dụng:

Tác giả cho rằng nói đến phát triển bền vững là nói tới yêu cầu bềnvững của sự phát triển; yêu cầu này thể hiện trên ba phương diện:bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường

Trang 24

Nếu bỏ sót một trong ba yêu cầu này thì ý nghĩa bền vững của sựphát triển không còn đầy đủ.

Các chiến lược phát triển truyền thống chỉ nhấn mạnh phát triểnkinh tế một cách phiến diện, xem nhẹ phát triển hài hoà giữa kinh

tế, xã hội và môi trường Đến nay, chúng ta có thể khẳng định rằng

tư tưởng phát triển bền vững phù hợp với quan hệ nội tại và yêu cầucủa kinh tế, xã hội, môi trường và hệ thống sinh thái, là bước tiến cótính cách mạng về quan niệm phát triển và quan niệm văn minh củaloài người

Phát triển bền vững bao hàm các quá trình thay đổi về kinh tế, xãhội, môi trường Bản chất của phát triển bền vững theo ba khía cạnhkinh tế, xã hội và môi trường có thể luận giải như sau:

(i) Phát triển bền vững về kinh tế đòi hỏi phải theo đuổi con đường

phát triển tạo ra sự tăng thu nhập thực sự, gia tăng sản xuất xã hội,xoá bỏ nghèo đói, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh, ổn định, hiệuquả Mức độ bền vững về kinh tế bị chi phối bởi tính hữu ích, chiphí đầu vào, chi phí khai thác, chế biến và nhu cầu đối với sảnphẩm Để bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế nhanh, khai thác tàinguyên thiên nhiên với cường độ lớn hơn vẫn là phương thức mànhiều quốc gia lựa chọn Tuy nhiên, nếu quá phụ thuộc vào tàinguyên thiên nhiên thì dễ rơi vào khủng hoảng khi tài nguyên bị cạnkiệt và có những tài nguyên thiên nhiên không thể tái tạo được Việckhai thác tài nguyên như vậy sẽ vượt quá sức chịu đựng của các hệsinh thái, gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và tạo ra những nguy

Trang 25

cơ tiềm ẩn mà con người có thể còn chưa biết đến, hoặc chưa lườnghết được Vì vậy, đây không phải là phương thức phát triển bềnvững Những vấn đề khác như vay nợ, đầu tư kém hiệu quả, thấtthoát các nguồn vốn, cũng sẽ ảnh hưởng đến mức độ bền vững vềkinh tế.

(ii) Phát triển bền vững về xã hội gắn chặt và có quan hệ biện chứng

với phát triển bền vững về kinh tế, là sự phát triển kết hợp giữa tăngtrưởng kinh tế với ổn định xã hội, không có xung đột, xáo trộn, rốiloạn; huy động tối đa, hiệu quả các nguồn lực cho quá trình pháttriển; bảo đảm giải quyết tốt các vấn đề về việc làm, giáo dục, y tế,công bằng về thu nhập, phúc lợi xã hội giữa các tầng lớp dân cư,giữa các vùng lãnh thổ; xây dựng, bảo vệ và phát huy những chuẩnmực của xã hội hiện tại trên cơ sở tôn giáo, truyền thống, phong tục,tập quán, bản sắc dân tộc, đạo đức, luật pháp

(iii) Phát triển bền vững về môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với

phát triển bền vững về kinh tế và về xã hội, phản ánh mối quan hệgiữa con người và giới tự nhiên Mọi quá trình phát triển xét đếncùng là việc sử dụng nguồn lực con người để khai thác tài nguyênthiên nhiên nhằm thoả mãn nhu cầu của con người Vì vậy, việckhai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi trường phải bảođảm sự bền vững Bền vững về môi trường cũng có nghĩa là tậndụng, tái tạo các nguồn tài nguyên, năng lượng, phòng ngừa vàgiảm thiểu ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo đảmcân bằng sinh thái Nói cách khác, phát triển bền vững về môi

Trang 26

trường là sự bảo đảm cho môi trường sống luôn duy trì được bachức năng cơ bản của nó: là không gian sống của con người; là nơicung cấp nguồn lực cho sự tồn tại, phát triển của con người và xãhội; là nơi chứa đựng, tiêu huỷ các chất thải Chỉ một trong ba chứcnăng này bị tổn thương hoặc mất cân bằng là nguy cơ phát triển bềnvững về môi trường sẽ bị đe doạ.

