1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đến nhà cung cấp và người sử dụng ở Thừa Thiên - Huế từ những số liệu định tính

11 370 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 404 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phillips, Hội đồng dân số o Jane Hughes, Hội đồng dân số Bài viết này sử dụng số liệu thu thập trong khuôn khổ điều tra tiền can thiệp do quỹ Atlantic Philanthropies tài trợ về tình hình

Trang 1

Ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đến nhà cung cấp

và người sử dụng ở Thừa Thiên - Huế từ những số liệu định tính

Nhóm nghiên cứu

o PGS.TS Nguyễn Dung, Sở Y tế Thừa Thiên Huế

o BS Nguyễn Nhật Nam, Sở Y tế Thừa Thiên Huế

o Dương Bích Hạnh, Hội đồng dân số

o Nguyễn Quang Ngọc, Hội đồng dân số

o James F Phillips, Hội đồng dân số

o Jane Hughes, Hội đồng dân số

Bài viết này sử dụng số liệu thu thập trong khuôn khổ điều tra tiền can thiệp do quỹ Atlantic Philanthropies tài trợ về tình hình khám chữa bệnh ban đầu tại Thừa Thiên - Huế

để đánh giá những ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đối với số lượt khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã Ảnh hưởng rõ rệt nhất là số lượt khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã tăng vọt Đồng thời, các chính sách bảo hiểm làm tăng số lượt khám chữa bệnh cũng có ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh và cũng gây ra hụt quỹ, tạo ra những vấn đề lớn cần giải quyết cho các nhà làm chính sách Tuy nhiên, số hộ dân cận nghèo không được các chính sách bảo hiểm tự nguyện tạo điều kiện, vì vậy làm chậm lại kế hoạch toàn dân được bảo hiểm trước năm 2010

Chính sách bảo hiểm tự nguyện là nguyên nhân chính gây ra việc hụt quỹ Tuy các chính sách bảo hiểm có mục đích tạo ra sự tiếp cận công bằng cho toàn dân, hiện tại cung cấp cho phần lớn dân số - có nghĩa là những người không thuộc diện nghèo lại quá nghèo để mua bảo hiểm tự nguyện Vấn đề này có thể làm ảnh hưởng đến quá trình xoá đói giảm nghèo của chúng ta Đồng thời, khái niệm cùng chia sẻ rủi ro chưa được thấm nhuần đối với toàn dân để giải quyết vấn đề thâm hụt tài chính Trong khi các chính sách hiện tại đã tạo ra nhu cầu lớn cho dịch vụ khám chữa bệnh tại tuyến xã, các nhà chính sách cần ưu tiên giải quyết việc giảm gánh nặng này cho bên cầu

Impacts of Vietnam’s Health Insurance Policies on Users and Providers in Thua Thien Hue Province from Quantitative Perspective

The paper, using data collected under the Atlantic Philanthropies–funded pre-intervention assessment on primary health care and preventive services at the commune level in Thua Thien Hue, addresses the impacts of the government health insurance policies on visit caseloads at commune level Most striking is that utilization at Commune Health Center (CHCs) has significantly increased At the same time, the insurance schemes so greatly boost the service utilization that quality of care is affected and budget deficits are created, which are ongoing challenges to health providers and government managers However, residents who are near-poor report being left out of the voluntary health insurance scheme, thus compromising the Government effort to achieve universal health insurance by 2010 The voluntary scheme is also the main source of the insurance system’s financial deficits Health insurance schemes, meant to ensure equitable access to health care for all Vietnamese citizens, do not currently provide for a significant segment of the population – that is, those who are not poor enough to be entitled to subsidized health care but are too poor to pay for their own plan This vulnerability could undermine the country’s poverty reduction effort In the meantime, the concept of risk sharing has yet to be instilled into all

Trang 2

society segments to address the issue of insurance coverage and financial deficits While approaches that create strong demand for CHC services have partially succeeded, seeking ways to reduce new pressures on the supply side becomes an emergent priority