Cuộc cách mạng tri thức cũng liên quan trực tiếp đến công cuộcphát triển bền vững của các nước Vì vậy, các nước đang phát triểnmuốn cải thiện triển vọng kinh tế hiện nay của mình cần nhắm đầu

tư không chỉ cho vốn vật chất mà còn phải nhắm vào nền tảng trithức của mình, tức là đầu tư vào khả năng sáng tạo, hấp thu, thíchứng, phổ biến và sử dụng những tri thức mới cho phát triển kinh tế -

xã hội Gìn giữ nguồn vốn tự nhiên, xây dựng nguồn vốn con người

sẽ thúc đẩy quá trình phát triển của mỗi vùng, mỗi quốc gia và toàncầu trở nên bền vững hơn xét cả về các khía cạnh kinh tế, xã hội vàmôi trường

Trong các chính sách phát triển bền vững, các nước phát triểnthường đặt trọng tâm vào vấn đề môi trường, còn các nước đangphát triển thường nhấn mạnh đến vấn đề phát triển kinh tế Đến nay,kết quả thực hiện các chính sách phát triển bền vững ở các nước,nhất là các nước đang phát triển còn hết sức hạn chế; những thànhcông thường chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức, tăng cường sựđối thoại giữa các nhóm đối tượng trong xã hội, lồng ghép vấn đềmôi trường và phát triển bền vững trong quá trình xây dựng các

Trang 27

chính sách phát triển, triển khai các dự án thí điểm, nâng cao nănglực thể chế

2.4 Quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam

2.4.1 Quá trình nhận thức và phát triển

Với việc thông qua Kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triểnbền vững 1991 - 2000, nước ta đã sớm hội nhập vào con đường pháttriển bền vững của thế giới Ngay sau Tuyên bố Rio, Quốc hội đãban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 Sau đó, hệ thống chínhsách, pháp luật và hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môitrường đã được hình thành Tháng 6 năm 1998, Bộ Chính trị đã banhành Chỉ thị số 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môitrường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tháng

11 năm 2004 ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môitrường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX, Chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010), Kế hoạch phát triển kinh tế -

xã hội 5 năm (2001 - 2005) đã khẳng định “phát triển nhanh, hiệuquả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ,công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" Đặc biệt, lần đầu tiên vấn

đề phát triển bền vững đã được đưa thành chủ đề của Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Nghị quyết Đại hội lần thứ Xcũng đã nhấn mạnh việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và nângcao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển

Trang 28

Để cụ thể hoá đường lối và quan điểm của Đảng về bảo vệ môitrường và phát triển bền vững, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệmôi trường (sửa đổi); Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Địnhhướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trìnhNghị sự 21 của Việt Nam), Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc giađến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Chiến lược toàn diện

về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Trong Kế hoạch phát triểnkinh tế - xã hội 5 năm (2006 - 2010) đã đưa ra ba nhóm chỉ tiêu vềkinh tế, về xã hội và về môi trường, phản ánh đầy đủ ba mặt củaphát triển bền vững Từ năm 2007, Chính phủ cũng đã quyết địnhdành tối thiểu 1% tổng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường.Trong mục lục thống kê hàng năm, ngoài các lĩnh vực kinh tế, xãhội, hiện nay đã bổ sung thêm bộ các chỉ số về môi trường 19 nhómlĩnh vực cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững được đặt ra trongChương trình Nghị sự 21 của Việt Nam, có 5 nhóm lĩnh vực kinh tế,

5 nhóm lĩnh vực xã hội và có tới 9 nhóm lĩnh vực tài nguyên thiênnhiên và môi trường Những chính sách, pháp luật nêu trên là nhữngtiền đề quan trọng, là kim chỉ nam để thực hiện phát triển bền vữngnước ta trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững đãđược kết tinh và phản ánh đầy đủ nhất trong Chương trình Nghị sự

21 của Việt Nam: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá,

sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài

Trang 29

hoà giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường”.