I/ Đặt vấn đề

Việc áp dụng và khuyến khích các loại hình bảo hiểm y tế khác nhau của chính phủ trong vòng vài năm qua, cụ thể là bảo hiểm cho người nghèo, bảo hiểm cho trẻ em dưới 6 tuổi và bảo hiểm tự nguyện, đã làm cho nhiều cư dân nghèo có được tiếp cận tốt hơn việc chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên đồng thời các chính sách này cũng đã tạo ra một gánh nặng bổ sung cho hệ thống y tế Cơ sở y tế ở tất cả các tuyến – trung ương, tỉnh, huyện – đã trải nghiệm qua sự tăng lên chủ yếu số lượng bệnh nhân, cả điều trị nội trú và ngoại trú Các cơ

sở y tế do vậy phải nhận số lượng bệnh nhân nhiều hơn so với khả năng phục vụ hoặc các nguồn nhân lực được chuyển sang thực hiện các nhiệm vụ phi lâm sàng, tạo ra sự thâm hụt tài chính và đe doạ ảnh hưởng nghiêm trọng chất lượng chăm sóc

Trong thực tế, phần lớn các chi phí về bảo hiểm y tế được chi trả tại các cơ sở y tế tuyến trên, hầu hết ở tuyến trung ương và tuyến tỉnh, và các trạm y tế xã (TYT) thường không phải là một mục tiêu cho việc đầu tư công đáng kể Tuy nhiên TYT vẫn là nguồn lực chính

để cung cấp chăm sóc tuyến đầu trong hệ thống y tế nhà nước, và những nhóm dân cư nghèo và cận nghèo đông đảo ở vùng nông thôn và miền núi phụ thuộc vào hệ thống này Việc cung cấp chăm sóc y tế có chất lượng tại TYT có nghĩa là có sự sụt giảm đáng kể trong chi phí y tế cho các quần thể dân cư địa phương và đồng thời y tế tuyến xã hoạt động tốt sẽ giúp làm giảm gánh nặng cho các cơ sở tuyến trên Hiểu rõ vai trò đầy ý nghĩa này, cần phải có việc đánh giá có tính hệ thống các dịch vụ và lựa chọn ở TYT để đáp ứng các nhu cầu chăm sóc y tế của các nhóm dân số địa phương thông qua hệ thống y tế công lập

Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài này Với nghiên cứu này chúng tôi sẽ thực hiện 3 mục tiêu sau:

dùng cả số liệu định lượng và định tính, cả cho người sử dụng và người cung cấp các dịch vụ y tế)

• Mức độ hiện tại của việc triển khai và hiệu quả của các hình thức bảo hiểm y tế là gì, đặc biệt là bảo hiểm cho người nghèo và bảo hiểm tự nguyện?

các hành vi tìm kiếm sức khoẻ của cư dân như thế nào?

II/ Phương pháp nghiên cứu:

Cuộc đánh giá này tổng hợp số liệu định lượng và định tính về các yếu tố đặc thù ảnh hưởng đến việc sử dụng CSSKBĐ, cung cấp dịch vụ, các chính sách cho CSSKBĐ, và các vấn đề ra quyết định ở 5 huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế Phương pháp tiếp cận liên ngành

đã kết hợp ưu điểm của các phương pháp luận nghiên cứu định lượng và định tính - số liệu định lượng cung cấp bức tranh tổng thể của tỉnh trong khi số liệu định tính cung cấp kiến thức sâu hơn về các xã được lựa chọn

Phân tích định lượng

Nghiên cứu được điều tra trên 5 huyện của 9 huyện, thị đó là: hai huyện là A Lưới và Nam Đông là ở miền núi; Phú Vang là huyện ven biển, trong khi đó các huyện Phong Điền và

Trang 3

Hương Trà là ở cả vùng núi và đồng bằng Có 88 xã trong 5 huyện này, chiếm 59% tổng số

xã trong tỉnh Số liệu báo cáo hàng năm từ mỗi xã cho giai đoạn 2001 – 2006 được vi tính hoá, tạo ra được một cơ sở dữ liệu gồm trên 500 các quan sát về các hoạt động của TYT

Phân tích chính sách

Số liệu cho phân tích chính sách có nguồn từ: (1) phỏng vấn cá nhân, và (2) đánh giá số liệu thứ cấp Các cá nhân chủ chốt phụ trách tài chính y tế và chính sách hỗ trợ người nghèo tại các cấp các ngành của tỉnh đã được phỏng vấn: phòng giải ngân của bảo hiểm xã hội (BHXH), Ban quản lý của Quỹ 139 tại Sở Y tế và Sở Lao động Thương binh Xã hội ( LĐTBXH) Các nghiên cứu viên (NCV) của nghiên cứu này đã tiếp cận được các thống

kê toàn tỉnh từ các báo cáo thường quy của các sở Số liệu về bảo hiểm y tế ở tuyến tỉnh và huyện, Quỹ 139 và tình hình về tình trạng nghèo của tất cả các huyện sau đó được tổng hợp và phân tích Cuối cùng, các chuyến đi thực địa đến các huyện và xã cùng với các cuộc thảo luận không chính thức với các nhân viên y tế và những người cung cấp thông tin chính ở tuyến xã đã hoàn thành cuộc đánh giá về môi trường chính sách cho việc cung và cầu về chăm sóc y tế

III/ Kết quả và bàn luận:

1/ Bảo hiểm y tế cho người nghèo và cận nghèo

Thực trạng chung

Trong vòng 6 năm trở lại đây, có một xu

hướng chung trong việc gia tăng sử dụng các

dịch vụ y tế và kết quả là có sự leo thang về

kinh phí tài chính tương ứng tại tất cả các

huyện Được ban hành vào năm 2002, tác

dụng đầy đủ của Quyết định 139 được nhận rõ

vào năm 2004 Sự gia tăng được đẩy mạnh

hơn trong năm 2005 khi Nghị định 63 mở rộng

sự tham gia hình thức bảo hiểm y tế tự

nguyện, giảm mức đồng chi trả của người

được bảo hiểm và chấp nhận chi trả cho nhiều

loại điều trị y tế đắt tiền hơn Ngoài ra, sự

cung cấp chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ em

dưới 6 tuổi vào giữa năm 2005 góp phần vào

sự tăng cao số bệnh nhân đến các cơ sở y tế

Tại tất cả các huyện, nhóm trẻ em này trở

thành nhóm khách hàng lớn Biểu đồ bên phải

cho thấy sự gia tăng đều đặn về sự tham gia

bảo hiểm ở cả hai nhóm tại tỉnh TTH

Nguồn TTH-VSS (2007)

Hình 3: Thực trạng tham gia bảo hiểm

y tế tại tỉnh TTH

Sự phát triển của thực trạng bảo hiểm y tế trong 2 năm qua cho thấy độ bao phủ đã mở rộng tương đương nhau ở cả 5 huyện (bảng 5), dẫn đến sự gia tăng số lượng bệnh nhân Tuy nhiên, như sẽ bàn đến ở dưới, nhiều bệnh nhân chỉ đơn giản là những trường hợp chuyển tuyến lên một cơ sở y tế khác chứ không phải là kiểm tra/điều trị, nhưng số liệu này không được phân biệt rõ tại trạm y tế

Bảng 5: Thực trạng khám bệnh chăm sóc sức khỏe tại 5 huyện (2006)

Số người tham gia vào các loại hình Bảo hiểm y tế khác nhau trong tỉnh

0 100,000 200,000 300,000 400,000 500,000 600,000 700,000

2004 2005 2006

số ng ườ i

Tự nguyện Người nghèo Bắt buộc (trừ người nghèo)

Trang 4

Số thẻ BHYT

So sánh giữa 2006/

2005

Khám bệnh ngoại trú / người có thẻ

So sánh 2006/200 5

Khám bệnh nội

người có thẻ

So sánh 2006/200 5

Phong

Nguồn: TTH-BHXH

2/ Tình hình triển khai những loại hình bảo hiểm chính

Bảo hiểm y tế cho người nghèo

Toàn bộ người dân ở các xã 135, thêm cả người nghèo (như được phân loại một cách chính thức bởi nhà nước) tại những nơi ngoài các xã CT 135 đó, được quyền chăm sóc sức khỏe miễn phí dưới hình thức “bảo hiểm y tế cho người nghèo”, được chi trả bởi quỹ chăm sóc sức khỏe người nghèo (Quỹ 139) Một ban quản lý cấp tỉnh được thành lập tại Thừa Thiên Huế để quản lý quỹ này Đối với các huyện Nam Đông và A Lưới, quỹ này được chuyển trực tiếp cho những người cung cấp dịch vụ y tế (ở tất cả các cấp xã, huyện và tỉnh) để bồi hoàn cho toàn bộ chi phí liên quan đến khám bệnh và điều trị cho người nghèo, trong khi ở các huyện còn lại tại Thừa Thiên Huế, quỹ được sử dụng để mua thẻ bảo hiểm y tế từ cơ quan Bảo hiểm xã hội