Khái niệm trên đây đã đưa ra khung chiến lược làm cơ sở pháp lýcho các tổ chức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phốihợp hành động nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trongthế kỷ 21

2.4.2 Những thách thức đối với sự phát triển bền vững:

Sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào nguồn vốnvay bên ngoài Số nợ của Việt Nam so với các nước khác chưathuộc loại cao, chưa tới giới hạn nguy hiểm, song nó đang tăng lênnhanh chóng và sẽ có nguy cơ đe doạ sự bền vững của sự phát triểntrong tương lai

Sự tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, tức là mở rộngthêm sản lượng sản phẩm thô, dẫn đến việc tiêu tốn tài nguyên, ảnhhưởng tới môi trường Với cơ cấu sản xuất hiện nay, để đạt đượcmột giá trị thu nhập như cũ từ thị trường thế giới, Việt Nam đã phảibán đi một số lượng hàng hoá hiện vật nhiều hơn trước

Trang 30

Các mục tiêu phát triển của các ngành còn mâu thuẫn nhau và chưađược phối hợp một cách thoả đáng Các cấp chính quyền trung ương

và địa phương chưa quản lý có hiệu lực, hiệu quả việc sử dụng tàinguyên, bảo vệ môi trường

(ii) Về xã hội:

Tỷ lệ tăng dân số hiện nay vẫn ở mức cao: nạn di cư tự do đi kèmvới việc chặt phá rừng làm nương rẫy còn khá phổ biến; nghèo đói ởvùng sâu, vùng xa chưa được giải quyết triệt để; khoảng cách giàunghèo, phân tầng xã hội có xu hướng gia tăng nhanh chóng

Chất lượng nguồn nhân lực thấp Số lượng và chất lượng lao động

kỹ thuật (về cơ cấu, kỹ năng, trình độ) chưa đáp ứng được yêu cầucủa thị trường lao động Tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị, thiếu việc làm ởnông thôn còn cao

Mô hình tiêu dùng của dân cư tiêu tốn nhiều vật liệu, năng lượng vàthải ra nhiều rác, chất thải độc hại, ngày càng ảnh hưởng tiêu cựcđến môi trường tự nhiên

Một số giá trị văn hoá, đạo đức xã hội truyền thống tốt đẹp đang bịbiến dạng; các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, tham nhũng cònchưa được ngăn chặn, gây lãng phí các nguồn lực, tạo ra nguy cơmất ổn định xã hội và phá hoại sự cân bằng sinh thái

(iii) Về môi trường:

Hiện tượng khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên gây nên suythoái và làm mất cân bằng các hệ sinh thái đang diễn ra phổ biến;một số ngành và cơ sở công nghiệp gây ra ô nhiễm môi trường

Trang 31

nghiêm trọng; quá trình đô thị hoá tăng lên nhanh chóng kéo theo sựkhai thác quá mức nguồn nước ngầm, ô nhiễm nguồn nước mặt,không khí và ứ đọng chất thải rắn Các khu vực giàu đa dạng sinhhọc, rừng, môi trường biển và ven biển chưa được bảo vệ một cáchthoả đáng, đang bị khai thác cạn kiệt; chưa kể đến hậu quả chiếntranh ảnh hưởng lên môi trường nước ta.

Xu thế giảm chất lượng môi trường tiếp tục gia tăng, mặc dù nềncông nghiệp còn chưa phát triển cao; các hoạt động bảo vệ môitrường đã có những bước tiến bộ đáng kể nhưng chưa đáp ứng đượcyêu cầu của phát triển bền vững

Còn thiếu một phương thức quản lý tổng hợp môi trường ở cấpvùng và liên ngành; vẫn còn sự chồng chéo chức năng, nhiệm vụgiữa các cấp, các ngành Một số quy hoạch vùng đã được xây dựng,nhưng chưa có cơ chế bắt buộc các địa phương và các ngành thamkhảo khi xây dựng quy hoạch của mình và thực hiện

Nhận thức về môi trường, phát triển bền vững còn thấp cả ở các cơquan ra quyết định, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồngdân cư Các nhóm cộng đồng chưa được cung cấp đầy đủ thông tin

và chưa được huy động mạnh vào sự nghiệp bảo vệ môi trường

(iv) Về thể chế

Quan điểm về việc xây dựng và hoàn thiện thể chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, trong đó ở một chừng mực nào đó, baogồm việc xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển bền vững, đãđược khẳng định kể từ khi công cuộc đổi mới toàn diện và triệt để