Coverage rate of health insurance among

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

2003 2004 2005 2006

Nguồn: Ban Quản lý Quỹ 139 (2006),

TTH-BHXH (2007)

Số thẻ bảo hiểm y tế được phân phối cho người nghèo tiếp tục tăng lên từ 3 năm trở lại đây do sự triển khai Quỹ 139 Đến năm

2006, tỷ lệ người nghèo được bao phủ bởi bảo hiểm y tế là 136.732, chiếm 94,5% số người nghèo tại 7 huyện (Hình 4)

Ô bên trái: Hình 4: Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người nghèo tại tỉnh TTH

Từ ngày 1/1/2007, việc quản lý tại A Lưới và Nam Đông đã được chuyển sang cấu trúc tương tự như các huyện khác trong tỉnh, có nghĩa là tất cả người nghèo ở A Lưới và Nam

Trang 5

Đông hiện giờ đã có kế hoạch bảo hiểm được quản lý bởi Bảo hiểm xã hội Việt Nam Những thay đổi trong cấu trúc quản lý vĩ mô đã gây ra một số bất tiện cho người sử dụng Chính sách mới đòi hỏi người sử dụng phải trình thẻ bảo hiểm y tế để được khám bệnh Tuy nhiên, những thay đổi lại không rõ ràng đối với những người ở những khu vực mà chính sách mới đang có hiệu lực, và một số người tiếp tục tới TYT với giấy tờ cũ (Thẻ chứng nhận người nghèo) hoặc không hề có giấy tờ gì (các xã CT 135)

Những khu vực khác nhau không thể thích nghi với những thay đổi đó, và cho đến gần đây nhiều gia đình vẫn không nhận được thẻ bảo hiểm y tế và nguyên nhân của sự chậm trễ trong việc phân phối chưa rõ ràng Kết quả là nhiều người gặp phải những khó

khăn trong việc tìm kiếm chăm sócsức khoẻ cho mình

Thực trạng đặc biệt phức tạp tại xã Hương Hữu, nơi có gần 50% người dân chưa nhận được thẻ trong giai đoạn điều tra Có sự chưa rõ ràng về việc liệu có cần dán ảnh lên mỗi tấm thẻ không Một số người nói rằng họ không biết rằng bắt buộc phải có ảnh, những người khác nói rằng họ không thể đủ tiền để chụp ảnh TYT xã Hương Hữu phải đối phó với tình trạng này bằng cách sử dụng thuốc tài trợ khẩn cấp để dùng cho người bệnh Tuy nhiên, quỹ thuốc khẩn cấp của TYT sẽ hết nếu tình trạng này tiếp diễn

Người dân các xã CT 135 có xu hướng thích nghi chậm hơn đối với những thay đổi Trước đây, người dân các xã 135 không phải trình bất kỳ dạng giấy tờ nào khi đến TYT Phỏng vấn lãnh đạo trung tâm y tế huyện A Lưới cho thấy các trường hợp được chấp nhận mà không có giấy tờ hợp thức vì hầu hết người dân A Lưới đều được hưởng chăm sóc sức khỏe miễn phí

Bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi

Ngoài những người có thẻ thuộc hai chính sách bảo hiểm y tế đã được đề cập ở trên, chăm sóc y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi cũng được triển khai vào năm 2005, cùng với Luật Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em và Nghị định 36

Đến quý 1 năm 2006, SYTTTH phối hợp với UBDSGĐTE đã phân phối thẻ y tế cho 95% trẻ em dưới 6 tuổi tại tất cả các huyện trong tỉnh (119.728/126.357) giúp các đối tượng này được chăm sóc y tế miễn phí tại các cơ sở y tế công lập Gần như tất cả trẻ em dưới 6 tuổi trong tỉnh nhận được hỗ trợ tài chính cho chăm sóc sức khỏe: bất kể khu vực nông thôn hay thành thị, xã miền núi hay đồng bằng/ven biển, dân tộc Kinh hay dân tộc thiểu số

Bảo hiểm tự nguyện

Những người không sống tại các xã CT 135 và không được phân loại một cách chính thức

là người nghèo không được quyền hưởng chăm sóc y tế miễn phí được cung cấp bởi nhà nước trong chương trình “bảo hiểm y tế cho người nghèo” Những người này có thể lựa chọn tham gia vào hình thức bảo hiểm tự nguyện hoặc mua các loại hình bảo hiểm qua các

tổ chức quần chúng như Hội Phụ nữ hoặc Hội Nông dân Hình thức bảo hiểm tự nguyện rõ ràng là làm cho chăm sóc y tế dễ tiếp cận hơn với quần thể rộng hơn Sự gia tăng của loại bảo hiểm này ấn tượng về mặt tỷ lệ tham gia từ 3 năm trở lại đây, làm cho nó trở thành hệ thống hỗ trợ tài chính y tế lớn nhất (xem Hình 3 ở trên)

Tuy nhiên, vẫn có những hạn chế về cách xây dựng hình thức này, điều này gây khó khăn cho nhiều người sử dụng tiềm năng

Trang 6

• Thông tin về bảo hiểm tự nguyện chưa được mở rộng triệt để cho người dân, vì vậy một số người không biết được tính sẵn có của nó, và những người đã mua bảo hiểm không hiểu thấu đáo những lợi ích Hầu hết các thông tin mà người dân nhận được là qua những kênh không chính thức (từ hàng xóm, nhân viên y tế và họ hàng hoặc trong những buổi họp về những chủ đề chung khác)

thành viên của Hội Phụ nữ hoặc Hội Nông dân hoặc ít nhất 10% số hộ gia đình quyết định mua bảo hiểm y tế tự nguyện Điều này tạo ra một rào cản lớn cho những người sống tại các xã có rất ít người tham gia vào hình thức này Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng không có bảo hiểm y tế ảnh hưởng đến những người nghèo và cận nghèo lớn hơn nhiều so với những người giàu có Một số người giàu không thuộc các xã CT 135 nghiên cứu không biết đến hình thức bảo hiểm tự nguyện và không quan tâm đến sự phù hợp của họ

3/ Chi phí chăm sóc y tế và sử dụng dịch vụ y tế

BHXH của tỉnh phải đối mặt với sự thâm hụt tài chính từ năm 2004, bất kể hình thức bảo hiểm y tế đang có hiệu lực Chi phí chăm sóc y tế vượt quá ngân sách sẵn có được phân bổ cho những người có thẻ bảo hiểm y tế đã gia tăng hàng năm Phí bảo hiểm do những người được bảo hiểm hoặc Chính quyền chi trả thông qua các chương trình trợ cấp đã trở nên không đủ để bao phủ các chi phí y tế Sự vượt chi đã đạt đến đỉnh cao nhất vào năm 2006 với hơn 29 tỷ VND (xem Hình 5) Trong đó, kinh phí cho những người có thẻ bảo hiểm y

tế tự nguyện chiếm tới 78% của tổng thâm hụt BHXH, trong khi chi phí cho những người

có thẻ bảo hiểm bắt buộc hoặc bảo hiểm cho người nghèo chỉ chiếm 22%

Hình 5: Tình hình thu và chi của quỹ Bảo hiểm Y tế

Nguồn: TTH-BHXH (2007)

Vì có nhiều người chỉ tham gia hình thức bảo hiểm tự nguyện khi họ gặp phải các vấn đề sức khỏe trầm trọng, những người hưởng chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện có xu hướng đến khám nhiều dịch vụ y tế hơn so với bất kỳ dạng nào khác Theo báo cáo của BHXH năm 2006, những người tham gia hình thức tự nguyện chiếm tới 61% tổng số khám bệnh ghi nhận được tại tất cả các cơ sở y tế Cả tỷ lệ khám bệnh ngoại trú và nội trú của hai nhóm tạo nên hình thức này cũng cao nhất

0

10,000,000,000

20,000,000,000

30,000,000,000

40,000,000,000

50,000,000,000

60,000,000,000

70,000,000,000

80,000,000,000

90,000,000,000

2004 2005 2006

Chi

Thu và chi trong Bảo hiểm y tế Thâm hụt trong BHYT

-35,000,000,000 -30,000,000,000 -25,000,000,000 -20,000,000,000 -15,000,000,000 -10,000,000,000 -5,000,000,000