Trang 32

nền kinh tế với dấu mốc quyết định là Đại hội VI của Đảng (năm1986) và được tái khẳng định, tiếp tục hoàn thiện qua các kỳ Đại hộiVII, VIII, IX và X của Đảng Tuy nhiên, quá trình này không những

bị chi phối do sự chuyển đổi nền kinh tế chưa có tiền lệ trong lịch

sử, hay những yếu tố mang tính thời đại, mà còn do những đặc điểmđặc thù không thể lẫn giữa Việt Nam với các nước khác về phươngdiện lịch sử, văn hoá, chính trị và xã hội

Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về tăng trưởngnhanh kinh tế và ổn định xã hội, mà chưa quan tâm đầy đủ đến tínhbền vững khi khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,môi trường

Các chính sách môi trường thiên về phục hồi những cái đã có và bảotồn những gì đang có, mà chưa vạch ra những động thái phát triểnđáp ứng những nhu cầu tương lai của xã hội

Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch kinh tế - xã hội và quá trình xâydựng chính sách môi trường còn chưa được lồng ghép, kết hợp chặtchẽ; chưa có cơ quan đủ thẩm quyền chịu trách nhiệm về lập quyhoạch, giám sát và giải quyết các vấn đề về phát triển bền vững; cơchế quản lý, giám sát sự phát triển bền vững chưa được thiết lập rõràng

2.4.3.Các nguyên tắc của phát triển bền vững:

Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) trong tácphẩm “ Hãy cứu lấy trái đất - chiến lược cho một cuộc số bềnvững”, 1992 đã nêu 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững Tuy

Trang 33

nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế củamột thế giới đầy các biến động về kinh tế, chính trị, văn hoá Thực

tế đòi hỏi cần thiết lập một hệ thống nguyên tắc khác có tính khả thi

và sát thực hơn Luchens (1995) đã lựa chọn trong số các nguyêntắc của Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển để xây dựng một

hệ thống bảy nguyên tắc mới của phát triển bền vững Nhữngnguyên tắc đó là:

Nguyên tắc về sự uỷ thác của nhân dân:

Nguyên tắc này yêu cầu chính quyền phải hành động để ngăn ngừacác thiệt hại môi trường xảy ra bất cứ ở đâu, bất kể có hoặc chưa cócác điều luật quy định về cách ứng xử các thiệt hại đó

Nguyên tắc phòng ngừa:

Ở những nơi có thể xảy ra các sự cố môi trường nghiêm trọng vàkhông đảo ngược được, thì không thể lấy lý do là chưa có nhữnghiểu biết chắc chắn mà trì hoãn các biện pháp ngăn ngừa sự suythoái môi trường

Nguyên tắc bình đẳng giữa các thế hệ:

Đây là nguyên tắc cốt lõi của phát triển bền vững, yêu cầu rõ ràng làviệc thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện nay không được làm phươnghại đến các thế hệ tương lai thỏa mãn nhu cầu của họ Nguyên tắcnày phụ thuộc vào việc áp dụng tổng hợp và có hiệu quả của cácnguyên tắc khác của phát triển bền vững

Nguyên tắc bình đẳng trong nội bộ thế hệ:

Trang 34

Con người trong cùng thế hệ hiện nay có quyền được hưởng lợi mộtcách bình đẳng trong khai thác các nguồn tài nguyên, bình đẳngchung hưởng một môi trường trong lành và sạch sẽ Nguyên tắc nàyđược áp dụng để xử lý mối quan hệ giữa các nhóm người trong cùngmột quốc gia và giữa các quốc gia Nguyên tắc này ngày càng được

sử dụng nhiều hơn trong đối thoại quốc tế

Nguyên tắc phân quyền và uỷ quyền:

Các quyết định cần phải được soạn thảo bởi chính các cộng đồng bịtác động hoặc bởi các tổ chức thay mặt họ và gần gũi nhất với họ.Các quyết định cần ở mức quốc gia hơn là mức quốc tế, mức địaphương hơn là mức quốc gia

Nguyên tắc gây ô nhiễm phải trả tiền:

Người gây ô nhiễm phải chịu mọi chi phí ngăn ngừa và kiểm soát ônhiễm, phải nội bộ hoá tất cả các chi phí môi trường này sinh từ cáchoạt động của họ, sao cho các chi phí này đựoc thể hiện đầy đủtrong giá cả của hàng hoá và dịch vụ mà họ cung ứng

Nguyên tắc người sử dụng phải trả tiền:

Khi sử dụng hàng hoá hay dịch vụ, người sử dụng phải trang trải đủgiá tài nguyên cũng như các chi phí môi trường liên quan tới việcchiết tách, chế biến và sử dụng tài nguyên

2.4.4.Vai trò của khoa học công nghệ trong phát triển bền vững:

Thực tế cho thấy, khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quantrọng và không thể thiếu trong quá trình phát triển

Công nghệ có thể tạo ra các nguồn tài nguyên mới, năng lượng mới:

Trang 35

Con người ngày nay đang tiếp tục phát hiện ra những nguồn tàinguyên cần thiết cho họ Và công nghệ vẫn có thể giúp họ tạo ra tàinguyên và năng lượng mới Theo cách này, có lẽ chúng ta bỏ quađược khái niệm về một hành tinh chỉ có hữu hạn các nguồn tàinguyên khai thác được.

Công nghệ giúp con người khai thác được nguồn tài nguyên truyềnthống rất khó tiếp cận, góp phần làm tăng số lượng, nguồn nguyênliệu thô

Công nghệ làm giảm lượng nguyên liệu và năng lượng tiêu dùngtrong sản xuất:

Công nghệ đã giúp người sản xuất tiết kiệm được nguyên liệu đầuvào, năng lượng tiêu dùng, nhân công Từ đó giảm giá thành sảnphẩm, chất lượng sản phẩm được đảm bảo theo đúng tiêu chuẩnchất lượng đã định

2.5.Phát triển xuất khẩu trên quan điểm phát triển bền vững:

Phát triển xuất khẩu theo hướng phát triển bền vững là sự gia tănghoạt động xuất khẩu về chiều rộng, hoặc chiều sâu, hoặc hiệu suất vàhiệu quả của hoạt động xuất khẩu mà đáp ứng được nhu cầu của cácthế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến các thế hệ tương lai trongviệc đáp ứng nhu cầu của họ

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay,phát triển xuất khẩu được coi là động lực thúc đẩy phát triển kinh tếcác nước Đối với Việt Nam, việc đẩy mạnh xuất khẩu xuất phát từnhiều lý do, như: khuyến khích tăng đầu tư và góp phần nâng cao

Trang 36

hiệu quả đầu tư; tăng năng suất lao động quốc gia; thúc đẩy cải cáchthể chế, cải cách hành chính quốc gia; giảm nhập siêu, cải thiện cáncân thanh toán và ổn định vĩ mô nền kinh tế, nhất là trong giai đoạnhiện nay

Phát triển xuất khẩu sẽ tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo

ra nhiều việc làm mới và góp phần cải thiện thu nhập cho người laođộng Mặt khác, phát triển xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ lớnhơn để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho mua sắm máy móc thiết bị, nhậpkhẩu các sản phẩm trung gian phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, đồng thời là nguồn ngoại tệ để trả nợ nước ngoài, giúp cânbằng và lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế, ổn định tình hình kinh

tế, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển

Như vậy, có thể nói phát triển xuất khẩu là phát triển kim ngạch xuấtkhẩu, phát triển thị trường, mặt hàng, tăng trưởng lợi nhuận, hay hiệuquả của hoạt động xuất khẩu theo hướng vừa thỏa mãn và đáp ứng lợiích của các thế hệ hiện tại và tương lai đồng thời đáp ứng được cácyêu cầu kinh tế, xã hội và môi trường

Ngoài ra, xuất khẩu còn là thước đo về độ mở của nền kinh tế ViệtNam, là chỉ số phản ánh khả năng cạnh tranh của nền kinh tế ViệtNam và mức độ hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới vàkhu vực

Nói đến chất lượng và hiệu quả xuất khẩu thì không chỉ đơn thuần làvấn đề tăng trưởng xuất khẩu mà điều cơ bản là sự tăng trưởng đóphải bảo đảm nhịp độ cao và duy trì trong thời gian lâu dài Khi nói

Trang 37

tăng trưởng xuất khẩu là chúng ta mới chỉ đề cập tới mặt lượng củahoạt động xuất khẩu, còn khi dùng thuật ngữ "phát triển xuất khẩu" làchúng ta đã quan tâm đầy đủ tới cả mặt lượng và mặt chất của vấn đềxuất khẩu Nói cách khác, chất lượng và hiệu quả hoạt động xuấtkhẩu chính là cốt lõi của phát triển xuất khẩu bền vững.