0 2004 2005 2006

Trang 7

Trong số những người tham gia bảo hiểm bắt buộc, số lần khám bệnh của người nghèo là cao nhất bất kể chăm sóc nội trú hoặc ngoại trú khi so sánh với tất cả các nhóm khác Quyết định 139 hỗ trợ tài chính y tế cho người nghèo trong việc mua bảo hiểm y tế và đã gia tăng tỷ lệ khám bệnh tại cấp TYT từ đó đến nay (Hình 6) Cùng với sự phân phối rộng rãi hơn thẻ bảo hiểm y tế, số lượng tiếp xúc y tế của người dân tại các TYT cũng gia tăng mạnh mẽ trong 3 năm trở lại đây, dẫn đến sự tăng cao từ từ trong chi tiêu cho y tế trong cùng giai đoạn đó

Hình 6: Số lần khám bệnh và chi tiêu cho y tế của người nghèo có bảo hiểm y tế

Caseload of the poor with health insurance in

0

20,000

40,000

60,000

80,000

100,000

120,000

140,000

2003 2004 2005 2006

Health insurance payments for the poor

0 2,000,000,000 4,000,000,000 6,000,000,000 8,000,000,000 10,000,000,000 12,000,000,000

2003 2004 2005 2006

Nguồn: Ban Quản lý Quỹ 139 (2005), BHXH (2007)

4/ Sự sử dụng CSSKBĐ của người dân tại tuyến TYT

Như được minh họa dưới đây, các TYT vẫn đóng một vai trò không thể thay thế trong việc cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người nghèo (xem Hình 9a) Với vai trò là tuyến đầu tiên, dịch vụ y tế xã nhận được 67% tổng số khám bệnh ngoại trú của người nghèo Đối với những bệnh nghiêm trọng hơn, tai nạn hoặc chấn thương đòi hỏi điều trị nội trú, nhiều khách hàng sẽ chọn bệnh viện huyện nơi có gần 80% khám bệnh nội trú diễn ra Các bệnh viện tại các cấp độ trung tâm và tỉnh và các cơ sở chuyên khoa thu hút được 20% các

ca khám bệnh còn lại Mô hình cung cấp chăm sóc tại các cơ sở y tế công lập này cho thấy rằng các bệnh nhân tỏ ra quan tâm đến các quy định của bảo hiểm y tế liên quan đến quyền

sử dụng dịch vụ y tế và cơ chế chuyển tuyến Nếu đa số người nghèo quyết định sử dụng các dịch vụ tại TYT đối với các bệnh nhẹ hoặc bệnh thông thường thì khi đó các cơ sở y tế huyện đại diện cho địa điểm phổ biến nhất cung cấp chăm sóc nội trú

Biểu đồ về chi phí cho y tế cho thấy những khác biệt rõ ràng giữa các chi phí phải chịu ở các cấp độ chăm sóc khác nhau (Hình 9b) Sự phân phối của chi phí theo cấp độ tỷ lệ nghịch với mô hình sử dụng dịch vụ y tế Trong khi các TYT chiếm 63% tổng số khám bệnh trong năm 2006, chi phí ở cấp độ này chỉ chiếm khoảng 12% tổng chi phí cho người nghèo Ngược lại, sự chăm sóc ở tuyến trung ương chỉ có được 5% số khám bệnh nhưng tiêu tốn tới 46% tổng chi phí cho BHXH:

Hình 9 (a và b): Phân bố số khám bệnh theo loại chăm sóc, và chi phí y tế theo cấp độ của người nghèo (ngoại trừ A Lưới, Nam Đông) có bảo hiểm y tế (2006)

Chi trả bảo hiểm y tế cho người nghèo Chi trả bảo hiểm y tế cho người nghèo

Số lần k

hám

bệ

nh

Trang 8

Health Visits and Spending among the poor with

health insurance cards

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Total visits Spending

Central Province District Commune

Nguồn: Quỹ 139 (2007)

Thực trạng tương tự cũng có thể được thấy tại A Lưới và Nam Đông, nơi mà có nhiều xã trong chương trình 135 và những người nghèo khác được hỗ trợ bởi Quỹ 139 Tại đây các TYT vẫn là cơ sở y tế đầu tiên cung cấp chăm sóc ngoại trú (70% tổng số khám bệnh ngoại trú) Do những điều kiện về địa lý và kinh tế, các khách hàng sử dụng các cơ sở y tế cấp tỉnh ít hơn những người sống tại 7 huyện còn lại (Hình 10a) Đối với những bệnh nghiêm trọng đòi hỏi điều trị cao hơn TYT, cơ sở y tế huyện trở thành nơi cung cấp dịch vụ gần như duy nhất cho quần thể người nghèo (98% tổng số khám bệnh nội trú) Mặc dù chỉ có 2% tổng số khám bệnh có mặt tại các bệnh viện cấp trung tâm, chúng gây tốn tới 32% của Quỹ 139 về tổng chi tiêu cho người nghèo, ở mức gần 4 triệu VND mỗi lần khám (Hình 10b) Mặt khác, 3 huyện Phong Điền, Hương Trà và Phú Vang, nơi có tỷ lệ nghèo thấp hơn, có xu hướng chi trả nhiều tiền hơn ngoài các cơ sở y tế tại xã và huyện

Hình 10 (a và b): Phân bố số khám bệnh theo loại chăm sóc, và chi phí y tế theo cấp

độ trong những người nghèo tại A Lưới và Nam Đông (2006)

Phân bố số khám bệnh nội trú và

ngoại trú của người nghèo

có thẻ bảo hiểm y tế

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Ngoại trú Nội trú

Trung ương Tỉnh Huyện Xã

Thăm khám và chi tiêu của người có thẻ BHYT

Trung ương Tỉnh Huyện Xã

Thăm khám và chi tiêu của người được Quỹ 139 hỗ trợ

Trang 9

Health Visits and Spending among the poor

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Total visits Spending

Central District Commune

Nguồn: Quỹ 139 (2007)

Mặc dù người nghèo (ngoài những người sống tại A Lưới và Nam Đông) chiếm đến một phần ba tổng số khám bệnh trong hình thức bắt buộc, những người nghèo có thẻ tỏ ra sử dụng các cơ sở y tế thấp hơn so với những người hưởng lợi khác như người làm công, người hưu trí hưởng lương, những người hưởng lợi phúc lợi xã hội, hoặc công chức Một người nghèo, sống tại nông thôn và vùng duyên hải và thuộc về nhóm dân tộc Kinh, có thể chỉ sử dụng thẻ bảo hiểm y tế một lần mỗi năm để nhận được điều trị y tế (chăm sóc ngoại trú và nội trú được thực hiện đồng thời), dưới mức trung bình của hình thức bắt buộc Anh/cô ta sử dụng các dịch vụ ngoại trú nhiều hơn so với dịch vụ nội trú, điều này khẳng định vai trò quan trọng của TYT đối với người nghèo Những nhóm người Kinh nghèo chiếm đa số và ở thành thị hình như nhờ vào các dịch vụ tại TYT đầu tiên và chỉ sử dụng các dịch vụ nội trú đắt tiền ở tuyến cao hơn cho những vấn đề sức khỏe trầm trọng hơn Khi so sánh với các nhóm khác, họ có xu hướng không ở lại lâu trong bệnh viện do những tác động lớn về tài chính đối với gia đình Mỗi người nghèo có thẻ có trung bình 0,5 lần khám nội trú, đây là một tỷ lệ thấp nếu so với những loại khác, và ở lại xấp xỉ 10,3 ngày mỗi lần khám nội trú tại bệnh viện Tuy nhiên, thống kê hiện tại của BHXHloại trừ những lần khám bệnh và chi phí y tế của người nghèo tại các huyện A Lưới và Nam Đông Do đó mức khám bệnh trung bình thực sự trong toàn bộ những người nghèo có thể cao hơn

Mặc dù vậy, quần thể lớn những người nghèo có thẻ bù lại cho tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế thấp đó, cuối cùng điều này làm thổi phồng mức tổng chi tiêu và tạo ra người chi trả lớn nhất trong loại hình bắt buộc Người nghèo là nguyên nhân gây ra thâm hụt chi phí cho các dịch vụ y tế nội trú Tuy nhiên, BHXH trả cho mỗi cá nhân người nghèo thấp hơn nhiều so với những dạng người có thẻ bảo hiểm khác Điều này chứng tỏ thêm tỷ lệ sử dụng các