Có rất nhiều tiêu chí phản ánh chất lượng và hiệu quả hoạt động xuấtkhẩu, có 10 tiêu chí chủ yếu có thể sử dụng trong phân tích, nghiêncứu chất lượng và hiệu quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: quy

mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu; kim ngạch xuất khẩu theo đầungười; xuất khẩu trong tương quan với nhập khẩu; xuất khẩu trongtương quan với GDP; cơ cấu xuất khẩu và sự chuyển dịch cơ cấu xuấtkhẩu theo mặt hàng/thị trường/doanh nghiệp; mức độ hiện đại củaphương thức xuất khẩu; hàm lượng giá trị gia tăng của hoạt động xuấtkhẩu; vấn đề sử dụng nguồn lực trong xuất khẩu; xuất khẩu với cácvấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, duy trì bản sắcvăn hóa dân tộc; xuất khẩu với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái

2.6 Phát triển xuất khẩu hàng dệt may trên quan điểm phát triển bền vững:

Để tiến hành xuất khẩu hàng dệt may chúng ta có thể chia ngànhcông nghiệp xuất khẩu dệt – may thành 4 lĩnh vực: dệt, nhuộm vàmay và họat động xuất khẩu hàng hoá Phát triển xuất khẩu hàng dệtmay theo hướng phát triển bền vững đòi hỏi mỗi lĩnh vực nêu trênphải có sự bền vững nhất định

2.6.1.Lĩnh vực dệt sợi (sợi tự nhiên, sợi hoá học):

Trang 38

Hoạt động cụ thể của lĩnh vực này là sản xuất sợi và chỉ Sợi có thểđược chia làm sợi tự nhiên và sợi hoá học Sợi tự nhiên gồm: sợithực vật, sợi động vật, sợi khoáng vật, sợi tổng hợp, sợi vô cơ Sảnxuất sợi tự nhiên có liên quan mật thiết với lĩnh vực nông nghiệp,khoáng sản Sản xuất sợi hoá học liên quan nhiều tới lĩnh vực côngnghiệp hoá học.

Sợi tuỳ theo độ dài có thể chia thành sợi loại ngắn và sợi loại dài.Sợi ngắn là sợi tự nhiên như bông, lông cừu, đay Nhưng lụa là mộtloại sợi tự nhiên được xếp vào loại sợi dài (trừ tơ lụa đã dệt) Tráivới sợi ngắn, loại sợi có nguyên liệu dài được gọi là sợi dài Đặctrưng của sợi dài là không gồm trong công đoạn làm chỉ Rất nhiềusợi nhân tạo là sợi tổng hợp như là polyeste, nilon hay sợi tái sinhnhư là leon, axetat Nhưng cũng có khi người ta cắt ngắn các sợi dài

để làm sợi ngắn Trong gia công dệt có nhiều công đoạn quan trọngkhông chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của chỉ mà còn quyết định đếnkhả năng cung cấp Trong ngành dệt may, đây là lĩnh vực cần được

ưu tiên tập trung vốn, đặc biệt lĩnh vực sản xuất sợi dài Để ngànhdệt có thể phát triển bền vững thì nguồn nguyên liệu đầu vào đặcbiệt là sợi tự nhiên cần phải có yếu tố bền vững Muốn làm đượcđiều này thì trước hết phải đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu trongnước Việc phát triển nguồn nguyên liệu trong nước không nhữngđáp ứng được tính bền vững trong việc cung cấp nguồn đầu vào bềnvững cho ngành dệt mà còn giải quyết một lượng đáng kể công ăn

Trang 39

việc làm cho người lao động, giảm lượng bông nhập khẩu từ đó cảithiện cán cân thanh toán quốc tế.

2.6.2.Lĩnh vực nhuộm: Dệt vải, dệt kim gồm cả công đoạn nhuộm, hiệu chỉnh.