0%

10%

20%

30%

40%

50%

60%

70%

80%

90%

100%

Ngoại trú Nội trú

Trung ương

Huyện Xã

Phân bố số khám bệnh nội trú và ngoại trú

Trang 10

dịch vụ tại TYT cao trong những người nghèo là những người có thể có rất ít lựa chọn về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có thể chi trả

IV Kết luận

1 Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo

của chính phủ, bảo hiểm y tế cơ bản cho

người nghèo theo Quyết định 139 hiện

đang có một vài tác động chính cho

CSSKBĐ ở tuyến xã Điều nổi bật nhất là

số lượng bệnh nhân khám bệnh tại TYT đã

gia tăng một cách đáng kể Cũng có những

thách thức thường xuyên đối với người

cung cấp DV và các cán bộ quản lý nhà

nước

Tìm và thử nghiệm các phương pháp tiếp cận để duy trì một nhu cầu mạnh mẽ đối với các dịch vụ TYT tại tuyến xã trong khi vẫn phải tìm kiếm các cách để giảm thiểu

áp lực cho phía cung cấp

2 Bảo hiểm y tế tự nguyện nhằm phục vụ

dân số chung đã đem lại sự gia tăng số

bệnh nhân đến khám chữa bệnh Tuy nhiên

đối tượng cận nghèo được nói là không

được hưởng sự hỗ trợ của chính phủ Bảo

hiểm tự nguyện cũng là nguồn chính của sự

thâm hụt tài chính của hệ thống bảo hiểm

Điều tra xem liệu kinh phí hiện tại của chính phủ đã được phân bổ cho chăm sóc miễn phí đối với tất cả cư dân của các xã chương trình 135 có thể chuyển đổi lại mục tiêu cụ thể hơn cho các nhóm dân cư cận nghèo

3 Yêu cầu cho việc tham gia tối thiểu của

30% các thành viên địa phương của các tổ

chức quần chúng hoặc ít nhất 10% của các

hộ gia đình ở xã trong bảo hiểm tự nguyện

có thể là một trở ngại đáng kể cho việc

tham gia, đặc biệt với đối tượng cận nghèo

- những người không có khả năng đủ tiêu

chuẩn theo bảo hiểm 139 đối với người

nghèo

Thử nghiệm các lựa chọn để thu hút sự tham gia và sử dụng các lựa chọn bảo hiểm

y tế một cách linh hoạt và thân thiện hơn với sự chú ý cụ thể tới người cận nghèo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cục thống kê Thừa Thiên Huế (2001), Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1999 tỉnh Thừa Thiên Huế (2001), Nxb Huế.

2 Cục thống kê Thừa Thiên Huế (2006), Niên giám thống kê 2005

3 Y tế Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nxb Y học

4 Viện thông tin thư viện y học trung ương (2006), “Tuần tin tức Y Dược qua mạng Internet“

5 Uỷ ban DSGĐTE (2003), Điều tra nhân khẩu học và sức khỏe, NxbHà Nội

6 Uỷ ban Dân số gia đình và Trẻ em Thừa Thiên Huế, Báo cáo tổng kết công tác dân số, gia đình và trẻ em năm 2004, 2005, 2006.

7 Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2004,2005,2006

8 Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Báo cáo tổng kết công tác Bảo hiểm Xã hội năm

2004, 2005, 2006

Ngày đăng: 11/05/2016, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3: Thực trạng tham gia bảo hiểm - Ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đến nhà cung cấp và người sử dụng ở Thừa Thiên - Huế từ những số liệu định tính
Hình 3 Thực trạng tham gia bảo hiểm (Trang 3)
Hình 5: Tình hình thu và chi của quỹ Bảo hiểm Y tế - Ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đến nhà cung cấp và người sử dụng ở Thừa Thiên - Huế từ những số liệu định tính
Hình 5 Tình hình thu và chi của quỹ Bảo hiểm Y tế (Trang 6)
Hình 6: Số lần khám bệnh và chi tiêu cho y tế của người nghèo có bảo hiểm y tế - Ảnh hưởng của các chính sách bảo hiểm đến nhà cung cấp và người sử dụng ở Thừa Thiên - Huế từ những số liệu định tính
Hình 6 Số lần khám bệnh và chi tiêu cho y tế của người nghèo có bảo hiểm y tế (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w