So với lĩnh vực dệt sợi thì lĩnh vực này tốn nhiều nhân công hơn và

có đặc trưng về kỹ thuật và sản xuất đa dạng nhất Trong sản xuấtsợi tổng hợp để chế biến vải, lĩnh vực này cũng đòi hỏi đầu tư nhiềuvốn để hoạt động mang tính quy mô về kinh tế Nhưng đối với sợi

tự nhiên như bông thì không liên quan nhiều đến quy mô, nhất làsản xuất dệt kim thì với quy mô nhỏ cũng có thể sản xuất được.Lĩnh vực nhuộm ngoài đặc điểm tập trung nhiều nhân lực so vớilĩnh vực dệt còn có đặc trưng về tổ chức sản xuất mang tính chuyênmôn hoá Việc chuyên môn hoá được thực hiện qua các công đoạnnhuộm, hiệu chỉnh, gia công in, hoàn thiện sản phẩm

Trong ngành dệt may thì có thể nói đây là lĩnh vực đòi hỏi quy môvốn lớn và tốn nhiều nhân công hơn Đối với các nhà đầu tư, thì đâycũng là lĩnh vực đầu tư có nhiều rủi ro hơn so với đầu tư vào lĩnhvực may mặc Thể hiện ở chỗ:

- Thời gian thu hồi vốn lâu hơn so với lĩnh vực may mặc

- Vốn đầu tư ban đầu lớn: Nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài phầnđầu tư cho hoạt động sản xuất còn phải đầu tư xây dựng hệ thống xử

lý nước thải

Trang 40

- Chi phi nhân công lớn: Bởi trình độ chuyên môn của công nhândệt nhộm đòi hỏi cao hơn trình độ chuyên môn của công nhân may.Song để ngành dệt may phát triển bền vững thì sự phát triển bềnvững của ngành dệt là yếu tố tối cần thiết Nếu sản phẩm của ngànhdệt đạt tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu đầu vàocủa nhà nhập khẩu thì phần giá trị gia tăng trong khâu lựa chọn nhàcung cấp và mua nguyên vật liệu sẽ thuộc về doanh nghiệp sản xuấtxuất khẩu

Việc phát triển ngành dệt nhuộm bên cạnh thu về phần giá trị giatăng trong trị giá hàng xuất khẩu từ tay nhà nhập khẩu còn góp phầngiải quyết vấn đề về công ăn việc làm Tuy nhiên, nếu việc pháttriển lĩnh vực này không đi đôi với việc đầu tư xây dựng hệ thống

xử lý nước thải thì sẽ làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn đất, nước,không khí

2.6.3.Lĩnh vực may:

Lĩnh vực may yêu cầu nhân lực ít nhất và tính quy mô về kinh tếthấp nhất nên thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất Sản xuấttrong lĩnh vực này đòi hỏi vốn ban đầu nhỏ, không bị ứ đọng nênđược đầu tư nhiều ở các nước đang phát triển Nội dung hoạt độngchủ yếu của lĩnh vực này là sản xuất hàng dệt may với công đoạn:cắt vải, may, hoàn thiên sản phẩm

Để lĩnh vực này phát triển bền vững thì yếu tố cạnh tranh về tăngnăng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm là yếu tố hấp dẫn đốivới nhà nhập khẩu

Ngày đăng: 11/05/2016, 18:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Thông tư số 32/2010/TT-BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính ngày 09 tháng 3 năm 2010 về việc hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện “ chương trình đào tạo nguồn nhân lực Dệt May Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: hướng dẫn cơ chế tài chính thực hiện “ chương trình đào tạo nguồn nhân lực Dệt May Việt Nam
9. Chính sách công nghiệp và thương mại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập - Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
10. Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ Khác
11. Quyết định 36/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 10 tháng 3 năm 2008 về việc Phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
13. Quyết định số 29/QĐ- TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 08 tháng 01 năm 2010 về việc Phê duyệt chương trình phát trỉên cây bông vải Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
14. Báo cáo nghiên cứu ngành dệt may Việt Nam của Hoa Kỳ - Micheal Martin – Chuyên gia phân tích thương mại và tài chính Châu Á Khác
15. Giáo trình Thương mại quốc tế - TS. Trần Văn Tuấn, TS. Trần Hoà - Đại học Kinh tế Quốc Dân Khác
16. Báo cáo và tài liệu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam Khác
17. Toàn văn cam kết gia nhập WTO.18. Website: http:// www.vinatex.com Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 04: Bảng tổng hợp tình hình xuất khẩu hàng dệt may của - Phát triển xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường hoa kỳ theo hướng phát triển bền vững
i ểu 04: Bảng tổng hợp tình hình xuất khẩu hàng dệt may của (Trang 54)
5. Bảng 05: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa - Phát triển xuất khẩu hàng dệt may việt nam sang thị trường hoa kỳ theo hướng phát triển bền vững
5. Bảng 05: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa (Trang 140)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w